Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,317

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Thứ ba, 16:00 Ngày 27/07/2021
  • XIV

    Trên án bày một mâm cát, cắm những lá cờ nhỏ, mỗi lá cờ tượng trưng cho một đội quân, có thể nhổ từng lá cờ để thay đổi vị trí cho hợp lý. Một thanh kiếm lệnh và một chồng binh thư để trước mặt. Tua ngũ sắc ở chuôi kiếm bay lên uốn éo trước gió. Ngồi trên ghế bọc da hổ trong trướng, vua Quang Trung cùng Trần Văn Kỷ mê mải nghiên cứu trận thế Thái cực. Thế trận này tương truyền do Tần Thủy Hoàng bày ra căn cứ vào Thái cực, Lưỡng nghi của Kinh Dịch.

    Với sự biến chuyển vô cùng từ lớn đến nhỏ, từ nhỏ đến lớn bao gồm có thể Động và Tĩnh và biến hóa mãi.

     Tổng số quân sĩ trong thế trận này gồm lối 5.800 theo hệ thống phân phối như sau:

    Một đội Trung quân ở giữa gồm 1.000 người. Đội Trung quân này lại chia làm hai đội: Thiên đội và Địa đội. Tự nó lại chia làm hai phân đội mỗi phân đội gồm 250 người. Trung quân có nhiệm vụ bảo vệ cho vị Tướng chỉ huy toàn trận, và cũng dùng làm dự trữ.

    Ngoài ra nó gồm có 2 đội nữa, mỗi đội có 400 người, 6 đội dùng làm tả quân và 6 đội dùng làm hữu quân. Hữu quân gồm có các đội: Nhật đội, Dương đội, Phong đội, Xã đội, Hổ đội. Tả quân gồm có: Nguyệt đội, Am đội, Vân đội, Tước đội, Long đội.

    Hai cánh quân này tượng trưng cho Âm (tả quân) và Dương (hữu quân) vận chuyển biến đổi quanh Thái cực là vị tướng lãnh của Trung quân.

    Khi muốn tập hợp quân theo thế trận Thái cực vị tướng chỉ huy cho lệnh đánh một tiếng chiêng và ba tiếng trống, nghe hiệu lệnh này toán trung quân gồm có Thiên đội và Địa đội đến tập hợp quanh vị tướng, hai phân đội phía trước và hai phân đội phía sau.

    Khi đánh một tiếng chiêng cánh tả quân và hữu quân dàn thế trận hai bên phía phải và phía trái của trung quân theo thứ tự: Nhật đội, Dương đội, Phong đội, Xã đội và Hổ đội ở hai bên và Nguyệt đội, Am đội, Vân đội, Tước đội, Long đội ở phía trái.

    Nếu hữu quân gặp địch thì Hổ đội phải giao chiến trước, Xã đội phục kích để đón đánh bắt những kẻ chạy trốn hoặc viện binh. Phong đội dàn ra quanh địch để bao vây. Đây là quân số giao tranh thực sự còn Dương đội và Nhật đội thì trợ ứng ở bên sườn của Hổ đội.

    Còn cánh Trung quân, trừ trường hợp đặc biệt khẩn cấp, phải giữ nguyên thế trận để bảo vệ chủ tướng. Trong khi cánh hữu quân giao chiến thì tả quân hoặc có thể để làm lực lượng trừ bị tiếp ứng hoặc tham chiến theo lệnh của chủ tướng.

    Nếu ngược lại cánh tả quân giao chiến với địch thì trận pháp cũng giống như hữu quân khi giao chiến. Việc dàn quân gồm có các bộ phận:

    - Đối với toàn thể thế trận chỉ có một cánh quân giao chiến và một cánh quân làm trừ bị (kể cả bản doanh) toán quân này sẽ có thể ứng chiến nếu cần, hoặc dùng để ngăn chặn những lực lượng địch khác đến ứng chiến, hoặc để thay thế tái chiến cho cánh quân kia đã mệt nhọc (luân chiến).

    Ngay trong một cánh quân khi giao chiến cũng có nhiều đơn vị với nhiệm vụ khác nhau:

    - Một đơn vị quân giao chiến ngay với địch.

    - Một đơn vị phục kích.

    - Một đơn vị bao vây và nghi binh.

    - Hai đơn vị trợ ứng trực tiếp ở hai sườn.

    Thế trận này bày ra cho một đạo quân 5.800 hoặc bao gồm nhiều đạo quân khác biến hóa theo thái cực từ “cực lớn” dến “cực nhỏ” từ “cực nhỏ” đến “cực lớn”, một sinh hai, hai sinh bốn cứ thế biến hóa mãi.

    Thế trận Thái cực có thể làm theo một thế khác nhưng số các đội quân không thay đổi.

    Sau khi xem xét tình hình và nghiên cứu kế hoạch, vua Quang Trung nói với Trần Văn Kỷ:

    - Việc xếp tiến quân theo thế trận Thái cực, ta định phân phối như sau: Trung quân lấy trong đám tân binh ở Nghệ An dùng làm trừ bị đi thẳng đường ra, đánh vào quân Thanh ở vùng Phú Xuyên. Đạo trung quân gồm có các đội tiền quân do Tư mã Ngô Văn Sở và Nội hầu Phan Văn Lân chỉ huy cùng đội hậu quân do Hám Hổ hầu chỉ huy, cùng phối hợp.

    “Tả quan dưới quyền thống lãnh của Đại đô đốc Lộc và đô đốc Tuyết, gồm có cả thủy quân, sẽ vượt biển vào sông Lục Đầu. Đô đốc Tuyết sẽ ở lại vùng Hải Dương làm quân biên vệ phía Đông (chiến trường xảy ra ở khu vực chung quanh Thăng Long), Đại đô đốc Lộc sẽ đi gấp lên vùng Lạng Sơn, Phương Nhãn, Yên Thế chặn đường rút lui của quân Thanh.

    “Hữu quân do Đại đô đốc Bảo và Đô đốc Long thống lãnh. Hữu quân chia làm hai đội: Một đội do đô đốc Long chỉ huy xuyên qua huyện Chương Đức rồi tiến nhanh đến làng Nhân Mục để tập kích vào những đồn của quân Thanh, của tướng Sầm Nghi Đống.

    “Toán thứ hai, do Đô đốc Bảo chỉ huy gồm có tượng binh lối vài trăm con. Toán quân này sẽ theo đường núi đi xuyên qua các vùng Sơn Minh đổ ra làng Đại Áng để làm ứng binh cho đội quân của Đô đốc Long.

    “Ngoài ra ta lại cho một toán nghi binh điều động ở vùng Yên Diên đánh trống, treo cờ để đánh lừa quân Thanh. Tiên sinh thấy thế nào?

    Trần Văn Kỷ thưa:

    - Tâu bệ hạ, Tôn Vũ tử nói: Hình thế chiến đấu không ngoài Kỳ và Chính, nhưng Kỳ và Chính biến hóa vô cùng, không ai đoán nổi. Kỳ và Chính tuần hoàn tương sinh không bờ không bến, ai biết cho hết được. Nay Tiền quân Hậu quân do bệ hạ chỉ huy và Hữu quân do Đô đốc Long và Đô đốc Bảo chỉ huy, đó là thế Chính. Ngăn chặn và phục kích tại vùng Lạng Sơn, Yên Thế có Đô đốc Tuyết và Đô đốc Lộc chỉ huy, đó là thế Kỳ. Ngay trong mục tiêu chính là Thăng Long cũng chia ra nhiều mặt trận nhỏ, mỗi mặt trận điều theo thế “nhất điểm lưỡng diện” và thế Kỳ Chính, đã đạt được phương châm dùng Chính để tụ họp, dù Kỳ để chiến thắng. Tấn công và phòng thủ phối hợp với nhau theo chiến lược trong Động có Tĩnh, trong Tĩnh có Động. Nhưng chẳng hay bệ hạ đã nghĩ đến sự phối hợp giữa quân sự (động) và chính trị (tĩnh) chưa?

    Vua Quang Trung nói:

    - Có. Ta đã nghĩ đến việc dùng Âm (chính trị) để che chở cho Dương (quân sự) để hợp lại làm thế quân bình (Thái cực). Trước khi xuất quân, ta đã sai Phái bộ Trần Danh Bính sang vờ xin hòa với Tôn Sĩ Nghị để xem xét động tĩnh và khiến quân Thanh khinh địch. Sau khi thắng quân Thanh, ta đã nghĩ đến cách dùng từ lệnh để dập tắt ngọn lửa binh tranh. Việc từ lệnh đó ta đã giao cho Ngô Thì Nhậm.

    Trần Văn Kỷ nói:

    - Bệ hạ liệu việc quả là như thần, thần xin bái phục.

    Chiều ba mươi Tết, vua Quang trung truyền lệnh cho các tướng dẫn quân xuất phát theo phương án đã định. Cả năm đạo quân đều lạy vâng mệnh lệnh, giữa đêm ba mươi Tết gióng trống lên đường ra Bắc.

    Muốn cho quân đi được nhanh, vua Quang Trung bày cho quân lính cứ ba người một tốp thay phiên vòng nhau đi, thành ra quân trẩy đi liên miên không phải dừng mà ai nấy đều lần lượt được nghỉ. Còn về ăn uống, muốn đỡ phải nấu cơm, nghĩa quân phải mang theo những ràng bánh tráng. Đó là những tấm bánh bằng bột gạo, tráng trên khung vải bịt vừa khít miệng nồi nước đun sôi. Bánh tròn mỏng, bề rộng hơn một gang tay. Bánh phơi khô, có thể nhúng nước cho mềm lại rồi ăn, hoặc ăn nướng đều ngon. Đến bữa ăn, anh em chỉ việc lấy bánh tráng nhúng nước lã, bỏ rau, rắc một ít lương khô mặn hoặc rưới tí nước mắm cuốn lại, vừa ăn vừa đi, thật là tiện lợi. Ngoài ra, nghĩa quân còn mang theo những đòn bánh tét, làm bằng gạo nếp, gói trong lá có hình tròn và dài, to bằng cái đòn khiêng. Mỗi người có thể cột năm, ba chiếc bánh mang sau lưng rất tiện. Khi ăn lột lá đến đâu, tét ăn đến đó, ăn không hết, lấy lá bọc lại, để mấy ngày cũng không sao. Nhờ có những biện pháp này nên nghĩa quân đã hành binh cực kỳ thần tốc.

    Đúng đêm trừ tịch[1], đạo quân chủ lực của Quang Trung bí mật vượt qua sông Gián Khẩu tiến công tiêu diệt đồn tiền tiêu của giặc. Sau đó, quân Tây Sơn tiến lên tiêu diệt luôn các đồn quân Thanh ở bờ Bắc sông Nguyệt Quyết, ở Nhật Tảo và thừa thắng đuổi theo đến huyện Phú Xuyên, bắt gọn toàn bộ tàn quân và bọn lính do thám của giặc. Do đó, quân Tây Sơn đã tiến ra đến Phú Xuyên mà quân Thanh ở đồn Hạ Hồi vẫn không biết tin tức gì cả.

    Đêm mùng ba tết Kỷ Dậu([2]), quân Tây Sơn bất ngờ tiến đánh đồn Hạ Hồi. Đây là một cứ điểm phòng ngự quan trọng của quân Thanh, cách Thăng Long không xa. Đồn giặc đóng ở phía Nam đồn Hạ Hồi, huyện Thượng Phúc, sát bên đường thiên lý. Đồn được xây dựng theo lối doanh trại dã chiến trên một khu đất cao, phía Bắc dựa vào xóm làng, xung quanh không có thành lũy công sự xây đắp kiên cố.

    Vào khoảng nửa đêm, quân Tây Sơn lặng lẽ bao vây chặt đồn giặc rồi cho bắc loa gọi hàng. Khắp bốn mặt quân Tây Sơn dạ ran hưởng ứng nghe như có hơn vài vạn người. Quân giặc trong đồn lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời, sợ hãi. Quân giặc đang ở trong trạng thái mệt mỏi của những đêm ngày Tết, lại bị tiến công bất ngờ và bị uy hiếp dữ dội như vậy nên hoàn toàn khiếp sợ, không dám chống cự. Toàn bộ quân địch ở đồn Hạ Hồi phải đầu hàng. Quân Tây Sơn tiêu diệt gọn một đồn quan trọng của quân Thanh và thu được rất nhiều vũ khí, lương thực mà không tốn một mũi tên, hòn đạn.

    Sau khi tiêu diệt xong đồn Hạ Hồi, Quang Trung tạm đóng quân lại một cánh đồng cao ráo, rộng rãi ở phía Nam Hạ Hồi, gọi là cánh đồng Cung. Đó là một cánh đồng rộng khoảng 20 mẫu, nằm bên đường thiên lý, thuộc địa phận thôn Hòa Lương. Quang Trung cho quân sĩ nghỉ ngơi để sửa soạn bước vào trận quyết chiến với kẻ thù. Rồi nhà vua cho mời Trần Văn Kỷ đến bàn bạc kế hoạch tác chiến.

    Nhìn người mưu sĩ đã bao năm theo liền bên mình Quang Trung nói:

    - Đồn Ngọc Hồi là một cứ điểm then chốt của quân Thanh nhằm ngăn chặn hướng tiến công chủ yếu của quân ta, bảo vệ cửa ngõ phía Nam thành Thăng Long và đại doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long. Đây là một đồn lũy kiên cố, tập trung nhiều quân tinh nhuệ và tướng giỏi của Tôn Sĩ Nghị như Đề đốc Hứa Tế Hanh, Tiên phong Trương Triều Long, Tả dực Thượng Duy Thăng. Phía sau Ngọc Hồi lại có đồn Văn Điển, cách đấy không xa là đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị đóng ở bãi cát bên bờ sông Nhị phía Đông nam Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị cho rằng quân ta sau khi phải tiến công hàng loạt đồn lũy từ Gián Khẩu đến Hạ Hồi, khó còn đủ sức đánh vào một đồn lũy kiên cố như thế. Hơn nữa, nếu Ngọc Hồi bị tiến công thì quân Thanh ở đồn Văn Điển có thể tạm thời ứng cứu và quân chủ lực ở Thăng Long có đủ thì giờ chuyển quân xuống cứu viện đánh lui quân ta. Ta phải làm sao đánh nhanh, diệt gọn đồn Ngọc Hồi khiến lũ giặc ở các nơi khác không kịp cứu ứng thì mới có thể đập tan được toàn bộ chiến lược của giặc. Khanh có mưu kế gì đóng góp cho ta hay không?

    Trần Văn Kỷ ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:

    - Tâu chúa công, thám tử của ta về báo lại đồn Ngọc Hồi kiên cố hơn đồn Hạ Hồi vì có thành lũy chắc chắn, trên lũy lại còn có đại bác chĩa ra và ngoài lũy có cắm chông sắt, đặt cạm bẫy và địa lôi. Do vậy, ta phải sửa soạn những dụng cụ chống lại được đại bác và cung nỏ của giặc. Theo ý thần, ta nên lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm cùng một bức, bên ngoài lấy rơm đắp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khỏe mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt dao ngắn, hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau dàn thành trận chữ nhất. Với những tấm mộc ấy quân ta có thể tạo thành một bức thành gỗ quấn rơm ướt để chống đại bác và cung tên của giặc.

    Vua Quang Trung khen phải liền truyền lệnh cho tướng sĩ gấp rút chuẩn bị. Dân làng biết tin, tranh nhau vác những tấm ván phản, ván cửa nhà, cửa đình, cửa chùa… mang đến cho nghĩa quân dùng làm chiến cụ.

    Từ nơi trú quân ở phía Nam đồn Hạ Hồi, quân Tây Sơn hành quân bí mật vào khoảng nửa đêm và đến lờ mờ sáng ngày 5 Tết Kỷ dậu[3] bắt đầu tiến công vào mặt Nam đồn Ngọc Hồi, thuộc huyện Thanh Trì.

    Vua Quang Trung tự mình quấn khăn vàng vào cổ để tỏ ý quyết chiến, quyết thắng không chịu lùi, rồi xắn tay áo, đốc thúc quân bản bộ rầm rộ tiến lên.

    Trước hết, Quang Trung cho đội tượng binh gồm 100 voi chiến hùng hổ xông lên trước mở đường. Quân Thanh phái một đội kỵ binh tinh nhuệ tiến ra khỏi lũy nghênh chiến. Nhưng vừa trông thấy voi chiến Tây Sơn, ngựa quân Thanh sợ hãi, lồng lộn quay trở lại. Đội kỵ binh của địch chưa đánh đã bị tan vỡ, đội hình rối loạn. Chúng phải rút lui vào trong lũy cố thủ.

    Quân Tây Sơn thừa thắng tiến gần đồn lũy của địch. Nhưng từ trên mặt lũy, đại bác và cung nỏ của quân Thanh bắn ra rất dữ dội để cản đường xung phong của quân Tây Sơn.

    Theo lệnh Quang Trung, đội voi chiến lập tức chia làm hai cánh vòng về hai phía để mở đường cho đội xung kích khiêng ván vừa che vừa xông thẳng về cửa lũy phía Nam của đồn Ngọc Hồi. Nhờ những tấm mộc lớn quấn rơm ướt che chở, đại bác và cung tên của địch hóa ra mất hiệu lực. Quân Thanh liền dùng hỏa đồng phun lửa ra làm cho khói lửa mịt mù trận địa, hòng làm rối loạn đội hình quân Tây Sơn. Trong chốc lát, lửa cháy, khói mù, cách nhau gang tấc không trông thấy nhau nhưng đội quân xung kích của Tây Sơn vẫn bình tĩnh và dũng cảm tiến lên. Khi đến sát chân lũy, đội quân này bỏ các tấm mộc xuống, dùng đoản đao và các thứ khí giới mang theo giáp chiến với kẻ thù. Quân Tây Sơn xông lên phá cửa lũy rồi đột nhập vào doanh trại và chỉ huy sở của địch.

    Cùng lúc đó, hai cánh voi chiến và quân chủ lực do Quang Trung chỉ huy, ào ạt tiến vào tiếp viện. Trên lưng mỗi con voi chiến có ba, bốn nghĩa quân chít khăn đỏ, ngồi ném tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp mọi nơi, đốt cháy cả người nữa. Quân Tây Sơn hợp lại đông như kiến cỏ, thế lực ồ ạt như nước thủy triều dâng.

    Trước sức công đồn mãnh liệt của quân Tây Sơn, các chiến lũy của địch bị tan vỡ nhanh chóng. Quân địch không chống cự nổi, bỏ chạy tán loạn. Quân địch trong lúc hốt hoảng, tìm đường chạy trốn chạm phải địa lôi và cạm bẫy do chúng bố trí ở ngoài lũy bị chết rất nhiều.

    Đề đốc Hứa Thế Hanh, tổng binh Trương Triều Long và Thương Duy Thăng đều chết trận. Quân Thanh bị chết và bị thương đến quá nửa.

    Bọn địch còn sống sót ở Ngọc Hồi tháo chạy về phía Bắc hòng tìm đường trốn thoát về đồn Văn Điển ở gần đó theo đường thiên lý, hoặc về đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị theo đê sông Nhị. Bọn tàn quân này vừa thoát khỏi cơn bão lửa khủng khiếp ở Ngọc Hồi và đang trên đường chạy trốn thì bỗng nhiên phía trước lại xuất hiện một đạo quân Tây Sơn do Vũ Văn Dũng cầm đầu. Đây là cánh nghi binh do Quang Trung tách ra từ đạo quân chủ lực từ trước, theo đê sông Nhị qua Yên Duyên tiến lên bố trí nghi binh ở khoảng giữa Ngọc Hồi và Văn Điển, chỗ đê sông Nhị uốn vòng vào gần đường thiên lý. Đạo quân này không nhiều nhưng mở cờ, dóng trống reo hò nhằm uy hiếp tinh thần vốn đang khiếp nhược của bọn tàn quân địch, ngăn chặn đường rút lui của chúng trên cả hai đường: đường thiên lý và đê sông Nhị. Quân Thanh vô cùng kinh hoảng, vội tranh nhau chạy về phía Tây. Chúng theo đường tắt băng qua cánh đồng khoảng giữa đường thiên lý và sông Tô Lịch rồi qua cầu Vĩnh để hòng tìm đường vòng về phía tây bắc trốn thoát về một đồn lũy nào đó của chúng ở hướng này như đồn Khương Thượng.

    Lê Thị Vi dẫn đầu một đội tượng binh đi trong đạo quân của Đô đốc Bảo. Từ Tam Điệp đạo quân này đi theo đường núi ra Vân Đình rồi theo con đường quan lộ ra ngã tư Vác. Từ đó, đi theo con đường qua các làng Canh Hoạch, Tri Lễ, Úc Lý, Dư Dụ thuộc Thanh Oai, rồi theo cầu Sấu trên sông Nhuệ đến Đại Áng. Con đường từ ngã tư Vác đến Đại Áng là một con đường giao thông ở địa phương đã có từ lâu đời nhưng không quan trọng lắm và không cách xa con đường thiên lý – con đường hành quân của đạo quân chủ lực bao nhiêu. Quang Trung dùng đội quân này như đạo quân hậu bị nhằm sẵn sàng tiếp ứng cho đạo quân chủ lực khi cần thiết và bất ngờ tung ra chiến trường vào nơi và lúc thích đáng để giành lấy phần thắng quyết định.

    Đến Đại Áng, quân Tây Sơn đóng quân trên một khu đất cao ở phía Nam làng gọi là cánh đồng Rền.

    Đô đốc Bảo cho một toán quân tiến lên phía trên cầu Vĩnh bố trí sẵn để chặn đường rút lui của quân Thanh phía Bắc.

    Mờ sáng ngày 5 Tết, đạo quân của Đô đốc Bảo từ Đại Áng hành quân theo con đường qua các làng Vĩnh Trung, Vĩnh Thịnh, Lạc Thị tiến lên phía cầu Vinh.

    Quân Thanh vừa qua khỏi cầu Vinh thì gặp ngay đạo quân của Đô đốc Bảo gồm kỵ binh và tượng binh chặn đường. Chúng lại một lần nữa kinh hoàng vì sự xuất hiện bất ngờ của quân Tây Sơn. Phía sau lưng chúng, quân chủ lực của Quang Trung ráo riết truy kích. Trước mặt chúng, cả hai ngả đường về phía Bắc và phía Nam đều bị chặn đánh. Quân giặc bị bao vây, uy hiếp cả ba mặt chỉ còn một con đường duy nhất là nhắm mắt lao mình vào cánh đầm Mực phía trước mặt.

    Đầm Mực là một cánh đầm rộng lớn ở phía Tây làng Quỳnh Đô, đầm rất sâu và rất lầy lội, có nhiều cỏ năn, cỏ lác. Trong khi vạch ra kế hoạch đánh đồn Ngọc Hồi, Quang Trung đã nghiên cứu kỹ địa hình vùng Quỳnh Đô và quyết định lợi dụng cánh đầm Mực rộng lớn, lầy lội này làm một trận địa thứ hai nhằm vùi xác bọn tàn quân Thanh thoát chết ở đồn Ngọc Hồi. Nhiệm vụ của cánh nghi binh là chặn đường rút chạy buộc quân địch phải dấn thân vào trận địa đã được chọn sẵn đó.

    Đạo quân Đô đốc Bảo phối hợp với bộ phận truy kích của đạo quân chủ lực, từ ba mặt bao vây tiêu diệt bọn tàn quân Thanh. Đô đốc Bảo dẫn bộ binh và kỵ binh xông vào hàng ngũ địch chém giết.

    Lê Thị Vi dẫn đầu đoàn tượng binh xông tới. Những con voi tung vòi lên quân lấy quân giặc quật xuống, xương thịt nát tan. Bốn cái chân to lù lù như cột nhà đạp lên lũ giặc, giày đi xéo lại, thân thể mềm ra, bẹp nhũn. Đôi ngà nhọn xốc thẳng vào lũ giặc khiến chúng thủng bụng, lòi ruột. Đội quân voi này đã được tập luyện từ trước, khi người quản tượng cầm búa có móc bổ vào đầu chúng, chúng hăng hái xông vào quật bù nhìn rơm giày xéo, nên khi lùa ra trận, người quản tượng gõ búa vào đầu voi là voi xông vào tấn công quân giặc.

    Đàn voi chiến vừa giày xéo, vừa dồn địch vào cánh đầm Mực. Quân giặc kẻ thì bị chết, kẻ thì bị voi giày, kẻ thì bị lún sâu vào đầm lầy và bị vùi xác xuống đáy đầm. Hàng vạn quân Thanh đã bị tiêu diệt tại cánh đầm Mực này.

    Lê Thị Vi phất cờ đỏ làm hiệu lệnh. Cả đoàn voi đang xông xáo bỗng dừng lại quỳ cả xuống nghe lệnh. Đô đốc Bảo mỉm cười, nói với Lê Thị Vi:

    - Lê nữ tướng quân huấn luyện đội tượng binh quả là thuần thục, đã góp công lớn vào trận thắng hôm nay.

    Vi khiêm tốn:

    - Đó là nhờ mưu lược của thánh thượng và tài chỉ huy của đô đốc, chứ tôi nào có tài cán gì.

    Đô đốc Bảo nghiêm trang:

    - Không, tài năng của nữ tướng quân không thua kém gì cánh đô đốc chúng tôi. Có lẽ phen này thánh thượng phải phong nữ tướng quân làm bà đô đốc mới xứng đáng!

    Trước đó, Đô đốc Long đốc suất hữu quân đã đem binh đến đón ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì. Lúc vua Quang Trung đang đánh với quân Thanh ở Ngọc Hồi, thì mờ sáng hôm ấy đạo quân do Đô đốc Long chỉ huy bất ngờ tiến đánh đồn Khương Thượng thuộc huyện Quảng Đức, ở sát ngay phía Tây thành Thăng Long.

    Biết đồn Khương Thượng là một đồn kiên cố, lại có tên thái thú Điền châu Sầm Nghi Đống là một tướng giỏi đóng giữ, từ hôm trước, Đô đốc Long đã cho mời các bô lão trong làng Khương Thượng đến bàn bạc kế hoạch đánh đồn. Có cụ già hiến kế nên bày trận hỏa long để đánh địch.

    Đô đốc Long hỏi hỏa long là gì thì cụ già cho biết “hỏa long” là rồng lửa. Đó là một vũ khí giống như một cái lao, gồm hai bộ phận, tiện như một cái gậy ngắn, là hàng loạt gỗ cây có nhiều gai dài, những gai đó được uốn cong như những lưỡi câu. Gậy gai lưỡi câu ấy buộc nối vào một bộ phận thứ hai dài như cái sào. Phía trên đầu trát dày một thứ nhựa đất bên ngoài quấn lá, làm thành một thứ đuốc đặt biệt vừa là đuốc vừa là lao. Khi giáp trận, quân sĩ đốt đầu nhựa vừa khua sào ra phía trước, nhựa đuốc đốt cháy vung bắn vào địch, địch sẽ bị chết cháy, nếu không cũng bị bỏng nặng.

    Đô đốc Long mừng lắm bèn nhờ dân làng làm giúp cho một số “rồng lửa” để đánh giặc.

    Khi quân Tây Sơn đánh đồn. Sầm Nghi Đống chỉ huy quân trong đồn đánh trả kịch liệt. Toán thân binh thủ hạ của Nghi Đống gồm một ngàn tên từ trong đồn hùng hổ xông ra, dùng gươm giáo đâm chém loạn xạ khiến đội tiền quân của Tây Sơn nhiều người bị chết và bị thương. Giữa lúc ấy Đô đốc Tuyết dẫn đầu một toán quân đến tiếp ứng. Khi tới gần địch nghĩa quân khua sào lao đầu gậy gai lưỡi câu vào giặc, lưỡi câu móc vào quần áo giặc. Giặc lúng túng không gỡ ra được đành chịu chết cháy vì nhựa đuốc hoặc đành để nghĩa quân bắt sống tại trận.

    Sầm Nghi Đống phi ngựa bỏ chạy không thoát đành treo cổ lên cây đa ở Loa Sơn([4]) mà tự ải. Toán thân binh của Nghi Đống cũng tự tử chết theo đến vài trăm người. Quân Tây Sơn thừa thắng tiêu diệt đồn Nam Đồng ở gần đó, rồi tiến thẳng vào cửa ô phía Tây thành Thăng Long.

    Sáng ngày mồng bốn Tết, một tên quân kỵ nạp người trên mình ngựa phi đến trước cung Tây Long. Con ngựa sùi bọt mép, ộc theo những dòng máu gục ngay xuống đất khi tên lính chưa rời khỏi yên cương.

    - Bẩm đại nhân, quân ta …quân ta…

    Hắn không nói nên lời, hơi thở dường như tắc, miệng há hốc, mắt trừng trừng nhìn Tôn Sĩ Nghị. Hắn vẫn chưa hoàn hồn về trận đánh vũ bão của quân Tây Sơn.

    - Quân ta làm sao? - Nghị giật giọng hỏi.

    - Bẩm quân ta ở đồn Hạ Hồi đều bị quân Tây Sơn đánh úp bắt hết cả, ở đây cách đồn Ngọc Hồi không xa, sớm chiều thế nào cũng bị đánh tới.

    Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt sợ hãi thốt lên:

    - Trời! Sao thần tốc quá vậy! Quả là tướng trên trời xuống, quân dưới đất chui lên!

    Nghị lập tức sai Lãnh binh Quảng Tây là Thanh Hùng Nghiệp và viên hàng tướng Tây Sơn Phan Khải Đức mang một đội quân của Lê Chiêu Thống xuống tăng viện cho đồn Ngọc Hồi. Nghị còn đặc biệt sai hai mươi kỵ binh thuộc đội hầu cận dưới trướng của hắn cùng đi với Nghiệp, và dặn họ rằng:

    - Trong khoảng chốc lát phải liên tiếp báo tin về ngay.

    Trong khi Nghị đang lo lắng theo dõi tình hình mặt trận chủ yếu ở phía Nam thì canh tư[5] đêm ấy bỗng nhiên nghe tiếng súng nổ liên hồi ở phía Tây và quân thám thính báo tin đồn Khương Thượng đã bị tiêu diệt, quân Tây Sơn đang tràn vào phía Tây thành Thăng Long.

    Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ, không kịp đóng yên ngựa và mặc áo giáp, vội vàng cùng với toán kỵ binh hầu cận vượt qua cầu phao sông Nhị tìm đường chạy thoát thân.

    Đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị đóng ở hai bên bờ sông Nhị, chưa kịp điều động đi ứng cứu cho các mặt trận và chưa bị sứt mẻ gì cũng bị tan vỡ nhanh chóng. Chúng tranh giành nhau tìm đường chạy trốn theo chủ tướng.

    Hàng vạn người, chen chúc nhau, đạp lên nhau mà chạy trên cầu phao. Cầu phao rung rinh nghiêng ngả, dập dềnh theo những làn sóng sông Nhị đang dâng cao. Bọn giặc xô đẩy nhau, nhiều tên rơi tõm xuống nước chết.

    Bỗng những tiếng người hỗn loạn cùng rú lên, rùng rợn, hãi hùng, cầu phao đã bị đứt. Hàng vạn quân giặc đang chạy trên cầu đều rơi xuống nước bỏ xác dưới đáy sông, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.

    Lát sau, xác giặc vừa chìm xuống thì nước sông bỗng dềnh lên cao, hàng vạn nón chiêu, nón khách, mũ chiến bồng bềnh trên sóng dữ…

    Tôn Sĩ Nghị và bọn tàn quân trên đường chạy trốn về nước còn bị truy kích ráo riết. Chạy suốt ngày đêm đến huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc, Nghị tưởng thoát thân, vừa xuống ngựa nghỉ, bỗng có tin báo:

    - Quân Tây Sơn do Đô đốc Lộc chỉ huy đón đường chặn đánh quân ta.

    Tôn Sĩ Nghị hồn xiêu phách lạc vội vứt bỏ cả sắc thư, ấn tín để lo chạy thoát thân. Ròng rã bảy ngày đêm đói cơm, khát nước, Tôn Sĩ Nghị và số tàn quân sống sót mới chạy về đến trấn Nam Quan.

    Chiêu Thống ở trong điện, nghe tin có biến, vội vã cùng bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiến đưa thái hậu ra ngoài. Cả bọn chạy đến sông thì thấy cầu phao đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến Nghi Tàm, thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá, vội cướp lấy rồi chèo sang bờ Bắc. Trưa ngày mùng 6, Chiêu Thống và những người tùy tùng chạy đến núi Tam Tằng, nghe nói Tôn Sĩ Nghị đã đi khỏi đó. Chiêu Thống lại đuổi theo, trời nhá nhem tối thì đến trấn Nam Quan, theo kịp chỗ nghỉ của Tôn Sĩ Nghị. Sĩ Nghị để Chiêu Thống ở lại thành Quế Lâm rồi lên đường về nước.

    Sáng ngày mùng năm Tết Kỷ dậu, đạo quân của đô đốc Long đã tiến vào thành Thăng Long. Trưa hôm đó, đạo quân chủ lực do Quang Trung dẫn đầu hùng dũng tiến vào kinh thành vừa được thu phục giữa sự hân hoan đón chào của dân chúng kinh đô. Quang Trung ngồi trên mình voi với chiếc áo chiến bào đen sạm khói thuốc súng của mấy ngày đêm chiến đấu liên tục. Lá cờ đào giữa có mặt trời vàng dẫn đầu đoàn quân chiến thắng thẳng tiến vào kinh thành Thăng Long.

    XV

    Được lời mời của Nguyễn Đề, Trần Văn Kỷ bèn tới hồ Giám dự tiệc. Tới nơi đã thấy đông đủ quan khách, họ đều chấp tay kính cẩn chào đón quan Trung thư Phụng chánh. Kỷ thầm nghĩ mới ngày nào dự tiêc ở hồ Giám, mình chỉ là người khách phương xa mà bây giờ đã nghiễm nhiên là chủ ở đây. Nếu không gặp vua Quang Trung thì đời mình đâu được hưởng niềm vinh hạnh ấy. Ngồi bên Kỷ là Ngô Thì Nhậm, người mà năm trước chỉ là một viên quan nhỏ ngồi ké ở thuyền bến, đến nay đã thành trụ cột của triều đình mới. Những Nguyễn Lệ, Phan Lê Phiên, Bùi Huy Bích, Phạm Vĩ Khiêm… do không thức thời đã bị cuốn đi trong cơn bão táp của lịch sử, còn những người biết bỏ chỗ tối ra chỗ sáng như Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Thế Lịch… bữa nay vẫn còn có mặt ở đây cả. Nguyễn Huy Tự cũng ra nhậm chức Thị lang bộ binh cùng làm việc với Ngô Thì Nhậm. Chỉ tiếc thiếu Nguyễn Du nhưng bù lại đã có anh ruột ông là Nguyễn Đề. Thế mới biết mặc dầu qua bao lớp sóng phế hưng, đạo trời vẫn rất công bằng, chứa điều thiện thì được hưởng tốt lành, chứa điều ác thì chuốc lấy tai họa.

    Tuy bữa tiệc đông vui nhưng lòng Kỷ vẫn canh cánh như thấy thiêu thiếu một cái gì. Phải rồi bữa nay còn thiếu mặt cô Cầm, người đã dùng tiếng đàn làm nổi sóng hồ và sóng trong lòng người. Không biết nàng hiện giờ ở đâu? Kỷ bỗng nhớ đến hai câu thơ xưa: “Dao tri huynh đệ đăng cao xứ/ Biến sáp thù du thiểu nhất nhân”.([6])

    Mở đầu buổi tiệc Nguyễn Đề trịnh trọng:

     - Thưa các vị đại nhân, bữa nay đệ này kính mời các vị đến dự tiệc mừng đại thắng quân Thanh, nhân dịp xin cho giáo phường ra mắt để quan khách cùng thưởng thức. Được sự khuyến khích của quan Trung thư Phụng chánh, tôi đã cho lập lại giáo phường để bảo tồn và phát dương tinh hoa của đất nước về ngón đàn giọng hát. Ly rượu thứ nhất, tôi xin các vị cùng nâng chén để chúc mừng Hoàng đế Quang Trung, người anh hùng áo vải vừa chiến thắng ngoại xâm sống lâu muôn tuổi.

    Mọi người cùng hô “Vạn tuế” và uống cạn chén rượu. Đề tiếp:

    - Ly thứ hai, xin chúc mừng quan Trung thư Phụng chính, người đã góp mưu lược nơi màn trướng và ra sức tiến cử hiền tài ra giúp nước.

    Kỷ đứng dậy ngỏ lời khiêm tốn, cám ơn. Mọi người cùng uống cạn. Đề lại tiếp:

    - Ly rượu thứ ba xin chúc mừng quan Binh bộ thượng thư họ Ngô, người đã hiến mưu lui quân Tam Điệp để yên lòng giặc giúp quân ta đánh thắng và dùng ngọn búi để dập tắt ngọn lửa đao binh, mang lại thái bình cho trăm họ.

    Ngô Thì Nhậm đứng dậy từ tạ. Mọi người cùng reo mừng uống cạn, Đề nâng cao ly rượu hướng về cử tọa:

    - Còn ly rượu này xin chúc mừng tất cả chúng ta đã góp công cho đất nước và cũng chúc cho nước ta muôn thuở trường tồn.

    Mọi người lại hân hoan uống cạn chén rượu. Nguyễn Đề truyền:

    - Truyền các ca nữ ra ca cho quan khách cùng thưởng lãm nghe!

    Hai ca nữ mặt hoa da phấn, một cô áo hồng, một cô áo xanh ra cất tiếng hát. Tiếng hát trong trẻo quyện với tiếng trống cơm bập bùng, tiếng sáo cao vút, tiếng hầu trầm trầm, tiếng đàn đáy sâu lắng, tiếng xênh tiền rộn ràng và tiếng phách dõng dạc gõ nhịp. Tiếng hát khi cao vút như lơ lửng giữa lớp mây mờ, khi la đà như vắt vẻo bên rặng liễu. Tiếng hát êm như một hơi gió thoảng vô tình, đẹp như một tiên nga đang uốn mình múa lượn giữa không trung. Mọi người tưởng chừng như mình vừa lạc tới cõi Thiên thai, được các tiên nữ ân cần chuốc chén quỳnh hương ngọt lịm. Cứ hát xong một khúc thì tiền và lụa thưởng lại ném rào rào chồng đầy cả khoang thuyền. Kỷ nghe hát mà vẫn lơ đãng, hình như tâm hồn để tận đâu đâu, chiếc roi chầu trên tay chưa một lần giáng xuống mặt trống.

    Thấy Kỷ không vui, Nguyễn Đề hiểu ý vội truyền:

    - Cho dẹp các ca nữ, đòi nàng danh cầm ra đánh đàn hầu tiệc nghe!

    Khi nàng danh cầm bước ra Kỷ vẫn quay đi không để ý nhưng khi mấy tiếng đàn đầu tiên vang lên nghe như tiếng hạt châu rẩy rào rào trên mâm ngọc, Kỷ phải giật mình quay lại vì tiếng đàn dường như quen quen. Đến khi nhìn kỹ thì người gảy đàn không ai xa lạ mà chính là cô Cầm. Nhưng một cô Cầm gầy gò, tóc chớm hoa râm, sắc mặt đen sạm võ vàng. Song se trong âm hưởng tiếng đàn nguyệt của nàng, mọi vật chung quanh dường như thay đổi cả, trước mắt Kỷ lại hiện ra cảnh đêm xưa trên hồ Giám, chỉ có hai người ở giữa trời đất mênh mông với vầng trăng vằng vặc trên đầu. Không biết nàng có nhận ra Kỷ không, chỉ thấy nàng vẫn cúi mặt xuống đàn. Tiếng đàn lúc này nghe như tiếng nức nở của ngàn lau, tiếng lạnh lùng của cánh vạc đêm sương, tiếng đìu hiu của ngọn cỏ trên nấm mồ, tiếng thổn thức của cô gái phòng khuê khóc than cho duyên phận. Bao nỗi thê lương dồn nén cuối cùng rít lên một tiếng mạnh như thác đổ khiến dây đàn bỗng dưng đứt phựt. Kỷ nhìn lại thì thấy ngón tay nàng bị dây đàn cứa vào rớm máu. Ông tưởng chừng như dây đàn cứa vào trái tim đa cảm của mình.

    Nhìn nét mặt đau đớn đến tột độ của quan Trung thư Phụng chánh, Nguyễn Đề vội cho bãi tiệc và bảo cô Cầm ở lại. Khi chỉ còn hai người với nhau, Kỷ hỏi:

    - Nàng là cô Cầm năm trưc đó ư? Để nàng đến nỗi này là lỗi ở ta. Xin nàng hãy tha thứ cho ta đã bất lực để cho nàng phải rầu hoa héo liễu.

    Cô Cầm buồn rầu:

    - Ngài lầm rồi, thiếp không phải là cô Cầm ngày trước của ngài, mà chỉ là một người đàn bà hèn mọn tầm thường, không đáng để cho một vị quan cao nhọc lòng để mắt đến.

    - Ta đã xin nàng thứ lỗi rồi mà nàng vẫn còn giận ta phải không? Ta nào đâu muốn thế nhưng mà…

    - Không! Thiếp không hề giận ngài mà chỉ giận đời lắm nỗi éo le ngang trái, giận cho số phận thiếp quá đỗi long đong. Thiếp cũng hiểu rằng từ ngày xa cách đến nay đã trải qua bao cơn binh đao khói lửa khiến cha mất con, vợ mất chồng, thiếp cũng là nạn nhân như trăm ngàn người khác mà thôi. Bây giờ, đất nước thanh bình, tấm thân sống thừa này còn lại đến ngày nay, như vậy là may mắn lắm rồi còn dám mơ ước điều gì khác nữa.

    - Nàng đừng nghĩ như vậy! Lúc đầu vì hết gia biến lại đến quốc biến nên ta chưa thể ra Bắc Hà tìm nàng. Sau đó, ta đã đi khắp nơi tìm kiếm nàng về để nàng an hưởng cuộc sống yên lành sau bao ngày tháng gian lao hoạn nạn. Nay gặp lại nàng, quả là lòng trời run rủi, nàng về với ta đi, ta vẫn giữ trọn niềm chung thủy với nàng như lời thề nguyện năm xưa.

    Cô Cầm chớp nhanh mí mắt rồi buồn bã lắc đầu:

    - Thiếp đội ơn ngài đã không quên phận hèn mọn này nhưng đã muộn rồi. Bao năm trời không gặp ngài vì hoàn cảnh xô đẩy, thiếp đã trót đem thân thờ người khác, như sen đã lấm bùn còn mong gì chắp vào gốc cũ nữa.

    - Hoa tuy lìa khỏi cuống nhưng tơ vẫn không dứt, nàng quên câu thơ của ông Chiêu Bảy mà nàng tặng lại ta hay sao?

    - “Nước đã đổ rồi không thể vét lên đầy chậu, vợ đã bỏ đi không thể trở về”. Ngài còn nhớ lời Chu Mãi Thần ngày xưa chứ? Chồng thiếp hiện giờ tuy chỉ là một người dân chài nghèo, nhưng đã vớt được thiếp lúc thiếp gieo mình xuống sông tự vẫn, lại cháo rau đùm bọc cho thiếp qua cơn lận đận. Thiếp còn sống đến giờ là nhờ cái ơn tái tạo của người ấy, lẽ nào thiếp lại phụ ơn mà bỏ đi hưởng cảnh sung sướng một mình. Xin ngài nén lòng quên tấm thân bèo bọt này để nghĩ đến việc lớn của quốc gia, lấy cái vui của mọi người làm cái vui của mình. Thấy ngài làm được nhiều việc lợi dân, lợi nước như thế là thiếp thỏa lòng rồi, coi như là ngài đã đền tình, đáp nghĩa cho thiếp rồi.

    - Nàng đã khuyên ta vì nghĩa quên tình, ta rất cảm kích trước tấm lòng cao cả của nàng, nhưng vẫn không đành lòng để nàng sống cảnh gieo neo.

    - Ngài cho lập lại giáo phường, khiến thiếp không những có lương ăn đủ sống mà còn được tiếp tục nghề đàn của mình, đó là đã ban ơn lớn cho thiếp rồi. Thiếp nguyện sẽ trau dồi nghề nghiệp cho ngày càng điêu luyện và truyền thụ lại ngón đàn cho lớp đàn em kế tiếp, để những khúc điệu tuyệt vời của đất nước ta không bao giờ mai một, mong đáp lại tấm lòng trung hậu, nhân ái của ngài. Thiếp dẫu xa ngài, nhưng tiếng đàn vẫn đồng vọng bên tai ngài như linh hồn thiếp vẫn quanh quất bên mình, không bao giờ xa cách.

    - Lời nói cao quý của nàng khích lệ ta càng thêm gắng sức, đem tấm thân này ra bồi đắp cho đất nước khiến xã tắc thái bình, trăm họ yên vui như lời Nguyễn Ức Trai đã nói: “Làm mọi người reo vui không còn có tiếng đau thương hờn oán, đó là cái gốc của nhạc”. Tiếng câu ca của dân chúng là khúc nhạc mà ta dâng tặng cuộc đời, cùng tiếng đàn tuyệt diệu của nàng như đàn cầm hòa cùng đàn sắt.

    Lúc này, Kỷ bỗng nhìn đi đâu, hình như ông lắng nghe một tiếng chim gì rất xa mà chỉ mình ông nghe thấy. Hay ông vừa thấy một vệt sáng vụt qua nâng hồn mình lên tầng thơ cao trên trời xanh… Phải rồi, đó là tiếng gió nhẹ quyện dư âm tiếng hò reo của dân chúng đêm hoa đăng mừng đại thắng, cứ lan xa đi mãi, ngân nga như một khúc nhạc hay nhất trên đời.

    Lò hương hình đỉnh đời Chu khoan thai nhả từng sợi khói lam đặc, xoay cuộn rồi loãng dần.

    Ngồi trên sập trải đệm mây đan màu vàng mịn, mặt Trần Văn Kỷ thong thả nhắp chén trà Tước Thiệt([7]) ở An Cựu. Vừa uống Kỷ vừa ngẫm nghĩ về những lời cô Cầm nói đêm qua. Phải rồi, bây giờ hai người về chung sống với nhau, có thể tắc trách với lương tâm, nhưng lỡ sau này tình yêu dần phai nhạt thì biết đâu sẽ không có lúc coi thường, rẻ rúng nhau, nhất là khi nhan sắc nàng đã kém suy, tuổi mỗi ngày một già, liệu còn giữ được tình cảm ban đầu nữa không? Nàng đối với mình là tấm lòng tri âm cao thượng, mình đáp lại nàng bằng mối tình vật dục tầm thường thì sao xứng đáng, chẳng thà không chăn gối với nhau để càng thêm nể trọng nhau về tâm hồn còn hơn. Hơn nữa, nàng đã có chồng rồi mình đưa nàng về, người đời không hiểu lại cho là quan cướp vợ dân, sẽ làm giảm uy tín của triều đại mới trước mắt dân chúng Bắc Hà, họ sẽ cho rằng triều Tây Sơn cũng chẳng khác gì triều Lê, Trịnh trước đây. Chồng nàng là người dân chài đã cứu sống nàng, như vậy cũng là làm cho mình nhẹ bớt một phần lỗi, chứ nếu nàng chết, tội của mình càng nặng nề hơn biết bao nhiêu.

    Suy nghĩ như vậy nhưng lòng vẫn còn băn khoăn ông bước ra ngoài vườn chơi cho thanh thản đầu óc. Một bông đào nở muộn tươi cười vươn cao trên hàng dậu dâm bụt, sớm nay lá cây như nõn nà hơn. Khóm trúc ngả nghiêng vì chân chim nhún nhảy hay cảm bởi tiếng chim réo rắt. Tiếng chim như lọc cho không khí trong hẳn đi. Tàu chuối hắt ánh xanh ngọc thạch nền lên áo trắng dài của ông, nhìn nõn chuối cuốn lại, Kỷ bất giác ngâm hai câu thơ Nguyễn Trãi:

    “Tình thư một bức phong còn kín

    Gió nơi đâu, gượng mở xem”

    Nhớ đến Nguyễn Trãi sau khi thu phục xong Đông Đô đã đi khắp nơi thăm cảnh sinh hoạt của dân chúng, ông định đi chơi vừa xem xét dân tình, vừa để cho khuây khỏa nỗi lòng.

    Quân hầu dắt đến một con ngựa bạch chân dài, ức nở. Ông quấn một lượt khăn the lên đỉnh đầu, tết vòng quanh buộc dải rủ về đằng sau. Thay chiếc áo dài màu quỳ sắc, ông nhảy lên mình ngựa chỉ mang theo một tên quân hầu.

    Trước cửa Đại Hưng, một đám đông xúm xít trước tờ Chiếu lên ngôi Hoàng đế của Quang Trung do Ngô Thì Nhậm thảo. Một thầy khóa được mọi người công kênh cho cao dễ đọc, giọng sang sảng như bình văn:

    “Trẫm nay có thiên hạ sẽ dìu dắt dân vào đạo lớn, đưa dân lên cõi đài xuân. Vậy tất cả mọi người thần dân đều yên chức nghiệp chớ có theo đòi những việc sai trái: người làm quan giữ đạo công liêm, người làm dân vui theo lệ tục, giáo hóa thấm nhuần, ắt đến con đường chí thân, để vãn hồi lại thịnh trị của năm đời đế ba đời vương, để kéo dài phúc lành của tôn miếu, xã tắc không có bờ bến, chả là tốt đẹp lắm ru”.

    Thầy khóa đọc dứt, mọi người đều vui mừng. Một cụ già râu tóc bạc phơ, đầu đội nón mềm âm dương giải, có năm tà vải thanh cát, bảo một người trẻ tuổi:

    - Cứ theo lời chiếu thì vụ đông năm nay, các khoản thuế “tô, dụng, điệu”([8]) chỉ thu năm phần mười, nơi nào bị hạn bị hỏa, nếu quan trên xét thực, đều được miễn tất cả, như thế thì nhà mình ở quê khỏi phải lo chạy tiền nộp thuế rồi! May mắn quá.

    Một bà cụ đội khăn lượt uốn tóc, mặc áo thâm có đường viền cổ trắng vui vẻ nói xen vào:

    - Lời chiếu bảo dân chúng ai bị vạ lây đã bị kết tội nặng đều được đại xá, vậy là thằng cả nhà tôi sắp được về rồi! Thật là phúc đức!

    Kỷ hài lòng quất ngựa đi về phía hồ Tây, thăm lại nơi xưa đã cùng Nguyễn Du ngoạn cảnh. Mặt nước hồ Tây hôm nay không còn lặng lờ nữa mà in bóng giác ba ngù của quân sĩ đang tấp nập diễn qua, đi đầu là Đại đô đốc Vũ Văn Dũng trang nghiêm trong bộ nhung phục. Trên ngàn cây ven hồ, những lá cờ ngũ hành bay phấp phới, màu sắc lẫn vào với những vầng hoa. Trong đền Trấn Võ, dân cúng tấp nập lễ bái trước pho tượng đồng đen vị thần trấn giữ phương Bắc, không đội mũ, xõa tóc, mặc áo đạo sĩ, chân đi đất, tay trái giơ lên bắt quyết trừ tà ma, tay phải chống kiếm xuống lưng một con rùa, trên đầu lưỡi kiếm có con rắn leo chung quanh. Trên núi Khán Sơn, quân sĩ đang tập luyện võ nghệ trong tiếng ốc rúc lên báo hiệu. Đất nước tuy đã thanh bình nhưng vẫn cứ đề phòng âm mưu gây chiến của bọn xâm lược phương Bắc. Kỷ cảm thấy từ pho tượng thần Trấn Võ đến người lính đang luyện võ kia đều là tiêu biểu cho ý chí bảo vệ bờ cõi của dân ta.

    Đến Nghi Tàm, Kỷ nhìn thấy lưới thuyền đánh cá giăng đón luồng cá đi dưới nước hồ Tây trong nhịp gõ cành cạch gấp gáp để dồn cá vào lưới. Đi vào làng, Kỷ dường như nghe gõ từng tiếng quất nứt vỏ lách tách và thoang thoảng mùi hương cúc kín đáo, những bàn tay trắng ngần đưa thoăn thoắt trong khóm dâu xanh.

    Hoa đào Nhật Chiêu dập dờn như muôn ngàn cánh bướm vây mừng Kỷ. Bộ lông trắng của con ngựa ánh sắc hoa ửng lên một màu hồng, nó giũ bờm làm những cánh hoa rơi lác đác…

    Vòng lên hồ Tây, Kỷ lại qua Xuân Tảo Sở, Quán La Sở. Đến Yên Thái đã nghe thấy tiếng chày giã dó nhộn nhịp. Năm nay cần nhiều giấy lệnh để viết chiếu sắc, giấy mới, giấy bản cho học trò. Có lẽ sang năm phải mở khoa thi, mà là khoa thi đầu tiên dùng chữ nôm làm bài, theo như lời tâu xin của ông Ngô Thì Nhậm. Việc dịch các sách chữ Hán ra nôm để giao cho Viện trưởng Viện Sùng chính Nguyễn Thiếp trông nom, không biết đã bắt đầu tiến hành chưa? Trước mắt cần giấy để in sách và đóng vở tập. Phải đôn đốc dân vùng này chế ra nhiều giấy mới đủ dùng.

    Mải nghĩ đã đến phường Thụy Chương lúc nào. Tiếng thoi đưa trên khung cửi lách cách, tiếng dậm néo kéo phăng giật giọng, tiếng thoi dệt cần mẫn cầm nhịp cho mùa xuân như mỗi giờ dệt cho mùa xuân kéo dài ra. Mấy năm nay, binh hỏa liên miên, dân chúng phải bỏ cả nghề tằm tang canh cửi, làm gì có cảnh làm ăn sầm uất như thế này…

    Càng ngắm cảnh sinh hoạt nhộn nhịp của dân chúng, Kỷ càng thấm thía lời khuyên của cô Cầm: Hãy lấy cái vui của mọi người làm cái vui của mình. Trên đường về, Kỷ gặp một bầy trẻ mục đồng ngồi trên lưng trâu véo von thổi sáo. Tiếng sáo chan chứa hồn quê cất lên hòa hợp cùng âm điệu thiên nhiên, ca ngợi cảnh thanh bình, đó cũng là khúc nhạc muôn đời mà Kỷ được nghe, tiếng sáo hòa tức là lòng người hòa.

    Sau đại thắng Thăng Long, Trần Văn Kỷ trở về kinh đô Phú Xuân, sắp đặt trong công việc triều chính ông mới có thời giờ rảnh rỗi về thăm quê Vân Trình.

    Vân Trình là một làng ở phía Đông bắc xã Phong Bình, sông Ô Lâu hiền hòa chảy từ Tây sang Đông vây bọc phía Bắc và Đông của làng. Bao quanh làng là cánh đồng khá rộng. Vân Trình có tên tục là làng Rào hay làng Treo. Quanh vùng Đông bắc huyện Phong Điền có câu phong dao:

    Phò Trạch bán đệm, bán bao,

    Phủ kênh xúc tép, làng Rào long cong.

    Bên kia sông Ô Lâu là cánh đồng mênh mông của huyện Triều Hải, nên vào mùa đông, mùa rét gió bấc. Lâu ra tận Mỹ Chánh ông lại cho xây dựng cầu Phước Tích bắc qua sông Ô Lâu trên đường từ Mỹ Chánh vào kinh thành Phú Xuân qua làng Vân Trình

    Trên đường từ kinh thành Phú Xuân về làng Vân Trình, qua ngã ba Sình, Trần Văn Kỷ nhớ lại hơn hai chục năm trước mình cũng từng ngớ ngẩn ở đây băn khoăn xem có nên đi thi để ra giúp chúa Nguyễn hay không? Rồi sau đó ông lại băn khoăn xem có nên đi thi để ra giúp chúa Trịnh hay không? Đã nhiều lần ông đứng trước ngã ba của cuộc đời và cuối cùng ông đã chọn được một hướng đi: theo nhà Tây Sơn vì ông thấy vua Quang Trung đã biết lấy dân làm gốc.

    Qua ngã ba Sình, sông nước vẫn như xưa nhưng lòng Trần Văn Kỷ không còn thấy bồi hồi phân vân như những lần trước. Đất nước từ nay đã có chủ, ông đã cùng vua Quang Trung bàn bạc đặt ra nhiều chính sách mới nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh. Tất cả nông dân phá sản phải phiêu bạt đi các nơi được lệnh trở về nhận ruộng đất công của làng xã cày cấy. Chính sách dân điền được sửa đổi lại nhằm bảo đảm cho người nông dân có phần ruộng khẩu phần đủ để sinh sống. Ruộng đất tư của bọn quan lại cũ theo giặc, ruộng đất bỏ hoang quá thời hạn quy định, đều bị tịch thu giao cho các làng xã quản lý. Chính sách tô thuế cũng nhẹ hơn so với trước, Kỷ nhớ đến bức tường có bốn chữ: “Hậu lai kỳ tô”[9] của dân chúng Bắc Hà mang đón mừng vua Quang Trung khi tiến quân vào Thăng Long. Cũng như mình, Ngô Thì Nhậm và cô Cầm, dân chúng hai miền Bắc Nam đều là những “người chết hai lần” đến nay được sống lại.

    Vua Quang Trung còn ra lệnh bãi bỏ nhiều thứ thuế công thương nặng nề trước đây, mở rộng việc buôn bán, làm ăn cho thương công và thợ thủ công. Lại đề nghị với nhà Thanh mở cửa ải, thông chợ búa khiến cho hàng hóa không ngưng đọng để lợi cho sự tiêu dùng của dân. Thuyền buôn của các nước Âu châu cũng được ra vào buôn bán dễ dàng ở các thương cảng.

    Vua Quang Trung lại khuyến khích các xã mở trường học. Những sinh đồ trúng tuyển trong các kỳ thi cũ phải thi lại, những kẻ dùng tiền mua bằng cấp – loại “sinh đồ ba quan” bị thải hồi. Các công văn giấy tờ của nhà nước dần dần được viết bằng chữ nôm. Viện Sùng chính được lập ra để dịch sách chữ Hán ra chữ nôm, cốt để đưa chữ nôm lên địa vị chữ viết chính thức của quốc gia, Nguyễn Thiếp được cử làm Viện trưởng viện Sùng chính.

    Việc bang giao với nhà Thanh được giao cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích, hai ông đã thảo giấy tờ giao thiệp và đi sứ nhằm thuyết phục cho nhà Thanh từ bỏ mưu đồ phục thù và can thiệp vào công việc nước ta. Do những biện pháp ngoại giao kiên quyết và mưu trí đó, nhà Thanh phải chính thức công nhận Quang Trung làm Quốc vương nước ta và từ bỏ âm mưu thu nạp bọn vua tôi Lê Chiêu Thống lưu vong của hắn, kẻ thì bị nhà Thanh trao trả cho Quang Trung kẻ thì bị đày đi các nơi.

    Mối đe dọa của nhà Thanh đã bị đẩy lùi, Quang Trung dồn sức vào việc củng cố chính quyền, dập tắt những cuộc nổi loạn trong nước. Chính quyền các cấp từ triều đình cho đến tổng, xã được chấn chỉnh lại. Quang Trung ban hành chế độ tuyển lính, trưng binh cứ ba suất đinh chọn một suất lính. Quân đội Quang Trung gồm đủ các binh chủng: bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh, pháo binh. Vũ khí có thêm nhiều súng tay, hỏa hổ (loại ống phun lửa) và đại bác các cỡ. Chiến thuyền cũng có nhiều loại, loại lớn có thể chở được voi chiến hoặc sáu bảy trăm lính và hàng chục đại bác.

    Với chính quyền vững mạnh và quân đội hùng hậu, Quang Trung kiên quyết trấn áp bọn thù địch trong nước. Bọn tàn quân, dư đảng của Lê Chiêu Thống lén lút hoạt động hoặc nổi loạn ở các nơi bị tiêu diệt.

    Qua ngã ba Sình lần này, Trần Văn Kỷ không nghe thấy tiếng hô mái đẩy năm xưa mà bên tai ông còn văng vẳng những lời trong bài chiếu lên ngôi của vua Quang Trung:

    “Nhân nghĩa trung chính là đạo lớn của người, trẫm nay cùng dân đổi mới, vâng theo mưu mô sáng suốt của vua thánh đời trước, lấy giáo hóa dạy thiên hạ,

    Trẫm nay có thiên hạ sẽ dìu dắt dân vào đạo lớn, đưa dân lên cõi đài xuân”.

    Sóng sông Hương rì rào như đồng vọng từng lời chiếu, đưa đi xa. Phía Cửa Thuận khói nước mịt mù, sừng sững tòa Trấn Hải đài canh phòng mặt biển. Trần Văn Kỷ ngoảnh nhìn về phía kinh thành Phú Xuân, trên kỳ đài, lá cờ đào giữa có mặt trời vàng, đang tỏa nắng xuân ấm áp…

    Hết.

    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Quyển 9 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

     

    [1] Khoảng thời gian giao thừa giữa năm cũ và năm mới, tính trong khoảng thời gian từ 11h đêm ngày 30 đến 1h sáng mùng 1 Tết.

    [2] Năm 1789.

    [3] Năm 1789.

    [4] Tức gò Đống Đa.

    [5] Khoảng thời gian từ 1 giờ đến 3 giờ sáng.

    [6] Cảnh thù tưởng lúc lên cao bẻ/ Đủ mặt anh em thiếu một người {không rõ nghĩa}. Vẫn hay huynh đệ lên non đấy / Đều ngắt thù du thiếu một người – tra cứu bổ sung.

    [7] Trà quý, búp nhỏ như lưỡi chim sẻ.

    [8] Tô thuế ruộng dụng: thuế thân, điệu, thuế nhà.

    [9] Vua ta đến dân ta sống lại.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,317

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/