Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,164,426

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Thứ hai, 07:17 Ngày 16/08/2021
  • Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

    XII

    Lê Chiêu Thống sai bọn bầy tôi Nguyễn Huy Túc, Hoàng Ích Hiểu, Lê Quýnh, Nguyễn Quốc Đống đưa thái hậu và nguyên tử([1]) do cửa ải Thúy Khẩu chạy sang Long Châu nhà Thanh xin quân cứu viện. Quan châu là Trần Tốt đem việc này đề đạt lên tổng đốc và tuần phủ.

    Tổng đốc Lưỡng quảng Tôn Sĩ Nghị và Trấn phủ Quảng tây nghị Tôn Vĩnh Thanh hội họp ở Nam Ninh. Sau đó, Nghị tâu với vua Thanh rằng Tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại, An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó, đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam, thật là một chuyến mà được hai lợi.

    Vua Càn Long nhà Thanh nghe theo kiến của bọn Sĩ Nghị, bèn chính tay viết lời chiếu, trong có nói:

    “Trẫm sẽ giãi tỏ nghĩa cả với thiên hạ, nâng đỡ cương thường ở thuộc quốc. Mọi việc về Nam Giao đều phó thác cho khanh cả đấy”.

    Tháng 10 năm Mậu thân([2]), quân Thanh chia làm bốn đạo tiến vào nước ta. Đạo quân chủ lực do Tổng đốc Lưỡng quảng Tôn Sĩ Nghị và Đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy do đường Lớn từ trấn Nam Quan qua Lạng Sơn tiến vào Thăng Long. Đạo quân thứ hai do Tri phủ Điền Châu Sầm Nghi Đống chỉ huy, từ Khâm Châu qua Cao Bằng tiến xuống. Đội quân thứ ba do Đề tổng vân quí Ô Đại Kinh chỉ huy, do đường Mông Tự qua Tuyên Quang tràn sang. Đạo quân thứ tư theo đường Yên Quảng tiến vào.

    Tướng Tây Sơn Phan Khải Đức, trấn thủ Lạng Sơn, đem cả trấn thành đầu hàng quân Thanh, Sĩ Nghị tiến đến kinh Bắc.

    Ngô Văn Sở sai tướng chọn giữ bến đò Xương Giang, lại sai nội hầu Phan Vân Lân đem hơn vạn quân tinh nhuệ ở Thăng Long lên đóng ở Thị Cầu.

    Sau khi phá vỡ luôn được mấy cánh quân của Tây Sơn, quân Thanh tiến lên chiếm đóng núi Tam Tằng. Phan Văn Lân nhân đang đêm, xông pha rét lạnh, lén vượt sông Nguyệt Đức vây doanh trại Tôn Sĩ Nghị. Nhưng trận chiến của Sĩ Nghị vững chắc, không lay chuyển, đồng thời súng hỏa sang của quân Thanh lại cùng bắn ra, quân Tây Sơn không đến gần được. Trương Sĩ Long, tiên phong quân Thanh dẫn quân xông lên. Cung tên của hai cánh quân tả dực và hữu dực nhà Thanh lại bắn châu vào, quân Tây Sơn bị thiệt hại rất nhiều. Trước đó, Sĩ Nghị ra quân kỳ([3]) do phía thượng lưu, vượt qua sông đánh úp doanh trại Thị Cầu. Quân Tây Sơn phải rút lui.

    Phan Văn Lân chạy về Thăng Long. Quân Sĩ Nghị tiến đến bờ phía bắc sông Nhị.

    Được Ngô Văn Sở mời đến bàn việc đối phó với quân Thanh, Ngô Thì Nhậm băn khoăn suy nghĩ. Quân Thanh sang đây tiếng tăm rất lớn. Những kẻ trong nước làm nội ứng cho chúng, phần nhiều là phao tin đồn nhảm, làm cho thanh thế chúng to thêm để cho lòng người sợ hãi lay động. Quân ta có ai được sai phái đi đâu, vừa ra khỏi thành là đã bị bắt giết. Số người Bắc Hà thuộc vào số quân của ta, hễ gặp dịp sơ hở là bỏ trốn liền. Đem đội quân ấy mà đánh, không khác gì xui bầy dê đi chọi cọp dữ. Hiện nay, những bầy tôi trốn tránh của Chiêu Thống đâu đâu cũng có, nghe tin quân Thanh sang cứu họ đều nghển cổ mà trông. Quân ta mai phục ở đâu, địa thế hiểm hay không, số quân nhiều hay ít, quân giặc chưa biết thì họ đã báo trước với chúng. Chúng sẽ nhân kế của ta mà lập kế của chúng, rồi bốn mặt kéo đến vây bắt. Quân cơ đã bị tiết lộ, tự nhiên mất hết mọi điều tiện lợi. Ấy là mình tự hãm mình vào chỗ chết, còn hòng đánh úp được ai? Đến như việc đóng cửa thành mà cố thủ, lòng người đã không vững, ắt thế nào cũng sinh ra mối lo ở bên trong. Thật chẳng khác gì đem một con chạch bỏ vào giỏ cua. Vậy thì đánh đã chẳng được, mà giữ cũng không vững. Chỉ còn một cách tạm lui quân để tránh mũi nhọn ban đầu của giặc rồi cho người báo tin cho Bắc Bình vương rõ. Thử xem quân Thanh đến thành, khu xử việc nhà Lê ra sao? Vua Chiêu Thống sau khi trở về, xếp đặt việc quân, việc nước thế nào? Chờ Bắc Bình vương ra, bấy giờ sẽ quyết chiến một phen cũng chưa muộn.

    Nhưng Ngô Thì Nhậm lại nghĩ lại. Đề ra kế sách lui quân đó là một việc lớn, động đến toàn bộ chiến lược của nghĩa quân. Nếu lui binh mà thất sách thì đại cục sẽ hỏng không có cách gì cứu vãn nổi. Nếu thành công thì đó chính là lùi vào chỗ đất chết mà tìm lấy đường sống. Mình là bầy tôi cũ nhà Lê. Mới theo Tây Sơn chưa được bao lâu, nay lại đưa ra kế hoạch mạo hiểm này, biết người ta có theo hay không, chưa biết chừng họ sẽ bị nghi ngờ mình muốn lừa hãm Tây Sơn không lạ gì. Như vậy, có khi đưa ra kế sách này lại ở vào cái thế bị hiềm nghi chẳng khác gì cái hồi xảy ra vụ án năm Canh tý.

    Suy nghĩ một hồi, Ngô Thì Nhậm lại gạt bỏ cái ý nghĩ đó đi. Chuyện vụ án năm Canh tý chỉ có liên quan đến bản thân mình, còn chuyện đối phó với quân Thanh xâm lược lại có liên quan đến sự tồn vong của đất nước. Nếu biết việc có lợi cho đất nước thì dù có nguy hiểm đến bản thân mình, mình cũng vẫn cứ phải làm. Mình không thể nhắm mắt khoanh tay phó mặc cho nghĩa quân lâm vào vòng nguy ngập, nghiệp lớn đi đến chỗ tiêu vong, đất nước rơi vào cảnh nội thuộc.

    Ngô Thì Nhậm quyết định đem ý mình trình bày với Ngô Văn Sở, xin sớm truyền cho thủy quân về đóng ở vùng Biện Sơn, quân bộ thì lui về giữ núi Tam Điệp, hai mặt thủy bộ liên lạc với nhau, giữ lấy chỗ hiểm yếu rồi cho người chạy về bẩm với Bắc Bình vương. Ngô Văn Sở ngần ngại nói:

    - Chúa công về Nam, đem thành này giao phó cho ta. Giặc đến thì phải sống chết với giặc, còn mất với thành, trên không thẹn với kẻ bề tôi giữ đất, dưới không phụ chức trách cầm quân. Nếu mới thấy bóng giặc đã trốn, bỏ thành cho giặc, chẳng những mang tội với chúa công mà người Bắc Hà còn coi ta ra gì?

     - Tướng giỏi thời xưa, lượng thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình thế thay đổi mà bày ra chước tạo giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước, đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi đi, chứ có mất gì!

    Sở cười:

    - Tôi cũng đánh liều đi nước cờ ông mách. Nước cờ Tam Điệp!

    Trần Văn Kỷ đang ngồi thảo văn thư thì Vũ Văn Ước bước vào. Ước nói:

    - Quan Trung thư Phụng chính đã biết tin gì chưa?

    Kỷ sửng sốt:

    - Tin gì vậy quan Tham tri?

    Ước giọng cay độc:

    - Quan trung thư đã biết người mà ngài tiến cử đã làm nên công trạng gì chưa? Chúa công tin tưởng giao việc Bắc Hà cho ông ta, vậy mà quân Thanh vừa kéo sang, ông ta đã khiếp nhược bỏ chạy mãi đến đèo Tam Điệp, ông ta vốn là thần tử nhà Lê, nên khi thấy quân Thanh đưa Chiêu Thống về, ông ấy có nhị tâm dâng cả đất Bắc cho giặc để lập công với Chiêu Thống sau này. Trước đây, tôi đã từng nói bọn cựu thần nhà Lê ở Bắc Hà không thể tin được, nay sự đã quả nhiên.

    Kỷ điềm tĩnh:

    - Việc này chưa biết đầu đuôi ra sao, ta chưa nên vội vàng cho là Ngô Thì Nhậm có nhị tâm. Cứ để ra xét xem nguyên ủy thế nào lúc ấy sẽ phán đoán cũng không muộn.

    Ước giận dữ:

    - Việc rành rành còn phải tra xét gì nữa? Nghe tin quân ta chạy về Tam Điệp, chúa công giận lắm đích thân chính cầm quân đi ngay để trị tội Ngô Thì Nhậm. Ngài cứ chờ xem sẽ thấy lời tôi nói có đúng hay không?

    Vũ Văn Ước đi rồi, Trần Văn Kỷ còn băn khoăn nghĩ ngợi. Ông không tin rằng Ngô Thì Nhậm có nhị tâm. Chắc đây chỉ là mưu kế tạm lùi một bước để tránh mũi nhọn của kẻ địch lúc ban đầu mà thôi.

    Bỗng có lệnh của Bắc Bình vương mời các tướng đến họp bàn, Trần Văn Kỷ lập tức đến đại bản doanh dự họp. Mở đầu, Bắc Bình vương nói:

    - Ta vừa được Nguyễn Văn Tuyết về báo tin quân Thanh kéo sang nước ta đã tới bờ bắc sông Nhị. Ngô Văn Sở đã cho quân rút lui khỏi thành Thăng Long, quân thủy thì về đóng ở hải phận Biện Sơn, quân bộ thì đóng ở vùng núi Tam Điệp. Ta muốn thân chinh cầm quân ra Bắc diệt quân Thanh lập tức, chẳng hay ý các ông thế nào?

    Đô đốc Long tiến lên nói:

    - Chúa công với vua Thái Đức có sự hiềm khích đối với ngôi chí tôn, lòng tôn phò của mọi người chưa thật bền vững, nay nghe quân Thanh sang đánh, càng dễ sinh ra ngờ vực hai lòng. Vậy xin trước hết hãy chính vị hiệu, ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau sẽ cất quân ra đánh dẹp cõi Bắc cũng chưa muộn.

    Những người đến họp đều tán đồng ý của đô đốc Long. Bắc Bình vương quay hỏi Trần Văn Kỷ:

    - Ý của các tướng như vậy, quan Trung thư Phụng chính thấy thế nào?

    Trần Văn Kỷ thưa:

    - Tâu chúa công, lời của mọi người là chí lý, xin chúa công nên nghe theo.

    Bắc Bình vương nói:

    - Ta dấy nghĩa trước hết là để cứu dân, cứu nước chứ bản tâm ta vốn không màng đến tước vị chỉ mong sớm quét sạch chông gai, đặt con đỏ yên trên nệm chiếu rồi sẽ lui về vui áo thêu, hài cỏ, sống thảnh thơi trọn ngày Thuấn tháng Nghiêu. Nhưng nay tướng sĩ đòi hỏi ta phải lên ngôi tôn đế cố kết lòng người diệt giặc ngoại xâm, vì nghĩa ta không thể từ chối, mong tướng sĩ hiểu cho lòng thành thực của ta. Bắc Bình vương bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân để tế trời đất cùng các thần sông, thần núi.

    Lợi dụng địa thế đỉnh của một quả đồi, quân Tây Sơn đã gấp rút hoàn thành công trình xây dựng đàn Nam Giao trong vòng một ngày, bằng cách bang xẻ triền dốc thành ba vòng nền hình thuẫn, chu vi mỗi vòng nền càng giảm dần, theo chiều cao. Ngay ở đỉnh đồi là tầng thứ ba, bề mặt rất phẳng. Theo bốn hướng đi của đàn là bốn con đường, bề rộng các con đường này càng lên đỉnh càng thu hẹp dần. Về phía Đông nam và Tây nam của tầng thứ hai là một gò đất thấp chạy theo hình vòng cung, đó là hai con đường đưa quân Tây Sơn lên đàn và đứng làm lễ, khi đi từ hai hướng theo hai con đường phía Đông và phía Tây.

    Nghĩa quân đã khéo lợi dụng bốn địa thế cao ở xung quanh núi Bân cách đàn chừng ba trăm trượng để làm bốn bức bình phong tự nhiên theo bốn con đường dẫn lên đàn. Con đường phía Bắc hướng về thành Phú Xuân, lợi dụng địa thế cao ở khu vực phía trước để làm bình phong. Núi Thiên Thai được chọn làm bình phong ở phía Nam, phía Đông cách đàn 300 trượng là núi Tam Thai, bức bình phong thiên nhiên phía Tây là cách đồi thuộc làng Dương Xuân Thượng.

    Toàn bộ cấu trúc đàn tuy đơn giản nhưng rất uy nghiêm và đẹp mắt với ba tầng đồ sộ. Về phía Đông đàn tiếp giáp với Động Trọc và núi Ngự Bình. Hai phía Tây và Bắc giáp với xã Thủy Trường. Phía Nam là khu vực cư trú của dân làng Tứ Tây và xa hơn nữa cách đàn chừng 300 trượng là vùng núi trùng điệp với những đỉnh núi cao trên dưới 25 trượng: đầu tiên là núi Thiên Thai cao hơn 30 trượng, về phía Đông là núi Ngũ Phong với năm đỉnh núi kế tiếp nhau là Động Lở, Động Lăng, Động Ba, Động Bồng và Động Tranh, trong số đó đỉnh Động Tranh cao tới hơn 30 trượng.

    Từ thành Phú Xuân đến đàn có hai con đường, con đường thứ nhất là từ thành qua An Tựu vòng qua phía Bắc núi Ngự Bình rồi dẫn đến đàn Nam Giao. Con đường thứ hai là con đường đất khá rộng chạy từ bờ Nam sông Hương rồi gặp con đường Ngự Bình dẫn đến đàn.

    Bắc Bình vương cùng Trần Văn Kỷ bàn định chọn ngày 25 tháng Chạp năm Mậu thân[4] làm ngày cử hành tế Nam Giao. Nhưng đã lên ngôi Hoàng đế thì phải có danh hiệu, kỳ hiệu riêng, không thể chung với danh hiệu, kỳ hiệu của Hoàng đế Thái Đức được, Bắc Bình vương còn đang băn khoăn về chọn màu cờ, niên hiệu thì Đô đốc Lộc tâu:

    - Tâu chúa công. Trước đây, ngài đã được Thái Đức Hoàng đế phong làm Bắc Bình vương. Nay lại đem quân ra Bắc Hà trừ giặc Thanh xâm lấn, đem lại thái bình cho thiên hạ. Vậy cứ như ngu ý thì ngài nên lấy cờ hiệu màu xanh.

    Trần Văn Kỷ tiếp lời:

    - Dạ tâu chúa công, ngài và Thái Đức Hoàng đế vốn cùng một gốc, cùng lo trừ bạo loạn. Cờ hiệu của Thái Đức Hoàng đế sắc đào, vậy ta cũng lấy sắc đào. Nhưng nên thêm nét gì thể hiện được đại nghĩa của mình.

    Bắc Bình vương cả cười:

    - Ý tiên sinh chính hợp ý ta. Sắc đào là sắc của bình minh xán lạn. Nó là chí nguyện hy sinh xương máu của nghĩa quân Tây Sơn ta vì đại nghĩa. Việc dấy binh diệt Trịnh - Nguyễn, nay lại đem quân ra Bắc Hà hỏi tội giặc Thanh ngông cuồng, là quang minh chính đại. Nghĩa lớn ta sáng rõ, hợp ý trời và thuận lòng người. Vậy cờ hiệu ta lấy sắc đào, giữa có vầng mặt trời vàng. Niên hiệu ta là Quang Trung. Như thế mới nên rõ được cái nghĩa lớn ấy.

    Mọi người đều tán đồng.

    Đúng giờ tý[5] ngày 25 tháng Chạp, đạo ngự bắt đầu khởi hành từ kinh thành qua An Cựu vòng qua phía Bắc núi Ngự Bình rồi lên đến đàn Nam Giao. Đạo ngự gồm có đạo tiền, đạo trung, đạo hậu, quân lính, voi ngựa, cờ xí rực rỡ. Vua Quang Trung đội mũ miện, mặc áo long cổn, đi hia đỏ ngồi trên kiệu do tám người khiêng, hai bên có quân lính cầm tàn vàng che cho kiệu. Hai bên đường dân chúng đặt hương án lư trầm nghi ngút bái vọng khi đạo ngự đi ngang qua.

    Một đạo quân khác đi theo con đường từ Nam sông Hương đến Ngự Bình để tới đàn, rồi dàn hàng ra hai bên rất uy nghi tề chỉnh.

    Tầng trên cùng đặt bàn thờ trời đất, thần mặt trời, thần mặt trăng, các tinh tú, các thần sông, thần núi và các vị vua tiền triều đã quá cố. Tầng thứ hai nơi để vua nghỉ ngơi khi hành lễ. Tầng thứ ba là nơi để cỗ bàn, bánh trái, cũng là nơi để đốt trâu và hàng lụa.

    Đến giờ đã định, các quan văn võ theo vua Quang Trung lên tầng thứ nhất. Lễ tế giao bắt đầu. Tiếng nhạc, tiếng xướng, tiếng thày([6]) nổi lên dưới bầu trời yên lặng giữa muôn nghìn đèn đuốc rực rỡ.

    Sau khi dâng cỗ bàn, quân lính dùng củi quế thiêu sống một con trâu để làm lễ vật và đốt hàng lụa để cúng thần.

    Tế giao xong, vua Quang Trung trở về cung điện, ngồi lên ngai để bá quan lại mừng. Quân lính mang khí giới tàn quạt, cờ lọng sắp hàng từ trước sân điện ra đến cổng thành. Chuông trống nổi lên, quan Trung thư Phụng chính Trần Văn Kỷ mặt áo đại triều, tiến ra tuyên đọc tờ Chiếu lên ngôi Hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên hiệu Thái Đức làm năm đầu tiên niên hiệu Quang Trung. Trên cột cờ, lá cờ đào giữa có mặt trời vàng được kéo lên trong tiếng reo hò của các tướng sĩ.

    Ngay hôm đó, vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh, cả thủy lẫn bộ cùng ra đi. Ngày 29 đến Nghệ An. Khi vào nghỉ ở nơi hành tại, vua Quang Trung bảo Trần Văn Kỷ:

    - Năm trước, khi đại quân ta từ Bắc Hà kéo vào Phú Xuân, khanh có tiến cử cho ta vị cống sĩ ở La Sơn là Nguyễn Thiếp, nhưng lần ấy vì phải hành binh cấp tốc nên ta chưa có dịp gặp ông. Nay nhân dịp đại quân ta đi qua Nghệ An, khanh hãy đi vời ông tới gặp ta để ta hỏi vài câu chuyện.

    Trần Văn Kỷ thầm nghĩ vừa rồi mình tiến cử Ngô Thì Nhậm sau đó lại xảy ra chuyện hiểm nguy chưa rõ hư thực ra sao, nay lại tiến cử Nguyễn Thiếp, nếu lại xảy ra chuyện không hay thì lúc đó biết ăn nói thế nào. Tuy vậy, ý nguyện sốt sắng tiến cử người hiền tài ra giúp nước đã lấn át những tính toán riêng tư nên Kỷ thân đến thành Lục Niên ở huyện Hương Sơn tìm Nguyễn Thiếp.

    Đến nơi hỏi thăm biết Nguyễn Thiếp dựng nhà trên chỏm núi Bùi Phong, một chỏm trong dãy núi Thiên Nhẫn, Trần Văn Kỷ cùng quân hầu trèo lên đến tận đỉnh, thấy Nguyễn Thiếp đang ngồi đọc sách trong một gian nhà cỏ. Nghe tiểu đồng vào báo cáo có quan Trung thư lệnh Kỷ thiện hầu tới thăm, Nguyễn Thiếp vội ra đón.

    Trà nước một hồi, Trần Văn Kỷ nói:

    - Chúa công tôi từ lâu vẫn mộ tiếng tiên sinh là bậc ẩn sĩ đạo cao đức trọng, nên muốn mời tiên sinh chỉ giáo cho đôi lời vàng ngọc. Nay đại quân kéo ra Bắc diệt quân Thanh xâm lược, nhân đi qua Nghệ An nên xin tiên sinh bớt ít thời giờ ghé nơi hành tại để chúa công tôi được hầu chuyện.

    Nguyễn Thiếp thong thả:

    - Tôi bất tài lại lâm bệnh nên phải về ở ẩn tại đây, nào có tài cán gì mà nhọc lòng chúa công và đại nhân cho vời.

    Kỷ ân cần:

    - Từ hồi tôi đến Thăng Long yết kiến cụ Thái Bảo đã được cụ cho biết tiên sinh là bậc đạo học cao xa. Tiên sinh vẫn ôm chí giúp đời chỉ vì không muốn chen vai với bọn sâu dân mọt nước nên mới cáo quan về ở ẩn nhưng lòng vẫn canh cánh nỗi thương dân gặp cảnh lụt lội, hạn hán phải chịu sưu cao, thuế nặng. Nay, chúa công tôi dấy quân chính là để cứu vớt nhân dân ra khỏi cảnh lầm than, nước lửa. Xin tiên sinh hãy vì thương đến sinh dân mà ra gánh vác việc đời để khỏi phụ lòng chúa công tôi mong mỏi.

    Nguyễn Thiếp dịu giọng:

    - Tôi tuy ở ẩn nhưng vì ở bên cạnh thành Lục Niên nên vẫn ngưỡng mộ dư phong của vua Lê Thái Tổ bình giặc Minh xâm lược ngày trước. Nay chúa công ra Bắc dẹp quân Thanh chính là đã tiếp nối nghiệp của vua Lê Thái Tổ, vì nghĩ đến điều ấy nên tôi xin nguyện tới hầu.

    Nguyễn Thiếp khăn áo chỉnh tề rồi cùng Trần Văn Kỷ lên đường. Vừa xuống tới chân núi, Kỷ ngoảnh lại nhìn thấy sông Lam xanh biếc chảy phía trước mặt như vành đai, những chỏm trong dãy núi Thiên Nhẫn đều đầu tròn và cất cao lên, trông như hình một đàn ngựa chạy đua. Địa thế hiểm trở như vậy nên Lê Thái Tổ đã đắp thành đá chống giặc Minh, vì nhà vua ở đây sáu năm nên gọi là thành “Lục Niên”. Hai dòng suối trên dãy núi như hai cái cầu vồng bắt qua. Thành đá cỏ mờ, dòng thác đổ xuống trắng xóa như bạc. Nhìn xa xa thấy Hòn Ngư cánh buồm lộng gió dong thẳng trong buổi chiều tà. Nhìn dấu vết anh hùng của người xưa, lòng Kỷ càng thêm cảm khái, muốn phen này quét sạch giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi để khỏi thẹn với tấm gương anh liệt của tổ tiên.

    Tới nơi, vua Quang Trung cho mời Nguyễn Thiếp vào dinh và hỏi:

    - Quân Thanh sang đánh, tôi sắp đem binh ra chống cự. Mưu đánh và giữ, cơ được hay thua, tiên sinh nghĩ như thế nào?

    Nguyễn Thiếp nói:

    - Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh nên giữ ra sao. Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, giặc Thanh sẽ bị dẹp tan.

    Vua Quang Trung nhìn chăm chú vào mái tóc bạc trắng như cước của người ẩn sĩ rồi đến đôi mắt tinh anh đầy từng trải như muốn đọc trong đôi mắt ấy những dự cảm về tương lai. Chỉ nghe một lời quyết đoán của La Sơn phu tử, nhà vua đã thấy vững lòng tin vào tiền đồ tươi sáng của triều đại mới và của đất nước.

    Vua Quang Trung sai đại tướng là Hám hổ hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba suất đinh thì lấy một người, chưa mấy lúc đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ. Rồi nhà vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở Thọ Hạc, đem số thân quân ở Thuận Hóa, Quảng Nam chia làm bốn doanh: tiền, hậu, tả, hữu, con số lính mới tuyển ở nghệ An làm trung quân. Số voi trận có được mấy trăm con.

    Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên ủy quân lính, truyền cho tất cả đều ngồi nghe lệnh, rồi dụ họ rằng:

    - Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ “đất nào sao ấy” đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam phương Bắc([7]) chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ vương, đời Tống có Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ nhìn chúng làm việc tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Ngô tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi hại, được, mất, ấy, đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Nếu ai dám đánh thì hãy vì ta giết sạch lũ chó Ngô đi. Nếu ai không dám đánh, thì hãy xem ta đánh trong một trận sẽ quét sạch quân giặc. Đó không phải là chuyện lạ lùng gì cả.

    Vua Quang Trung nói dứt, các quân dạ ran như sấm rung động cả hang núi, khiến cho trời đất tưởng chừng biến đổi cả cảnh sắc. Rồi chiêng trống đồng thời vang rền… Quân lính gấp đường kéo ra.

    Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các quân đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Khi đến núi Tam Điệp, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ra đón, đều mang gươm trên lưng mà xin chịu tội.

    Vua Quang Trung nói:

    - Các người đem thân thờ ta, đã làm đến chức tướng soái. Ta giao cho toàn hạt cả 11 thừa tuyên([8]) lại cho tùy tiện làm việc. Vậy mà giặc đến không đánh nổi một trận, mới nghe tiếng đã chạy trước. Binh pháp dạy rằng: “Quân thua kém tướng”. Tội của các ngươi đều đáng chết một vạn lần…

    Nghe đến đây Vũ Văn Ước đứng hầu sau lưng vua Quang Trung có vẻ đắc ý, còn Trần Văn Kỷ thì hơi phân vân lo lắng. Chẳng lẽ nhà vua lại trị tội Sở và Lân vì đã thi hành cái kế lui quân của Ngô Thì Nhậm hay sao. Liếc nhìn nét mặt Sở, Lân cũng thấy hơi hoang mang, riêng Ngô Thì Nhậm vẫn bình tĩnh như thường, Kỷ thầm phục Nhậm có phong độ của một kẻ sĩ uy vũ không làm cho khuất phục. Bỗng vua Quang Trung nói tiếp:

    - Song ta nghĩ các ngươi đều là hạng vũ dũng, chỉ biết gặp giặc là đánh, đến việc tùy cơ ứng biến thì không có tài. Cho nên, ta để Ngô Thì Nhậm ở lại đây làm việc với các ngươi, chính là lo về điều đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục, Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. Năm trước ta đánh đất ấy, chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi, đó là chứng cớ rõ ràng. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đây, quân Thanh kéo sang, người trong kinh kỳ làm nội ứng cho chúng thì các ngươi làm sao mà cử động được? Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy…

    Nghe lời vua Quang Trung, Vũ Văn Ước mặt tối sầm lại còn Trần Văn Kỷ thì mặt rạng rỡ hẳn lên. Có thế chứ, thật không uổng công đặt tin tưởng vào Ngô Thì Nhậm.

    Ngô Thì Nhậm lạy hai lạy để tạ ơn. Vua Quang Trung lại nói:

    - Lần này ta ra thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng quá mươi ngày, có thể đuổi được quân Thanh. Nhưng nghĩ đúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng?

    Bọn Sở, Lân đều lạy tạ và nói:

    - Chúa thượng thật là lo xa, chúng tôi ngu dại không thể nghĩ tới chỗ đó. Hiện nay, phương lượng tiến đánh ra sao, xin chúa thượng nhất nhất chỉ rõ để chúng tôi tuân theo mà làm.

    Vua Quang trung bèn sai mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra làm năm đạo, hôm đó là ngày 30 tháng Chạp. Rồi nhà vua bảo kín với các tướng rằng:

    - Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối 30 lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho ta là nói khoác!

    Trong bữa rượu chiều ba mươi Tết, Trần Văn Kỷ nói với Ngô Thì Nhậm:

    - Lúc mới nghe tin lui quân, tuy cũng đoán ra đó là mưu kế của quan Thị lang, nhưng thấy nhiều người nghi ngờ nói ra, nói vào, tôi cũng lo lắng. Không lo lắng cho bản thân tôi bị liên lụy mà chỉ lo nếu lỡ xảy chuyện không hay thì có hại cho việc nước. Mãi đến lúc nghe chúa công chấp thuận cái mưu đó, tôi mới yên tâm.

    Ngô Thì Nhậm chân thành:

    - Tôi đội ơn đại nhân tiến cử, dẫu một chết cũng chưa đủ báo đền, có lẽ nào lại làm điều xằng bậy để phụ lòng ưu ái của ngài tôi không nề hà gì thân phận mình là kẻ tân tòng, cũng không quản ngại gì chuyện mình bị hiềm nghi, mà chỉ biết đem tâm huyết ra giúp nước để đáp ơn tri ngộ của chúa công và đại nhân. Vì vậy, mới đem ý ngụ của mình mạnh dạn trình bày với quan Đại tư mã họ Ngô. Hiềm vì bày kế nghi binh không những chỉ lừa giặc mà còn phải lừa cả tay sai của giặc có thể trà trộn trong hàng ngũ ta, bởi vậy phải giữ hết sức bí mật. Tôi chỉ có thể nói với một mình quan Đại tư mã mà thôi, cả đến Đô đốc Tuyết là người mang tin cáo cấp về Phú Xuân cũng không biết. Thực ra, nói rút quân không phải là rút hết mà chỉ rút có quân bộ, còn quân thủy thì cho ngụy trang chiến thuyền chèo gấp ra phía Bắc, ém quân dọc theo bờ biển để khi cần thiết có thể huy động được ngay. Có điều quân rút thì phô phang hình tích cốt đánh động cho địch biết, còn quân tiến ra thì lại giấu giếm hết sức kín đáo, không để lộ một chút nào. Đó là làm theo sách Võ kinh đã dạy: “Việc của một người không tiết lộ cho hai người, việc làm ngày mai không tiết lộ hôm nay, suy xét cho kỹ càng, đừng để hở sợi tóc, bí mật ở công việc sợ tiết lộ ra lời nói, bí mật ở lời nói sợ tiết lộ ra nét mặt, bí mật ở nét mặt sợ tiết lộ ra tinh thần, bí mật ở tinh thần sợ tiết lộ trong mơ mộng. Có việc làm cần giấu đầu mối, có việc dùng phải cấm không nói. Việc của người làm tướng, lặng lẽ cho kín, ngay ngắn cho yên, có thể làm tối tai mắt của quân sĩ, khiến họ không biết đổi việc làm, thay mưu kế khiến người ta không biết, đổi chỗ, dời đường đi, khiến người ta không lo lắng. Đến kỳ dấy quân mà như lên cao mà bỏ thang đi, quân tiến sâu vào đất chư hầu mà phát động binh cơ cũng như đuổi đàn dê cho chạy đi chạy lại, chẳng biết đi đâu. Tập hợp ba quân đông đúc mà đưa vào chỗ hiểm. Đó là việc của người làm tướng”.

    Kỷ gật gù:

    - Binh bất yếm trá([9]) quan Thị lang làm như vậy, là rất đúng. Nhưng quan Thị lang còn lạ gì nhân tình thế thái, có khi điều quan trọng không ở chỗ lời nói như thế nào mà ở chỗ lời nói đó do ai nói ra. Riêng phần tôi xin nói chắc với quan Thị lang rằng nếu quả thật ông là người trung chính mà bị nghĩ oan thì Kỷ này nguyện liều chết để bảo vệ ông.

    Nhậm cảm động:

    - Xin cảm tạ lòng trượng nghĩa của đại nhân. Cứ kể ra tôi là người mới mà lại dám đề ra một kế sách có liên quan đến sự an nguy của toàn thể nghĩa quân cũng là chuyện liều lĩnh. Nhưng sở dĩ dám lớn mặt làm như vậy là vì tin tưởng vào sự sáng suốt của chúa công, của đại nhân và các tướng sĩ khác. Tính ra đời tôi đã hai lần suýt chết, một lần do Vũ Văn Ước hẹp hòi tìm cách hãm hại, một lần do dám mạo muội dâng kế lui binh. Nếu không nhờ được sự sáng suốt của Hoàng đế Quang Trung và sự tin cậy của quan Trung thư Phụng chính thì tôi đâu còn sống đến ngày nay nữa. Quả là tôi được sinh lại một lần nữa, cái ơn cải tử hoàn sinh ấy tôi không bao giờ dám quên.

    Kỷ thủng thẳng:

    - Không riêng gì ngài, chính tôi cũng đã chết hai lần.

    Nhậm ngạc nhiên:

    - Đại nhân nói vậy có phải là vì tôi mà suýt liên lụy đến đại nhân không, nếu vậy thì tôi vô cùng đắc tội.

    Kỷ mỉm cười:

    - Không phải thế! Sở dĩ tôi nói mình là người chết hai lần bởi vì: nếu lần đầu tôi lầm đi theo chúa Nguyễn thì đã chết rồi, sau nếu đi theo chúa Trịnh thì lại chết thêm một lần nữa, mà đều là cái chết nhục nhã, vô ích! Chỉ có đi theo Hoàng đế Quang Trung thì đó mới là con đường sống, chính người mới có công tái tạo cho bọn ta, cứu nguy cho đất nước

    Nhậm gật đầu:

     - Đúng rồi! Bọn ta đều là người chết hai lần. Nhưng tôi trộm nghĩ: có cái chết nặng như núi Thái Sơn, có cái chết nhẹ như lông hồng. Nếu trước đây tôi chết vì vụ án năm Canh Tí chỉ là cái chết ngu trung với một người, một dòng họ, sao bằng cái chết oanh liệt vì nghĩa lớn, vì muôn dân, vì đất nước. Khi hiến nước cờ Tam Điệp, không phải tôi không nghĩ rằng mình có thể chết nhưng nếu cái chết của tôi có thể đổi lấy cái sống của trăm ngàn người, thì tôi đâu dám tiếc thân mình. Kẻ sĩ có thể chết vì người tri kỷ, tôi nguyện liều chết để đáp lại cái ơn tri ngộ của đại nhân.

    Kỷ giọng cảm khái:

    - Lần đầu nhìn thấy ngài trong bữa tiệc trên hồ Giám, nghe ngài chỉ trích cái học khoa cử, tôi đã thầm đoán ngài là một nhân tài của đất nước mà tôi đang bỏ công tìm kiếm, và linh cảm sẽ có ngày ta đi chung nhau một con đường. Không ngờ điều ấy đến nay đã thành sự thật. Chén rượu này xin chúc mừng mưu kế thần diệu của quan Thị lang và mừng cho thần diệu của hai ta.

    - Xin đội ơn quan Trung thư Phụng chính.

    Ngô Thì Nhậm đỡ chén uống một hơi cạn, mặt ông bừng bừng không biết đó là men xuân hay ông đã nhấp trước men nồng của chiến thắng.

    Bước vào đại bản doanh, Trần Văn Kỷ thấy vua Quang Trung đang trầm ngâm nghĩ ngợi. Thấy Kỷ, nhà vua nói:

    - Ta cho vời khanh đến đây bàn một chuyện cơ mật. Khanh cũng biết rằng ngoài mối lo ở mặt Bắc, ta còn mối lo ở mặt Nam. Vừa rồi tuy ta đã giảng hòa với vua Thái Đức nhưng mối hiềm khích hai bên không phải là đã chấm dứt. Nguyễn Ánh thừa cơ từ Xiêm trở về tiến đến cửa biển Cần Giờ, Đông định vương([10]) trúng mưu ly gián của Nguyễn Ánh, nghi Thái bảo Phạm Văn Tham đầu hàng nên bỏ chạy về Quy Nhơn rồi qua đời. Sau đó, Phạm Văn Tham cũng sa cơ bị hại. Ta chỉ e khi ta mang quân ra Bắc Hà, Nguyễn Ánh sẽ thừa dịp tiến đánh Quy Nhơn. Vì vậy, ta phải làm sao diệt được quân Thanh trong một kỳ hạn rất ngắn để sau đó kịp trở về phòng giữ phía Nam, khanh có kế sách gì đóng góp với ta không?

    Kỷ nói:

    - Tâu chúa công, muốn đánh nhanh thắng nhanh thì phải làm sao cho giặc khinh địch không để tâm phòng bị mới có thể xuất kỳ bất ý kéo quân ra tiêu diệt chúng. Nay ta nên viết thư trá hàng để kiêu lòng giặc, mới có thể đưa chúng vào bẫy.

    Vua Quang Trung khen phải, sai Trần Văn Kỷ thảo một bức thư gửi cho Tôn Sĩ Nghị, giả vờ nói ra những lời khiêm nhún và nhận tôi. Đoạn sai Trần Danh Bính chạy ngựa trạm mang bức thư hỏa tốc đến Thăng Long.

    Lê Thị Vi được Quang Trung giao cho nhiệm vụ cùng Bùi Thị Xuân dạy voi trận. Voi trận phải huấn luyện rất công phu. Phải tập cho voi chiến đấu, phải cho voi quen đi không sợ lửa, không sợ tiếng súng lớn. Mỗi thớt voi phải dùng hai quản tượng. Khi voi gần địch, quản tượng lấy que dài chừng hai sải chọc vào voi khiến voi dùng vòi quật ngã tất cả những gì gặp phải khi đi qua, những người cưỡi trên lưng voi đều phải mặc một loại áo giáp bắn không thủng. Voi còn được dùng để chở đại bác mà xông vào trận.

    Tây Sơn ở gần đất có voi nên việc lập tượng binh rất dễ dàng. Ban đầu, việc huấn luyện tượng binh được giao cho Bùi Thị Xuân. Nhưng đến nay quân đội Tây Sơn đã có mấy trăm thớt voi trận, nên việc huấn luyện voi phải có thêm Lê Thị Vi giúp sức. Xuân giảng giải cho Vi:

    - Dùng voi trận rất lợi nhưng cũng rất hại, vì nếu không khéo chính voi ấy lại giết quân mình dễ dàng, làm quân mình thua trận mau hơn. Như trận tập kích Bích Kê trước đây, quân ta la hét gây tiếng động làm voi quân của chúa Nguyễn có tới 40 con sợ hãi chạy tán loạn, đạp lên quân sĩ chúa Nguyễn chết nhiều hơn là quân ta giết.

    Vừa cầm cái búa có móc gõ trên đầu voi bắt voi đi theo hiệu lệnh Bùi Thị Xuân vừa nghĩ những năm trước đây vào cữ này Xuân còn bận làm bánh ít lá gai để đón Tết. Làm nên chiếc bánh phải kỳ công, vất cả cùng với sự khéo léo, thành thục. Nguyên liệu phải đủ năm thứ: lá gai, gạo nếp, đường, đậu xanh và lá chuối. Lá gai luộc chín cho vào cối quyết nhuyễn. Gạo nếp giã, xay, nghiền thành bột. Đường đã nấu đến độ đặc sánh. Ba thứ nguyên liệu đó trộn, nhồi thật đều, rồi đem chia ra thành từng miếng. Đậu xanh đãi vỏ, đem hấp giã mịn, viên tròn dùng làm nhân. Nhân điểm mấy miếng bí đao xắt hạt lựu, lá chuối hơ lửa gói bánh, cho vào nồi hấp chín. Để nguội, khi ăn bóc lớp lá chuối, chiếc bánh lộ ra một màu đen tuyền, bóng láng. Thưởng thức miếng bánh ta thấy được vị thơm rất đặc trưng, tinh khiết của lá gai, của gạo nếp, của đường, đậu xanh hòa quyện vào nhau. Ở Bình Định bánh thường mô phỏng hình nóc chùa… Mới nghĩ đến đã thấy ứa nước miếng ở chân răng. Dù năm nay không được làm bánh ít lá gai mà phải quần với đàn voi trận mùi khét lẹt, Xuân cũng thấy đây là cái Tết có ý nghĩa nhất trong đời mình. Nhìn Lê Thị Vi trẻ đẹp đang oai nghiêm ngự trên bành voi, Xuân thấy cô sao mà giống bức tranh dân gian Hai Bà Trưng cưỡi voi đuổi Tô Định dán trên vách nhà mình năm xưa. Xuân bất giác mỉm cười, nụ cười rạng rỡ như hoa xuân.

    XIII

    Trong cung Tây Long, Tôn Sĩ Nghị đang nằm trên sập ngự sơn son thếp vàng, khoan khoái hưởng cái thú đi mây về gió. Sau khi y đem quân ra cửa ải xuyên rừng vượt núi như giẫm đất bằng, ngày đi đêm nghỉ, không phải lo lắng gì, kéo thẳng một mạch đến Thăng Long, không mất một mũi tên, như vào chỗ không người. Từ xưa, các nhà cầm quân chưa có khi nào được dễ dàng như thế cho nên y xem thường cho là vô sự, không cần phải đề phòng.

    Bỗng một tên quân vào báo có người xin vào yết kiến. Đang ngậm dọc tẩu kéo một hơi thuốc phiện bạch cống phải tạm rời ra. Nghị cau mặt gắt:

    - Người nào cũng bảo chờ một lát đã! Hừ! Quấy rầy người ta giữa lúc này!

    Tân quân sợ hãi ấp úng:

    - Bẩm quan Tổng đốc, quan Đề đốc họ Hứa muốn xin vào yết kiến ngài có việc cần cấp.

    Nghe đến tên Đề đốc Hứa Tế Hanh, mặt Nghị tươi lên. Hứa Tế Hanh là một tướng giỏi có trách nhiệm chỉ huy mặt trận phía Nam của quân Thanh, được Nghị hết sức tin cậy. Nghị chiêu một ngụm sâm rồi bảo tên quân:

    - Mời ông ta vào.

    Hứa Tế Hanh vào ngửi thấy mùi thuốc phiện thèm quá nhưng chưa dám đường đột nằm ghé cạnh bàn đèn khi chưa được phép. Thấy Hanh tay che miệng, Nghị hiểu là y đang ngáp, liền bảo:

    - Mời ông nằm xuống đây làm một điếu cho tỉnh táo đã.

    Hứa Thế Hanh tươi nét mặt:

    - Đội ơn quan lớn. Xin vô phép ngài.

    Tên bồi tiêm nhanh nhẹn tiêm thuốc rồi ghé dọc tẩu vào miệng Hứa Tế Hanh. Hanh nằm xống hút mấy điếu liền, đôi mắt lờ đờ nhìn theo khói thuốc đầy vẻ thỏa mãn. Nghị hỏi:

    - Công việc bố phòng mạn Nam ông làm đến đâu rồi?

    Hanh giật mình ngồi nhổm dậy thưa:

    - Bẩm quan Tổng đốc, vâng lệnh ngài, tiểu tướng đã cho đóng một đồn quân ở làng Ngọc Hồi trên một cánh đồng cao hơn hẳn xung quanh, rộng khoảng tám mẫu, nhìn sát phía đông đường quan lộ. Phía bên kia đường quan lộ còn một cánh đồng nữa cũng có độ cao như vậy, rộng đến mười mẫu, cả hai cánh đồng đủ chỗ dựng doanh trại cho ba, bốn vạn quân. Khu đất này không những cao ráo mà còn nằm trên đường thiên lý từ Nam ra La Thành. Ta lập đồn lũy trên khu đất này tức là chiếm giữ một địa hình cao và một vị trí xung yếu khống chế con đường thiên lý, đủ sức ngăn chặn đường tiến quân của giặc Tây Sơn ra, bảo vệ được cửa ngõ phía Nam La Thành.

    - Hay lắm, nhưng cách bố phòng của ông thế nào?

    Xung quanh tiểu tướng có cho đắp lũy nhất là ở hướng xung yếu như hướng Nam lũy đắp kiên cố hơn, có cửa để cho quân ngày đêm canh gác. Phía ngoài lũy, tiểu tướng cho cắm chông sắt, đặt cạm bẫy và bố trí địa lôi, tạo thành một bãi chướng ngại nguy hiểm. Riêng mặt Đông cánh đồng là đầm Thọ Am khá sâu và lầy lội, ta lợi dụng như một hào thiên lao tạo để che chở đồn lũy về hướng Đông. Phía trong lũy là doanh trại của quân lính và bản doanh của tiểu tướng. Trên mặt lũy có đặt súng đại bác và luôn luôn có những đội quân trang bị cung nỏ và hỏa đồng canh phòng.

    - Tốt lắm, bố phòng như vậy thì không sợ gì quân Tây Sơn nữa. Nhưng đề đốc phải chú ý chỗ này. Đồn lũy ấy không những ngăn chặn được người mà phải ngăn chặn được voi thì mới là kế vạn toàn. Bên ngoài lũy Đề đốc phải cho chôn những cột sắt khổng lồ để làm sao voi cũng không thể nhổ bật lên được. Người Nam đánh trận hay dùng sức voi. Voi không phải là vật nội địa từng tập quen nên hễ gặp phải, trước tiên thế nào quân ta cũng tránh chạy, không biết rằng sức voi tuy khỏe mạnh chung quy cũng là thân máu thịt, không thể đương đầu được với súng ống của ta. Nếu thấy voi ra trận, xa thì bắn súng, gần thì dùng cung và đao, làm cho nó bị đau mà chạy trở lại, giày xéo lên nhau, quân ta nhân cơ hội đó tiến lên chém giết, thế nào cũng thắng trận không còn nghi ngờ gì nữa.

    - Quan lớn liệu việc như thần, Quang Bình([11]) phen này có dẫn xác ra đấy cũng chẳng khác gì con cá chui đầu vào lưới.

    - Không cứ một mình Quang Bình, cả nước Nam này cũng chui vào lưới của Thiên triều nữa chứ. Ông không nhớ La Thành có nghĩa là cái lưới à?

    Hai tên cùng cười đắc ý. Dọc tẩu lại kêu lên ro ro như để chấm hết cho câu chuyện đậm đà thú vị của hai tên tướng xâm lược.

    Hôm sau, thấy có tin báo Tây Sơn sai người đến dâng thư. Nghị vội cho đòi vào, Trần Danh Bính khúm núm dâng bức thư lên. Nghị giở ra xem thấy thư viết như sau:

    “Kẻ bầy tôi có tội, nay nghe tin đại quân sang đây nhưng chưa biết thiên triều có chịu tha tội cho không, nên không dám sai sứ đến. Trước đây,vì cớ họ Trịnh hiếp đáp vua Lê, nên thần mới đem quân ra hỏi tội. Khi đã thắng được họ Trịnh rồi thần liền đem nước trao lại cho vua Lê rồi quay về. Về sau được tin Nguyễn Hữu Chỉnh lại đi theo vết xe cũ của họ Trịnh, nên thần lại phải cất quân ra chuyến nữa. Vua Lê không rõ bản tâm của thần, vội bỏ nước mà đi. Trong nước vô chủ nên thần phải lưu các tướng ở lại để giữ nước, còn thần thì buông binh quyền, quay về để đợi Lê vương trong khi còn đang đi trốn chưa tìm thấy. Nay đại nhân([12]) vâng mạng lệnh của Thiên hoàng đế, hỏi tội thần về việc đuổi chúa, cướp nước, thần bao xiết run rẩy, sợ hãi. Chuyến này đến đây, thần sẽ tới tại chỗ gần gụi để chờ lệnh đại nhân phân xử, chứ không phải là thần dám chống lại mệnh lệnh thiên triều đâu.

    Tôn Sĩ Nghị đọc xong thư đưa tay hất bức thư sang một bên rồi quắc mắt hỏi:

    - Sao chủ ngươi không tự dấn thân đến đây mà sai một tên tiểu tốt mang thư? Dám khinh nhờn oai ta phải không?

    Trần Danh Bính cố trấn tĩnh:

    - Bẩm chủ tôi sợ tội nên sai tôi mang thư đến trước, nếu thiên triều tha tội chủ tôi sẽ xin thân đến hầu.

    Nghị giương đôi mắt cú vọ nhìn sứ giả, dò xét rồi cười gằn:

    - Bọn man di các ngươi chỉ quen dối trá, định che mắt ta chứ gì?

    Trần Danh Bính tức giận nhưng cố nén làm ra vẻ mặt cung kính:

    - Bẩm, chúng tôi lòng thành cung thuận chứ không có ý gì khác.

    Nghị vuốt râu cười khoái trá:

    - Thôi được, ngươi về bảo chủ ngươi hãy cứ rút quân về Thuận Hóa, yên lặng chờ đợi phân xử, không nên làm bậy để càng mau sa vào tội lỗi nghe chưa?

    Trần Danh Bính cúi đầu tuân lệnh rồi lui ra.

    Tôn Sĩ Nghị cho là Huệ có ý sợ hãi nên lại càng thêm kiêu ngạo, khinh địch. Lúc bấy giờ là cuối tháng Chạp, sắp đến ngày tết Nguyên đán. Nghị quyết định cho quân lính nghỉ ngơi ăn tết trong mười ngày, đến mùng sáu tháng Giêng sẽ xuất quân kéo thẳng đến huyệt của quân Tây Sơn. Từ đó y lại càng thêm buông tuồng, mặc cho quân lính các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ đi lại lang thang, không còn có kỷ luật gì cả. Có kẻ đi ra khỏi thành đến hơn mười dặm để kiếm củi đun, có kẻ đi tới các chợ búa dân gian để mua bán, hàng ngày sớm đi tối về xem như việc bình thường. Bọn tướng tá cũng ngày ngày chơi bời tiệc tùng, không hề để ý đến việc quân. Hễ ai nhắc đến tình hình quân địch thì bọn chúng đáp rằng: Chúng nó như cá chậu chim lồng, còn chút hơi thừa thoi thóp, không đáng nói đến. Vâng lệnh của quan lớn đốc bộ, định đến ngày mùng 6 tháng Giêng, nhân dịp đầu xuân sẽ xuất quân kéo thẳng đến sào huyệt của quân Tây Sơn. Bọn giặc ấy nhất định sẽ lần lượt bị bắt sống, không một tên nào lọt lưới.

    Thế là bọn giặc ngông cuồng cứ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng không nghĩ gì đến việc đối phó với sự bất trắc.

    Nghe tin Tôn Sĩ Nghị lấy được thành Thăng Long, Càn Long đã phong cho Nghị tước công và thưởng chóp mão bằng đá quý màu đỏ, lại phong Hứa Thế Hanh tước Tử. Nghị thầm nghĩ sau khi khải hoàn trở về, chắc chắn sẽ được lọt vào bộ Đại thần Quân cơ. Chỉ cần thắng ở An Nam lần này là đủ số “Thập toàn võ công” của Càn Long sau khi đã đánh ( bỏ: bộ Hồi Cát Nhĩ, bộ Hồi, Phục Đại, Tiểu Kim Xuyên, Quách Nhĩ Khách, Miến Điện và trấn áp cuộc nổi dậy của Lâm Sảng Văn ở Đài Loan ̣̣) thắng tại Tứ Xuyên, Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan, Nepal, Miến Điện – nên thay theo wikipedia . Lễ bát tuần đại khánh của hoàng thượng sắp đến rồi, trong dịp ấy thế nào Nghị chẳng được đặc sách ban thưởng. Tôn Sĩ Nghị đã sang nhiều quà cáp biếu quan Quân cơ đại thần Hòa Thân, công danh sẽ dễ dàng như bỏ đồ vật vào trong túi áo.

    Nghĩ đến đấy, Nghị tự thưởng cho mình một điếu bạch công nữa. Tiếng nhựa cháy xèo xèo, tiếng rít dọc tẩu sòng sọc, mùi khói tỏa thơm thơm, Nghị tưởng như hồn mình bay bổng trên cõi bồng lai có những nàng tiên xòe đôi cánh biếc…

    (còn tiếp)

    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Quyển 9 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

     

    [1] Mẹ và con trai Lê Chiêu Thống.

    [2] Năm 1788.

    [3] Toán quân xuất kỳ bất ý đánh khi đối phương không phòng bị.

    [4] Năm 1788.

    [5] Khoảng thời gian từ 23h ngày hôm trước cho tới 1h sáng của ngày hôm sau.

    [6] Tiếng hát những bài hát để tế thần.

    [7] Phương Bắc chỉ Trung Quốc.

    [8] Từ thời Lê Hồng Đức, các trấn ở Bắc Hà đều gọi là “Thừa Tuyên”.

    [9] Việc binh không ghét sự dối trá.

    [10] Tức Nguyễn Lữ em Nguyễn Nhạc.

    [11] Trong giấy tờ với nhà Thanh, Nguyễn Huệ xưng tên là Quang Bình.

    [12] Chỉ Tôn Sĩ Nghị.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,164,427

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/