Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,920

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Thứ năm, 15:12 Ngày 12/08/2021
  • Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

    XI

    Khi Bắc Bình vương sai Võ Văn Nhậm ra đánh đất Bắc, vốn do mệnh lệnh đã định từ trước, nhưng trong bụng cũng hơi nghi ngờ Nhậm, bèn sai bọn Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân làm Tham tán quân vụ để chia bớt quyền của Nhậm. Bắc Bình vương lại bảo riêng với Sở rằng:

    - Nhậm là con rể của anh. Nay ta với vua anh có sự xích mích, lòng y chắc cũng không yên. Chuyến này y cầm trọng binh vào đất người, sự biến không thể liệu trước được. Nay ta không lo Bắc Hà mà chỉ lo về Nhậm thôi. Ngươi nên xem xét từng ly từng tý, hễ có gì thì phải gấp rút báo cho ta biết. Ví như lửa cháy, dập tắt từ khi mới bén thì dễ dàng hơn.

    Lúc Nhậm thừa thắng kéo quân ra Bắc, như vào làng bỏ trống không một người nào dám chống cự, Nhậm có vẻ dương dương tự đắc. Kịp khi bắt sống được Nguyễn Hữu Chỉnh, Nhậm tự cho là uy vũ của mình đủ khiến người ta phải phục, khu xử việc Bắc Hà không có gì khó. Nhưng đến khi cho đòi các người trong thất và các quan văn võ phải đến cửa quân chờ hầu, rút cục không có ai tới, Nhậm đành phải lập Sùng Nhượng công Lê Duy Cận, con vua Cảnh Hưng lên làm Giám quốc để dựa vào đó mà sai khiến mọi người. Thấy Nhậm làm việc đó, Ngô Văn Sở bèn dùng lời nói để dò ý Nhậm. Sở nói:

    - Chúng tôi vâng mệnh theo ông đánh dẹp, giặc Chỉnh đã bị giết, nhưng dư đảng của y ở vùng Đông nam vẫn chưa dẹp yên, vua Lê vẫn còn chạy trốn ở ngoài, mà các quan cũng đều lẩn tránh. Nay ông cho Sùng Nhượng công làm Giám quốc, nhưng tôi xem lão ấy chỉ là phường a dua không được tích sự gì, rốt cuộc chỉ là một cục thịt trong cái túi da, làm sao mà sai khiến được kẻ khác? Từ khi có nước Nam tới nay triều đại thay đổi không biết là mấy lần rồi, thiên hạ nào phải là của riêng ai, liệu có thể lấy được thì cứ lấy đi, đặt quan chia chức để xây dựng phên dậu làm cho tai mắt của mọi người đều được một phen đổi mới. Nếu có kẻ nào lấy trộm danh nghĩa([1]) thì cứ bảo là giặc, rồi đem quân tới đánh, ai dám chống lại? Việc gì mà phải mượn đứa tôi đòi ngoài chợ trông coi việc nước, để hắn sắm vai ông chủ “tượng đất” trong vườn, còn mình thì cứ đóng mãi trong thành làm tụi lính khách ở trọ nước người?

    Nhậm nói:

    - Bọn Nhưỡng, Tuyển chẳng qua hơi tàn thoi thóp, nắm lấy cánh tay tự nhiên phải đến. Vả ta xem bọn bề tôi nhà Lê chẳng có mặt nào như Điền Đan nước Tề, Vân Trường nhà Hán([2]), chẳng qua họ sợ binh oai của ta, nên sớm chiều dùng dằng đó thôi. Nếu ta hạ một cái bảng, hẹn ngày phải tới cửa quan, không tới thì chém, chắc là chúng sẽ cởi áo mang roi đến xin chịu tội. Điều đó không phải là việc đáng lo. Chỉ vì lòng người đất Bắc còn nhớ họ Lê, không thể không chịu theo lòng mong mỏi của mọi người. Mượn hắn ra làm pho tượng gỗ là cốt để chia rẽ đồ đảng của Chiêu Thống, và ràng buộc lòng dân Bắc Hà đó thôi. Chỗ đó không phải chỗ lũ các ông có thể biết được! Các ông khỏe sức đánh trận, ta sẽ giao cho các ông chia đường tiến đánh rồi giữ lấy đất, làm bức tường thành cho ta, há chẳng tốt ư? Đến lúc đó cuộc thế xoay vần, tự nhiên có nhiều việc hay, đường đường làm chủ không phải ta thì còn ai? Cần gì mà phải làm khách?

    Sở im lặng ra về, rồi bảo với Lân rằng:

    - Lão Tiết chế thật khinh người quá. Hắn có tài đức, trí lược gì mà dám coi bọn ta là tụi lính tráng? Xem hắn từ khi vào thành đến nay, đã làm được việc gì, thúc ép dân phải gấp rút đắp lũy và phò Lê Duy Cận làm Giám quốc, đều là sắp sẵn cái mưu làm phản, để hòng tranh giành với chúa công ta. Đã không biết lấy giặc Chỉnh làm răn, trở lại muốn bắt chước nó. Không muốn sống lại muốn chết, thì có cho hắn đi theo Chỉnh để răn những kẻ khác!

    Sở bèn lượm lặt các việc làm trái phép của Nhậm: tự đúc ấn chương, chuyên quyền trong việc cắt đặt sắp xếp, khi đi Nhậm che sáu lọng, khi ngồi Nhậm dùng sập thếp vàng, bắt các tướng dưới quyền dùng tiếng “tâu” nói với Nhậm trong những dịp vào trình bày việc công. Nắm được hết những tình trạng ấy, Sở viết mật thư sai người mang gấp về trình Bắc Bình vương.

    Nhận được thư, Bắc Bình vương nói với Trần Văn Kỷ:

    - Ta cho rằng Nhậm nuôi chí làm phản không phải chỉ có mình hắn mà là nhận lệnh ngầm của Thái Đức. Ta biết vừa rồi tuy Thái Đức chịu giảng hòa nhưng trong bụng vẫn không bằng lòng. Mặc dầu đã cắt cho ta đất Quảng Nam, Thái Đức vẫn sai Nguyễn Văn Nhuệ cùng Hộ bộ Bá kéo quân ra đóng ở Ba Lòa, huyện Duy Xuyên để chặn đánh quân ta. Ta đành phải sai Thế tử Quang Toản và Chiêu viễn đại tướng quân Vũ Văn Dũng vào giúp Trấn thủ Nguyễn Văn Dụng trừ khử bọn Duệ. Duệ tuy đã bị bắt ở Trà Khúc nhưng Bộ hộ Bá chạy thoát. Như vậy, chứng tỏ Thái Đức vẫn giữ lòng hiềm khích với ta. Theo ý ông thì ta nên xử trí cách nào?

    Trần Văn Kỷ đắn đo một hồi rồi nói:

    - Tâu chúa công, “sơ bất gián thân”([3]) lẽ ra thần không nên nói đến chuyện trong nhà của chúa công nhưng vì việc chung của đất nước nên buộc lòng phải nói. Nay Nhậm là con rể vua Thái Đức cầm trọng binh ở Bắc Hà, sở dĩ dám làm việc trái phép là ngầm dựa vào thế lực của vua Thái Đức để chống lại chúa công. Nhậm đang kết vây cánh, nuôi lực lượng để chờ đợi thời cơ làm điều phản loạn, nếu ta không sớm trừ ngay để đến khi mầm ác đã thành, Thái Đức mang quân từ trong đánh ra, Nhậm đem quân từ ngoài đánh vào thì ta không tránh khỏi cái thế lưỡng diện thụ địch, việc đối phó càng thêm khó khăn. Chỉ hiềm vì chúa công với Nhậm có cái tình chú vợ cháu rể, nên việc xử trí với Nhậm xin để chúa công cân nhắc và quyết định, thần không dám nói nhiều.

    Bắc Bình vương khảng khái nói:

    - Người xưa có câu “Đại nghĩa diệt thân”([4]), nếu người thân của mình làm điều hại dân, hại nước thì vẫn phải theo phép công mà trừng trị. Việc này ta đã có chủ ý, ông đừng nên ngại ngùng gì cả.

    Tức thì Bắc Bình vương hạ lệnh tiến ra Bắc, đốc thúc các quân bộ và quân kỵ mã ngày đêm đi gấp, chừng hơn mười ngày đến thành Thăng Long. Khi đã vào thành, Bắc Bình vương đòi Nhậm tới kể rõ tội trạng rồi hạ lệnh xử trảm.

    Sau đó, Bắc Bình vương hạ lệnh cho Ngô Văn Sở làm chức Đại tư mã, thống lĩnh quân đội thay Nhậm.

    Việc Bắc Bình vương đột ngột thân hành ra Bắc giết Nhậm không khỏi gây náo động trong dân chúng. Chiêu Thống đã bỏ chạy theo Chỉnh, việc phò Lê không cần đặt ra nữa. Bắc Hà hiện giờ không có chủ, cần phải xếp đặt việc cai trị để sớm ổn định tình hình đòi hỏi phải có nhân tài ra gánh vác việc nước.

    Ra Thăng Long lần này, Trần Văn Kỷ tự nhủ lòng mình phải tìm bằng được Nguyễn Du để từ đó lần ra tung tích cô Cầm. Đến xóm Bích Câu, trên nền đất hoang năm trước giờ đã mọc lên một ngôi nhà gỗ mộc mạc nhưng xinh xắn, chứng tỏ chủ nhân là người sành thưởng thức cái đẹp. Thấy quan quân Tây Sơn tới, người trong nhà đều nhốn nháo sợ hãi. Kỷ nói:

     - Các ông đừng ngại, tôi là bạn thân của ông Chiêu Bảy đến thăm ông đây mà!

    Nghe nói vậy mọi người mới yên tâm vào báo cho Nguyễn Đề biết. Đề là con thứ ba Nguyễn Nghiễm anh ruột Nguyễn Du, Đề ra đón Trần Văn Kỷ vào ngôi nhà nhỏ nhưng thanh nhã.

    Nguyễn Đề nói:

    - Đa tạ đại nhân có lòng đến thăm gia đình chúng tôi. Cụ tôi khi sinh thời vẫn thường nhắc đến đại nhân. Cụ tôi thất lộc kế đến hai anh tôi cũng nối nhau qua đời, chỉ còn lại tôi và đứa em là Nguyễn Du cùng hai cháu Nguyễn Hành, Nguyễn Thiện là nối được mạch thư hương.

    Trần Văn Kỷ hỏi:

    - Chẳng hay lệnh đệ[5] và các cháu bây giờ ở đâu?

    - Xá đệ[6] hiện ở quê vợ tại Quỳnh Côi trấn Sơn Nam, còn hai cháu về ở quê hương Tiên Điền, trấn Nghệ An…

    - Trước tôi nghe lệnh đường[7] có nhắc đến ông Nguyễn Huy Tự, ông ấy hiện giờ ra sao?

    - Xá điệt[8] sau cải sang võ chức, nhưng gần đây thấy Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền nên xin cáo quan về.

    Kỷ chân thành:

    - Hôm nay tôi đến thăm gia đình ta vì chút tình xưa nhưng cũng có điều muốn thưa lại với các ông: Bắc Bình vương lần trước ra Bắc Hà diệt Trịnh cứu vớt trăm họ, nhưng không tham quyền cố vị, nên đã lập Chiêu Thống lên làm vua rồi rút quân về Nam. Không ngờ quân Tây Sơn vừa rút, dư đảng họ Trịnh lại kéo quân về Thăng Long tranh giành với Chiêu Thống. Chiêu Thống vì quyền lợi riêng tư gọi Nguyễn Hữu Chỉnh về diệt dư đảng họ Trịnh, nhưng sau đó Chỉnh lại chuyên quyền đi theo con đường của chúa Trịnh trước đây. Quân Tây Sơn ra Bắc Hà diệt Chỉnh, Chiêu Thống bỏ chạy theo Chỉnh từ bỏ tránh nhiệm chăn dân, trị nước. Lúc này, Bắc Hà là đất không chủ, cần có nhân tài ra gánh vác việc trị nước an dân. Bắc Bình vương là người có chí lớn kinh bang tế thế, lại rộng lượng chiêu hiền, đãi sĩ nên được anh hùng hào kiệt khắp nơi về giúp. Lần tôi về qua Nghệ An, đã gửi thư mời La Sơn phu tử ra gánh vác việc đời, Phu tử hứa sẽ có phen hội diện. Lần này, tôi tới đây có ý muốn mời ông và ông Nguyễn Huy Tự ra giúp nước, chẳng hay ý ông thế nào?

    Nguyễn Đề ngần ngại:

    - Đội ơn đại nhân đã có lòng thương đến, tôi vô cùng cảm kích, nhưng hiềm vì nhà tôi đã mấy đời ăn lộc nhà Lê, nay ra thờ tân trào, e rằng miệng đời dị nghị.

    Kỷ mỉm cười:

    - Bao năm qua, nhiều người tự xưng là thần tử nhà Lê, vậy mà đến khi chúa Trịnh lấn át vua Lê thậm chí giết cả vua Lê, đã có mấy ai vì trung thành với vua Lê mà diệt được Chỉnh đâu? Việc diệt họ Trịnh và Nguyễn Hữu Chỉnh do nghĩa quân Tây Sơn gánh vác, xem thế đủ biết việc làm của nghĩa quân Tây Sơn là thuận ý trời, hợp lòng người. Vả chăng trung là trung với dân với nước chứ chỉ trung với một dòng họ thì chỉ là cái trung hẹp hòi. Tôi trộm nghĩ Lý Trần Quán chết theo chúa Trịnh, như vậy chỉ là ngu trung. Còn Phạm Nguyễn Du trung thành với họ Trịnh, mộ quân đánh Chỉnh, nhưng không theo Tây Sơn, cũng chỉ là kẻ cố chấp. Xưa có câu: “Có thức thời vụ mới là tuấn kiệt, có thông cơ biến mới là anh hào”. Nay thời vận biến chuyển, Lê - Trịnh đã suy. Tây Sơn mới nổi, về với Tây Sơn chính là chim khôn chọn cây lành mà đậu, tôi hiền chọn chúa sáng mà thờ. Mấy lời thành thực, cúi xin các ông xét kỹ.

    Nguyễn Đề nói:

    - Được nghe lời ông chỉ bảo, tôi như phá mây mù mà thấy được trời xanh. Tôi xin viết thư cho Nguyễn Huy Tự, khuyên nên ra gánh vác việc nước. Còn tôi thì trí thiển tài sơ không biết có đảm nhiệm được trọng trách đại nhân giao phó hay không.

    Kỷ vui vẻ:

    - Được ông nhận lời là may, còn làm được gì có ích cho dân cho nước cũng đều đáng quý, ông không nên ngần ngại.

    Sau một khắc im lặng. Kỷ bỗng nói với Nguyễn Đề:

    - Tôi có chút việc riêng muốn nhờ cậy ông, chẳng hay ông có thể giúp tôi được không?

    Nguyễn Đề ngạc nhiên:

    - Chuyện gì xin đại nhân cứ nói, nếu giúp được ngài tôi đâu dám quản công.

    - Chẳng giấu gì ông, trước đây tôi có quen biết một cô gái gảy đàn cầm trong giáo phường của lệnh huynh, tên là cô Cầm, ông có biết hiện nay cô ấy ở đâu không?

    Nguyễn Đề ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:

    - Sau khi gia huynh bị Trịnh Vương hạ ngục, giáo phường bị giải tán, cô Cầm phải bỏ nghề đàn hát đã lưu lạc tha phương. Mất kế sinh nhai lại gặp năm mất mùa đói kém, nàng lâm vào cảnh nghèo khổ không nơi nương tựa, cuối cùng đành phải đem thân làm vợ lẽ nhà phú hộ để kiếm miếng cơm manh áo qua ngày. Không may, gặp người vợ cả ghen ngược, hành hạ đánh đập nàng tàn tệ. Không chịu nổi cảnh đối xử phũ phàng, nàng bỏ nhà trốn đi, nhưng sau đó lại bị người vợ cả sai gia nhân tầm nã bắt về vu cho nàng ăn trộm của cải nhà mụ rồi bỏ trốn, nên nàng bị giải lên quan trị tội. May sao quan huyện sở tại trước đây là môn hạ của nhà tôi. Vì vậy nên khi thấy tôi đứng ra can thiệp vụ này, quan huyện bằng lòng tha nàng ra không bắt tội. Tôi lại đưa nàng về làm ca cơ trong phủ của tôi. Những tưởng nàng đến đây sẽ được yên ổn, không ngờ năm sau gặp cơn khói lửa, tôi phải dời nhà đi, gia nhân mỗi người thất tán một nơi, từ bấy đến nay cũng không biết nàng trôi dạt về đâu.

    Kỷ thấy lòng quặn đau nhưng cố nén:

    - Vậy ông có cách nào tìm kiếm nàng giúp tôi được không?

    - Cảm mối tình tri ngộ của đại nhân đối với tôi, tôi sẽ xin gắng sức làm việc này, đó cũng là nghĩa vụ của tôi đối với cô Cầm.

    Bóp trán suy nghĩ một hồi, mắt Nguyễn Đề chợt sáng lên:

    - Tôi có một cách này, tôi sẽ đưa tin đi khắp nơi chiêu tập lại giáo phường, nếu nàng còn sống nghe tin này nhất định sẽ tìm đến, vì ngài còn gì lạ, cái nghiệp cầm ca đâu dễ mỗi lúc mà dứt bỏ được. Khi nàng đến, tôi sẽ giữ nàng ở lại trong phủ, rồi đặt tiệc mời đại nhân đến uống rượu, nghe đàn, như vậy là ngài gặp lại được người cũ chứ gì!

    Kỷ mừng rỡ nắm chặt bàn tay Đề:

    - Nếu vậy thì còn gì bằng, xin muôn vàn cảm tạ ông.

    Nguyễn Đề chân thành:

    - Tôi giúp ngài cũng là để thay xá đệ đáp lại mối tình tri giao của ngài đối với em nó. Xá đệ vẫn thường nhắc đến tên ngài, ca ngợi ngài là danh sĩ bậc nhất của đất Thuận Quảng mà khiêm tốn, trung hậu chứ không kiêu ngạo, hợm hĩnh như những người khác. Đến nay, được diện kiến ngài, tôi thấy lời xá đệ nhận xét về ngài quả không ngoa. Chỉ buồn vì nỗi xá đệ còn trẻ tuổi nên quen tính cương cường, không chịu khuất phục ai, cứ khăng khăng làm theo ý riêng của mình, dẫu tôi có viết thư khuyên nhủ, chưa chắc nó đã chịu đến. Tuy là anh em thật nhưng mỗi người một tính biết làm thế nào. Tôi nhớ có lần nó đã đọc cho tôi nghe hai câu thơ: “Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn/ Mệnh sử hồng mao bất tự tri”([9]). Như vậy là cái ý của nó đã rõ rồi, khó lòng mà lay chuyển được.

    Đêm ấy, Kỷ cứ nằm trằn trọc với bao mối ngổn ngang trong lòng. Mừng vì Nguyễn Đề đã nhận lời ra giúp việc nước, từ đó mình có thể tìm ra tông tích cô Cầm, nhưng lại buồn vì tính Nguyễn Du ương ngạnh, cứ ôm lòng trung thành với nhà Lê, không chịu ra giúp Tây Sơn. Kỷ thầm nghĩ, Nguyễn Du không chỉ là bạn cũ của mình mà còn là một nhân tài ở đời này. Để một người tài như vậy không ra giúp nước quả là uổng phí. Mình phải nhắc nhở Nguyễn Đề viết thư mời anh ấy ra cho bằng được. Kỷ lại càng thương xót cho cảnh ngộ của cô Cầm. Trước đây, chỉ là loạn lạc binh đao, mình không thể ra Bắc Hà tìm nàng, để nàng phải lâm vào cảnh truân chuyên, hoạn nạn, đó là cái lỗi của mình. Bây giờ phải làm sao chuộc lại cái lỗi đó, tìm đón nàng về an ủi nàng sau bao ngày gian nan, lưu lạc và để nàng sống trong hạnh phúc an lành, mình nỡ nào an hưởng đỉnh chung khi nàng phải sống trong cảnh lầm than, lam lũ. Cứ nghĩ đến người có ngón đàn tuyệt diệu mà nay chân lấm, tay bùn, đầu tro mặt bụi, Kỷ lại thương tiếc xót xa, đánh đàn hay cũng là một tài năng của đất nước, một của quý trên đời, lẽ nào mình lại để cho mai một. Việc lập lại giáo phường tập hợp những người đàn giỏi, ca hay cũng phải nằm trong chủ trương xây dựng lại đất nước sau cơn binh hỏa tàn phá. Đón cô Cầm về cho cô tiếp tục nghề đàn và truyền lại ngón đàn cho lớp đàn em đó không phải chỉ là tình riêng mà đó là nghĩa lớn.

    Thế nhưng đến khi Nguyễn Đề khuyên Nguyễn Du và Nguyễn Hành ra theo Tây Sơn thì cả hai người đều từ chối. Ngược lại, anh vợ Nguyễn Du là Đoàn Nguyễn Tuấn lại vui lòng ra làm quan với Tây Sơn. Mà Đoàn Nguyễn Tuấn đâu phải là nhà con tầm thường, ông là con quan Đốc thị Nghệ An Đoàn Nguyễn Thực và con rể Quốc lão Nhữ Đình Toản. Như vậy, không phải cứ là thần tử nhà Lê thì đều trung với nhà Lê mà chống lại Tây Sơn.

    Vì thế, Trần Văn Kỷ thấy cần phải đề ra một chính sách thu dụng nhân tài cho rõ ràng. Việc thi hành chính sách này vấp phải khó khăn không chỉ vì có những kẻ trung thành mù quáng với nhà Lê ngoan cố chống lại mà vì trong hàng ngũ nghĩa quân Tây Sơn có những hẹp hòi không có lượng dung người, cho là dân Bắc Hà hay phản phúc sớm đầu tối đánh không thể tin cậy được. Cũng có kẻ ỷ mình là dân xứ Quảng, theo nghĩa quân từ đầu, lập nhiều công lao, đáng được ăn trên ngồi trước, nay nếu thu nhập thêm nhân tài mới, có khi mình phải ở dưới họ. Vì vậy, sinh lòng đố kỵ, dèm pha. Nếu muốn có nhiều nhân tài ra giúp nước thì trước hết phải khuyên bảo người trong nhà nên vì việc chung mà dẹp việc riêng tư. Đối với người có tài đức, nếu mình không tỏ ra chân thành, đem nghĩa lớn ra thuyết phục, thì không làm cho họ nghe theo.

    Trần Văn Kỷ nhớ lại khi mình thay Bắc Bình vương thảo thư mời Nguyễn Thiếp, ông đã viết:

    “Nay thiên hạ loạn như thế này, sinh dân khổ như thế này mà Phu tử nhất định ẩn không ra, thì sinh dân thiên hạ làm sao?”.

    Một tháng sau, ông lại viết bức thư thứ hai lời lẽ khẩn thiết hơn:

    “Quả đức sinh ở chỗ hẻo lánh, học ở sự nghe trông gặp thế này, bất đắc dĩ phải khởi binh. Những người giúp việc nhất thời đều là kẻ chiến đấu mạnh bạo. Trong lúc dùng quân, không thể không xâm chiếm tàn phá. Đạo trị dân đại để có nhiều điều làm cứng cỏi và phiền nhiễu. Tuy là tội ở những người ấy, nhưng kỳ thật là giúp việc chưa ai. Ấy là quả đức chưa biết cầu hiền giúp đỡ.

    “Kẻ danh thế thỉnh thoảng ra đời. Quả đức hằng nghĩ và mơ tưởng đến. Trong mười lăm năm đến bây giờ, chưa hề phút nào dám quên. Không ngờ nay trông lên thành Lục Niên, có người tài đương ở đó. Ấy là trời dành Phu tử cho quả đức vậy. Tuy Phu tử không thèm tới, nhưng lòng dân đều mong ngóng. Phu tử nỡ làm ngơ được sao?”.

    Tuy vậy mà hai lần viết thư mời, Nguyễn Thiếp vẫn chưa tới, Trần Văn Kỷ hiểu rằng vì không tham danh lợi nên Nguyễn Thiếp đã cáo quan về ở ẩn gần hai mươi năm nay.

    Nguyễn Thiếp người làng Nguyệt Tao, huyện La Sơn, lúc trẻ thi hương đỗ giải Nguyên, làm Tri huyện Thanh Giang. Khoảng giữa đời Cảnh Hưng, từ quan về ở ẩn tại thành Lục Niên núi Thiên Nhẫn, chuyên nghiên cứu lý học, người đương thời gọi là La Sơn tiên sinh.

    Đọc sách “Tính lý tứ thư đại toàn” của nhà Lý học đời Tống Chu Hy, Nguyễn Thiếp thấy về bản chất vũ trụ, Chu Hy phân ra hai bình diện: Lý là nguyên lý siêu hình hay tiềm thể, dạng thức tiềm sinh khi vũ trụ chưa thành hình, gọi là bình diện “Hình nhu thượng”. Khí là khí chất có năng lực tạo hình, biến hóa ra muôn hình vạn trạng, thuộc bình diện “Hình nhi hạ”.

    Chu Hy nói: “Hình như cái khí nương tựa vào Lý để hình thành sự vật. Khí tụ ở đâu thì Lý có mặt ở đó”.

    Lại nói rằng mỗi vật có một lý riêng, nên có bao nhiêu vật trong cõi hiện tượng là có bấy nhiêu cái lý. Lý tối thượng độc nhất ở cảnh giới “Vô cực”, nếu không bám vào Khí thì không thể hiện thực trong cõi hiện tượng được vì Lý, tự nó, không có tình ý, không có kế hoạch thiết kế hay tạo tác khi thiếu chất liệu của Khí. Chỉ khi nào Khí ngưng tụ, kết tinh thành hình trạng thì Lý kia mới tùy chỗ, tùy vật mà hiện ra.

    Lý và Khí hợp nhất thành “Thái cực”. Mỗi vật có một Lý cá biệt trong cái cùng cực của nó.

    Nói bằng cách tượng hình, cả vũ trụ có một Thái cực, mà trong vạn vật, mỗi vật đều bẩm thụ một Thái cực vẹn toàn. Cho nên Chu Hy viết:

    “Nhờ Lý và Khí hợp nhất mà sinh ra con người.

    Hai khí âm dương giao hòa, kết tinh làm một, do đó mà Lý có nơi nương tựa.

    Cái Trời phú cho gọi là Mệnh, phần ta nhận được gọi là Tính… Trời dùng Khí ngũ hành hóa sinh ra muôn vật. Khí kết tinh thành hình thể thì vật đã thu nhận được cả cái Lý rồi. Mệnh có thể hiểu như là mệnh lệnh, cứ thuận theo ngũ hành gìn giữ cái tính bản thiện kia.

    Có hình rồi, sự vật mới có tính khí chất… Tính như Thái cực, Tâm như âm dương, không có gì tách khỏi khí âm dương được. Tính vốn tĩnh lặng, khởi động lên là Tâm.

    Đức nhân là Tính, thương cảm là Tình, tất cả đều phát xuất từ Tâm, do Tâm thống lĩnh. Tính chỉ là cái lý chính đáng, thuần trí toàn thiện, không có khí chất, hình trạng gì cả. Khí hiện thành vật thể cá biệt mới có tốt, có xấu.

    Tâm ví như nước, lúc tĩnh lặng thì gọi là Tính, lúc trôi chảy náo động thì gọi là Tình, đến lúc dâng cao tràn bờ là Dục, năng lực hoạt động của nó là Tài. Tuy nhiên, tài năng tùy lúc tùy nơi mà nhanh chậm, mạnh yếu khác nhau. Tài cũng tùy thuận theo Tâm, Tình, cùng khí hóa mà biến chuyển, thăng trầm, chỉ có Tính là tĩnh lặng. Tính phú bẩm ở trời, tài phú bẩm ở Khí”.

    Đọc xong, Nguyễn Thiếp thấy trí óc mình sáng ra. Ông liền làm bài thơ “Độc tính lý tứ thư đại toàn” để ghi lại cảm tưởng của mình:

    “Lý ấy đủ trong mỗi tấm thân,

    Nhà Nho lo học chẳng lo bần

    Nghĩa còn, hình phạt là đồ bỏ

    Đạo khuất, suối rừng đủ dưỡng chân

    Biển lận xưa nay đời tranh chấp

    Riêng ta sông tắm bốn mùa xuân

    Loay hoay cùng đạt lo chi nữa

    Quân tử thành danh bởi đức Nhân”([10]).

    Vào năm Canh tý([11]) Trịnh Sâm có ý thay thế vua Lê, mời Nguyễn Thiếp ra kinh để dụng, nhưng ông từ chối. Nhiều người ở Thăng Long kính trọng ông, làm thơ tặng ông, như thơ của Bùi Dật Trực:

    “Bốn bể ngẩng trông Thiên Nhẫn đỉnh

    Chín trùng trọng vọng Lục Niên quan”.

    Lục Niên là nơi Lê Thái Tổ đóng quân chống Minh trong sáu năm, chọn thành Lục Niên làm nơi ẩn dật. Nguyễn Thiếp có ý nêu cao chính nghĩa dân tộc chống ngoại xâm và lý tưởng đạo đức của người quân tử làm tiêu biểu cho mọi người noi theo.

    Khi Hiệp trấn Nghệ An Bùi Huy Bích gửi thư cho ông cũng coi ông như một tiên ông, còn mình là tục khách, xa nhau trời vực, muốn qua thăm nhưng không dám:

    “Người rằng ông bỏ quan

    Dời nhà vào suối đá.

    Hỏi ông vui với gì?

    Trăng bạc mây mờ tỏa

    Bấy tài buồn cho tôi

    Sớm chiều rộn giấy má.

    Xa tưởng nơi nhà ông

    Mây sao nhiều vẻ lạ

    Đôi lúc muốn qua thăm

    Vết trần sợ vấy vá”.

    Nhưng Nguyễn Thiếp không phải thoát tục mà vẫn luôn luôn nghĩ đến việc đời. Trong thư trả lời Bùi Huy Bích, ông nhắc quan hiệp trấn nên lưu ý đến cảnh khổ của dân:

    “Hoan châu chịu binh địch

    Từ lâu tài lịch liệt

    Lại lìa hai ba năm

    Mất mùa, khổ khôn xiết

    Mười người chết và đi

    Năm, sáu rồi còn chi!

    Chiếc khoan hình chẳng thấy

    Lại thúc nộp đúng kỳ

    Binh, thuế có thiếu sót

    Trốn tránh làm sao lọt?

    Rất mong vị thừa tuyên

    Giúp dân buổi khổ cực”.

    Một người biết lo cho dân như vậy phải nói là một người nhân ái và cao thượng. Trần Văn Kỷ tự nhủ nếu có dịp mình sẽ thân đến tận nơi ở ẩn của Nguyễn Thiếp mời ông ra giúp nước. Hôm sau, Bắc Bình vương mời Trần Văn Kỷ đến bàn bạc. Vương hỏi:

    - Lần này, ta ra Thăng Long trừng phạt Vũ Văn Nhậm để chấm dứt mối lo về phía Bắc nhưng sau đó lại phải về Phú Xuân ngay để đề phòng mối nguy cơ về phía Nam. Ta chỉ e sau khi ta đi khỏi rồi, Ngô Văn Sở không cai trị nổi Bắc Hà, sẽ sinh ra nhiều chuyện rắc rối như khi Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm ở đây. Khanh có mưu gì giúp ta không?

    Trần Văn Kỷ thưa:

    - Nhà nước muốn bền vững trước hết phải biết trọng dụng nhân tài. Khi đại quân ta rút về Phú Xuân lần trước, những kẻ thừa cơ gây chuyện rối loạn ở Bắc Hà thường mượn chuyện tôn phù vua Lê hay chúa Trịnh làm danh nghĩa, trong đó những tên cầm đầu đều có hư danh như Thạc quận công Hoàng Phùng Cơ Liễn, Trung hầu Đinh Tích Nhưỡng, Tiến sĩ Dương Trọng Tế, Lưu Tiệp, Nguyễn Hàn… vì thế có một số người thật thà tin theo. Bây giờ, muốn thu phục lòng dân thì trước hết hãy thu dụng được một số nhân tài Bắc Hà, trong đó có những người khoa hoạn nổi tiếng từng được nhân dân ca tụng, như vậy vừa được có người giúp ích cho việc nước mà lại khiến dân kính phục tin theo.

    - Lời khanh nói rất đúng. Nhân tài là cái gốc của nước. Ta đã từ lâu có ý muốn thu dùng nhân tài Bắc Hà nhưng vì bận việc quân chưa có thì giờ lo việc ấy. Khanh hãy giúp ta kê một bản danh sách những người có tài để ta cho người đến mời.

    - Bẩm vương gia, mấy năm trước thần đã có dịp ra Thăng Long nên có giao thiệp với nhiều nhân sĩ Bắc Hà. Trong số đó nhiều người có thực tài nhưng trước đây bị chúa Trịnh bỏ không dùng hay dùng vào chức thấp khiến họ không thi thố được tài năng, như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Du([12]), Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Trần Bá Lãm, Ninh Tốn… đều đã đỗ tiến sĩ, không những đã có thực tài lại còn có danh vọng, nhưng gặp lúc vua hôn chúa ám nên dù trong bụng ôm kinh luận thao lược cũng không thể đem ra thực hành để giúp dân, giúp nước.

    Bắc Bình vương gật đầu:

    - Hay lắm. Ta sẽ cho người đi mời những người đó đến yết kiến.

    Trần Văn Kỷ ngần ngừ:

    - Bẩm Vương gia, những người đó có tài thường là hay khí khái, nếu mình không tỏ ý trung hậu, thành thực muốn họ cộng tác, dùng lễ mà đối đãi với họ thì chưa chắc họ đã chịu đến. Thần sẽ xin thay mặt Vương gia đến tận nơi mời họ, nếu chỉ thảo thư mời e vị tất đã có kết quả.

    - Được, việc đó khanh cứ tùy liệu mà làm. Nếu người nào khanh xét thấy cần có ta đích thân đến mời ta cũng vui lòng đến.

    - Bẩm Vương gia, thần có ý mọn này: Kẻ sĩ rất trọng danh nghĩa, chi bằng trước hết ta cho đòi hết thảy các quan văn võ nhà Lê đều phải vào yết kiến Giám quốc Sùng Nhượng công. Người nào sốt sắng đến ngay như vậy là có ý muốn cộng tác với ta, ta sẽ cho mời họ đến tiếp kiến. Người nào chưa chịu đến như vậy là còn có ý nghi ngại lòng thành thật của ta, khi đó ta sẽ thảo thư đến mời. Như vậy công tư vẹn cả đôi bề, vừa được người tài vừa tránh cho họ khỏi mang tiếng là kẻ khuất thân đi cầu danh lợi.

    Bắc Bình vương khen phải. Hôm ấy Vương cắt đặt lại quan chức: Đô đốc Nghĩa hòa hầu làm trấn thủ trấn Sơn Nam, Lôi quang hầu làm Trấn thủ trấn Tây, Nguyệt quang hầu làm Trấn thủ trấn Kinh Bắc, Hán hổ hầu làm Trấn thủ trấn Hải Dương, Giác hòa hầu coi giữ bộ Hình, Chánh ngôn hầu coi bộ Hộ, Ước thiện hầu coi bộ Lễ, Lộc tài hầu coi bộ Lại và kiêm nhiệm chức hiệp trấn. Bắc Bình vương lại bảo họ tiến cử những người mà họ biết chia ra cho làm quan ở các huyện. Võ thì chia ra chức suất, chức nội, văn thì chia ra chức tri, chức ngoại. Còn các ngoại trấn Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Yên Quảng đều do Ngô Văn Sở tùy theo tài năng mà cắt đặt người, sau đó bẩm lên xin cấp văn bằng, rồi cho ai nấy lĩnh quân bản bộ về trấn của mình.

    Bắc Bình vương lại hạ chỉ vẫn để con thứ tư của vua Cảnh Hưng là Sùng Nhượng công Lê Duy Cận là Giám quốc, và cho đòi hết thảy các quan văn võ phải vào yết kiến Sùng Nhượng công.

    Nghe có lệnh đòi các quan văn võ phải tới yết kiến Sùng Nhượng công, Ngô Thì Nhậm thầm nghĩ có lẽ phen này mình có dịp đem tài năng ra giúp đời nên từ quê vợ ở Sơn Nam lên Thăng Long. Sáng sớm hôm ấy, Nhậm tới trước cửa khuyết thì một viên quan truyền phải đến chực sẵn ở nhà bộ Lễ rồi theo viên lễ quan là Ước lễ hầu vào yết kiến.

    Tới nhà bộ Lễ, Nhậm thấy mình là người đến sớm nhất. Trên chiếc sập sơn son thếp vàng, chỉ thấy Vũ Văn Ước đang ngồi phía bên hữu còn bên tả vẫn còn để trống. Ước thấy Ngô Thì nhậm tưởng lầm là Sùng Nhượng công liền mời cùng ngồi với mình trên sập. Nhậm không hiểu sao cũng ghé ngồi một bên.

    Lát sau, các quan đại thần nhà Lê như Phan Lê Phiên, Nguyễn Hoàn đến đều lạy ở trước sân, Ngô Thì Nhậm trong bụng rất áy náy, vội đứng dậy đi ra. Ước lấy làm lạ, không biết là ai, bèn hỏi:

    - Người vừa ngồi đây là ai thế?

    Có người trả lời:

    - Văn ban Ngô Thì Nhậm đấy!

    Ước giận nói:

    - Ta vâng mệnh cai quản tất cả, sao lại được vô lễ như vậy.

    Rồi Ước tức tốc sai người theo bắt. Ngô Thì Nhậm đã biết trước chuyện đó nên lúc ra vội vàng trốn tránh ngay.

    Đêm đó, Trần Văn Kỷ đang thiu thiu ngủ thì lính hầu vào báo có một người khách gõ cửa nói có việc gấp cần yết kiến quan Trung thư lệnh. Kỷ ngạc nhiên không hiểu giữa đêm hôm khuya khoắt còn có ai đến gặp mình làm gì. Kỷ vội thay quần áo ra tiếp đón thì thấy một người trung niên mặt mũi thanh tú mặc áo thanh cát, chít khăn lương, Kỷ nhìn kỹ, nhận ra là Nhậm bèn hỏi:

    - Ông đến tìm tôi có việc gì?

    Nhậm nói:

    - Bẩm quan Trung thư lệnh, vẫn biết làm kinh động giấc ngủ của ngài trong lúc đêm hôm là đắc tội nhưng tôi có việc gấp không thể để đến sáng mai được nên buộc lòng phải đến đây thưa bày với ngài, xin ngài thứ cho cái tội đường đột.

    - Không hề gì người xưa còn nhả cơm quấn tóc ra tiếp đón bậc tiền sĩ huống hồ là Kỷ này.

     Kỷ thấy từ khi nhìn thấy Nhậm lần đầu tiên đến nay, hình dung Nhậm đã thay đổi nhiều, lúc đầu khó nhận ra ngay:

    - Có phải ông là Ngô Thì Nhậm không? Tôi nghe tiếng đã lâu, không ngờ hôm nay lại có dịp tương kiến, chẳng hay có chuyện gì mà ông phải lật đật tới đây.

    Nhậm thành khẩn:

    - Bẩm ngài tôi vâng lệnh đòi vào yết kiến đức Giám quốc Sùng Nhượng công. Khi tôi tới chưa thấy có ai cả. Không hiểu sao Ước lễ hầu lại mời tôi cùng ngồi với ngài, tôi không dám trái mệnh. Ngồi được một lúc, tôi thấy các quan Bình chương họ Phan, Quốc lão họ Nguyễn đều lạy ở trước sân. Lúc ấy, tôi mới vỡ lẽ ra Ước lễ hầu tưởng mình là Sùng Nhượng công nên trong bụng rất áy náy, vội đứng dậy đi ra. Tôi đoán biết trước, khi Ước lễ hầu biết chuyện thế nào cũng sinh chuyện lôi thôi. Bởi tôi vô tình xúc phạm tới Ước lễ hầu, sợ bị hãm hại nên không dám ra mắt chứ không phải dám trốn tránh. Được biết ngài là bậc nổi tiếng văn học ở Nam Hà lại có lượng dung người nên mới đến nhờ ngài tìm cách giải cứu cho, ơn này không bao giờ dám quên.

    Kỷ cầm tay Nhậm ôn tồn:

    - Nghe ông là bậc kỳ tài, không may bị tiếng dèm pha, trốn tránh hơn năm, sáu năm, sự tích lũy càng thêm tinh túy. Nay ra ứng dụng với đời, chính là hợp thời. Tôi đã đem tên ông trình với chúa thượng khen tài ông có thể dùng làm việc lớn. May mắn nay được chúa thượng rủ lòng yêu mến đã sai tôi đi tìm ông, vậy ông phải cần gì đến ông Ước.

    Nhậm cảm kích:

    - Bẩm ngài, không dám giấu gì ngài, trước đây tôi đã từng hoài bão cái chí giúp đời nên dã dâng lên chúa Trịnh những tờ khai trình bày những tình tệ ở địa hạt Hải Dương cũng là chính sự đương thời nêu rõ những bất công, áp bức, sưu dịch, thuế má, lính tráng mà dân chúng phải gánh chịu. Do đó, sức dân ngày một mòn mỏi, tiêu hao, từ đó đề ra những biện pháp, kiến nghị để sửa đổi tình hình như xin chấn chỉnh bộ máy quan lại, đề cao pháp luật, mở mang việc học, ngăn chặn việc bá chiếm ruộng đất khai khẩn đất hoang, phòng thủ biên giới, tóm lại là xin theo chính sách “lấy dân làm gốc”. Chúa Trịnh khen tôi “tài học không ở dưới người” thưởng năm quan tiền cổ nhưng rút cục những kế sách dâng lên chúa đều bỏ qua, không đem thi hành. Khi cái mật án năm Canh tý vỡ lở, tôi ở vào thế bị hiềm nghi vì tôi là phó của Tuân sinh hầu Trấn thủ Kinh Bắc và là Tùy giảng của Vương tử tông, người ta cho là phải biết trước âm mưu. Do đó, khi bị bắt tra hỏi, tôi buộc lòng phải khai rõ sự thật. Đến khi kiêu binh phế Tông lập Cán, tôi lại bị người ta vu cho cái tội phát giác vụ án năm Canh tý nên bị lùng bắt. Tôi phải trốn về quê vợ ở Sơn Nam, trong thời kỳ này tôi tự thấy mình như một con chim kinh sợ, lòng những muốn thờ ơ với chính sự, như con cá ngu dại bơi lội giữa dòng nước đầy. Giữa lúc đang muốn theo đạo từ bi của Tam Tổ, làm một ẩn sĩ thì được nghe tin đại quân Tây Sơn kéo ra dứt họ Trịnh, cứu vớt nhân dân Bắc Hà ra khỏi cảnh lầm than, tôi chẳng khác gì giữa mây mù được thấy ánh mặt trời. Được biết chủ trương của nghĩa quân là “điếu dân phạt tội” nên tôi mạnh dạn tới nơi mong được mang chút tài mọn ra đóng góp, mong ngài vui lòng tiến dẫn cho.

    Bỗng tên lính hầu vào báo có Ước lễ hầu xin vào gặp, Kỷ nói với Nhậm:

    - Ông Ước tới đây chắc vì chuyện của ông. Xin mời ông vui lòng vào nghỉ trong thư phòng chốc lát, để tôi gặp ông Ước xong ta sẽ đàm đạo tiếp.

    Kỷ sai lính hầu dẫn Nhậm vào thư phòng rồi thân ra cửa đón Ước. Ước bước vào, nét mặt có sắc giận:

    - Thưa quan Trung thư lệnh, tôi nghe quân lính của tôi nói Ngô Thì Nhậm vừa trốn vào nhà ông có phải không?

    Kỷ điềm tĩnh:

    - Ngài tìm Ngô Thì Nhậm có việc gì vậy?

    Ước nóng nảy:

    - Tôi phụng mệnh dẫn các quan văn võ vào yết kiến Sùng Nhượng công, vậy mà Ngô Thì Nhậm chỉ là một viên quan văn nhỏ mọn, dám ngang nhiên ngồi vào chỗ dành riêng cho đức Giám quốc, như vậy có phải là tiên lạm ngôi vị và vô lễ với bậc quan trưởng hay không? Ông ấy dám ngồi để cho các vị Bình chương, Quốc lão quỳ lạy thì còn ra thể thống gì nữa. Tôi chẳng ra gì cũng là Lễ bộ tham tri Ước lễ hầu cai quản tất cả các quan văn võ nhà Lê, vậy mà ông ấy dám ngồi ngang hàng với tôi, hỏi còn coi hoàng triều Tây Sơn ta vào đâu. Người xưa nói: “Không ưa phạm người trên mà ưa làm loạn, chưa có lẽ ấy bao giờ”. Nếu dung túng tội bất kính chỉ tổ làm cho quan dân Bắc Hà khinh nhờn phép nước, dễ sinh biến loạn như chơi. Nếu ông ấy có trốn vào nhà này, thì xin ngài giao ông ấy cho tôi để trừng trị theo đúng luật.

    Kỷ mỉm cười:

    - Ông ấy có đến nhà tôi thật nhưng tôi không thể giao ông ấy cho ông vì phải đem ông ấy tiến dẫn lên chúa thượng.

    Ước tròn mắt ngạc nhiên:

    - Ủa, ông có biết ông ấy là người như thế nào không mà dám khinh suất tiến dẫn lên chúa thượng?

    - Ông bảo ông ấy là người như thế nào?

    - Tôi nghe người ta nói ông ấy là bề tôi trung thành của Trịnh Sâm, từng được Sâm khen là con tuấn mã ngày đi ngàn dặm. Nay ông ấy bất đắc dĩ phải về với ta nhưng biết có thực tâm quy phục không hay chỉ trá hàng để chờ cơ hội làm phản. Ông ấy lại có tiếng là người hay phản phúc, trước đây đã từng tố giác vụ án năm Canh tý khiến chúa bị tội, hai người bạn của cha bị chết, cha buồn bực uống thuốc độc tự tử nên người đời đã có câu biếm nhẽ ông ấy là “sát tứ phụ nhi thị lang”. Vậy mà giờ đây ông lại thu dụng con người tráo trở đó, có phải là “nuôi ong tay áo” hay không?

    - Trước đây ông ấy đã dâng nhiều tờ khải cho Trịnh Sâm nhưng Trịnh Sâm bỏ qua ý kiến của ông ấy không dùng. Còn việc tố giác vụ án năm Canh tý chỉ là chuyện người ta ghen ghét, gán tiếng xấu cho ông ấy mà thôi. Vừa rồi ông ấy đã trình bày hết đầu đuôi câu chuyện với tôi rồi.

    - Nay ta mới lấy được Bắc Hà lòng người còn chưa phục, vậy mà ông định cất nhắc cho sĩ phu Bắc Hà, không sợ sau này họ manh tâm làm phản hay sao? Nguyễn Hữu Chỉnh theo ta từ đầu vậy mà sau còn làm phản, như vậy xin vào sĩ phu Bắc Hà làm sao được? Họ bao đời ăn lộc của Lê Trịnh, dễ gì nhất đán lại trung thành phụng sự với ta. Tôi thấy chỉ những người Nam Hà theo nghĩa quân từ ngày đầu mới có thể tin cậy được mà thôi.

    Kỷ điềm đạm:

    - Ở đời có người thế này, có người thế khác, không chỉ vì có Nguyễn Hữu Chỉnh là người Bắc Hà làm phản mà nghi ngờ tất cả những người Bắc Hà khác. Ông bảo chỉ nên tin cậy những người Nam Hà theo nghĩa quân từ ngày đầu, vậy tôi thử hỏi ông sao Đỗ Thanh Nhân, Lý Tài lại làm phản? Nguyễn Huỳnh Đức là người Nam Hà từng theo ta sau đó lại chạy về với Nguyễn Ánh. Ngược lại Vũ Văn Dũng, Ngô Văn Sở là người Bắc Hà lại thêm nghĩa quân lập được nhiều công lao. Vũ Văn Dũng từng là tướng của Quận Tạo, còn Ngô Văn Sở, có anh ruột là Ngô Văn Diệu, làm quan tới quyền phủ sự quận công, con rể chúa Trịnh Cương. Dòng họ Vũ và Ngô đời đời ăn lộc của Lê Trịnh, vậy mà Dũng và Sở vẫn hết sức không phò Tây Sơn. Nay chính tôi cũng được Vũ Văn Dũng tiến cử với chúa thượng. Còn Ngô Văn Sở được chúa thượng giao cho cai quản ở Bắc Hà. Như vậy, tôi tiến cử Ngô Thì Nhậm với chúa thượng không được hay sao?

    Ước đuối lý vội chuyển giọng:

    - Khi nghĩa quân mới dấy, có ông Huyền Khê là quân sư của chúa thượng. Đến khi ông về với nghĩa quân, thì ông lại là đệ nhất tham mưu, được chúa thượng tin nghe hơn cả ông Huyền Khê. Nay ông tiến cử Ngô Thì Nhậm, không sợ rằng sau này ngôi vị Nhậm sẽ ở trên ông hay sao? Lỡ ra, lúc ấy Nhậm không dung ông thì ông tính thế nào?

    Kỷ dõng dạc:

    - Tiến cử người hiền tài ra giúp nước là bổn phận của người làm quan, huống hồ tôi chịu ơn chúa thượng há không biết quên mình để báo đáp hay sao? Ở đời thấy việc nghĩa thì nên làm, không nên bận lòng nghĩ đến lợi hại sau này. Nếu tài Ngô Thì Nhậm đáng ở bậc cao hơn tôi thì tôi sẵn lòng ở dưới mà không hề đố kỵ. Còn nếu Nhậm phản tôi thì như vậy là kẻ bất nghĩa, dẫu có tài cũng không đáng kể làm chi.

    Ước không biết thế nào đành ấp úng:

    - Tôi đã nói hết lời với ông rồi, nghe hay không là tùy ông, nếu sau này xảy ra chuyện gì tôi không dám biết đến. Tôi chỉ e ông mắc lụy vì tính nhân từ, dễ dãi của mình mà thôi.

    Kỷ thẳng thắn:

    - Tôi tiến cử người tài là vì nghĩa lớn chứ không cầu ơn riêng. Nếu Ngô Thì Nhậm làm được việc ích lợi cho dân, cho nước thì đó là cách báo ơn cao nhất đối với tôi, còn nếu Ngô Thì Nhậm phản phúc thì không những tôi nguyện xin chịu tội vì đã tiến cử lầm người mà còn suốt đời ân hận vì đã vô tình làm hại nước. Điều đó ông không cần phải lo cho tôi.

    Ước nghe giọng thẳng thừng của Kỷ ngượng ngùng xin cáo từ ra về. Đi vài bước Ước quay lại nói với Kỷ:

    - Nếu ông có gặp chúa thượng thì xin thưa với người tôi chỉ muốn giữ lễ nghi phép tắc nên trách cứ Ngô Thì Nhậm chứ không phải là hẹp lượng dung người.

    Kỷ cười:

    - Thì chính vì sợ điều ấy nên Ngô Thì Nhậm mới không dám đến ra mắt ông chứ không phải cố tình trốn tránh. Như vậy là đôi bên cùng hiểu lầm nhau, kể như là hòa. Tôi sẽ không tâu lại với chúa thượng đâu, ông cứ yên tâm.

    Ước mừng rỡ cảm tạ Kỷ rồi lui về. Kỷ mời Nhậm ra kể cho Nhậm nghe câu chuyện. Sau đó  Kỷ đưa Nhậm vào yết kiến Bắc Bình vương, Vương nói:

    - Ngày trước, người vì chúa Trịnh không dùng một mình bỏ xứ mà đi. Nếu ta không đến đây ngươi làm sao thấy được bóng mặt trời. Có lẽ đó là ý trời muốn để dành ngươi cho ta dùng. Vậy ngươi hãy cố gắng mà lo việc báo đáp, thế là được.

    Ngô Thì Nhậm rập đầu tạ ơn. Bắc Bình vương ngoảnh lại bảo Kỷ:

    - Đây là người do ta gây dựng lại, nên thảo ngay tờ tế phong làm chức Tả thị lang bộ Lại, tước Tĩnh phái hầu, cùng với Văn Ước coi tất cả các quan văn võ của nhà Lê.

    Hôm sau, các quan lục tục kéo đến. Lễ quan Vũ Văn Ước đưa vào lạy ở điện Chính Trung, Bắc Bình vương đòi hết lên sảnh đường mà bảo:

    - Chiêu Thống do ta lập nên, nhưng là người tối tăm, nhu nhược không thể gánh nổi công việc. Sau khi ta về Nam, liền bị Nguyễn Hữu Chỉnh sai khiến tự rước lấy bại vong. Nay ta để Sùng Nhượng công làm Giám quốc, các ngươi hãy cố gắng ở lại giúp đỡ ông ta. Ta không ở lại đất này mà nay mai lại sắp về Nam, nhưng e sau này Chiêu Thống trở về tranh giành với Sùng Nhượng công, thành ra ta làm ơn mà lại hóa ra gây loạn cho họ nên ta phải để cho viên Đại tư mã Ngô Văn Sở ở lại trông nom việc binh, giúp đỡ Giám quốc Sùng Nhượng công. Chờ khi bốn cõi tạm yên, ta sẽ gọi về.

    Sau đó Trần Văn Kỷ bàn với Ngô Thì Nhậm việc tiến cử một số nhân tài giúp nước. Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Nha, Nguyễn Bá Lan, Trần Bá Lãm, Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyên Tuấn nối nhau đến yết kiến. Bắc Bình vương phong cho Phan Huy Ích chức Tả thị lang bộ Hình, tước Thụy nham hầu được đưa về Nam, còn bọn Lịch, Lan thì đều được phong chức Hàn lâm trực học sĩ, ở lại cùng làm việc với Ngô Văn Sở.

    Ngô Thì Nhậm ngồi trước án đọc lại bức thư mà chú ruột ông là Ngô Trưởng Đạo, Phó hiển trấn Kinh Bắc của Chiêu Thống vừa gởi cho ông. Trong thư viết:

    “Nhà ta mấy đời ăn lộc nhà Lê, nay anh lại nhận chức quan của ngụy Tây, không những là đứa con bất hiếu trong gia tộc, bầy tôi bất trung của hoàng gia mà còn là kẻ tội nhân của danh giáo. Cha anh ở dưới suối vàng biết chuyện này không biết sẽ đau lòng đến thế nào. Nếu anh không sớm từ bỏ loài ngụy tặc, về chịu tội trước Tự hoàng, thì ta sẽ thay mặt cho cả gia tộc xóa tên anh trong tộc phả họ Ngô, ta cũng từ anh không nhận là cháu của ta nữa”.

    Ngô Thì Nhậm nhớ lại vụ án năm Canh tý vỡ lở, mặc dầu cha ông là Ngô Thì Sĩ mất lúc làm đốc trấn Lạng Sơn, sau một chuyến đi Nam Quan trở về, người ta cũng bịa đặt ra chuyện cha ông ngăn cấm ông tố giác vụ án không được, nên buồn rầu uống thuốc độc tự tử. Bây giờ, khi ông đi theo Tây Sơn, người ta cũng cho là ông làm nhơ danh giá của cha và dòng họ. Không những chú ông là Ngô Trưởng Đạo đi theo Lê Chiêu Thống, mà cả em ruột ông là Ngô Thì Chí cũng vâng lệnh Chiêu Thống lên Lạng Sơn chiêu dụ dân chúng và báo tin cho Đốc đồng Nguyễn Huy Túc hẹn ngày đón Chiêu Thống lên Cao Bằng. Trong cùng một nhà mà cũng mỗi người một chí hướng. Nhậm biết con đường mà chú mình và em mình đi là sai lầm, vì hai người đó chỉ biết trung thành với một ông vua, với một dòng họ, mà không biết rằng Lê Chiêu Thống chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng của ông ta mà không biết lo lắng cho dân, cho nước. Trong khi đó, Bắc Bình vương là người có chí lớn muốn cứu dân ra khỏi cảnh nước lửa lầm than, muốn cho đất nước được hưởng cảnh thái bình thịnh trị. Bắc Bình vương đã được lòng dân, lại khoan dung đức độ, biết trọng dụng kẻ hiền tài, có lẽ nào mình lại phụ ơn tri ngộ của Vương và phụ công tiến cử của Kỷ thiện hầu cho được!

    Bên tai Nhậm như văng vẳng tiếng nói sang sảng như chuông đồng của Bắc Bình vương: “Đây là người do ta gây dựng lại…” lúc ấy Nhậm cảm thấy mình như người đã chết nay được sống lại.

    Bỗng lính hầu vào báo:

    - Bẩm quan Thị Lang, có một ông già ăn mặc tồi tàn xưng là bạn cũ của ngài, nhất định đòi vào gặp ngài, chúng con đuổi ra không được, xin vào báo để ngài định liệu.

    Nhậm ngạc nhiên:

    - Ông ấy nói là bạn cũ của ta à? Được rồi, bay cứ mời ông ta vào đây.

    Lính hầu dẫn một ông già nón mê áo rách. Nhậm chưa kịp nói gì thì ông già đã nhỏ giọng:

    - Xin ông cho gia nhân lui ra rồi tôi sẽ nói chuyện,

     Nhậm đuổi lính hầu ra ngoài. Ông già từ từ cất nón mê và cởi áo rách lộ ra vành khăn nhiễu tím và chiếc áo gấm lam. Nhậm nhìn kỹ thì đó là Tiến sĩ Trần Danh An, bạn cũ của mình. Ông vội nói:

    - Hiền hữu đến đây thăm tôi hay có việc gì?

    Trần Danh An nói:

    - Tôi mang tin của lệnh đệ về cho huynh ông đây.

    Nhậm lo lắng:

    - Tin thế nào?

    - Vừa rồi vua Chiêu Thống sai Thì Chí lên Lạng Sơn lo liệu công việc. Đến huyện Phương Nhỡn, Chí bị bệnh nặng, không đi được phải cáng về huyện Gia Bình rồi mất. Tôi được tin ấy vội đến báo cho huynh ông biết.

    Nhậm kêu lên:

    - Vậy ra em tôi đã mất! Thương thay cho em nó, sức vóc học trò mà phải xông pha lam chướng, chịu sao cho nổi. Tôi đã khuyên nó mà nó một mực không nghe, lại nói: Cha đặt tên em là Chí, ý muốn cho em làm theo cái chí của em, cũng là noi cái chí của cha ông.

    An xen vào:

    - Đúng rồi, cha ông ta đời đời ăn lộc nhà Lê, nên Thì Chí trung thành với vua Lê là phải lẽ. Tôi nghe được tin Chí mất, vua Chiêu Thống thương khóc thảm thiết, tự tay viết tờ chiếu, truy tặng Chí làm chức Hàn lâm thị chế, tước Dụ trạch bá, sai người đưa đến cho vợ con Chí.

    - Vợ con Chí đã có tôi chu cấp, điều ấy không đáng lo, chỉ buồn vì nỗi bộ An Nam nhất thống chí mà Chí đang viết dở, biết lấy ai là người kế tục. Thương hay!

    Nhậm nước mắt dàn dụa trên má, cứ để thế không lau. An thừa dịp nói:

    - Ông có thương khóc Chí cũng không thể làm cho Chí sống lại được. Giờ chỉ còn một cách: huynh ông quay về với nhà Lê, như vậy chẳng những đã làm thỏa mãn vong hồn lệnh đệ mà còn nối được cái chí của cha ông.

    Nhậm ngắt lời, giọng kiên quyết;

    - Nếu hiền hữu không đến đây báo tin em tôi mất mà đến để làm thuyết khách thì tôi không dám bảo đảm sự an toàn cho hiền hữu.

    An đứng dậy:

    - Tôi vì tình bạn mà đến đây, nếu huynh ông không nghe lời tôi, sau này có xảy ra chuyện gì, lúc ấy tôi không dám biết đến.

    Nói rồi An khoác áo rách lên mình, chụp nón mê vào rồi vừa đi vừa nói:

    - Không ngờ chỉ vì tước lộc của ngụy triều mà có người đành lòng quên cả tình máu mủ, bạn bè. Ha ha! Tiếc thay!

    Nghe lời đe dọa của An, Nhậm thầm đoán có chuyện gì, nhưng chưa kịp giữ An lại thì An đã đi vụt ra cửa. Vả lại, đang lúc tang gia bối rối, Nhậm phải nghĩ đến tang việc cho em trước đã. Dẫu em mình chí hướng có khác mình, nhưng nghĩa tử là nghĩa tận, cũng phải làm sao cho trọn tình máu mủ.

    Làm lễ phát tang xong, Nhậm vào một căn phòng đóng chặt cửa lại ngồi suy nghĩ một mình. Ông nhớ lại bao kỷ niệm về người em vừa qua đời. Hồi nhỏ, Chí đã mê đọc những cuốn truyện chí của Tàu như Tam quốc chí, Tây Hán chí, Thuyết Đường, Bắc Tống diễn nghĩa, Thủy Hử… đến nỗi quên ăn quên ngủ, không mấy khi rời cuốn truyện trên tay. Thấy Chí ham đọc truyện mà không chịu khó làm văn bát cổ cụ Ngô Thì Sĩ đã mắng: “Tiểu thuyết là loại ngoại thư nhảm nhí, chỉ dành cho kẻ quê mùa và đàn bà con trẻ đọc, còn bậc sĩ quân tử phải chăm đọc kinh truyện, tập làm thơ, phú, văn sách, mới mong thi đỗ làm quan được. Mày chỉ mê đọc tiểu thuyết, liệu sau này làm nên trò trống gì”. Chí thưa: “Con thấy người Tàu có nhiều pho truyện chí, chép việc rất tường, kể chuyện người xưa trung, nịnh, thiện ác ra sao, các lẽ hưng suy, trị loạn thế nào, để làm gương cho đời nay. Nhưng ta thì chưa có ai viết truyện về sự tích nước nhà cả”.

    Ngô Thì Nhậm từ khi đỗ Tiến sĩ, được chúa Trịnh tin, cho làm những chức: Đông các hiệu thư, Công bộ Hữu thị lang, Hàn lâm hiệu thảo, Lễ khoa Cấp sự trung, Đốc đồng Kinh Bắc, ông lại dâng nhiều bài khải. Trong bài Kiến nghị về giáo dục, ông viết: “Hiện nay, những người văn hay chữ tốt, tài thức cao siêu không phải là hiếm. Song họ không được dạy dỗ về hạnh, cho nên có những người đem cái miệng lưỡi sắc bén mà tô điểm cho lòng dạ hiểm bí của họ, đem cái đầu óc ngang tàng mà che đậy cho cái ruột gan quỉ quyệt của họ. Sĩ phong đến như thế, khác nào như người đời Tống đã nói: “Mượn mũ nhà nho để ăn cắp sách”. Nếu may mà được bổ dụng, thì họ là một viên quan nhũng nhiễu. Ngồi rồi ăn không, thì họ là hạng người điêu toa. Xưa đã có người cho rằng: “Âm dương thất hòa chưa lấy gì làm đáng sợ. Nhưng nếu điều liêm sỉ không còn, khen chê không xác đáng, thì đó mới là điều thật đáng sợ”. Như vậy, việc giáo hóa có thể xao lãng thế nào được. Thần thiết nghĩ dạy văn phải đi đôi với dạy hạnh”.

    Trong bài Cần bộc chí ngôn tự, ông viết: Thần cho rằng về mặt trị nước phải nắm được những điều mấu chốt, đó là giáo (hiếu, đễ, trung, tính); pháp (gốc, ngôn, độ, số) và chính (bình, tài, lễ, nhạc). Ba mặt ấy gắn bó với nhau, không thể thiên về một mặt nào mà thành công được. Hiện nay, nhà nước do thiếu tiền bạc chi phí cho những việc thờ tự ở tông miếu, yến tiệc khi tế giao tế xã, thưởng cấp cho quân lính, ban phát cho trong triều ngoài phiên nên phải dùng chính sách “tụ liễm”([13]), như vậy e lợi bất cập hại. Rồi đây, một khi chính sách “tụ liễm” được thi hành, kẻ lại tham ô xuất hiện, thì pháp luật bình trị bị phế bỏ, nghề nghiệp tứ dân bị điêu tàn thì thói gian nhũng nảy nở, thói gian nhũng nảy nở thì giáo hóa về luân thường sụp đổ”…

    Tiếc rằng tất cả những kiến nghị của ông đều không được chúa Trịnh thi hành. Khi xảy ra vụ án năm Canh tý, ông ở vào cái thế bị hiềm nghi, suýt nữa bị mất đầu. Đến lúc Trịnh Tông lên ngôi chúa, ông lại bị Tông trả thù, phải trốn tránh, lênh đênh lưu lạc nơi chân trời, góc biển. Dưới thời chúa Trịnh, ông đã không thi thố được tài năng của mình mà còn bao phen suýt nguy hiểm đến tính mạng. Như vậy, việc gì ông phải khư khư ôm lấy họ Trịnh. Chú ông là Trần Danh An đều nói là cha ông mình bao đời ăn lộc nhà Lê, nhưng thực ra là ăn lộc họ Trịnh, vì vua Lê chỉ ngồi làm vì chứ có quyền hành gì đâu. Bao năm chúa Trịnh lấn áp, thậm chí giết hại một số vua Lê, vậy mà các quan vẫn khom lưng thờ chúa Trịnh, có thấy ai đứng ra bảo vệ vua Lê đâu. Bây giờ mới lại nêu ra cái danh nghĩa tôn phù nhà Lê mà không biết xấu hổ.

    Nhưng chúa Trịnh hay vua Lê, thờ ai chuyện đó không quan trọng bằng việc nghĩ đến dân. Trong những bài khải trước đây, ông đã từng khuyên chúa Trịnh: “Thần nghe nói: quan nhiều thì lại nhiễu, lưới([14]) thưa thì dân giàu. Phàm những việc có quan hệ đến gốc của nền chính trị và tính mạng của dân, sai một ly đi một dặm. Nay dân ở ngoài chốn làng xóm sống gian nan, được nới ruộng một phần là được thêm một phần cơm. Mà đạo khoan dân thì thần trộm nghĩ trước hết phải bỏ nhũng tạp, bớt phiền nhiễu… Cần sửa sang điều chỉnh để đời sống của dân được no đủ hơn”. Ông bỏ Lê Trịnh theo Tây Sơn không phải vì tước lộc của triều đình mới mà vì thấy Bắc Bình vương quan tâm đến đời sống của dân, điều đó hợp với chí nguyện của ông, với hoài bão mà ông ôm ấp.

    Suy xét đã kỹ càng, Ngô Thì Nhậm cầm bút viết thư cho Ngô Trưởng Đạo nói ông không thể nghe lời chú mà phản bội Tây Sơn vì như vậy phản bội chính lương tâm mình, phản bội lại lý tưởng chính trị “lấy dân làm gốc” ông bao ngày đeo đuổi.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Quyển 9 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

    ____

    [1] Ý nói những kẻ mượn tiếng phò Lê.

    [2] Những bầy tôi trong thành đời xưa của TQ.

    [3] Kẻ sơ không làm ly gián giữa người thân với nhau.

    [4] Vì nghĩa lớn có khi phải diệt người thân của mình.

    [5] Em trai (của người khác).

    [6] Em trai.

    [7] Cha mẹ (của người đối diện).

    [8] Cháu nó.

    [9] Tính đã thành rồi như chân hạc không cắt ngắn được Mệnh như lông hồng, không tự biết sẽ ra sao.

    [10] Đây là bản dịch.

    [11] Năm 1780.

    [12] Trùng tên với Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều.

    [13] Thu góp tiền của của nhân dân lại.

    [14] Ý nói lưới pháp luật.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,921

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/