Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,163,471

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Thứ năm, 15:09 Ngày 12/08/2021
  • Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

    IX

    Từ ngày sống trong doanh trại của Kỳ Hoa, Lê Thị Vi học thêm được nhiều môn võ Tây Sơn như quyền thuật, trong đó có môn “hùng kê quyền” do Nguyễn Lữ dựa theo cách đá của gà trống mà sáng chế ra. Các loại hô thủ câu (móc có cái che tay, chia ra hai loại: móc đầu cọp và móc đầu phụng), lưu tinh chùy, phi tiêu, đá phi hoàng, phi xoa (chĩa ba mũi) dùng để ném cung tên. Trước đây, Vi đã được Võ Văn Dũng dạy cách đánh kiếm, côn, đao, thương, nhưng chưa đến thành thạo. Lần này, Vi lại học cách sử dụng theo bí quyết của võ Tây Sơn nên ngày càng thêm lợi hại. Thuật đánh gươm của võ Tây Sơn đòi hỏi phải nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, phóng khoáng, trước nhẹ, sau nặng, chuyên tiến về mặt nghiêng, luôn luôn tìm chỗ sơ hở của địch, hễ thấy sơ hở là tấn công mau như chớp. Phép đánh côn, đặc biệt cách nắm côn là tay âm, tay dương, có khi cả hai tay âm, chuyên tiến bộ không có ngừng trệ, nhằm chỗ sơ hở của địch mà chọi, mà đâm, nhanh như nước chảy. Còn đánh ra thì rút về ngay, đâm nhiều mà đánh trả ít, đánh ra cả tám mặt đều dùng tay âm. Phép đánh đao thường chém thẳng linh động, dùng hoạt bộ([1]). Mượn sức của địch mà tấn công, vừa di chuyển vừa chém, tuyệt nhiên không được ngừng trong lúc giao tranh. Môn đánh đao, Vi được Trần Quang Diệu đích thân truyền thụ thuật đánh đao gia truyền của nhà mình, lại dạy Vi bài “Thuật hoài đao quyết” để ghi nhớ từng thế một.

    Bữa nay, Vi luyện đến môn đánh thương. Cầm thương trong tay khi đâm thẳng, khi đâm chũi, khi phóng trái, khi phóng phải, tiến tới, lui sau theo đúng từng thế võ. Đang mải mê tập luyện, không ngờ cây thương bị đánh băng đi lúc nào không biết, Vi hốt hoảng nhìn quanh không thấy ai, đang dáo dác tìm kiếm thì bỗng sau bụi cây có tiếng người cười lớn:

    - Em để hở miếng rồi đấy nhé, nếu bữa nay không phải là anh thì em đã…

    Vi nhìn lại thấy Dũng làm mặt giận:

    - Anh đánh lén em như vậy là xấu lắm, biết chưa?

    Dũng nghiêm mặt lại:

    - Đã luyện võ thì phải coi bốn mặt đều là kẻ địch cả, lúc nào cũng phải phòng bị mới không bị bất ngờ chứ. Môn thương của võ Tây Sơn chú trọng phần trước nhẹ, phần sau nặng, tiến lui linh hoạt, không bị ràng buộc của toàn thân. Em chỉ chú ý mặt trước không đề phòng mặt sau nên bị sơ hở là đúng lắm rồi còn gì nữa. Phải chú trọng cả cương lẫn nhu, luyện tập sao cho càng mềm dẻo nhưng lại càng lợi hại, mới áp đảo được đối thủ chứ. Đây, em xem này, anh chỉ cầm có một khúc cây mà đã đánh băng được thương của em, đủ chứng tỏ có thể mượn sức của địch làm sức của mình được.

    Rồi Vũ Văn Dũng nhặt cây thương của Vi từ dưới đất lên múa thử cho Vi xem. Chỉ thấy đường thương loang loáng như hoa bay, tuyết phủ, không ngừng, bủa phủ khắp toàn thân, tưởng chừng hắt bát nước vào không lọt. Vi reo lên:

    - Thì ra anh không những đã đánh lén mà còn tập lén nữa. Anh tập lúc nào mà em không hề hay biết?

    Dũng cười:

    - Lúc em ngủ say rồi anh lại ra vườn sau tập chứ sao!

    - Sao anh không rủ em cùng tập? Em bắt đền anh đấy!

    - Phải để em ngủ một chút cho lại sức chứ để em thức đêm nhiều quá nhỡ xấu đi thì sao?

    - Thế anh trông em hồi này xấu lắm à? Phải rồi, em làm sao đẹp được bằng cô Xuân([2]).

    - Này đừng có cái lối ghen tuông mà người ta cười cho đấy. Cô Xuân đã có nơi có chốn rồi, em nói vậy mang tiếng chết.

    - Cô Xuân đã thương anh Diệu rồi phải không anh?

    - Biết tin ấy chắc là em… Nhưng thôi anh chẳng nói nữa.

    - Chắc làm sao, anh cứ nói đi mà…

    - Thế khi anh Diệu dạy em đánh đao anh có ghen đâu nào!

    Vi bực mình:

    - Hóa ra anh cũng ghen nữa à?

    - Có yêu thì mới ghen chứ!

    Vi cười, giọng dàn hòa:

    - Hai bên cùng ghen vậy là hòa cả làng. Thôi xí xóa nhé!

    - Xí xóa làm sao được! Chính em ghen trước kia mà!

    - Anh bảo anh dạy cô Xuân tập đánh thương mà không dạy em.

    - Anh dạy cô Xuân đánh thương để đền công anh Diệu dạy em đánh đao, như vậy là công bằng rồi còn gì!

    Hai người cùng cười, đi lại phía núi non bộ ngồi xuống ghế đá. Vi nũng nịu:

    - Thôi chúng mình làm lành với nhau nghe không? Anh kể chuyện cho em nghe đi!

    - Anh biết chuyện gì mà kể!

    - Thì kể bất kỳ chuyện gì cũng được kia mà!

    - Trời đất ơi! Trong đầu anh toàn là tin tức tình báo, còn có chỗ nào mà chứa chuyện nữa! Cũng vì suốt ngày đêm phải lo chuyện săn tin nên đến khuya anh mới luyện võ được chứ. Giờ thì em hết giận anh rồi chứ gì!

    Vi nhìn Dũng cảm động:

    - Đã bảo em không giận nữa mà còn… Thôi, anh kể tin tức tình báo cho em nghe cũng được.

    - Nhưng mà… phải giữ bí mật đấy nhé!

    - Thì anh đã thấy em lộ bí mật bao giờ chưa nào. Anh kể em nghe, em còn góp ý với anh nữa chứ!

    - Ừ, thôi anh kể nhé!

    Rồi Dũng bắt đầu kể:

    - Nguyên cha Chiêu Thống là Thái tử Lê Duy vì trước đây bị Trịnh Sâm vu oan hãm hại, nên Chiêu Thống bất bình căm ghét họ Trịnh. Khi Tây Sơn rút về Nam, Chiêu Thống muốn dứt mầm họ Trịnh để giữ vững quyền thống trị Bắc Hà nên tìm vời các sĩ phu cùng nhau mưu bàn mọi việc. Lại sai các hoàng thân tản ra bốn ngả chiêu mộ quân lính. Bấy giờ, Chiêu Thống có đến vài nghìn quân chia đóng bốn mặt hoàng thành. Lại hạ chiếu kêu gọi hào kiệt trong nước để gây thế lực cho thêm mạnh.

    Khi quân Tây Sơn đã rút, em Trịnh Sâm là Đoan quận công Trịnh Lệ từ Kim Hoa kéo quân vào nơi trấn thủ cũ ở Tuyên Quang, Thời trung hầu Thiên Đô ngự sử Dương Trọng Tế đem quân bản bộ theo Lệ. Lệ bèn vào đóng trong phủ chúa cũ, nổi trống coi chầu, lên ngồi ở phủ đường. Bấy giờ, Tế chia ra ban thứ để lạy mừng, bổ quân canh giữ các cửa ô trong kinh thành. Sớm hôm sau, Tế làm biểu tâu với Chiêu Thống xin cho Trịnh Lệ được nối ngôi chúa, Chiêu Thống cho là tự tiện chuyên quyền nên không chuẩn y. Giấy tờ đi lại đến vài bốn lần, vẫn chưa ngã ngũ. Bọn Lệ muốn nổi quân làm cuộc biến động. Gặp lúc ấy có tờ biểu của Quận công Trịnh Bồng, con Trịnh Giang đưa đến, lời lẽ rất ôn tồn uyển chuyển, Chiêu Thống bèn hạ chỉ vời Trịnh Bồng đến. Sau khi Lệ và Tế thua trận bỏ phủ chúa trốn, Bồng vào thành trước đến điện Vạn Thọ, xin yết kiến nhà vua. Bồng làm lễ khấu đầu xong, Chiêu Thống ban cho ngồi, ôn tồn dụ bảo. Bồng vào ở phủ chúa cũ, gào khóc hồi lâu, muốn lui ở nơi lương phủ. Các bầy tôi tùy tùng đều khuyên Bồng không nên bỏ lỡ cơ hội, Bồng mới lưu lại phủ chúa, đóng ở Trạch Các.

    Đinh Tích Nhưỡng từ sau trận thua ở Sơn Nam, quay về Hàm Giang, cất quân người trong họ, chiếm giữ trấn Hải Dương, lấy thóc kho công đem chiêu mộ binh lính. Thiêm Liên, giặc biển cũng theo về với Nhưỡng. Nhưỡng có quân đến vài vạn người, Chiêu Thống hạ chiếu chỉ vời Nhưỡng về.

    Trước kia, Chiêu Thống muốn tước quyền họ Trịnh sai triều thần thảo bài chế, phong Bồng làm Tiết chế thủy bộ, Bình chương quốc quân trọng sự, phong Côn Quận công.

    Thấy sắc như vậy, Đinh Tích Nhưỡng tức giận, bèn yết thị kêu gọi các quan tề tựu họp tập ở cung Tây Long, bàn nhau làm tờ tâu, xin nhà vua lại phong tước vương cho họ Trịnh. Chiêu Thống trước còn cố giữ mệnh lệnh ban đầu, sau thấy ý kiến bàn định của mọi người đã ngã ngũ, đã phải gượng gạo làm theo, bấy giờ mới phong Bồng làm Nguyên súy phụ quốc chính, Yến đô vương. Bồng lạy tạ, về phủ nổi trống rồi lên ngôi chúa.

    Từ sau trận thua ở Thúy Ái, Thạc quận công Hoàng Phùng Cơ chạy đi Hưng Hóa, vỗ về tập hợp các phiên tù và thổ dân, lại nhặt lượm ở Tây Sơn được đến vài vạn quân lính. Đến đây, dẫn quân đến đóng đồn ở trường bắn. Phùng Cơ trước hết đến yết kiến vua Lê, rồi sau ra mắt chúa Trịnh. Người trong kinh thành đều cho rằng Phùng Cơ có lòng về với nhà Lê, Tích Nhưỡng tỏ ý theo họ Trịnh, chẳng bao lâu, họ sẽ dấy quân đánh lẫn nhau; hai tướng cùng mạnh, chưa biết ai sẽ thắng ai. Lòng người hoang mang, nghi ngờ, không ổn định.

    Chiêu Thống muốn thay đổi quan chức của họ Trịnh lập ra trước đây, để tước đoạt quyền của họ Trịnh. Mọi người còn đang bàn luận chưa ngã ngũ, Phùng Cơ bèn yết bảng cáo thị, họp các quan ở lễ bộ đường, dâng biểu lên nhà vua xin cứ giữ nguyên danh hiệu quan chức cũ, nhưng kiêm nhiệm chức của nhà Lê. Chiêu Thống bất đắc dĩ phải ưng chuẩn lời tâu, từ đó, mới biết Phùng Cơ không phụ theo mình.

    Chiêu Thống buộc phải phong cho Hoàng Phùng Cơ làm Trung quân đô đốc phủ, Tả đô đốc, Chưởng phủ sự; tiến phong Thạc vũ công Đinh Tích Nhưỡng làm Tả quân đô đốc phủ, Hữu đô đốc, Thự phủ sự; Phan Lê Phiên làm Bình chương sự kiêm Tham tụng; Lê Phiên và Huy Bích cố ý từ chối, không nhận chức phong.

    Dương Trọng Tế sau khi thất bại, chạy về Gia Lâm, Trịnh Bồng vẫn trọng hắn là người có tiếng, nên sai vời vào hầu. Tế đến yết kiến, Trịnh Bồng dùng làm Tri hộ phiên, Chưởng tài phú sự. Nhân đó, Tế bàn với Trịnh Bồng đem quân vào đại nội bắt những mưu thân bày kế hoạch cho Chiêu Thống mà giết đi.

    Chiêu Thống biết rõ âm mưu ấy, bèn sai bọn hoàng thân đem số quân đã mộ được chia ra đóng giữ hoàng thành để phòng ngừa biến động. Đền vua, phủ chúa, hai đằng cùng phòng bị nghiêm ngặt cùng trong một thành nghiễm nhiên chia ra hai mặt trận đối chọi nhau.

    Khi quay về Nghệ An, Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ có 30 tên thủ hạ, không dám rời thuyền lên bộ. Người Nghệ An mưu tính dấy quân, hẹn ngày đánh Chỉnh. Chỉnh sợ hãi cuống quýt không biết xoay sở ra sao. Nguyễn Khuê - em rể Chỉnh, bày mưu khuyên Chỉnh truyền hịch đi các nơi, mộ lấy dân quân bản địa, nhưng không ai hưởng ứng. Chỉnh bèn sai người đêm đến đi cướp ấp bên cạnh, bắt được hai người hương trưởng đem chém, bêu đầu khắp các ấp khác. Bấy giờ, một huyện Châu Phúc thảy đều vâng theo mệnh lệnh. Khoảng mười ngày, Chỉnh mộ được hơn một ngàn người, bọn Hoàng Viết Tuyển và Nguyễn Như Thái cùng hội quân. Thế lực quân Chỉnh hơi phấn chấn.

    Trịnh Bồng, sau khi đã được lập nên nối nghiệp lại hục hặc với Chiêu Thống. Dân chúng, do đó, không biết theo về đằng nào, ai nấy nghe ngóng chúa Trịnh hạ lệnh trưng thu lương thực và mộ binh lính, dân chúng có chỗ làm theo có chỗ không theo chứ không phải đâu đâu cũng răm rắp tuân theo mệnh lệnh cả.

    Danh tiếng và chức vị đã cao, Đinh Tích Nhưỡng cậy thế sinh ngạo ngược. Khi đã về trấn Hải Dương, Nhưỡng cậy oai quyền, rộng rỡ càn bậy, làm mưa, làm gió. Mỗi khi cho truất xuống các huyện ấp, Nhưỡng thường dọa dẫm bằng cách đốt nhà, giết người. Hễ có ai không thuận theo thì Nhưỡng thường tung quân ra đánh và cướp. Nhân dân do đó oán trách Nhưỡng quá chừng. Dân các xã, huyện bèn họp nhau truyền hịch đi giả danh là nhận được mật chiếu của Tự hoàng, họp quân cùng đánh Nhưỡng. Nhưỡng xuất quân đánh nhau với họ, hai bên cùng có trận được trận thua. Quan và dân cầm cự nhau đến vài tháng chưa ngã ngũ.

    Chỉnh ở Nghệ An, đứng chân đã hơi vững, nhưng chưa dám quá rộng rỡ. Giám sinh Nguyễn Ban giả danh là vâng lệnh mật chiếu của Tự hoàng dùng Chỉnh làm Trấn thủ Nghệ An, được mở quân doanh trung hùng, phong Bằng lĩnh hầu, và gọi đem quân vào kinh hộ vệ. Chỉnh bèn toan tính việc lớn, tự phong làm chức Khâm sai thống lãnh, Vũ thành đạo, Đại tướng quân, Bằng quận công. Các hào mục Nghệ An nghe nói Chỉnh có mật chiếu, nhiều người theo về với Chỉnh. Thế lực quân Chỉnh rất lừng lẫy. Chỉnh có đến vài vạn quân.

    Khi người Nghệ An tôn Bùi Thế Toại lên làm thủ lĩnh, dấy quân để diệt Chỉnh, tuy chần chừ không đi đánh ngay. Kịp khi Chỉnh truyền hịch, mộ lính, Toại không kịp thời xuất quân dập tắt trước, khiến Chỉnh có dịp gây thành thế lực ngồi thu được binh lương trong vài huyện, ngày càng cường thịnh. Chỉnh cất quân thẳng tiến bức bách Hoa Lâm, bấy giờ Toại mới xuất quân để chiến đấu với Chỉnh.

    Chỉnh sai Như Thái làm tiền bộ, cưỡi voi tiến lên trước. Toại cậy mình là tay võng hệ, một mình một voi lìa khỏi vòng trận, đưa thẳng cây giáo lên, để chực đâm Thái thì Thái nép xuống bành voi để tránh mũi giáo. Vài chục gia đinh của Thái đứng bên chân voi, dùng cây thương dài đâm bừa trúng cánh tay Toại. Toại quay voi chạy. Chỉnh nhân đà thắng lợi, đánh trống hò reo tiến lên, quân Toại tan vỡ, Toại phải chạy về Thăng Long.

    Sau khi Toại đã thất bại, Chỉnh thừa thắng tiến ra Bắc. Thăng Long rung động và sợ hãi. Bấy giờ, Phùng Cơ và Tích Nhưỡng đã đi rồi, ở trong triều đình không còn ai có thể sai đi đánh được nữa. Trịnh Bồng bất đắc dĩ phải sai em ruột là Kỳ, thống lĩnh số quân hiện có, hội với quân của suất Tề, thổ hào Sơn Nam, để chống cự Chỉnh. Kỳ vâng lệnh xuất quân nhưng quân không đầy một nghìn, lương ăn không đủ kế tiếp ngày nọ đến ngày kia, chỉ có tiếng hão, chứ thực ra không thể nói đánh chác gì được nữa.

    Được tin quân Chỉnh kéo đến, Mãn trung hầu Lê Trung Nghĩa đem hết quân ra bày trận ở Đan Giáp thuộc huyện Ngọc Sơn, sai Triêm vũ hầu làm tiên phong, còn Mãn trung hầu và Quản vũ hầu thì giữ mặt trận ở giữa để đợi đánh giặc. Bộ tướng của Chỉnh là bọn Thước vũ hầu Hoàng Viết Tuyển và Tài vũ hầu trổ hết tinh thần sắc bén, ganh nhau tiến lên, Triêm vũ hầu bị chết trận, quân Mãn trung hầu đều bỏ khí giới mà trốn. Mãn trung hầu chạy, bị Chỉnh đuổi theo bắt được, Mãn trung hầu bị trọng thương chết. Chỉnh bắt được cả Phan Huy Ích, nhưng tha cho đem theo ra Bắc.

    Trịnh Kỳ xuất quân, đóng ở trạm Châu Cầu, được tin Mãn trung hầu bị thua đã chết và Suất Tề cũng bị Chỉnh giết. Kỳ bèn bỏ quân, trốn về báo tin với Trịnh Bồng. Bồng cả sợ, đem quân thân vệ vượt qua sông, trốn sang Bắc.

    Bấy giờ, bọn quận Điển và quận Miện coi đạo Thanh Hoa, Nguyễn Hữu Chỉnh và Hoàng Viết Tuyển coi đạo Nghệ An, Đinh Công Vương và Đinh Công Trinh phiên mục xứ Hưng Hóa đều đem quân về bảo vệ kinh thành. Vệ binh các đạo tập họp đông đủ, Chiêu Thống sai đóng ở cả đồng nội Tây Long và một dải ven sông ngoại thành, tất cả cộng 6, 7 vạn người. Chiêu Thống ngự ra quân Tây Long, cho thống tướng các đạo xếp thành hàng yết kiến nhà vua theo quân lễ, ai nấy kéo quân vào thành, chia ra cắm đồn đóng trại. Chiêu Thống ra lệnh cho bọn Đinh Công Vương lại cứ trở về Tây Sơn để quấy rối phía sau Phùng Cơ.

    Để đền công, Chiêu Thống phong cho Chỉnh chức Đại tư đồ, tước Bằng quận công. Một người thân cận với Chỉnh là Nguyễn Kim Khuê và con trai Chỉnh là Nguyễn Hữu Du đều được phong tước hầu, được cầm quân và cùng thuộc vào trong tướng phủ. Ngoài ra bao nhiêu bộ hạ, tướng sĩ của Chỉnh, cũng đều được theo thứ bậc mà thăng chức tất cả.

    Viên hương cống trước đây từng than thở: “Suy lường mỗi nỗi đau lòng trí, tính quẩn trần trần nát dạ ngu” đến nay đã toại được cái chí bình sinh gửi gắm trong bài “Trương lưu hầu phú”, khi bước chân vào tòa Lương phủ của chúa Trịnh ở. Ngày trước, Chỉnh tự nhủ: “Giữa mình với Nguyễn Huệ, chưa biết mèo nào sẽ cắn mỉu nào”. Thì ra, cái câu: “Nhân tài Bắc Hà chỉ có một mình tôi” mà Chỉnh buột miệng nói ra trước mặt Nguyễn Huệ hôm nào, không phải là lời nói ngoa, Chỉnh đã là người chủ Bắc Hà như ý nghĩ đứng trước lầu Ngũ Long bên cạnh Vũ Văn Nhậm.

    Khi quân Tây Sơn tới Nghệ An, Phạm Nguyễn Du đang làm Đốc đồng trấn Nghệ An liền bỏ chạy về vùng thượng du huyện Thanh Chương. Nghe tin Trịnh Khải bị Nguyễn Trang bắt nộp cho Tây Sơn, sau đó thầy học Trang là tiến sĩ Lý Trần Quán tự chôn sống mình để chết theo chúa. Phạm Nguyễn Du đấm ngực than khóc thẹn mình không làm được như Lý Trần Quán. Càng thương Quán bao nhiêu ông càng giận Chỉnh bấy nhiêu, ông cho Chỉnh là kẻ tội nhân của danh giáo nên quyết định từ bỏ Chỉnh không coi là thân thích của mình nữa.

    Đến khi Chỉnh về Nghệ An, cho người mang thư đến cho Phạm Nguyễn Du xin liên kết với ông nhưng ông không trả lời. Ông thầm nghĩ: “Bấy lâu mình ăn lộc của chúa Trịnh chứ có ăn lộc của vua Lê đâu. Trước đây, Chỉnh đã theo quân Tây Sơn diệt họ Trịnh nay lại định phù Lê Chiêu Thống, như vậy mình làm sao có thể cộng tác với hắn được.

    Tuy trung thành với họ Trịnh, nhưng Phạm Nguyễn Du cũng thừa biết Trịnh Bồng và Trịnh Lệ là kẻ bất tài nên cứ ngần ngại không muốn theo giúp. Trịnh Bồng là người nhu nhược, không quả quyết. Còn Trịnh Lệ là người xảo quyệt, trước đây đã ba lần toan cướp ngôi của anh là Trịnh Sâm và chú là Trịnh Khải mà đều không thành, con người mà tâm địa như vậy, hắn không phải là của quý. Người phù lập Trịnh Lệ như Trần trung hầu Trương Tuân là hạng công tử ăn chơi, bình sinh chỉ biết ban đêm uống rượu say mềm, rồi lăn ra ngủ đến khi mặt trời sắp xuống núi mới dậy. Như thế, trong một ngày còn được mấy giờ để lo việc nước mà còn muốn làm đại thần? Tiến sĩ Dương Trọng Tế trước đây đã phát giác việc mưu phản của Trịnh Lệ, há cũng là “đồ vật ở chốn miếu đường” được ư? Người phù lập Trịnh Bồng như Liễn trung hầu Đinh Tích Nhưỡng là kẻ bất tài mà nhiều tham vọng, còn Thạc vũ công Hoàng Phùng Cơ lại là người thật thà, chậm chạp không đủ tài năng và mưu trí để mưu việc lớn”- Cũng vì nghĩ như vậy nên Phạm Nguyễn Du cứ nấn ná không muốn theo cả Trịnh Lệ lẫn Trịnh Bồng.

    Ít lâu sau lại được tin Chỉnh đã kéo quân về Thăng Long. Chỉnh sai Hoàng Viết Tuyển đánh và hạ được Dương Xá, bắt được Dương Trọng Tế đưa về kinh, giết chết. Chỉnh lại sai Nguyễn Như Thái và Nguyễn Trọng Hoàn tấn công và phá tan được Quế Ổ. Trịnh Bồng phải chạy, Đinh Tích Nhưỡng sai quân lanh lẹ đón Bồng ở bến đò, mới về Hải Dương. Hoàng Phùng Cơ kéo quân đến làng Đại Phùng, Chỉnh sai Nguyễn Trọng Hoàn đón đánh, bắt được. Phùng Cơ được cho tự uống thuốc độc chết.

    Nghe tin thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng kéo đến Bắc Trạch, Hoàng Viết Tuyển từ Sơn Nam đem quân đến đánh, phá tan được quê hương quân Nhưỡng. Trịnh Bồng trốn ra Đông Quan, còn Nhưỡng chạy ra ngoài biển, trốn đến Yên Quảng. Quân đạo Thanh Hóa bắt được Trịnh Lệ, đạo quân hầu thuộc tướng Sơn Nam bắt được Trịnh Đào, Chỉnh đều giết chết, thế lực họ Trịnh như vậy là suy sụp. Hoàng Viết Tuyển và Nguyễn Như Thái đánh và hạ được Đông Hồ, hào mục Bùi Khuông thủ lĩnh quân Đông Hồ trốn đi huyện Đông Quan.

    Chiêu Thống thưởng công phong Nguyễn Hữu Chỉnh làm Bình chương quân quốc trọng sự, tước Bằng công, cho phép mở ra phủ quân Vũ Thành, đúc con dấu Vũ Thành và để Viện xu mật thống thuộc vào đấy. Chỉnh nhân dịp liền tâu xin cho con trai là Hữu Du làm chức danh tướng, coi lĩnh toán quân ấy, Chiêu Thống ưng cho.

    Từ đó, những việc thuộc về quân sự, Chỉnh đều để cho Du điều khiển lấy. Chỉnh lại xây dựng một tòa phủ ở phía đông chỗ ở của mình, nhà cửa rất mực lộng lẫy để cho Du ở, theo như lệ “thế tử ra ở phủ riêng” của chúa Trịnh ngày xưa. Bộ hạ của Chỉnh nhân đó cậy thế làm nhiều điều phi pháp. Bất cứ là nha môn nào hay việc gì, hễ đã thấy những giấy tờ đưa đến có đóng dấu quân Vũ Thành, là không ai dám trái lệnh.

    Nguyễn Hữu Chỉnh nắm hết quyền bính trong nước, việc gì cũng từ tay mà ra. Càng ngày càng lộng hành, triều đình không còn kỷ cương gì cả, lòng người lìa tan, quan văn quan võ ai cũng chán nản. Người nào theo lẽ công, giữ phép nước, đều bị bọn tướng sĩ cơ Vũ thành của Chỉnh quấy nhiễu. Người nào khảng khái dám nói thì nhiều khi bị chúng làm hại, tai họa bất ngờ xảy ra không sao là lường đưọc. Bởi thế, thường thường ai cũng kiêng nói, cũng có người cáo bệnh, trả lại ấn tín, bỏ về nơi làng xóm. Bọn hào mục gian ác ở đâu thì tụ họp ở đấy, rồi đi cướp bóc lẫn nhau, ngoài thành vài dặm đều là hang ổ của bọn trộm cướp.

    X

    Giữa lúc lộn xộn rối ren đó, Ngô Thì Nhậm vẫn bình tĩnh ngồi viết cuốn sách “Xuân thu quản kiến” để qua bình luận những sự tích chép trong Kinh Xuân Thu mà đưa ra những nhận xét về việc đời. Muốn xét người đúng đắn, trước hết phải tự xét mình, ông thầm ôn lại những việc đã qua. Hai năm sau khi xảy ra vụ án Canh Tí, Trịnh Sâm chết, Trịnh Cán lên ngôi chúa chưa đầy hai tháng, lính Tam phủ bèn nổi dậy giúp Trịnh Tông. Hoàng Đình Bảo bị giết, Đặng Thị Huệ bị bắt, Trịnh Cán bị hất từ trên ngai xuống để cho người “con út” lên thay.

    Để tránh sự trả thù của Trịnh Tông, Nhậm trốn về nương náu ở vùng Vũ Tiên, Trực Định trấn Sơn Nam. Ông cho rằng nguồn gốc của vụ án năm Canh Tí là do cái tình trạng vua chúa rối bời mà ra. Nếu không có chuyện vua chỉ ngồi làm vì, để chúa Trịnh lộng quyền thì đâu đến nỗi cha, con, anh, em họ Trịnh mưu chuyện lật đổ nhau, giết hại nhau để giành quyền bính. Đáng trách nhất là Trịnh Tông. Trong vụ án năm Canh Tí, chính hắn gây ra họa hoạn trước tiên. Không chịu thư thả, bình tĩnh để chờ ngôi báu về tay, hắn đã vội chia bè rẽ cánh, nuôi lòng đối lập, tạo ra mối nghi ngờ không có căn cứ, làm cho cái họa ngay trong gia tộc đến càng nhanh. Cũng từ đó, Nhậm đã bị phe phái đối lập trong phủ chúa dồn vào thế lưỡng đao. Từng là một Tùy giảng được Trịnh Tông thân yêu và kính trọng, Nhậm không thể không khỏi bị Trịnh Sâm nghi ngờ. Đến như Nguyễn Quốc Trấn, chỉ là một thuộc hạ của Nguyễn Khắc Tuân mà còn bị xử tử hình một cách oan ức nữa là. Cũng vì không muốn chết uổng trong cuộc tranh giành giữa phe này phái nọ, nên Nhậm buộc lòng phải bộc bạch tâu bày với Trịnh Sâm những điều gì mình nghe, biết. Nhưng nếu làm như vậy thì lại chuốc lấy sự thù hằn của phe Trịnh Tông. Vì vậy, đến khi Tông lên ngôi chúa, Nhậm bị hãm vào vòng tai vạ, phải trốn tránh, lưu lạc, đến nay đã bốn năm trời. Nghĩ lại chuyện cũ, ông tự trách mình bởi cậy tuổi trẻ đã đắc ý về công danh, nên không biết lẽ họa phúc, cát hung, vì thiển cận mà chuốc lấy thất bại, vì nôn nóng mà dẫn tới tai ương. Nhân bàn chuyện Tề hầu và Trịnh Bá ăn thề ở Thạch Môn, ông nghiêm nghị viết mấy dòng trên bản thảo như một bản án luận tội: “Một khi thế đạo sắp đổi thay, trời đất sinh ra một tên giảo hoạt để gây tai vạ trước, rồi sau mới khiến cho anh tài xuất hiện, Ngô Sinh Đổng Trác cùng một duộc như nhau, đúng là những kẻ gian giảo chứ không phải là những kẻ gian hùng. Chúng trước hết phá hoại cõi đời cho thật điên đảo, nhưng rồi không ngăn được người khác đến kết thúc. Họ Trần nói thiên hạ không còn xem vua ra vua, là do họ Trịnh gây ra, thật đúng như vậy.

    Bỗng Nhậm dừng bút lại, ông chợt nhận ra vua nước Trịnh thời Xuân Thu ngẫu nhiên trùng họ với chúa Trịnh. Nếu như Trịnh Tông đã gây loạn thì người đến kết thúc đời y phải là Nguyễn Huệ. Nhưng ông gạt bỏ ngay cái ý nghĩ đó, Nguyễn Huệ là dân cày từ “nước” Nam Hà kéo quân ra đây, không phải dòng dõi vua chúa, như vậy chỉ có thể coi là “giặc” chứ không được gọi là anh hùng. Trịnh Tông muốn cướp ngôi của cha còn bị Nhậm lên án, huống chi Huệ là dân lại dám hạ lệnh chúa Trịnh. Nếu Thái Công đánh Bá Cầm về tội giành ngôi của cha, anh thì Thái Công cũng chỉ phù Vũ Vương là dòng dõi vua chư hầu để diệt vua Trụ. Một anh dân cày dám giết vua chúa là phạm tội thi nghịch rồi còn gì. Ông từng viết trong sách này những dòng đề cao nhà vua: “Tôn chỉ của Kinh Xuân Thu là làm sáng tỏ đạo lớn vua cha, để dụng cái nghĩa lớn trời đất. Đó là trời không có hai mặt trời, đất không có hai vua, nhà không có hai chủ, tôn không có hai bề trên, mọi sự mọi vật phải có gốc rễ”. Chúa Trịnh lấn át vua Lê ông còn không tán thành, lẽ nào ông lại tán thành một người dân giết chúa Trịnh.

    Thấy mình cứ ở trong cái vòng luẩn quẩn của đạo Nho khi phải xử lý những mâu thuẫn giữa các phe phái trong phủ chúa. Giữa chúa với vua, giữa dân với vua chúa, nhiều lúc Nhậm bế tắc chán nản, chỉ muốn đi theo đạo Phật hay đạo Lão để lánh đời cho xong. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, ông thấy mình không thể trốn tránh bổn phận với dân, với nước mà thoát tục được. Để giải tỏa cái ý ấy, ông viết bài “Mộng thiên thai phú” kể chuyện: Một đêm, nằm mơ ông thấy tiên núi Đông Cứu đến khuyên rằng: “Cứ theo sự xem xét của ta, thì ông là người bỏ nước, nhớ quê lo gièm sự bảng, khó bước cao như Lưu Nguyễn. Vậy có thể học theo Tam tổ từ bi, yên tấc lòng nơi sắp động thu muôn việc chốn vô vi, cất ngọc đẹp vào nơi kín, giấu rồng thần chỗ khó nom để chờ người tri ngộ ông, thực hiện chí hướng ông, xoay vần tám cõi mà chỉnh đốn chín phương. Nghe xong lời ấy, ông bèn vỗ tay cười lớn: “Tôi nào có thể làm tiên, Phật cũng không với tới. Vậy tạm theo đới ở sử kinh, mong khỏi thiếu thốn về danh giáo”, Nhậm quyết định không theo Phật, cũng không theo Lão, chỉ muốn nương náu đợi thời để chờ người tri ngộ ông mà thôi.

    Nghĩ đến đây, ông dừng bút, hạ cây đàn nguyệt trên vách xuống rồi vừa đàn vừa hát một khúc:

    “Chơi Đào nguyên chừ, hẹn cùng Thiên Thai

    Hẹn Thiên Thai chừ, ta chửa tới nơi

    Chửa tới nơi chừ, lòng ta man mác nghĩ hoài.

    Lòng ta còn gửi cõi xa thẳm

    Ngọn núi kia vẫn đứng chơi vơi

    Mong tri kỷ chừ, người một góc trời.

    Ai biết ta chừ, đài thiên sáng ngời!

    Đài thiên ta chừ, đối cùng cao sâu

    Ta ngó nhìn chừ, không thẹn chăng, bỏng

    Ngóng chơi núi chừ, hát bài ca núi

    Một khúc ca chừ, một chén nhấp giọng,

    Ta bình tâm chù, thuận theo mệnh trời,

    Thuận theo mệnh trời chừ, ta vui lẽ sống!...”

    Ngừng đàn, Nhậm thầm nghĩ: Đàn nguyệt mà có đàn tranh hòa cùng theo nó óng óng, chanh ranh, lăng xăng, cao thấp như vậy mới tuyệt hay. Đàn hay mà không có khách tri âm, người tài mà không có người tri ngộ thì tài mấy cũng đành xếp xó.

    Người thiếp họ Nguyễn đẩy cửa bước vào:

    - Trịnh phu quân, thiếp được tin bác Phạm Nguyễn Du ở Thanh Chương nghe Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền làm bậy, bèn mưu đồ việc khởi quân đánh Chỉnh. Bác làm tờ hịch kể tội Chỉnh mượn tiếng phù Lê hạ uy thế họ Trịnh, nhưng thật ra chỉ muốn thay thế vào địa vị của chúa Trịnh ngày trước. Hịch vừa đưa đi các nơi thì bác Phạm lâm bệnh qua đời.

    Nhậm sửng sốt:

    - Bác Thạch Động qua đời rồi! Thế là ta lại mất thêm một người bạn quý!

    Phạm Nguyễn Du và Ngô Thời Nhậm là đôi bạn văn chương đã lâu ngày. Tuy rất khen ngợi văn tài của bạn nhưng có lần ông đã thẳng thắn nhận xét: Văn chương của Thạch Động như thuyền không buộc, như ngựa lơi cương, tuy khí phách tài hoa, lời lẽ hùng hồn, nhưng không có cốt cách vững vàng, bởi vì khí chất và tâm tính ông cũng vậy. Gọi là kẻ sĩ giỏi văn thì được, chứ không gọi là kẻ sĩ học rộng văn, nhưng Phạm Nguyễn Du vẫn không giận mà tình bạn giữa hai người lại càng thắm thiết hơn.

    Đến nay nghe bạn qua đời, Nhậm vô cùng thương tiếc xây lập một bàn thờ để tế vong bạn một tuần rượu. Khi viết mấy dòng đầu bài văn tế: “Giặc trong ra, ông phải bôn tẩu khổ sở vô cùng, ông bất khuất với giặc mà chết”… ông bỗng dừng bút. Liệu gọi Tây Sơn là giặc có đúng không? Nhưng ông lại nghĩ: Nếu Tây Sơn không vẽ mày, vẽ mặt cho Chỉnh thì Chỉnh làm sao có đủ thế lực để lấn át quyền vua Lê. Chỉnh không những đã “rước voi giầy mả tổ” mà còn làm cái việc bức hiếp vua như Vương Mãng, Tào Tháo ngày trước, như vậy gọi Chỉnh là giặc cũng không oan. Tế bạn xong, Nhậm vừa lui vào nhà trong nghỉ ngơi thì người thiếp bước vào:

    - Trình phu quân, thiếp xin phép thưa với chàng một chuyện - Nhậm ngước nhìn người thiếp đã bao năm lo toan, săn sóc mình trong cơn hoạn nạn, trong khi ông nương náu ở quê nhà nàng. Ông dịu dàng:

    - Nàng có điều gì muốn nói với ta?

    - Trình phu quân, thiếp nghe trong bài văn tế chàng gọi quân Tây Sơn là giặc. Thiếp trộm nghĩ: Chỉnh lợi dụng sức mạnh của Tây Sơn để mưu đồ quyền lợi riêng, sống cảnh phú quý xa hoa theo gót chúa Trịnh ngày trước, thì có gọi là giặc cũng đáng. Nhưng còn Tây Sơn vì nghĩa kéo quân ra Bắc, diệt trừ họ Trịnh, cứu vớt trăm họ, sau đó lại trả quyền hành cho vua Lê, rút về Đàng Trong, một tấc đất cũng không lấy, như vậy là nghĩa cử sao gọi là giặc được?

    Nhậm kinh ngạc:

    - Nàng nghe ai mà nói vậy?

    Người thiếp giọng thiết tha:

    - Mấy năm trời ta sống trong chốn thôn dân, thiếp đã nghe những người dân thường bàn tán: Tây Sơn diệt Trịnh là để vớt dân chúng Bắc Hà ra khỏi vòng lửa nước, khác nào kẻ bị treo ngược mà có người đến cởi dây cho. Chàng đã từng là nạn nhân của họ Trịnh, vậy mà đến nay có người giúp chàng trừ diệt kẻ thù, chàng đã không biết ơn thì chớ lại nỡ gọi người ta là giặc, thiếp thiết nghĩ điều đó không nên.

    Nhậm giận dữ:

    - Nếu nàng không phải là người đã có công che giấu, đùm bọc ta mà nói như vậy, thì ta đã liệt nàng vào loại “phụ nhân nan hóa”([3]) nói lời đại nghịch bất đạo rồi.

    - Bấy lâu nay cương thường điên đảo, mũ dép lộn ngược, danh phận không rõ, biết lấy gì để phân biệt thuận với nghịch. Dân gian có câu: “Được làm vua thua làm giặc” ai chống lại triều đình nếu thắng thì được coi là chính thống còn thua thì được coi là phản nghịch chàng còn lạ gì? Việc làm của Tây Sơn thuận lẽ trời, hợp lòng người, chỉ mong cứu dân chứ không mưu lợi riêng. Một người từng ôm hoài bão giúp dân, giúp nước như chàng, sao nay lại hồ đồ vụng suy như vậy?

    Trước lời lẽ thẳng thắn của người thiếp, Nhậm giọng ôn tồn:

    - Ta tuy ghét Chỉnh nhưng cũng ghét cả họ Trịnh nên khi em rể ta là Phan Huy Ích viết thư về mời ta đến giúp Trịnh Bồng, vào mộ lính Thanh Hóa đánh Chỉnh, ta từ chối. Nếu không ta đã thấp trí, bị Chỉnh bắt như Huy Ích rồi. Ta cũng không ưa gì vua Chiêu Thống, nên khi bạn ta là Trần Danh An mời ta ra giúp Chiêu Thống, ta cũng không theo. Như vậy, nàng bảo ta vụng suy, chẳng cũng lầm lắm ư? Còn về Tây Sơn họ ở chốn xa đến đây, chưa biết lòng dạ họ thế nào sao ta dám có thể khinh suất mà tin họ được. Ta đã nuôi cái chí ngọc tốt giấu tiếng, rồng thần lặn sâu, đợi người biết đến mình sẽ đem thân ra gánh vác việc lớn. Ông Lã Vọng ngày xưa còn ngồi câu ở sông Vị chờ thời cơ, mãi đến tám mươi tuổi mới gặp được chúa sáng, huống hồ ta mới tròn bốn mươi tuổi, bằng nửa số tuổi của Lã Vọng. Nàng đừng vội lo cho ta. Tây Sơn mà cũng giống như Tây Bá ([4]) thì ta đi theo họ cũng được chứ sao?

    Trong lúc nói như vậy, Nhậm chợt giật mình thấy ý nghĩ của mình đã thay đổi nhiều. Mới tám năm trước, khi Trịnh Sâm hỏi ông về tình thế hiện thời, ông đã tâu: “Thần cúi đầu suy nghĩ, trong thế sự ngày nay, công việc lớn phải lo tính và bàn bạc, không gì hơn ở cõi Nam. Nói đại khái, Tây Sơn chưa diệt, thì quân ngoài biên còn phải chuẩn bị chiến lược, còn phải lo toan. Vậy mà đến nay lại tính cả đến chuyện đi theo Tây Sơn. Dám nghĩ đến chuyện động trời như vậy, biết đâu sắp tới chẳng xảy ra một cuộc đổi dời?

    Ngồi trên chiếc kỷ bọc da hổ, trước mặt là án thư đặt hộp ấn tín, chiếc ống đựng binh phù, lệnh tiễn, Vũ Văn Dũng đọc lại bức mật thư mà Bắc Bình vương Nguyễn Huệ vừa gởi tới. Trong thư Vương dặn Dũng luôn luôn theo dõi hành tung của Nguyễn Hữu Chỉnh để báo cho Vương biết. Đọc xong, Dũng thầm nghĩ: Bắc Bình vương quả là liệu việc như thần, nếu người không để mình đóng lại Kỳ Hoa để đề phòng Chỉnh thì làm sao có thể khám phá ra âm mưu cấu kết giữa Chỉnh với Nguyễn Văn Duệ- một người thân tín của vua Thái Đức.

    Nguyên từ khi rút quân về Nam, để Nguyễn Văn Duệ ở lại trấn thủ Nghệ An, Nguyễn Huệ đã dặn Nguyễn Văn Duệ phải để ý đề phòng cẩn thận, chớ có dễ dàng tin theo Nguyễn Hữu Chỉnh mà mắc mưu của y.

    Khi về đến miền Nam, vua Thái Đức vào thẳng Quy Nhơn còn Nguyễn Huệ đóng lại ở Phú Xuân. Trước công lao to lớn của Nguyễn Huệ không thể không ban thưởng, vua Thái Đức chia nước ra làm ba: lấy từ Hải Vân trở ra giao cho Nguyễn Huệ làm Trấn binh vương, lấy Gia Định giao cho Nguyễn Lữ làm Đông định vương, phần Thái Đức thì giữ phần còn lại và tự xưng là Trung ương hoàng đế.

    Nguyễn Huệ không bằng lòng với cách chia đất cầm quyền như thế nên chống lại lệnh Trung ương hoàng đế.

    Nguyễn Hữu Chỉnh thấy anh em Tây Sơn có chuyện bất hòa, mà Duệ là người thân tín của Nguyễn Nhạc nên hết sức lấy lòng Duệ để đào sâu hố chia rẽ trong hàng ngũ Tây Sơn. Khi mang quân ra Bắc phò Lê Chiêu Thống, Chỉnh để đồ đảng của mình là Nguyễn Duật ở lại làm việc với Duệ. Ngày chia tay lên đường, Chỉnh hai, ba lần dặn dò mong mỏi Duệ đối xử tử tế với mình. Duệ cũng tiễn đưa Chỉnh rất ân cần, tử tế như thế.

    Sau khi Chỉnh nắm được quyền bính, thường thường gởi thư qua lại với Duệ và biếu tặng rất lâu. Rồi Chỉnh lại nhằm sai người gọi Duật về kinh thành để hỏi tình hình Tây Sơn và dò ý của Duệ. Khi đã biết Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có chuyện xung đột với nhau, tiếp đó lại được thư của Duệ hẹn cùng chung sức đánh vào phương Nam thì Chỉnh rất mừng cho là có thể mưu đồ lấy lại Nghệ An, Chỉnh bèn thu xếp mười lạng vàng và mười tấm đoạn, sai Duật đem vào biếu Duệ, lại dỗ dành Duệ giữ lấy Nghệ An ngăn chặn Chiêu Viễn([5]) đắp lại lũy cũ Hoành Sơn và vạch sông Gianh làm nơi biên giới như hồi chiến tranh Trịnh- Nguyễn trước đây.

    Nhận được mật thư của Vũ Văn Dũng báo tin Chỉnh câu kết với Duệ, Nguyễn Huệ bèn mời Trần Văn Kỷ đến bàn bạc. Nguyễn Huệ nói:

    - Nay ta đang có chuyện bất hòa với hoàng huynh mà Duệ lại là người thân tín của hoàng huynh, nếu y chiếm đất Nghệ An để cự lại với ta thì ta sẽ lâm vào thế lưỡng diện thụ địch. Theo ý khanh thì nên làm như thế nào?

    Trần Văn Kỷ:

    - Tâu chúa công, ta hiện đang phải lo đối phó với Quy Nhơn chưa rảnh thì giờ lo mặt Nghệ An nên trong lúc này ta phải làm như chưa biết gì về mưu đồ của Duệ để Duệ yên tâm là kế hoạch chưa bị lộ. Trước hết, ta hãy điều Duệ lui về đóng ở Kỳ Hoa, không để Duệ ở doanh Hà Trung nữa. Nhưng muốn cho Duệ khỏi ngờ, ta cũng đồng thời điều Vũ Văn Dũng về đóng ở Thổ Ngõa, thuộc Bố Chính ngoại châu lấy cớ để bảo vệ cho kinh thành Phú Xuân. Nếu Duệ không chịu về Kỳ Hoa, ta sẽ lấy cớ Duệ kháng mệnh mà triệu về Phú Xuân trị tội. Thần tin chắc rằng trong lúc này Duệ chưa đủ lực lượng để tranh giành với ta, sẽ phải rời khỏi trấn thành Nghệ An, như vậy là đã trúng kế “điệu hổ ly sơn” của ta.

    Nguyễn Huệ khen phải, liền truyền lệnh cho Nguyễn Duệ phải lui về đóng ở Kỳ Hoa và Vũ Văn Nhậm lui về đóng ở Bố Chính ngoại châu.

    Trong khi đó, Tả quân Võ Văn Nhậm đang đóng một đạo binh quan trọng ở Động Hải. Quân do thám của Võ Văn Nhậm ở Nghệ An dò biết được tin Nguyễn Văn Duệ thông mưu với Nguyễn Hữu Chỉnh, vội vàng về báo với Nhậm. Nhậm muốn nhân cơ hội này lập công to để gây thêm thanh thế nên không báo cho Nguyễn Huệ mà lập tức đưa binh phù, triệu Duệ về. Duệ chống lại và nói:

    - Tướng ở ngoài, mệnh lệnh của vua cũng có khi không cần phải theo. Lúc thượng công về, giao cho tôi đóng giữ đất này, nay tôi không dám tự tiện rời khỏi trấn này.

    Nhậm được thư ấy liền nói:

    - Quả nhiên, Duệ làm phản rồi!

    Tiếp đó, Nhậm lập tức gửi thư cáo biến với Nguyễn Huệ, trong thư có đoạn viết: “Ngày trước dùng Chỉnh tức là “nhốt hổ gầm giường”, ngày nay để Duệ ấy là “nuôi ong tay áo”. Xin kíp phát quân ra Bắc, trước hết giết Duệ ở Nghệ An, rồi sau bắt Chỉnh ở Thăng Long. Dẹp loạn và bình định đất nước ở một chuyến này, cơ hội không nên bỏ lỡ…”.

    Trong lúc ấy, cuộc xung đột giữa hai anh em Tây Sơn chưa dàn xếp xong, việc nội chiến ở miền Nam so với mối lo ở miền Bắc còn cần kíp hơn nhiều nên Nguyễn Huệ nghe lời khuyên của Trần Văn Kỷ, sai người báo cho Nhậm biết và giục Nhậm tiến quân ra Nghệ An bắt Duệ. Sau đó sẽ kiểm quân lính, thu góp lương thực, chia đi đóng đồn ở các nơi hiểm yếu và viết thư hỏi Chỉnh về tội thông mưu với Duệ, xem Chỉnh trả lời ra sao. Nếu Chỉnh còn biết sợ hãi, cố tình chối cãi thì nên để đó sau này sẽ liệu, chưa nên đánh vội. Bằng Chỉnh ra mặt chống lại, thì như thế là đã có cớ, lúc ấy cứ việc tiến quân ra đánh cũng không muộn gì.

    Nhậm vâng lệnh, tự mình đem đại quân đi gấp. Chỉ trong một ngày một đêm, Nhậm đã đến doanh Kỳ Hoa, nhưng Duệ không còn ở đó nữa.

    Số là mùa đông năm trước, Nguyễn Huệ nghe tin Chỉnh đem quân ra phò tá Chiêu Thống, sợ có biến cố gì xảy ra, liền sai Nguyễn Huỳnh Đức đem quân giữ phủ Diễn Châu cùng làm chức trấn thủ với Duệ, để nương tựa lẫn nhau. Kịp đến khi nghe tin miền Nam có cuộc xung đột, Duệ và Đức bèn gửi thư cho Chỉnh mưu đồ hợp lực kéo quân về Nam, để thừa cơ làm loạn. Hai người hẹn rằng sau khi đắc thắng, sẽ trả các đất từ Hoành Sơn ra Bắc. Đến khi âm mưu bị Nhậm phát giác, hai người bèn bỏ xứ Nghệ đem quân theo mạn ngược trở về Nam. Duệ về với Nguyễn Nhạc. Còn Đức vốn là một đại tướng của Nguyễn Ánh, bị quân Tây Sơn bắt, phải đầu hàng. Khi nghe có cuộc xung đột giữa anh em Tây Sơn. Đức cho là Tây Sơn đã yếu thế nên theo đường núi Tây nam, trốn thẳng sang nước Xiêm La tìm Nguyễn Ánh. Nhậm vội cho quân đuổi theo bắt Duệ và Đức nhưng cũng không kịp.

    Nhậm đến Nghệ An, kiểm binh lính, trưng thu lương thực, sửa soạn khí giới, rồi đưa thư ra Thăng Long, trách móc Chỉnh gay gắt.

    Chỉnh được thư, giấu giếm không cho Chiêu Thống biết, đoạn viết thư tạ tội, đại ý nói:

    “Trước kia tôi bỏ nước cũ về với chúa công, nhờ ơn cho vào nơi mạc phủ, hầu hạ túi cung roi ngựa đến bốn, năm năm. Mùa thu năm ngoái, đại quân về Nam không cho tôi biết, tôi cũng hiểu là thượng công muốn dùng cách đó thử tôi để xem tôi lui tới ra sao. Lúc bấy giờ ngoài Bắc cố lưu lại nhưng quả quyết bỏ họ mà đi. Nghĩ rằng lòng này không có đổi thay như thế, bậc cao minh hẳn đã soi xét đến. Lúc vào yết kiến thượng công ở Vĩnh Dinh, tôi xin đi theo quân đội về Nam, ngài bảo tôi rằng: “Quận Thạc, quận Nhưỡng còn làm ngáng trở không thể không trừ khử, nhà ngươi hãy ở lại đây, lo liệu một phen”. Tôi dám đâu không theo mệnh lệnh? Tôi phải đem thân mình mà xin ruổi rong theo chúa thì còn dám tiếc gì? Vì thế, tôi tự mình xông pha quyết chiến với bọn Thạc, Nhưỡng. Chỉ mong trừ được hai tên ngang ngược ấy thì sẽ lập tức quay ngựa về Nam. Nhưng tháng trước đây đánh ở Tây Sơn, mới bắt được Quận Thạc. Riêng Nhưỡng thì đang vùng vẫy ở miền Hải Dương, còn cần phải đánh dẹp vất vả. Bởi vậy cho nên tôi chưa về triều được. Những kẻ ghét tôi ở lại đất Bắc, liền đặt lời dèm pha. Sao họ không xét rằng, sau khi thượng công về Nam, tôi chỉ ở lại Nghệ An, hơn mười ngày, rồi lại ra Bắc ngay thì còn thì giờ đâu mà mưu toan với Duệ? Từ đó, kẻ Nam người Bắc, ai làm việc nấy, tôi có hề đi lại với Duệ đâu? Nếu xét rõ tình cảnh ấy, hẳn không cần phải chờ tôi biện bạch gì thêm. Vả chăng, cái ngày mà tôi làm việc chung với tướng quân, không phải không lâu. Nếu quả là tôi có lòng gì khác, hồ dễ đã giấu được cho khỏi lộ? Tướng quân nên chuyển đạt lời tôi đến trước chúa công thì tôi đội ơn nhiều lắm!”.

    Nhận được thư ấy, biết Chỉnh còn có ý sợ, Nhậm bèn viết bức thư khác, dùng lời nói khéo, vỗ về khuyên giải làm cho Chỉnh yên lòng, để mình có thì giờ sắp đặt công việc ở trấn Nghệ An, tiện thể Nhậm cũng không quên buộc Chỉnh phải mau chóng dẹp yên quân Nhượng, rồi rút quân về Nam để khỏi trái với ý định.

    Chỉnh tiếp thư, không hiểu rõ ý của Nhậm, cho rằng Nhậm có thể dễ lừa phỉnh, chắc không phải lo gì về mặt Nam.

    Lúc bấy giờ, trong ngoài đều đồn đại rằng tướng của Tây Sơn là tả quân Nhậm, kéo quân ra Nghệ An kén chọn lính tráng, định kỳ xuất phát, chẳng bao lâu quân Tây Sơn lại tới, Thăng Long sẽ thành nơi chiến trường. Vì thế, trong kinh nhốn nháo, người chuyển vận đồ đạc, người bồng bế con cái, tranh nhau đi lánh nạn, lính ngăn cấm không nổi. Nhiều viên đình thần đem việc đó tâu với Chiêu Thống. Chiêu Thống liền triệu Chỉnh vào hỏi, Chỉnh tâu:

    - Người ta đồn nhảm, không cần phải tin. Thần đã cho người đi xem xét biết hết sự thật rồi. Hiện nay, anh em Tây Sơn gây ra cuộc binh đao, ở trong một nhà mà đối với nhau còn dữ dội hơn là đối với nước thù địch. Ngay trong bọn họ với nhau cũng không đủ thì giờ để cứu vãn được tình thế cấp bách, đâu còn dám ra khỏi Hoành Sơn một bước để tranh quyền với ta? Ta cần làm sao cho việc nội trị đó quy mô yên ổn thế là sẽ được thái bình. Đến như trấn Nghệ An, thì chỉ cần sai một sứ giả đem bức quốc thư sang, bàn bạc với họ, một lời nói là xong. Ta cùng họ đã thành thông gia, ta cũng không cần lo xa làm gì.

    Quan ngự sử là Nguyễn Đình Giản nói:

    - Bắc Bình vương cũng là một bậc anh hùng, xem thường ông ta không được đâu!

    Chỉnh nói:

     - Tôi đã từng cộng sự với ông ta, há lại không biết? Ông ta quả thật là anh hùng nhưng nhân tài xứ Bắc ta đây cũng không thua lắm. Vạn nhất xảy ra việc binh đao, tôi xin chọi với ông ta, còn như bọn Võ Văn Nhậm thì không đáng kể. Nay nghe nói Nhậm đã chiếm giữ đất Nghệ An, nhưng cứ mặc y. Quân nước ngoài ở trọ, chẳng qua cũng như bọn Chiêu Võ, Thuận Nghĩa hồi xưa chiếm đóng bảy huyện phía Nam Nghệ An không bao lâu rồi cũng về ta([6]) .

    Ngoài mặt, Chỉnh tuy nói năng khuếch khoác để trấn áp mọi người, nhưng kỳ thực, từ khi được thư của Nhậm, trong lòng Chỉnh rất đỗi lo sợ. Một hôm vào chầu, Chỉnh đuổi người chung quanh ra mà nói kín với Chiêu Thống rằng:

    - Võ Văn Nhậm tuy là Tả tướng trong soái phủ của Bắc Bình vương, nhưng vốn là rể vua Tây Sơn. Lâu nay chỉ huy việc quân, y vẫn đóng vai con rể của nước. Nay thấy anh em Tây Sơn xích mích nhau, Nhậm là kẻ đứng giữa, cố nhiên là phải tuân theo tướng nhưng trong lòng lẽ nào lại hoàn toàn không nghĩ gì đến bố vợ? Vừa rồi, có tên do thám nói rằng: Nhậm ở Động Hải nghe việc biến cố ấy, bèn xin về hầu. Nhưng Bắc Bình vương không cho mà bảo ra thẳng Nghệ An. Nay Nhậm đang ở vào địa vị nguy ngập và bị ngờ vực, nên không thể không có ý trông về bên trong. Thần xin nhân cơ hội này để thương lượng về việc bờ cõi Nghệ An. Hết sức nhắm nhe vào ân tình của họ, lại lễ nhiều, lời ngọt, ngoài có Văn Nhậm tâng bốc, trong có công chúa đỡ lời, Bắc Bình vương dù có lòng nào chăng nữa cũng không thể không gượng theo mình.

    Chiêu Thống khen phải liền sai một sứ bộ gồm Hoàng thân Lê Duy Hiên, Đổng bình chương sự Trần Công Xán và Cấp sự trung Ngô Nho vào Phú Xuân gặp Bắc Bình vương để xin lại đất Nghệ An. Bắc Bình vương liền cho mời Trần Văn Kỷ đến bàn bạc. Vương nói:

    - Lần trước, ông khuyên ta nên đề phòng việc Chỉnh cấu kết với Duệ, việc đó nay đã quả nhiên. Nay Chỉnh lại lợi dụng chuyện ta với Thái Đức bất hòa, định tranh giành đất Nghệ An với ta. Theo ý ông thì nên thế nào?

    Kỷ đo đắn:

    - Theo ngụ ý của thần thì ta trước hãy giải hòa với vua Thái Đức rồi sau hãy đem quân ra Bắc hỏi tội Chỉnh. Thần xin vào thành Quy Nhơn bệ kiến vua Thái Đức, thuyết phục nhà vua xóa bỏ chuyện hiềm khích, đối xử công bằng với chúa công, để giữa anh em giữ được tình hòa mục như cũ.

    Bắc Bình vương nghe lời, sai Trần Văn Kỷ vào thành Quy Nhơn gặp vua Thái Đức. Từ khi thành Quy Nhơn bị quân Bắc Bình vương bao vây, vua Thái Đức rất lo lắng. Thấy Trần Văn Kỷ tới, Thái Đức hỏi:

    - Khanh tới đây định nói với ta điều chi vậy?

    Trần Văn Kỷ mềm dẻo:

    - Tâu thánh thượng, chúa công tôi đã bao phen xông pha trận mạc, mấy lần vào đánh Gia Định, diệt chúa Nguyễn, cản phá quân Xiêm, lại lấy đất Thuận Hóa rồi tiến quân ra tận Bắc Hà diệt chúa Trịnh thu phục được bao nhiêu đất đai. Nhờ công lao của chúa công tôi, nghĩa quân mới có một vùng lãnh thổ rộng lớn, vậy mà khi chia đất phong, thánh thượng chỉ cho chúa công tôi cai trị một vùng đất nhỏ hẹp từ Hải Vân trở ra, hỏi làm sao có chỗ đứng chân mà đối phó với kẻ địch từ Bắc Hà kéo vào. Chúa công tôi đã sai sứ vào Quy Nhơn xin thánh thượng cắt thêm cho đất Quảng Nam, nhưng không những đã bị từ chối mà sứ bộ còn bị Trung hầu Côn giết khi họ vừa đến Trà Câu. Vì vậy, chúa công tôi bất đắc dĩ phải đem quân vào vây thành Quy Nhơn chỉ cốt để xin thánh thượng trừ khử những kẻ gian thần dèm pha gây chuyện bất hòa giữa anh em và đối xử công bằng với chúa công tôi, tránh cho chúa công tôi khỏi bị thiệt thòi, oan uổng. Trước đây, cũng vì những lời dèm pha mà đệ nhị trại chủ Nguyễn Thung, người đã đi theo nghĩa quân từ buổi đầu, bị hãm hại. Nếu chúa công tôi không mang quân đến mà một mình vào bệ kiến thánh thượng, e rằng cũng bị hãm hại như Nguyễn Thung, vì vậy buộc lòng phải bao vây thành Quy Nhơn, mong thánh thượng rộng xét cho. Thiết tưởng thánh thượng cũng nên nghĩ tình anh em như chân tay, không nên để xảy ra cảnh “nồi da nấu thịt”. Nếu thánh thượng bằng lòng ban thêm cho đất Quảng Nam, thì chúa công tôi sẽ giải vây thành Quy Nhơn ngay và xin giữ trọn đạo thần tử như cũ.

    Trước lời lẽ chí lý, chí tình của Trần Văn Kỷ, vua Thái Đức bằng lòng lấy Bến Ván làm ranh giới, từ Tư Nghĩa trở vào là của Trung ương hoàng đế, còn từ Thăng Điện trở ra là của Bắc Bình vương. Bắc Bình vương đặt Nguyễn Văn Dụng cai trị đất này rồi trở về Phú Xuân.

    Bắc Bình vương mở đại hội các tướng mà bảo họ rằng:

    - Nguyễn Chỉnh là người đã chết, ta vẽ mặt, vẽ mày lại cho. Nay hắn bay nhảy ở Bắc Hà, phò vua Lê để sai khiến cả nước. Đã không lo đền đáp ơn ta mà còn định cắn lại, mưu đồ giành đất Nghệ An, đặt làm một trấn quan trọng, để bắt chước việc chúa Trịnh xâm lấn phương Nam ngày xưa. Thằng giặc ấy thật đáng giết. Không biết hắn đã sắp sẵn được bao nhiêu binh mã, có thể đánh nhau với ta được một trận hay không?

    Tức thì, Bắc Bình vương sai bọn Ngô Văn Sở, Phan Văn Lâm kéo quân ra Nghệ An, họp cùng Võ Văn Nhậm tính việc đánh Chỉnh. Tiếp đó lại cho Võ Văn Nhậm lĩnh ấn Tiết chế, các tướng đều phải ở dưới quyền. Khi sắp đặt đã xong, Bắc Bình vương hạ lệnh giục họ tiến quân.

    Nhậm đã thu nhặt quân lính Nghệ An rồi, dùng Quỳnh ngọc hầu làm tiền bộ, thẳng ruổi ra Thanh Hóa. Tướng của Chỉnh là trấn thủ Nguyễn Duật kéo quân giữ Lãng Phong. Quân Tây Sơn đến đánh Lãng Phong, quân Duật tan vỡ gần hết chỉ còn một mình Duật chạy thoát.

    Chỉnh sai Nguyễn Như Thái đem quân chống nhau với quân Tây Sơn. Quân hai bên gặp nhau ở Điểm Xá. Đánh nhau một hồi, quân Thái tan vỡ, Thái phải chạy trốn.

    Thái đã thất trận nên kinh đô và các trấn đều rung động, sợ hãi. Chỉnh vội vàng xin với Chiêu Thống cho đích thân đi đánh nhau với Tây Sơn.

    Chỉnh sai con là Nguyễn Hữu Du đem chu sư tiến đến bờ bắc sông Thanh Quyết, vạch đôi mặt sông đối trận với quân Tây Sơn. Du không cho mũi thuyền hướng về phía quân địch, trở lập thế trận một cách nghiêm chỉnh để giữ. Du dựa vào bờ, đỗ thuyền không phòng bị, Quỳnh ngọc hầu tướng Tây Sơn, dò biết binh tình như vậy bèn sai người, đêm đến bơi qua sông, ngầm lấy thừng chão dài, buộc vào chỗ lái thuyền, kéo qua bỏ phía Nam. Người trong thuyền giật mình vùng dậy không hiểu rõ duyên cớ ra sao. Quân lính tan vỡ, tranh nhau bỏ thuyền, nhảy xuống nước để trốn lên bờ. Thủy quân của Chỉnh tan rã hết, hơn 50 chiếc thuyền đều bị Tây Sơn chiếm được.

    Chỉnh bàn với chư tướng: “Quân thủy của ta không phòng bị để đến nỗi chiến cụ và quân nhu đều mất, làm lợi cho địch cả. Ngày mai, quân ta lấy gì chiến đấu được? Chi bằng ta rút quân lui về Châu Cầu để giữ”.

    Nửa đêm, Chỉnh truyền lệnh nổi trống thu quân. Các quân kinh hãi và nghi ngờ, đều tự tan vỡ, tranh giành giày đạp lên nhau chạy trốn, vứt bỏ gươm giáo và áo giáp ngổn ngang đầy đường. Chỉnh và con là Du chỉ kịp đem vài trăm quân tùy tùng thân cận chạy về Thăng Long.

    Chỉnh vào Thăng Long bàn với Chiêu Thống về việc lánh quân Tây Sơn. Chiêu Thống muốn chạy đi Tây Sơn, nhưng Chỉnh sợ con Hoàng Phùng Cơ nhân dịp báo thù. Nếu sang Kinh Bắc thì Nguyễn Cảnh Thước trấn thủ ở đó là chỗ tâm phúc có thể nhờ cậy trong khi nguy cấp được. Chỉnh bèn cố mời Chiêu Thống sang Bắc, Chiêu Thống liền sai em ruột là Lê Duy Trù đem theo quân lính bảo vệ Thái hậu và cung quyến đi trước. Chiêu Thống cưỡi voi đến dinh Chỉnh rồi cùng Chỉnh vượt sông Nhị ra đi. Nhiều triều thần không kịp đi theo, đều tan tác lẩn chạy, chỉ có bầy tôi nội thị, vài chục viên tướng hiệu thuộc đạo Vũ Thành và vài nghìn thân binh theo sang Bắc.

    Từ trước, Nguyễn Cảnh Thước đã sai người mật hẹn với Võ Văn Nhậm xin đầu hàng. Khi Chiêu Thống và Chỉnh đến Kinh Bắc, Thước đón vào trấn doanh nghỉ đêm. Nửa đêm, Thước nói lừa rằng giặc đã kéo đến. Chiêu Thống và Chỉnh hối hả chạy ra sông Đuống. Thước cướp hết voi ngựa, của cải và hành lý. Các tụng thần đều tan tác và lạc lõng cả. Chiêu Thống chạy đi Mục Thị thuộc Yên Thế. Dương Tuấn thổ hào quân đội Nhất kinh kéo quân đến hộ vệ, thình lình truy binh của Tây Sơn đuổi tới. Nguyễn Hữu Du xin ra đánh, Chỉnh ưng thuận. Du đem đám tàn quân ra dàn trận ở cánh đồng Mục Thị, Tuấn đem hai con và một cháu ra dàn trận ở phía bên hữu. Chưa đứng yên chỗ thì quân Tây Sơn đã ập đến bắn hỏa hổ loạn xạ. Quân Chỉnh kinh hãi. Du trước tiên xông vào bị quân Tây Sơn dùng thương đâm chết, chặt lấy đầu. Chỉnh tế ngựa xông ra trận, nhưng trận kiên cố không tiến vào được. Ngựa của Chỉnh bị què. Quân Tây Sơn tranh nhau đến bắt Chỉnh. Thị sư Nguyễn Khuê bị chết ở giữa vòng loạn quân. Hai con và một cháu của Tuấn đều chết trong trận, còn Tuấn chỉ kịp chạy được thoát thân. Quân Tây Sơn đuổi gấp. Quân Chỉnh chạy tán loạn ra bốn ngả, trốn tránh để mong bảo toàn mạng sống, không còn đoái hoài đến nhau được nữa.

    Tuấn rước Chiêu Thống và cung quyến lén đi đóng ở Sơn Trại. Chỉnh bị giải đến Thăng Long và bị Nhậm xử tử hình.

    Khi bị giải qua lầu Ngũ Long, nhìn thấy lá cờ đỏ giữa có hình mặt trời vàng, con người tráo trở từng phân bua “Tấc lòng ngay thảo cậy thiên tri” ấy bỗng nhắm mắt lại. Lúc này Chỉnh bỗng nhớ lại bài thơ “Cái pháo” mình làm hồi còn nhỏ: “Xác không vốn những cậy tay người. Bao nả công trình tạch cái thôi. Kêu lắm lại càng tan tác lắm”… Chỉnh tặc lưỡi tự an ủi: “Dẫu sao mình cũng đang mang một tiếng ở trên đời”, lưu phương hay lưu xứ thì cũng vậy mà thôi.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Quyển 9 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

    ____

    [1] Bước luân di chuyển linh hoạt.

    [2] Tức Bùi Thị Xuân

    [3] Đàn bà khó dạy.

    [4] Văn chương nhà Chu vốn là bá ở đất Tây Kỳ.

    [5] Tức Vũ Văn Dũng.

    [6] Chỉ việc các tướng cũa họ Nguyễn là Thuận Nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến và Chiêu võ hầu Nguyễn Hữu Dật đánh chiếm được bảy huyện ở Nam sông Lam hồi 1655- 1660 trong cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn. Về sau các miền ấy lại bị họ Trịnh giành lại.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,163,471

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/