Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,932

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Chủ nhật, 09:49 Ngày 08/08/2021
  • Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

    Thấy Nguyễn Huệ bước vào bản doanh, nét mặt có vẻ ưu tư, Trần Chánh Kỷ hỏi:

     - Bẩm thượng công, chẳng hay có chuyện gì mà ngài băn khoăn như vậy!

    Nguyễn Huệ đăm chiêu:

    - Vừa rồi, Nguyễn Hữu Chỉnh khuyên ta nên ra đánh Bắc Hà. Từ lâu đã có ý muốn giết chết Trịnh gian tà để cứu dân Bắc Hà ra khỏi cảnh lầm than vì Nam Bắc đều cùng chung một đất nước nhưng ta còn ngại Nguyễn Hữu Chỉnh là kẻ quỷ quyệt. Hắn chỉ muốn lợi dụng binh lực của ta ra đánh lấy Bắc Hà xong sẽ tìm cách hất ta ra để chiếm cứ Bắc Hà, tha hồ vùng vẫy. Từ khi Quận Huy bị kiêu binh giết, hắn bỏ Bắc Hà chạy vào nương nhờ ta, ta đã biết hắn là kẻ có nhiều mưu đồ, tâm địa phản phúc khó lường. Ta thấy vừa rồi hắn đã lộ cái ý ấy ra trong câu nói: người tài ở Bắc Hà chỉ có một Chỉnh này mà thôi. Liệu ta có nên cùng đi với hắn ra đánh Bắc Hà không?

    Kỷ ngẫm nghĩ rồi nói:

    - Tôi trộm nghĩ quân ta chưa thông thuộc thung thổ Bắc Hà, cần một người dẫn đường. Nếu Chỉnh đã tự nguyện làm hướng đạo thì tội gì ta không sử dụng. Có điều phải luôn luôn đề phòng hắn, khiến hắn không thể bất ngờ trở mặt phản lại ta được. Ta biết là hắn chỉ lợi dụng sức ta để chiếm lấy Bắc Hà, chi bằng ta tương kế tựu kế vờ như trúng mưu, hắn tưởng rằng đắc sách không để ý đề phòng, lúc ấy chính ta có thể trị hắn mà hắn không làm gì nổi ta. Người xưa đã từng dùng kế đồ Ngu diệt Quắc([1]) nay ta mượn tay hắn ra đánh Bắc Hà chính là đã “dĩ độc trị độc” vậy!

    Nguyễn Huệ nét mặt rạng rỡ:

    - Được! “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, hắn đã lợi dụng, ta sẽ biến tham vọng của hắn thành mồ chôn hắn sau này. Nhưng ta còn Nguyễn Huệ, ngại một điều Hoàng huynh ta chỉ cho ta đi đánh Thuận Hóa, nay lại tự tiện ra đánh Bắc Hà, lỡ Hoàng huynh ta trách cứ là tự ý thay đổi mệnh lệnh của nhà vua thì tính sao?

    - Tướng ở ngoài mệnh vua có khi không cần phải theo. Nếu vừa thắng mà lấy được Bắc Hà thì như vậy tức là “thay đổi nhỏ mà công lao lớn” như Kinh Xuân Thu đã nói có sao đâu. Huống chi ở Bắc Hà, tướng lười binh kiêu, chúa Trịnh lấn át quyền vua Lê, triều đình không còn kỷ cương gì cả, dân chúng oán hận họ Trịnh gian tà đã từ lâu, ta xuất quân lần này nhất định sẽ được dân chúng hưởng ứng. Thời cơ nghìn năm có một, xin Thượng công đừng nên bỏ lỡ.

    Được lời Trần Chánh Kỷ, Nguyễn Huệ càng thêm quyết đoán. Huệ làm như là nghe theo lời Chỉnh, đem binh thuyền tuyến phong vượt biển vào Cửa Liêu ở Đại An, thẳng tiến đến Vị Hoàng thì phải đốt lửa lên làm hiệu.

    Bố trí đâu đấy rồi, Chỉnh bèn lĩnh quân đi trước. Lúc ngang qua mấy trấn Nghệ An, Thanh Hóa, Chỉnh sai nhiều toán du binh mỗi toán chừng vài trăm người, chia ngả đi đánh các đồn để phô trương thanh thế. Trấn thủ Nghệ An là Đương trung hầu Bùi Thế Toại, trấn thủ Thanh Hóa là Thùy trung hầu Tạ Doanh Thùy đều bỏ thành mà chạy.

    Ngày mùng sáu tháng Sáu năm Bính ngọ[2], Chỉnh tới Vị Hoàng. Quân ở trong đồn mới trông thấy bóng quân Chỉnh đã bỏ trốn. Hơn một trăm vạn hộc lương ở đây đều bị Chỉnh chiếm gọn. Sau đó, Chỉnh bèn đốt lửa làm tín.

    Huệ thấy hiệu lửa, lập tức dẫn hơn một ngàn chiếc thuyền theo đường biển đi ra. Chỉnh ở Vị Hoàng hợp với quân của Huệ nên thanh thế rất lớn.

    Khi Phú Xuân thất thủ, tin báo về Thăng Long, người họp bàn trong triều đình đều nói: Thuận Hóa vốn không phải của triều đình, tiên triều đã lấy rồi phải giữ, khó nhọc tốn kém rất nhiều, rút cục không ích gì cả. Nay có bỏ mất cũng là điều may cho quốc gia. Vậy chỉ nên nghiên cứu mà làm theo việc cũ là đóng giữ lấy Nghệ An. Ta cho mất Thuận Quảng là may, kẻ địch cũng lấy vùng đất đã xâm chiếm của ta làm giới hạn chắc cũng không có điều gì đáng lo. Vì vậy, chúa tôi họ Trịnh bèn yên tâm gạt ra ngoài ý nghĩ những chuyện về đất Thuận Quảng và về quân Tây Sơn.

    Chợt nghe tin Nghệ An bị vỡ, quân địch sắp sửa đến nơi, triều đình bấy giờ mới hốt hoảng bèn sai Thái đình hầu Trịnh Tự Quyền thống lĩnh quan quân 27 hiệu, kéo vào Nghệ An chặn giữ ở đồi địa giới. Nhưng mệnh lệnh vừa ban xuống thì quân sĩ kiêu rông ngày ngày nằng nặc đòi tiền bạc lương hướng, lại muốn thay đổi thống tướng nên cứ trùng trình không tiến. Ra quân đã nửa tháng mà chỉ mới rời khỏi kinh thành được 30 dặm thôi. Đến khi Trịnh Khải([3]) nghe tin quân Tây Sơn đã đến Vị Hoàng bèn đổi sai Thái đình hầu đem quân bộ hạ ở Bản Đạo tiến đóng đất Kim Động. Lại dùng Liễn trung hầu Đinh Tích Nhưỡng- danh tướng Hàm Giang vốn giỏi thủy chiến Đốc lĩnh đường thủy, dẫn các đội thuyền Tả vệ, Hữu vệ, Ngũ hầu, Ngũ thuận, Ngũ trung từ Hải Dương đi tắt đến Sơn Nam, kết hợp với trấn thủ Sơn Nam là Trường trung hầu Đỗ Thế Dận và Thái đình hầu tướng giữ mặt bộ để đón đánh quân Tây Sơn.

    Hồi ấy, Nhưỡng đang đánh nhau với bọn thủy khấu ở vùng Hải Dương, nếu đến lúc này bọn thủy khấu đầu hàng quân Tây Sơn, vì vậy triều đình bèn sai luôn Nhưỡng về đánh giữ mặt Nam. Nhưỡng vốn là con nhà dòng dõi, triều đình đem hết công việc thủy chiến giao phó cả cho Nhưỡng.

    Bấy giờ, gió đông nam rất lộng, năm chiếc binh thuyền của Tây Sơn giương buồm từ hạ lưu ngược dòng sông kéo lên, đại quân kế sau thẳng tiến. Nhưỡng trông thấy liền dàn chu sư chặn ngang sông bày thành thế trận hình chữ nhất rồi truyền quân lính tọng thuốc đạn vào khẩu đại bác bảo lân nhằm bắn thuyền địch. Bắn phát đầu, thuyền địch đứng yên không động, Nhưỡng truyền bắn phát thứ hai, thuyền địch đều rút vào trong hết. Quân bên Nhưỡng mừng rỡ, cho là bên địch có ý sợ. Nhưỡng lại sai bắn luôn ba phát nữa. Lúc ấy, bên địch mới bắn trả một phát súng lớn, tiếng nổ như sấm, đạn bay lên cây cổ thụ bên bờ làm cho thân cây bị gãy làm hai đoạn.

    Bấy giờ, Trường trung hầu đang dàn quân ra hai bên bờ sông, thấy đạn bay lại, quân lính đều kinh hãi cơ hồ muốn vỡ. Quân Tây Sơn thừa thế bỏ thuyền kéo lên bờ. Quân của Trường trung hầu bỏ chạy hết. Quân Nhượng vội lấy cung và súng ra nhằm bắn quân Tây Sơn, tên đạn như mưa. Thế mà trên thuyền Tây Sơn, những người bơi chèo, giữ lái hoặc cầm giáo và cầm kích đều không động đậy gì cả, thì thấy các thuyền cứ sừng sững tiến lên. Nhưỡng càng dốc lên đạn và thuốc súng đốc thúc các quân đánh mạnh. Thuyền Tây Sơn chỉ đắm có một chiếc, còn các thuyền khác không hề lui chút nào. Khi thuyền tiến đến hơi gần, Nhưỡng sai người nhòm theo thì té ra người ở trong thuyền là nộm, bấy giờ mới biết là đã mắc mưu, nhưng thuốc đã hết kiệt rồi, không còn biết làm sao được nữa. Thì ra, suốt đêm qua Nhưỡng đã bắn vào mấy chiếc thuyền không. Mờ sáng hôm sau, đại đội binh thuyền Tây Sơn từ phía sau đánh trống reo hò tiến lên không biết bao nhiêu mà kể. Hỏa pháo đồng thời cũng nổ, tiếng vang chuyển động cả trời đất. Thấy thế lực không địch nổi, Nhưỡng vội quay thuyền, ai nấy bỏ thuyền lặn xuống sông rồi ngoi vào bờ trốn thoát thân. Huệ lại cho toán khinh binh đổ bộ xông thẳng vào chỗ quân Trường trung hầu, quân Trường trung hầu hoảng sợ tan vỡ. Quân Thái đình hầu không đợi đánh cũng tự tan vỡ trước. Thái đình hầu và Đốc đồng Nguyễn Thế Bình đều kinh hãi rụng rời với quan quân, nha lại và bộ thuộc đều chạy và lẩn trốn. Đánh xong Sơn Nam, binh thuyền Tây Sơn thừa thắng ngược dòng kéo lên tiến công kinh thành.

    Nghe tin Sơn Nam đã mất, Trịnh Khải bèn vời Thạc quận công Hoàng Phùng Cơ ở Tây Sơn về, sai làm tiền bộ để chống quân Tây Sơn.

    Quận Thạc cùng với tám người con đem quân bản bộ đóng ở Vạn Xuân. Thủy quân Tú thị dàn thuyền ở bến Thúy Ái, Trịnh Khải đem hết quân lính trong thành ra bày trận ở dưới lầu Ngũ Long, chính Khải làm tướng điều khiển.

    Đại đội chu sư của Tây Sơn thuận chiều gió thẳng tiến đến bến Đông Dư thuộc địa giới huyện Gia Lâm, rời khỏi thuyền, đổ bộ đánh úp thủy quân Trịnh ở cửa sông Thúy Ái. Quân Trịnh bỏ thuyền tan vỡ chạy trốn. Trước đó, thủy binh ở đây nghe tin quân địch còn xa nên không phòng bị gì hết, cứ cột thuyền lại rồi lên bờ đi tản mát ở các bãi song. Khi quân địch thình lình kéo đến, thủy binh không kịp lên thuyền, bao nhiêu thuyền bè bị chiếm hết. Tì tướng của Quận Thạc là Quản tiền ưu đội Ngô Phúc Hoàng với một thanh đao trong tay đứng ở mũi thuyền đánh nhau với địch. Được hơn một khắc, thình lình bị pháo bắn trúng, cả hai đều nhào xuống sông chết. Thuyền đội Trung Thạch bị quân Tây Sơn bắn tan, chìm nghỉm. Các tướng hiệu trong thuyền ấy đều sa xuống nước chết cả. Quân Tây Sơn đổ bộ tiến sát gần quân Quận Thạc.

    Quân lính của Quận Thạc khi ấy đang ăn cơm, chưa kịp dàn thành trận thế, thình lình thấy địch ập đến thì đều bỏ gươm đao và áo giáp chạy tung ra bốn ngả.

    Quận Thạc chỉ còn hơn mười thủ hạ và tám người con. Bọn họ đều xúm quanh chân voi của Quận Thạc tựa vào voi mà chống cự lại quân Tây Sơn. Sáu người con của Quận Thạc ra sức chiến đấu, chết ở trước voi. Quận Thạc liền sai quản tượng cho voi quỳ xuống rồi ông ta nhảy xuống đất cùng hai người con cướp đường mà chạy tháo thân.

    Thủy binh của Tây Sơn tiến thẳng đến Tây Long. Trịnh Khải thân hành ra ngự trên lầu Ngũ Long bày trận, chia thành năm đạo quân: hiệu Tả bộ giữ mặt Đông Long, hiệu Hữu bộ giữ mặt Tây Cổ, hiệu Tiền bộ giữ mặt cửa thành Tiền Lâu, hiệu Hậu bộ giữ mặt Hậu Lâu cạnh bờ hồ Thủy Quân, còn hai hiệu Nhưng, Kiệu ở trung quân để hộ giá.

    Quân Tây Sơn từ bãi sông tiến vào, Trịnh Khải ở trên lầu sai nổi hiệu trống trận, hiệu Tiền bộ liền nổ súng bắn ra. Bắn được một hồi lâu, quân địch cúi rạp mình xuống tránh đạn rồi sấn vào giao chiến. Khải bèn mặc đồ trận, xuống lầu, trèo lên mình voi cầm cờ đỏ, chỉ ba cái, vẫy ba cái, rồi sai thúc trống làm hiệu cho quân lính tiến về phía trước. Quân lính nghe trống giục, trông theo lá cờ lệnh, nhưng mọi người chỉ nhìn nhau chẳng ai dám tiến lên trước.

    Bên địch dùng hỏa hổ phun lửa bừa vào quân lính của chúa Trịnh đều sợ mất mật, bỏ cả khí giới ở bờ sông mà chạy thục mạng.

    Trịnh Khải thấy quân lính tan tác, ngoài nhìn lại thấy không còn một người nào bèn ngoắt đầu voi quay về phủ. Nhưng quân Tây Sơn không biết đó là chúa Trịnh, cứ hối hả tranh nhau xông vào cửa phủ chúa, không có ai lại gần chân voi. Khải vội cởi bỏ quần áo trận, lột khăn chử đinh ra quấn trên đầu, tụt xuống ngồi núp trong ngăn hòm da ở mé sau bành voi rồi co đầu voi quay về phủ. Khi qua cửa Tuyên Vũ thì thấy tiền binh của địch chừng vài chục người đã vào lọt vào trong phủ và đang kéo cờ ở phía ngoài phủ, Khải liền quay voi men theo bờ hồ Minh Đường nhằm phía cửa Yên Hòa mà chạy.

    Bấy giờ, Nguyễn Huệ đã vào thành hạ lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc của dân. Huệ đóng ở trong phủ chúa. Nguyễn Hữu Chỉnh và Tả quân Vũ Văn Nhậm thu quân đóng ở lầu Ngũ Long. Nhậm đóng trước lầu, Chỉnh đóng sau lầu.

    Trước lầu, phấp phới một lá cờ đỏ, có hai đường viền trắng, trong xanh ngoài điểm vàng hình răng cưa, giữa có hình mặt trời vàng. Hai bên đặt hai khẩu súng đúc bằng sắt, dáng thuôn, đầu nhỏ đuôi to dưới cùng múp lại thành một núm tròn. Giữa súng một chân chống bằng sắt dài để cắm xuống đất giữ súng chắc khi bắn. Có một lỗ để đốt ngòi nổ phần cuối cùng. Phía ngoài súng nhẵn nhụi những đường gò đúc nổi lên như cái đai, làm cho dáng súng cân đối, khỏe chắc.

    Nhậm và Chỉnh cùng đứng nhìn cảnh tượng đó. Nhậm nói:

    - Được trở về đất cũ Thăng Long, Hữu quân thấy thế nào?

    Thấy giọng Nhậm đầy kiêu ngạo, Chỉnh làm vẻ khúm núm:

    - Dạ, cũng nhờ sức của đại quân ta, tôi mới được hưởng điều may mắn ấy.

    Miệng nói thế nhưng bụng Chỉnh thầm nghĩ: Các người chớ hợm mình vội, rồi chưa biết ai mới phải là người làm chủ đây.

    VIII

    Ra đến Bắc Hà, vừa thu xếp xong việc quân là Kỷ cưỡi ngựa cùng mấy tên quân đi tìm cô Cầm và Nguyễn Du. Đến ngôi nhà trước đây là chỗ ở của giáo phường thì nay chỉ là một cái kho chất cỏ cho voi, ngựa ăn. Hỏi thăm người chung quanh, không ai biết những ca nữ trong giáo phường giờ lưu lạc nơi đâu. Kỷ lại đến xóm Bích Câu tìm Nguyễn Du, nhưng cả dải lâu đài cũ giờ chỉ còn là một bãi đất hoang. Có người trong xóm cho biết cả tòa dinh thự đã bị bọn kiêu binh phá hủy để trả thù Nguyễn Lệ về chuyện Lệ xin với Trịnh Tông trị tội lộng quyền của chúng. Còn Nguyễn Du, sau khi quân kéo ra, chạy trốn đi đâu thì không ai hay biết.

    Kỷ buồn rầu phóng ngựa đi lang thang khắp kinh thành, mong bất thần gặp được bạn và người yêu cũ. Qua nhà Giám, Kỷ thấy những tấm bia bị phá đổ lổng chổng, trên hồ Giám những cây sen, cây súng đã héo rũ, ven hồ cỏ mọc um tùm. Còn đâu bóng dáng người đẹp gảy đàn cầm trên khoang thuyền giữa đêm trăng bát ngát. Ở đây, cái gì cũng gợi nhớ đến cô Cầm, lớp sóng gợn lăn tăn như ánh mắt nàng, lá liễu dài như nét mi, nụ hoa kia như làn môi tươi thắm. Bóng nàng như còn in xuống mặt hồ nước trong vắt. Bên tai Kỷ như còn văng vẳng tiếng ngâm thơ của Nguyễn Du và tiếng đàn của cô Cầm, như một cái gì cao quý thiêng liêng mà những kẻ phàm tục không thể nào vượt tới. Những âm điệu thanh cao ấy trên đời dễ mấy ai thưởng thức hết cái hay, cái đẹp của nó. Cô Cầm yêu mình trước hết cũng bởi cái tình tri âm, giờ đây tiếng đàn của nàng lạc lõng ở nơi nào, biết có ai là người tâm hồn đồng điệu. Kỷ thấy nỗi đau xót lớn nhất của con người không chỉ có đói rét, bệnh tật, chết chóc, mà còn là thiếu một người bạn tâm đầu, ý hợp. Thảo nào Tử Kỳ chết thì Bá Nha đập đàn vì trên đời không còn ai nghe hiểu khúc “cao sơn lưu thủy” nữa. Bây giờ Kỷ mới thấm thía hết ý nghĩa hàm súc của câu thơ Nguyễn Du mà cô Cầm dùng để tặng lại mình: “Trong cuống có tơ mành. Hoa lìa tơ khó dứt”. Chính cái sợi tơ tưởng chừng mỏng mảnh ấy đã ràng buộc con người tài hoa với nhau bằng mối tình vô cùng bền chặt. Trời đất lâu dài còn có ngày hết, chứ mối tình vẫn dằng dặc mãi không bao giờ dứt được.

    Kỷ nhớ đến Phạm Vĩ Khiêm, không biết lúc này ông ta đang ở đâu? Kỷ có hỏi Nguyễn Hữu Chỉnh nhưng Chỉnh cũng không biết tin tức gì về anh rể.

    Từ khi chia tay với Kỷ, Phạm Vĩ Khiêm vẫn có lòng mong nhớ người bạn mới quen. Ông đinh ninh thế nào đến khoa thi hội, Kỷ cũng sẽ lên kinh dự thi. Không ngờ đến khoa thi năm Kỷ Hợi([4])vẫn không thấy Kỷ đâu, ông thầm đoán có lẽ Kỷ mắc bệnh hay bận việc nhà không lên kinh được. Biết quan chấm trường cố tìm quyển của mình để đánh hỏng, lần này văn chương ông đổi hẳn lối cũ, lại đổi tên là Phạm Nguyễn Du để vào thi.

    Kỳ đệ nhị có một quyển giọng văn hơi phóng túng, các khảo quan bảo rằng: Quyển của Vĩ Khiêm đây rồi. Bèn cùng nhau chỉ trích đánh hỏng, nhưng khi yết bảng thì tên ông vẫn được vào, Kỷ đệ tứ thì văn ông Phạm Nguyễn Du thuần mà giản dị, văn ông Phạm Quách Thích thì rộng rãi mênh mông, khí cách hai quyển văn không giống nhau. Quan trường nghĩ phê quyển văn ông Phạm Quý Thích lên đệ nhất. Ông Nguyễn Bá Dương lại trở quyển ông Phạm Nguyễn Du mà nói rằng: “Quyển này lời văn giản cổ thâm áo, không phải bậc lão sư túc nho thì không làm được, nên để lên trên”. Đến khi tiến lên phủ chúa Trịnh thì thành ra quyển ông Phạm Nguyễn Du đỗ đầu, mà quyển ông Phạm Quý Thích đỗ thứ hai, quả như lời ông Nguyễn Bá Dương liệu định. Đến lúc những người thi đỗ vào bái tạ, nhìn thấy Phạm Nguyễn Du, ông Nguyễn Bá Dương giật mình lúc ấy mới biết người mà trong những khi trước mình hết sức bài bác để đánh hỏng thì đến lần này mình lại cứ khăng khăng muốn lấy tên đỗ đầu! Thật là trớ trêu!

    Khoa này không những Phạm Nguyễn Du đỗ mà cả bạn ông là Ninh Tốn cũng đỗ tiến sĩ. Phạm Nguyễn Du thầm tiếc cho Kỷ nếu khoa này Kỷ thi thì chắc chắn cũng đỗ. Ông băn khoăn không biết em vợ mình là Nguyễn Hữu Chỉnh ở Thuận Hóa có giúp được gì cho Kỷ không.

    Bỗng Phạm Nguyễn Du nghe tin Hoàng Ngũ Phúc sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc ấn, cờ gươm cấp cho Nguyễn Nhạc, phong Nhạc làm Tráng tiết tướng quân. Chỉnh thường đi sứ qua lại với Tây Sơn. Thấy Chỉnh có tài biện luận, Nhạc rất yêu mến.

    Hoàng Ngũ Phúc chết, Chỉnh là thuộc hạ của Hoàng Đình Bảo con nuôi Phúc. Đến khi Đình Bảo bị kiêu binh Tam phủ giết, Chỉnh ở Nghệ An, nghe được tin biến, sợ mình bị bắt, bèn đem gia quyến vượt biển vào Tây Sơn theo Nguyễn Nhạc.

    Ít lâu sau, nghe Chỉnh cùng quân Tây Sơn ra đánh Bắc Hà, Phạm Nguyễn Du rất buồn rầu. Vốn là một bầy tôi trung thành của chúa Trịnh, Phạm Nguyễn Du cho hành động của Chỉnh là “cõng rắn cắn gà nhà”, Phạm Nguyễn Du rất tiếc tài năng của Chỉnh. Chỉnh nổi tiếng hay chữ, năm 16 tuổi đã đỗ hương cống. Nhưng vì không có tiền đút lót bọn quan trên nên không được bổ đi làm quan, hơn ba mươi tuổi vẫn còn lận đận, Chỉnh bực mình làm bài thơ “Than thân”:

    “Tóc chen hai thứ chửa danh chi

    Thân hỡi là thân! Thì hỡi thì!

     Chửa trả chửa đền ân đệ tử

    Thêm buồn thêm tủi chí nam nhi…”

    Chỉnh lại làm bài “Trương lưu hầu phú” tự ví mình như Trương Lương đời Hán:

    “Việc năm năm đưa tấc lưỡi còn thừa

    Cơ nghìn dặm quyết trong màn một nhoáng”

    Không phải Chỉnh chỉ có cái tài mà không có tình. Khi bà vợ Phạm Nguyễn Du mất, Chỉnh đã làm bài văn tế “Khóc chị” đầy tình cảm thiết tha:

    “Thương thay chị, mới hai mươi chín tuổi, cũng là kiếp hóa sinh. Gửi mình vào tài tử mười ba năm, đã dốc một lời nguyền, song cay đắng có nhau, mà vinh hiển bao giờ chưa được thấy. Rơi máu ở nhân gian năm bảy bận([5]), chỉ còn hai chút gái, vả sữa măng dường ấy, dù trưởng thành ngày khác cũng rằng không. Ôi! Tạo vật làm sao, con người mà nên điều đau đớn thế! Bên trời góc bể, thân cố ([6])có ai, đất khách quê người, bui một chị một em, đã hình đơn bóng chếch”.

    Trong văn tế, Chỉnh gọi Phạm Nguyễn Du là “tài tử” vậy mà ông cảm thấy mình không thể làm nổi một bài văn khóc chính vợ mình được thành thực và cảm động như vậy. Chỉnh không dùng thể phú biền ngẫu mà viết gần như tản văn nên xuôi thoát như lời nói thường thể hiện được chính tiếng thở than, nức nở thốt ra từ cõi lòng mình.

    Không ngờ một người có tài, có tình như vậy mà nay lại đổ đốn đi theo “ngụy Tây Sơn” “rước voi về giày mả tổ”.

    Thấy Vũ Văn Dũng bước vào, nét mặt hằm hằm, Trần Chánh Kỷ hỏi:

    - Có chuyện gì mà Vũ huynh tỏ vẻ giận dữ thế?

    Dũng bực bội:

    - Còn chuyện gì nữa? Mình mất bao nhiêu công lao mới ra được tới đây, vậy mà Nguyễn Hữu Chỉnh sai xin với Thượng công trả quyền hành cho vua Lê. Vừa rồi, Thượng công đã bằng lòng cùng Chỉnh vào ra mặt vua Cảnh Hưng ở điện Vạn Thọ, Chỉnh lại xin chọn ngày làm lễ chầu yết vua Cảnh Hưng tại điện Kính Thiên để tỏ rõ cái ý phù Lê diệt Trịnh cho thiên hạ đều biết. Muốn lấy lòng Thượng công, Chỉnh còn thân đứng ra làm mối cho Thượng công sánh duyên với Công chúa Ngọc Hân nữa. Trần huynh ở bên mình Thượng công, sao không khuyên can người một tiếng, làm như vậy chẳng hóa ra công mình là công cốc à?

    Kỷ điềm đạm:

    - Vũ huynh cứ bình tĩnh. Tôi biết từ khi Chỉnh ra tới Thăng Long thấy quan lại, dân chúng Bắc Hà nhiều người lui tới mình, nên dương dương tự đắc cho là lòng dân Bắc Hà mến phục mình. Muốn mua chuộc lòng dân Bắc Hà để dựa vào họ chống lại ta sau này, Chỉnh mới phải bày ra trò tôn phù nhà Lê. Nay, ta ra đây không có lệnh của vua Thái Đức, lại chưa thu được nhân tâm Bắc Hà, nếu ta bác lời Chỉnh, ắt Chỉnh sẽ phao lên là ta định cướp ngôi nhà Lê, xúi giục người Bắc Hà chống lại ta, ta phải ở vào cái thế khó xử. Chi bằng ta cứ tương kế tựu kế nghe theo lời Chỉnh, Chỉnh tin chắc là ta mắc mưu, ắt không trở mặt phản bội ngay khi ta còn chưa đứng vững chân ở đất này. Vũ huynh nên nhớ rằng ta ở đây là khách lạ, mà Chỉnh là người nhà, quen người thuộc nết, thông tỏ ngõ ngàng, ta đối phó với hắn ngay lúc này là thất sách. Vũ huynh thấy lời tôi nói có phải hay không?

    Nghe xong, Dũng toát mồ hôi nói:

    - Trần huynh quả là cao kiến. Nếu tôi không hỏi ý anh trước mà vội đem việc này tâu với Thượng công, ắt mang tiếng là người bất trí.

    Khi Huệ đem việc này bàn với Kỷ, Kỷ nói:

    - Bẩm Thượng công, vẫn hay Chỉnh có ý mua ơn với nhà Lê để kiếm chỗ dựa ở Bắc Hà sau này, nhưng hiện nay âm mưu của hắn còn chưa lộ ra, nếu ta không muốn làm theo lời hắn, hắn sẽ phao tin là ta muốn cướp ngôi nhà Lê. Như vậy sẽ khó khăn cho ta trong việc thu phục nhân tâm buổi đầu, chi bằng ta làm tất cả những việc đó nhưng nhằm mục đích khác. Nếu hắn muốn mua ơn với nhà Lê thì ta lại cốt để cho dân chúng hiểu ta không hề tham quyền vị và đất đai của người khác. Một khi dân chúng đã thật sự hiểu ta chỉ mong mang lại no ấm, yên vui cho họ, thì dầu Chỉnh có dèm pha vu khống cũng không ai tin, ngược lại còn nhìn rõ tham vọng của hắn là muốn chiếm lấy quyền hành ở Bắc Hà đóng vai chúa Trịnh lấn át vua Lê như trước.

    Huệ nghe lời Kỷ, tiến hành mọi nghi lễ như lời khuyên của Chỉnh, Chỉnh càng đắc ý cho là Huệ trúng kế mình, từ đó không coi Tây Sơn vào đâu nữa. Thấy tả quân Vũ Văn Nhậm không ưa mình, Chỉnh không ở lầu Ngũ Long nữa mà dời chỗ ở sang chùa Thiên Tích, cũng là để có chỗ kín đáo tiện việc họp hành, mưu sự.

    Không bao lâu vua Cảnh Hưng mất, thọ 70 tuổi. Hoàng tộc và triều đình tôn Hoàng tự tôn là Lê Duy Kỳ, con thái tử Lê Duy Vĩ- cháu nội vua Cảnh Hưng, lên nối ngôi, lấy hiệu là Chiêu Thống.

    Nguyễn Huệ thân coi sóc tang lễ vua Cảnh Hưng. Đến ngày đưa đám, Huệ tự cưỡi voi, đem ba ngàn quân, hộ tống tử cung đến bến đò. Rồi sai Trần Văn Kỷ mặc áo trắng hộ tống tử cung xuống thuyền đưa về an táng tại Lăng Bàn Thạch ở Thanh Hóa.

    Chỉnh tính toán biết rằng sớm muộn thế nào rồi Nguyễn Huệ cũng phải trở về Nam, mình sẽ không thể ở lại Thăng Long một mình được. Vì vậy, Chỉnh ngầm ý muốn chiếm cứ Nghệ An, bèn mật tâu với Chiêu Thống rằng:

    - Thần đem hắn ra, chỉ vì việc tôn phù. Bây giờ việc đã xong, thần quyết không theo hắn nữa. Chắc thế nào hắn cũng rút về, mà khi hắn đã về rồi, thì trấn Nghệ An tức là một bức phên giậu ở bên cạnh giống sài lang. Vậy xin bệ hạ cho thần vào đấy trấn thủ, một mặt Nam hạ thần xin đương cả.

    Mấy hôm sau, nghe tin vua Thái Đức Nguyễn Nhạc từ Quy Nhơn ra Thăng Long, Chỉnh lại đoán là vua Tây Sơn sẽ cướp ngôi của Chiêu Thống và chiếm cứ đất nước. Chỉnh bèn khuyên Chiêu Thống nên sắp sẵn ngọc tỷ mà ra hàng, lại giục các quan trong triều thảo gấp một tờ biểu xin hàng. Triều đình bàn bạc mấy ngày liền chưa quyết, không ai dám hạ bút trước. Đến khi vua Thái Đức ra, thấy dáng điệu vua Thái Đức ung dung hòa nhã, mọi người biết rằng vua Tây Sơn không có ý chiếm lấy Bắc Hà nên không bàn đến việc đầu hàng nữa.

    Khi các quan trong triều tới ra mắt vua Thái Đức, vua Thái Đức hỏi:

    - Các ông thấy tôi đột ngột ra đây có ngờ tôi điều gì không?

    Các viên quan đáp:

    - Thánh thượng đã sai Thượng công ra phò lập nhà Lê, việc đó đã rõ ràng lắm rồi, lũ chúng tôi đâu còn dám ngờ.

    Vua Thái Đức nói:

    - Ai ngờ tôi, kẻ ấy là người ngu! Chẳng bao lâu nữa anh em tôi sẽ về, các ông nên giúp rập nhà vua cho yên thiên hạ.

    Các quan đều ca ngợi:

    - Sách nói rằng: “Bậc thánh nhân không chăm lo đến việc lập công ở phương xa”. Thánh thượng nghĩ tới chỗ đó, thật là vượt quá người thường đến muôn vạn lần. Nhưng quốc quân chúng tôi hiện còn trẻ tuổi, nhiều việc chưa quen thạo, lũ chúng tôi lại đều là những kẻ tài hèn, thánh thượng nếu đã giúp cho nước tôi được còn, xin hãy tạm lưu tại đây, để vua tôi chúng tôi nhờ cậy vào oai linh của thánh thượng. Bao giờ bốn phương đều yên, giường mối đã dựng lại, bấy giờ ngự giá hãy về cũng chưa muộn.

    Vua Thái Đức nói:

    - Có về cũng còn hàng năm hàng tháng, há phải đâu là chuyện ngày một ngày hai? Các ông chớ lo vội.

    Các quan lại lạy tạ lui ra. Chỉnh đứng hầu bên cạnh vua Thái Đức nghe Thái Đức nói cũng hoang mang không biết hư hư thực thực như thế nào cả.

    Khi Chỉnh lui rồi, vua Thái Đức bảo Nguyễn Huệ phải gấp sửa soạn trở về Nam. Từ khi tiếp được thư của Huệ báo tin lấy được Thăng Long, vua Thái Đức thầm nghĩ: “Huệ luôn luôn lập được chiến công, đã làm cho hắn thêm kiêu ngạo. Huống hồ trong tay hắn lại nắm giữ đạo quân lớn chuyên chế ở ngoài muôn dặm, rồi Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh, những viên tướng dũng mãnh, mưu trí lại đều thuộc quyền sai khiến của hắn. Nếu cứ buông lỏng cho hắn bay nhảy ở ngoài, lấn dần ắt phải sinh ra những việc không hay, nhưng khí thế của hắn như thế không thể dùng một lá thư mà gọi về được. Nếu mình không thân hành ra Bắc, bắt hắn phải về, ấy là thả hùm ra khỏi cũi, không bao giờ còn có thể nuôi dạy được nữa vậy”.

    Thế rồi, luôn trong bữa đó, vua Thái Đức tự đem năm trăm tên lính tự vệ ra thẳng Phú Xuân. Tới nơi, lại lấy thêm hơn hai ngàn quân Phú Xuân đi gấp ra Thăng Long. Lúc vua Thái Đức mới đến kinh, Huệ ra tận ngoại ô đón tiếp và tạ cái tội tự chuyên của mình. Vua Thái Đức nói:

    - Tướng ở bên ngoài, nếu gặp việc có ích lợi cho nước nhà thì cứ tự ý mà làm cũng được, đó là chỗ thần diệu trong phép dùng binh. Vả lại, ông trèo đèo lội suối đi hàng muôn dặm để mở mang bờ cõi cho đất nước cộng thêm. Thủ đoạn anh hùng như vậy, anh thực không thể nào sánh kịp. Nhưng mà, mình đi đánh nơi khác, kéo quân vào sâu trong xứ sở của người ta, một chốc làm thay đổi hết nền nếp cũ của họ như thế, tránh sao khỏi sự thù oán của muôn họ. Anh luôn luôn lo ngại đến những việc bất ngờ có thể xảy ra nên ra ngay đây để nghĩ kế đỡ công.

    Dầu vua Thái Đức ôn tồn phủ dụ nhưng trong lòng Nguyễn Huệ vẫn lấy làm lo lắng vì biết rằng anh mình vì độ lượng hẹp hòi, nghi kỵ mình chuyên quyền lấn át ông ấy, Thái Đức lại không có chí lớn thống nhất đất nước, mang lại thái bình cho muôn họ, mà chỉ muốn khư khư giữ một vùng đất nhỏ hẹp ở Quy Nhơn. Mới được làm vua một nước nhỏ, Thái Đức đã lấy làm thỏa mãn rồi, không biết nhìn xa trông rộng, nếu chỉ vẻn vẹn có một mảnh đất nhỏ sẽ bị kẹp giữa hai đầu kẻ địch, Nguyễn Ánh từ phía Nam đánh ra, bọn tay sai Lê Thịnh từ phía Bắc đánh vào thì làm sao có thể đương tự và đứng vững được. Nhưng dẫu sao ông ta cũng có tâm dấy nghĩa từ ban đầu, lại là vua anh, mình vừa là em vừa là bầy tôi, nếu kháng mệnh ông ta không những đã trái phép nước mà còn bị tiếng đời chê cười, dị nghị.

    Nguyễn Huệ mời Trần Văn Kỷ đến bàn việc cơ mật. Khi Kỷ tới, Huệ nói:

    - Hoành huynh ta ra đây, đòi ta trở về Nam ngay. Ông thấy ta nên về hay nên ở lại?

    Trần Văn Kỷ đo đắn:

    - Thái Đức hoàng đế thấy Nguyễn Huệ Vương gia một mình ở ngoài này sẽ khó kiềm chế nên ra Bắc để buộc Vương gia phải quay trở về. Nay ta đang ở nơi đất lạ, nếu để xảy ra chuyện hiềm khích chia rẽ, kẻ địch sẽ lợi dụng chuyện đó để gây khó khăn cho ta. Chi bằng ta cứ giao chính quyền cho nhà Lê rồi trở về Nam, nhưng lưu một tướng giỏi đóng lại ở Nghệ An, để nếu Bắc Hà xảy ra chuyện gì còn ứng phó kịp. Khi vào đến phía Nam, Vương gia đừng trở về Quy Nhơn mà cứ xin đóng lại Phú Xuân để làm căn cứ lâu dài.

    - Đối với Nguyễn Hữu Chỉnh thì nên xử trí thế nào?

    - Ta đã biết Chỉnh chỉ muốn lợi dụng binh lực của ta để mưu chiếm lấy Bắc Hà, sau đó đủ lông cánh rồi sẽ quay lại chống ta. Việc Chỉnh đứng ra làm mối cho Vương gia lấy Ngọc Hân công chúa không ngoài mục đích mua ơn với nhà Lê để mượn danh nghĩa sau này. Chi bằng ta bỏ hắn ở lại đây, đừng để hắn theo ta sau này sinh lòng phản trắc, thì lúc ấy khó đối phó.

    Nguyễn Huệ khen phải liền tâu với vua Thái Đức bằng lòng chuẩn bị rút quân về nhưng dặn giữ bí mật không cho Chỉnh biết.

    Sau lễ tiếp kiến Chiêu Thống, vua Thái Đức sai Chỉnh chọn ngày tốt để vào làm lễ ra mắt ở nhà Thái Miếu. Chỉnh xin chờ đến sau tết Trung thu, Thái Đức cũng bằng lòng. Rồi nhân nói đến chuyện hôn nhân của Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc bảo Chỉnh:

    - Chú hay ra đây, được người làm mối cho cô vợ đẹp, riêng ta lại không ư?

    Chỉnh thưa:

    - Chỉ sợ thánh thượng chê gái Bắc Hà quê mùa mà thôi. Nếu như thánh thượng rộng lượng bao dung, thì sự đó cũng chẳng phải là khó.

    - Thế thì ngươi còn nợ ta đấy, phải trả mau thôi.

     Chỉnh thấy lời lẽ của Nguyễn Nhạc có vẻ ung dung thong thả, do đó cũng yên lòng bèn xin lui về.

    Ngày 17 tháng ấy, Nguyễn Nhạc bí mật hạ lệnh, cho tất cả các quân thủy bộ phải sửa soạn hành trang nai nịt gọn gàng. Rồi sợ Chỉnh ở ngoài thấy rõ tình hình sinh nghi, Nguyễn Nhạc bèn cho đòi Chỉnh vào hầu, giữ chân Chỉnh từ sáng đến tối, người ngoài không được vào, tin ngoài không cho tới. Vì thế nên mọi việc xảy ra ở bên ngoài, Chỉnh đều không biết gì hết. Đến khuya, Nguyễn Nhạc mới thả Chỉnh ra. Kịp đến khi Chỉnh về nhà, người nhà có kẻ báo cho Chỉnh biết việc vua Tây Sơn sắp về, thì Chỉnh còn nửa tin, nửa ngờ nói:

    - Ta suốt ngày ngồi hầu, chuyện trò rất thư thái làm sao lại có sự lật đật như vậy được?

    Canh hai[7] đêm ấy, Nguyễn Nhạc cho người vào gõ cửa điện, ngỏ lời từ biệt Chiêu Thống, nói là sớm mai rút quân về Nam. Vậy mà Chỉnh cũng vẫn không biết gì cả.

    Trước đó hơn mười ngày, đêm nào ở trại quân Tây Sơn cũng nổi chiêng trống vang trời, nhưng sang đến đầu canh hai thì chỉ còn thưa thớt vài tiếng, rồi từ canh ba[8] trở đi thì im lặng như tờ, không còn tiếng nào nữa. Vì thế, mỗi hôm cứ vào quãng nửa đêm, người trong kinh lại tưởng là quân Tây Sơn ngầm rút tức Trịnh Sâm đi rồi, nhưng đến sáng ngày mai thì lại thấy doanh trại vẫn y nguyên. Từ đó về sau ai cũng cho là thường, không hề để ý. Mà tiếng trống canh cũng không còn lấy gì làm chuẩn xác nữa.

    Phép quân Tây Sơn, lệnh cấm ban đêm rất ngặt. Thám tử của Chỉnh mọi đêm đều không được ra ngoài. Đêm ấy, khoảng đầu canh năm, bọn thám tử của Chỉnh liều mạng xông ra đường không kể gì lệnh cấm, khi vượt qua mấy điếm canh, vừa đi vừa nghe ngóng thì thấy tất cả đều vắng lặng không có tiếng người. Chúng đi vòng đến cửa phủ, ngó khắp bốn phía cũng không có người nào, mà chỉ thấy gáo, mẻ nồi vỡ vứt bừa bãi trên đường, chúng vội vàng đi ra bến sông, thì ở đó chỉ thấy trời nước mênh mông, hàng trăm vạn lâu thuyền trước đấy không biết đi đâu hết cả. Lập tức chúng chạy về báo với Chỉnh.

    Chỉnh được tin ấy, trong bụng cực kỳ hoang mang, tự biết mình đã thất thế, ở lại thì không dám mà bỏ đi cũng không nỡ, đường thủy không có thuyền mà đường bộ không có quân, muốn trốn không có chỗ trốn, không biết nên đi đường nào.

    Người nhà Chỉnh khi ấy cũng rất sợ hãi. Nhưng Chỉnh trong lúc sống chết nguy cấp như vậy, vẫn còn giở giọng bông đùa đọc một câu ca dao:

    - “Đi cùng bốn bể chín chu/ Trở về xó bếp chuột chù gặm chân”. Không sợ! Không sợ! Ta cứ ở đây xem sao!

    Bấy giờ, bọn người nhà mới hơi vững dạ. Chỉnh bèn bí mật sai người chạy gấp ra bến Cơ Xá tìm thuyền. Tảng sáng, kiếm được một chiếc thuyền buôn, Chỉnh cùng bọn tay chân độ vài chục người đi đến cửa Ô Tây Long thì bị dân chúng ở kinh kỳ từ tứ phía kéo ra đuổi bắt. Chỉnh một mình một đao quay lại đón đánh, mọi người phải chạy tán loạn. Thừa cơ Chỉnh liền cướp đường chạy xuống bến sông, nhổ neo buông thuyền, thuận dòng xuôi thẳng ra cửa biển để theo quân Tây Sơn. Còn ngựa xe, khí giới, đồ đạc, của cải của Chỉnh đều bỏ lại ở chùa Tiên Tích.

    Thuyền Chỉnh ra đến biển lại bị gió cản lại luôn mấy ngày, chừng hơn một tuần mới vào đến cửa biển Hội Thống. Lúc thuyền của Chỉnh đậu ở dưới bến Đông Hải thì cũng vừa gặp lúc anh em Tây Sơn đi đường đã vào tới Vĩnh Doanh. Khi Chỉnh vào ra mắt xin theo Nguyễn Huệ cùng về, Huệ nói:

    - Nay Quận Thạc, Quận Liễn chưa trừ xong, Bắc Hà phi ông không trị ai nổi, ông hãy tạm ở đây đã!

    Rồi Huệ sai người san sẻ các thứ súng đồng, súng sắt cùng những khí giới, đồ lề thu được ở Bắc Hà, đem đến Đông Hải cho Chỉnh. Chỉnh từ chối không nhận. Huệ lại cho Chỉnh hai mươi lạng vàng, hai trăm lạng bạc và để lại một số quân cho Chỉnh. Chỉnh sợ để số quân ấy lại không thể tin được vì đều là tai mắt của Huệ nếu mình có mưu đồ phản phúc, bọn chúng báo cho Huệ biết thì nguy bèn nhận vàng bạc, trả lại quân và nói:

    - Tôi xin được tự mộ lấy quân địa phương mà dùng. Nếu như sức tôi không đủ phải đưa thư báo cấp, thì bấy giờ mong ông hãy chú ý sai tướng sĩ giúp đỡ tôi.

    Huệ ưng lời rồi về Phú Xuân, lưu Chiêu viễn đô đốc tướng quân Vũ Văn Dũng đóng lại ở Kỳ Hoa để hưởng ứng với Chỉnh. Còn Nguyễn Nhạc thì để Nguyễn Văn Duệ làm Trấn thủ Nghệ An.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Quyển 9 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

    ___

    [1] Mượn đường nước Ngu để diệt nước Quắc.

    [2] Năm 1786.

    [3] Tức Trịnh Tông.

    [4] Năm 1779.

    [5] Đẻ con năm bảy lần.

    [6] Người thân và quen cũ.

    [7] Từ 21 giờ đến 23 giờ.

    [8] Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,932

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/