Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,164,300

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Thứ sáu, 10:04 Ngày 06/08/2021
  • Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

    VI
    Gần ngã ba Sình, phía bắc chỗ đầu làng Thanh Phước có một núi đất cao hơn 30 trượng, rộng 150 trượng, trên núi đắp ụ đất cao hơn 30 thước, mặt ụ để đích bắn. Hằng năm, vào tháng Bảy, quan Trấn thủ Thuận Hóa dẫn thủy sư chèo thuyền trên sông Hương tới đây thi bắn.
    Thuyền chiến đậu san sát trên bến sông, mỗi đội có một sắc cờ xanh, đỏ, trắng, tím, vàng. Trên núi dựng một thế môn, lợp bằng lá dừa, trang trí bằng những lá cờ và những vòng hoa giấy nhiều màu. Quan Trấn thủ Tạo quận công Phạm Ngô Cầu ngồi ở ghế chính giữa phủ da hổ, kế bên là quan Phó tướng Thế quận công Hoàng Đình Thể. Các bộ tướng đứng hầu phía sau, quân sĩ cầm khí giới dàn hai hàng thật uy nghi tề chỉnh.
    Thủy quân đã tề tựu trước trường diễn súng. Quan Trấn thủ cầm lá cờ lệnh vẫy một cái. Ba hồi kẻng vang lên. Đội thứ nhất tiến lên đứng giăng hàng chữ nhất, giơ súng ra, nạp thuốc đạn vào, rồi giương súng lên nhắm bắn vào tấm bia trên ụ dất. Ai bắn trúng hồng tâm đoạt giải nhất, ai bắn trúng những vòng trong đoạt giải nhì, trúng vòng ngoài đoạt giải ba, còn bắn ra ngoài vòng coi như là thua. Hết đội này đến đội khác thi nhau bắn bia. Trên đài, một viên ký lục ghi chép số điểm của người thi bắn.
    Lúc ấy, trong đám dân chúng đứng vòng trong vòng ngoài xem thi bắn, bỗng có một người trẻ tuổi tức mình nói:
    - Bắn hoài mà không trúng hồng tâm, đúng là rặt một lũ ăn hại!
    Thấy tiếng người huyên náo, quân lính đến dẹp và bắt người gây náo loạn đến gặp quan Trấn phủ Phạm Ngô Cầu cau mày:
    - Ta đang chủ tọa cuộc thi bắn ở đây, sao nhà ngươi dám vô lễ và huyên náo, muốn mất đầu hả?
    Người trẻ tuổi chắp tay thưa:
    - Bẩm quan Trấn thủ, tôi thấy quân lính bắn mãi không trúng tên trót ngứa miệng bình phẩm một câu. Xin đại nhân rộng lượng tha thứ cho.
    Phạm Ngô Cầu cười nhạt:
    - Ngươi dám mở miệng chê bai người khác, ngươi có tài bắn, thử bắn ta coi, trúng đích thì không sao, bằng không trúng ta sẽ trị tội lộng ngôn, mạn thượng. Ngươi có dám nhận lời hay không?
    Người trẻ tuổi khảng khái:
    - Nếu đại nhân đã truyền, kẻ hèn xin vâng lệnh.
    Người trẻ tuổi chắp tay vái rồi lấy súng cắp vào nách và bắn ba phát đều trúng vào giữa hồng tâm. Mỗi phát trúng quân sĩ lại reo hò vang dậy. Bắn xong, người trẻ tuổi lại đến chắp tay trước quan trấn thủ đợi lệnh, mặt vẫn không hề đổi sắc.
    Phạm Ngô Cầu từ trên đài bước xuống, khoác tấm nhiễu đỏ làm giải thưởng lên mình người trẻ tuổi rồi nói:
    - Tráng sĩ quả là một tay thiện xạ. Nếu tráng sĩ muốn tòng ngũ ta vui lòng thu nạp tráng sĩ làm thuộc đường trong dinh ta.
    Người trẻ tuổi cúi đầu;
    - Đại nhân mở lòng thương, kẻ hèn này rất đội ơn xin nguyện theo hầu dưới trướng.
    Người trẻ tuổi tên là Vũ Văn Dũng, quê ở Hải Dương có sức khoẻ lại giỏi võ nghệ. Trong làng có một tên cường hào hà hiếp bóc lột nhân dân, Dũng không nén được đánh cho hắn một trận nhừ tử. Sợ tên đó thù hằn báo quan bắt đem hạ ngục trị tội, Dũng phải bỏ xứ trốn đi, lưu lạc mãi đến đất Thuận Hóa. Nhân đứng xem thi bắn, thấy bọn quân lính bị thịt bắn mãi không trúng, Dũng buột miệng nói lời chê bai, không ngờ chuyện này lại có dịp tiến thân.
    Từ đấy, Dũng trở thành thuộc tướng trong dinh quan trấn thủ. Mỗi tháng một lần, Dũng dẫn quân sĩ đến trường diễn súng tập bắn. Nhiều trai tráng trong làng cũng đến xem tập. Họ cũng xin Dũng dạy cho võ nghệ. Biết làng Thanh Phước có môn vật cổ truyền, Dũng bảo những đô vật trong làng vật thử cho mình coi. Từ đó, Dũng đưa các thế võ vào môn vật, cải tiến thành môn vật võ dạy cho trai tráng ở đây. Dần dần, trai tráng trong vùng cũng kéo nhau đến xin học.
    Tiếng đồn đến làng La Chữ, tổng Kim Long cùng huyện, ông Lê Công Học là một người có uy tín trong làng thân đến mời Vũ Văn Dũng về La Chữ dạy môn vật võ cho con trai ông là Lê Công Thứ và trai tráng. Được Dũng thân rèn cặp, trai tráng La Chữ ngày càng giỏi môn vật võ, và có lần giật giải trong cuộc thi vật ở Thanh Phước. Ông Học càng kính trọng Dũng thường mời đến nhà chơi, tiếp đãi như một vị thượng khách.
    Ông Học, ngoài con trai là Lê Công Thứ còn một gái là Lê Thị Vi, năm đó vừa tròn 18 tuổi, nhan sắc xinh đẹp lại sắc sảo, mặn mà. Cô có tính hiếu động, không thích học may vá thêu thùa mà muốn học côn quyền. Cô xin cha cho được theo đòi võ nghệ. Vốn chiều con gái nên ông Học nói với Dũng xin cho cô được thụ giáo
    Đã ham rèn luyện lại được Dũng chân tình dạy dỗ, chẳng bao lâu cô Vi đã thuộc nhiều bài quyền và đi roi rất thành thạo. Cùng luyện tập với nhau, dần dần tình yêu đã nảy nở giữa hai người trẻ tuổi. Vi kính yêu Dũng vì có tài năng và chí khí hơn người, Dũng cũng yêu Vi vì đã xinh đẹp lại đoan trang, thẳng thắn. Ông Học biết đôi trẻ quyến luyến nhau, trong lòng cũng rất vui mừng thầm mong gia đình mình có được một người con rể tài đức như Dũng.
    Dũng là người võ biền nhưng lại yêu chuộng văn học. Nghe nói trong huyện có Trần Chánh Kỷ là người nổi tiếng văn chương, Dũng bèn tìm đến làm quen. Từ đó hai người trở thành đôi bạn thanh khí, có chuyện gì cũng bàn bạc với Kỷ. Mỗi lần Dũng đến Vân Trình thăm Kỷ, hai người ăn cùng một mâm, ngủ chung một giường, chuyện trò rất là tương đắc. Có lần, rượu ngà ngà say Kỷ nói với Dũng:
    - Đại trượng phu lại gặp thời loạn, cần nuôi chí tự cường, dốc sức lập nên nghiệp lớn, hà tất phải khum làm tôi tớ trong cửa nhà người ta.
    Dũng nín lặng không nói gì. Bỗng một hôm, Dũng đi đâu biệt tích, tìm kiếm mãi vẫn không thấy. Trong lòng Kỷ buâng khuâng vừa buồn nhớ người bạn tâm giao, vừa ân hận không biết câu nói của mình có làm phật ý Dũng không. Nhiều đêm nằm vắt tay lên trán, nhìn thấy ánh trăng, Kỷ mường tượng khuôn mặt của bạn. Đời không dễ gì gặp được người tri kỷ, gặp rồi mà phải xa, còn buồn gấp mấy. Chờ mãi vẫn không thấy tin tức gì của Dũng, Kỷ đành lòng cho đó là số mệnh nghiệt ngã đã xui nên.
    Trần Chánh Kỷ đang ngồi đọc sách thì tiểu đồng vào báo có khách đến thăm. Kỷ ra cửa đón, khách không phải là ai xa lạ mà chính Vũ Văn Dũng. Kỷ mừng rỡ vội mời vào nhà chơi. Trà nước một hồi, Kỷ hỏi:
    - Vũ huynh đi đâu mà lâu nay không gặp?
    Vũ Văn Dũng nói nhỏ:
    - Chẳng giấu gì Trần huynh, tôi được Tạo quận công cử vào Quy Nhơn giả vờ theo Tây Sơn để dò xét nội tình của họ. Khi tôi đến xin tụ nghĩa thì được chủ tướng Nguyễn Nhạc và em ông ta là Nguyễn Huệ đón tiếp rất trọng hậu. Nguyễn Huệ là người văn võ toàn tài lại có lượng dung người. Quân Tây Sơn không phải là bọn cướp như quân Nguyễn trước đây và quân Trịnh hiện nay vu khống cho họ, mà là những người muốn đem ánh sáng công lý soi tới chúng dân và giải thoát họ khỏi gông cùm của vua chúa và quan lại. Chủ trương của họ là làm cho ai cũng bằng ai, mọi người đều được ấm no, yên ổn. Họ chia nhau đi gặp những người có của và nếu chủ nhà vui vẻ đem của ra dâng thì mọi sự êm đẹp vì họ đem của cải đó chia cho dân. Nhưng nếu gặp phải những tay trọc phú bo bo giữ lấy tài sản thì họ buộc lòng phải dùng vũ lực chiếm lấy của cải chia cho dân nghèo. Chẳng những vào các đám đông để chiêu dụ, hoặc các nhà giàu lấy của, quân Tây Sơn còn đi khắp các vùng bắt bọn hào lý và quan lại phải phục tùng. Khi bọn hào lý hay quan lại đầu hàng hoặc bỏ trốn thì họ mang hết giấy tờ văn tự, văn khế vay nợ bán đất và sổ sách ra đốt để xóa ách bóc lột.
    Trần Chánh Kỷ sửng sốt:
    - Thật vậy hả anh?
    - Đúng như vậy đấy. Bởi được dân chúng hưởng ứng nên sau khi đã chiếm cứ từ Quy Nhơn đến Quảng Ngãi, họ lại đem quân vào Nam lấy đuợc một dãy đất rộng lớn từ Bình Thuận đến Gia Định, Nguyễn Huệ đánh tan năm vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm, Xoài Mút, lấy được toàn cõi Gia Định, cháu chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh phải chạy trốn sang Xiêm. Hiện nay, quân Tây Sơn có ý định đánh chiếm Phú Xuân…
    - Đánh chiếm Phú Xuân?
    - Phải. Biết được việc làm chính nghĩa của họ, tôi bèn thú thật với họ về mưu đồ của mình, và xin thành thực quy phục nghĩa quân. Long nhương tướng quân Nguyễn Huệ khen tôi biết bỏ chỗ tối ra chỗ sáng và tâu với vua Thái Đức phong tôi làm Chiêu viễn tướng quân. Tôi tình nguyện xin trở lại Phú Xuân dò xét tình hình quân Trịnh rồi báo lại cho nghĩa quân. Long nhương tướng quân bằng lòng cho đi. Ông lại nhờ tôi tiến cử những nhân tài đang sống ở Phú Xuân. Tôi bèn giới thiệu Trần huynh với Long nhương, ông thảo một bức thư nhờ tôi đưa giùm Trần huynh…
    Vũ Văn Dũng lấy trong người ra một cục sáp đưa Kỷ. Kỷ bóc dần sáp ra, bên trong có một lá thư viết trên giấy bản chữ nhỏ như con kiến. Kỷ giở thư ra đọc:
     “Tây Sơn Long nhương tướng quân Nguyễn kính trình Trần tiên sinh Nhã giám.
    Tôi nghe: Chim khôn chọn cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ. Hiện nay trăm họ lầm than, đất nước nghiêng ngửa chính là lúc những kẻ sĩ ưu thời mẫn thế phải ra sức vậy. Trộm nghe tiên sinh là bậc danh sĩ ở Nam Hà, bấy lâu vẫn lánh đời trốn tiếng, không ra gánh việc đời. Tiên sinh vui cảnh ẩn dật, không màng danh lợi, tỏ rõ là người có khí tiết đáng trọng, nhưng còn sinh dân thì sao? Nay Huệ tôi cùng với hoàng huynh vì thương dân sống trong vòng nước lửa nên phất cờ khởi nghĩa, muốn diệt bọn cường quyền để đưa dân chúng lên đài xuân. Chỉ mong tiên sinh sớm rời nơi lều cỏ, cùng bọn tôi chung lo việc cứu dân, giúp nước. Nếu được tiên sinh cộng sự thì việc lớn sẽ mau thành chẳng khác gì Nguyễn Ức Trai ra giúp Lê Thái Tổ, làm nên nghiệp ngàn năm, há chẳng hơn bó gối trong chốn lều tranh để thân thể cùng cỏ cây mục nát hay sao. Nếu tiên sinh vui lòng ra giúp đời thì xã tắc may lắm, sinh dân may lắm”.
    Đọc xong thư, Trần Chánh Kỷ băn khoăn nghĩ ngợi. Từ khi thất vọng vì họ Trịnh, Kỷ đâm ra hoài nghi, không tin vào những người nói là dân là vì dân, vì nước nữa. Biết đâu chỉ là những điều nói suông đầu lưỡi mà không xuất từ lòng dạ. Đến như Lê Quý Đôn là tay khoa bảng lại có tài kinh bang tế thế mà còn chịu bất lực, huống chi một dân cày ít học như Nguyễn Huệ. Từ trước đến nay vẫn đánh giá cao kẻ sĩ, ông không tin rằng những người nhà nông lại có thể làm nổi việc lớn. Lúc đầu ông cũng vui mừng khi thấy Tây Sơn nổi lên đánh chúa Nguyễn và Trương Phúc Loan, nhưng đến khi thấy Nguyễn Nhạc xin hàng Hoàng Ngũ Phúc, ông lại đâm nghi hoặc. Nếu lần này đánh Phú Xuân không được, họ lại hàng quân Trịnh nữa thì sao? Quê quán họ không phải ở đây, nếu thất trận thì họ rút về Quy Nhơn, còn ông quê cha đất tổ còn ở Thuận Hóa, sao có thể bỏ mà đi được. Nghĩ vậy ông nói với Dũng:
    - Đội thâm tình của Long nhương tướng quân và Vũ huynh, người không phải gỗ đá há không biết cảm động. Nhưng tôi bất tài, chỉ muốn được mang manh áo vải, cày ruộng nuôi thân, hay đóng cửa dạy trẻ cho trọn kiếp sống thừa mà thôi, chứ không có ý muốn chen chân vào việc đời nữa.
    Vũ Văn Dũng tha thiết:
    - Tôi được biết Trần huynh vẫn ôm bụng kinh luân, chỉ hiềm không có chỗ thi thố. Nay gặp được minh chúa là chuyện may mắn ở đời. Khuyên Trần huynh đừng nên cố chấp để uổng cái tài của mình.
    Trần Chánh Kỷ lắc đầu:
    - Ý tôi đã quyết rồi. Vũ huynh bất tất phải nói thêm nữa.
    Vũ Văn Dũng biết không thể ép được, liền từ tạ ra về, khi ra đến ngoài cửa than một câu:
    - Trước cứ ngỡ Vũ huynh là bậc thông đạt, ai ngờ Trần huynh cũng chẳng khác gì bọn hủ nho thời nay. Ta lầm rồi! Ta lầm rồi!
    Trần Chánh Kỷ kêu thất thanh mấy tiếng: Vũ huynh! Vũ huynh nhưng Dũng đã đi khuất.
    Đêm ấy, Trần Chánh Kỷ ngồi trằn trọc. Ông khêu to ngọn đèn, đọc lại bài Hoàng nam khúc của Hoàng Quang, một danh sĩ Thuận Hóa:
    “Giặc đâu nổi dậy xứ Chiêm
    Tây Sơn biện Nhạc nghĩ lầm Võ Thang
    “Phù mình diệt ám” tiếng vang
    Đã liều bủa sắt gan vàng quản chi
    Trong non khói lửa đen xì
    Cờ thì treo áo, binh thì rút cây
    Rủ nhau chuột lũ cáo bầy
    Vuốt nanh khách trú, cánh vai buôn bè
    Nực cười châu chấu chống xe
    Những ngờ chấu ngã, ai dè xe nghiêng
    Lớn oai sao nó chẳng kiêng
    Đầu còn chó gặm, sau liền kình ăn
    Tới đâu ngọc thạch câu phần
    Than rằng Thăng Điện ấy dân tội gì?”
    Lời thơ của Hoàng Quang so với lời kẻ của Vũ Văn Dũng vừa rồi thật khác nhau một trời một vực? Vậy thì đâu là sự thực? Từ khi hai người kết giao tới nay, Kỷ biết Dũng là người chân thành thẳng thắn. Dũng đã đến tận nơi, nhìn tận mặt chắc không thể sai được. Việc dân nghèo khắp vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận đều theo Tây Sơn, chứng tỏ họ được lòng dân. Còn việc ra hàng với Hoàng Ngũ Phúc biết đâu chỉ là kế quyền nghi cốt tạm yên mặt Bắc để lo về mặt Nam. Nếu bây giờ không tạm hòa với Trịnh, nhỡ quân Nguyễn kéo ra đánh thì Tây Sơn sẽ bị kẹp trong thế gọng kìm. Trong tình hình ấy, tạm hòa với Trịnh là kế sách khôn khéo để gạt bớt một kẻ thù trước mắt dồn sức vào việc tiêu diệt họ Nguyễn. Vả chăng, lúc ấy, quân Trịnh còn chưa lộ rõ bộ mặt tham tàn của chúng nên đánh bại chúng rất khó. Còn bây giờ, chúng đã thẳng tay bóc lột vơ vét của dân, khiến dân chúng vô cùng cực khổ. Năm Mậu Tuất , tháng Sáu nhuận, dân bị đói to. Thóc chứa trong đồn Động Hải, gạo khô không đều, thành ra mục nát không thể ăn được, phải vứt bỏ đi đến quá nửa. Những thứ tích trữ ở dân gian hầu như nhẵn nhụi, thêm vào đấy mấy năm hạn hán mất mùa, giá gạo cao vọt, một chén gạo trị giá một tiền, đầy đường những thây chết đói. Đã thế, họ Trịnh vẫn cứ sử dụng chính sách cai trị cổ truyền, dùng vũ lực đàn áp nhân dân để tha hồ vơ vét, tước đoạt tài sản của họ. Vì thế, nhân dân Thuận Hóa đã nhiều lần nổi dậy chống lại quân Trịnh.
    Trần Chánh Kỷ nhớ lại mùa hè năm Ất Mùi( ) khi Hoàng Ngũ Phúc huy động gần hết lực lượng quân Trịnh ở Phú Xuân vào Quảng Nam để truy kích quân Nguyên và đánh vào vùng quân Tây Sơn kiểm soát thì ở Hải Lăng có hai người lấy bút danh là Lâm và Mộc cầm đầu nhân dân địa phương nổi dậy chống lại họ Trịnh. Từ Hải Lăng, Lâm và Mộc đã liên kết với các cuộc nổi dậy lớn nhỏ ở các huyện Cam Lộ, Đăng Xương, Minh Linh rồi kêu gọi nhân dân khắp vùng Quảng Trị đứng lên phản kháng. Đông đảo nhân dân hưởng ứng nổi dậy diệt bọn quan lại, hào lý, làm chủ xóm làng. Tướng Trịnh là Bùi Thế Đạt hoảng hốt, vét hết lực lượng còn lại ở Phú Xuân và đích thân chỉ huy ra phối hợp với quân Trịnh ở Dinh Cát, Quảng Trị của Phạm Huy Đỉnh, tiến vào Hải Lân để đàn áp, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. Hai thủ lĩnh Lâm, Mộc và chừng vài trăm tướng sĩ khác bị bắn giết.
    Cuộc khởi nghĩa của Lâm và Mộc vừa bị đàn áp thì ngay trên vùng đất này, năm Bính Thân( ) Chu Viêm cũng cầm đầu nhân dân ở đây nổi lên chống quân Trịnh. Lợi dụng địa hình hiểm trở ở miền Tây Cam Lộ, Chu Viêm chọn làm căn cứ buổi đầu để tập hợp nghĩa quân. Được dân Cam Lộ, nhất là các dân tộc ít người ở đây tham gia đông đảo, dần dần Chu Viêm cho tiến quân xuống miền đồng bằng chiếm vùng ruộng đất trù phú của hai huyện Hải Lăng và Đăng Xương. Nhân dân trong vùng đã hưởng ứng gia nhập vào đội quân khởi nghĩa. Trấn phủ xứ Thuận Hóa là Bùi Thế Đạt phải cử viên tướng bậc nhất của Phú Xuân là Nguyễn Đình Đống chia quân làm hai đạo ra bổ vây Hải Lăng. Chu Viêm bị bắt, nghĩa quân tan vỡ.
    Cuộc khởi nghĩa của Chu Viêm vừa bị dập tắt năm Bính Thân thì bước qua năm Đinh Dậu( ) ở Quảng Bình nhân dân hai huyện Khang Lộc và Lệ Thủy nổi dậy chống chính sách cai trị hà khắc bóc lột tệ hại của họ Trịnh. Từ xa xưa, hai huyện Khang Lộc và Lệ Thủy là hai vựa thóc nuôi sống bè lũ thống trị ở Đàng Trong. Sau khi mở đất Gia Định màu mỡ, thóc của hai huyện đồng bằng này được xếp thứ nhì mức độ giàu có về thóc lúa so với các vùng đất khác ở Đàng Trong: “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện”.
    Khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, cắt đứt mạch lưu thông thóc gạo từ Đồng Nai ra, Phú Xuân lâm vào cảnh đói to. Trong thời buổi “gạo châu củi quế” đó, nông dân hai huyện Khang Lộc và Lệ Thủy trở thành cái đích chính cho họ Trịnh bóc lột, vơ vét. Chúng đặt tên Bùi Đình Châu làm giám quân coi việc thu thuế trong xứ Thuận Hóa. Bùi Đình Châu lại cử thuộc hạ là Bùi Lê Chiếu, đã dùng mọi thủ đoạn kể cả vũ lực dã man để cưỡng ép nhân dân nộp thuế. Trong tình hình quá cay nghiệt đó, dân chúng vô cùng phẫn uất đã gây nên cuộc bạo động nổi dậy đánh chiếm các ty sở cai trị trong vùng, làm chủ hai huyện Khan Lộc, Lệ Thủy. Bọn thống trị ở đây hoảng hốt bỏ chạy. Chính quyền ở Thuận Hóa bị rã rời, tê liệt, Phú Xuân bị cô lập. Thấy nguy nan, quân Trịnh khẩn báo về triều. Triều đình Thăng Long cử Hoàng Đình Thể giữ đồn châu Bố Chánh đem quân vào hợp lực đàn áp. Cuộc khởi nghĩa bị dập tắt nhưng có tác động rất lớn. Chúa Trịnh Sâm khiển trách Trấn phủ Phạm Ngô Cầu, bãi chức và thu hồi mọi tước lộc của tên Bùi Lê Chiếu, ra lệnh Phạm Ngô Cầu lấy thóc mà trước đó chúng đã vơ vét trong dân để tích trữ trong các kho ở Thuận Hóa đem phát cho dân để xoa dịu tình hình, cứu nguy cho chế độ họ Trịnh. Nhập hai châu Bắc và Nam Bố Chánh về thuộc châu Hà Hoa của trấn Nghệ An tách khỏi sự cai quản của Phú Xuân.
    Họ Trịnh đã vứt bỏ cái mặt nạ “nhân nghĩa” lúc đầu mà khai thác, bóc lột của cải của nhân dân Thuận Hóa trắng trợn, dã man như vậy thì việc họ đứng lên chống lại cũng là kẻ đương nhiên thôi. Nhưng những người nông dân chỉ có cày cuốc thì khó lòng chống lại được với bọn quân Trịnh có khí giới tinh nhuệ đầy đủ. Biết đâu việc quân Tây Sơn kéo ra chẳng như trận mưa xuân tưới cho cánh đồng khô hạn, như giọt nước mát lành cứu cho người chết khát.
    Vừa đi Kỷ vừa nghĩ, trước đây, Lê Quý Đôn cũng đã nhận ra những tệ trạng như: nạn sưu thuế, nạn cướp đoạt ruộng đất, nạn cho vay nặng lãi… và đề ra một số biện pháp để sửa đổi nhưng những biện pháp ấy không được chúa Trịnh chuẩn y và bọn quan lại thi hành, nên rốt cuộc uổng công vì không làm đến nơi, đến chốn. Chỉ có cách hủy thuế khóa, đốt văn tự như Tây Sơn đã làm, họa chăng mới chấm dứt được nỗi khổ cực của dân chúng. Nhưng trước đây, Kỷ vẫn cho rằng làm như vậy hơi quá khích. Đến nay, thấy dân chúng hoan nghênh cách làm ấy, Kỷ buộc lòng phải duyệt lại ý nghĩ của mình. Kỷ lờ mờ nhận ra rằng những người dân thất học ấy có lý hơn mình - một vị giải nguyên. “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, chỉ một quãng đường ngắn, ông đã biết thêm được bao nhiêu điều mới lạ, làm lay chuyển những tín điều đã có từ hàng ngàn năm trước. Ông bỗng nhớ đến một câu của Ức Trai: “Mến người có nhân là dân, chở thuyền hay lật thuyền cũng là dân”.
    Một đêm, có một cô gái xin gặp Trần Chánh Kỷ có việc cần cấp. Kỷ cho mời vào, đó là một thiếu nữ khoảng hai mươi tuổi, nước da bánh mật, khuôn mặt trái xoan, sống mũi dọc dừa, đôi mắt sắc như dao cau. Hỏi họ tên gì thì cô gái trả lời:
    - Tôi tên Lê Thị Vi - người nhà của tướng quân Vũ Văn Dũng.
    Trần Chánh Kỷ sửng sốt:
    - Vậy ra cô là người nhà của tướng quân. Chẳng hay Vũ tướng quân hồi này ra sao, có được mạnh giỏi không?
    Lê Thị Vi nói:
    - Thưa tiên sinh, Vũ tướng quân đang dò xét tình hình trong thành Phú Xuân, chẳng may có kẻ cáo giác với Hoàng Đình Thể là Vũ tướng quân mưu chuyện kia khác. Hoàng Đình Thể nói lại với Phạm Ngô Cầu. Ngô Cầu liền bắt Vũ tướng quân, dùng cực hình tra tấn nhưng Vũ tướng quân vẫn một mực không khai, nhờ vậy vẫn giữ vẹn toàn điều cơ mật. Khi tôi vào thăm Vũ tướng quân trong ngục, tướng quân có nhờ tôi thưa với tiên sinh là tiên sinh cứ vững tâm đừng lo lắng gì cả.
    - Vũ huynh bị bọn chúng tra tấn có đau đớn lắm không?
    - Bọn chúng dùng kìm nung đỏ rứt từng miếng thịt nhưng Vũ tướng quân vẫn cắn răng không khai một lời. Vũ tướng quân nhắn tôi đến thưa với tiên sinh, nếu có điều gì cần nói với Long nhương tướng quân thì tôi chuyển lời giùm tiên sinh.
    Kỷ ngạc nhiên:
     - Vậy cô sắp lên đường vào Quy Nhơn?
    Lê Thị Vi quả quyết:
    - Vâng, Vũ tướng quân đã liều mình vì dân vì nước. Tôi dầu thân gái phận hèn cũng quyết làm cho tròn cái chí của Vũ tướng quân.
    Trần Chánh Kỷ xúc động, một người con gái mà còn dám quên mình vì nghĩa huống hồ mình là kẻ nam nhi lại từng theo đòi nghiên bút. Ông run giọng nói:
    - Nay cô lên đường tôi không biết lấy lời gì đưa tiễn, chỉ xin chúc cô gặp nhiều may mắn. Nếu có gặp Long nhương tướng quân xin thưa giùm tôi một lời: Trần Chánh Kỷ này rất cảm tấm tình tri ngộ của tướng quân và hứa sau này sẽ có phen đền đáp. Khi tướng quân có việc gì cần sai khiến xin cứ báo cho biết, Kỷ này sẽ tới hầu.
    Vi cáo từ. Nhìn cô gái dáng đi thoăn thoắt như một người quen đi đường rừng, Kỷ thầm phục trong lòng. Kỷ nhớ trước đây có lần Dũng nói với mình:
    - Trần huynh đã hơn ba mươi tuổi đầu rồi, sao không kiếm lấy một người vợ mà còn kén mãi thế.
    Kỷ nói đùa:
    - “Thư trung nữ nhan như ngọc”. Trong sách có cô đẹp như ngọc rồi, tôi không cần lấy vợ ở ngoài đời nữa.
    - Anh định suốt đời ôm lấy quyển sách, không nghĩ đến chuyện lấy vợ để có người đỡ đần săn sóc việc nhà và con cái để nối dõi tông đường à?
    Kỷ cười:
    - Tôi định bao giờ gặp người đẹp như tiên tôi mới chịu lấy.
    Dũng thành thực:
    - Tôi thì tôi không có mơ ước cao xa như anh, chỉ cần người nết na lại tâm đầu ý hợp là được rồi. Mà tôi đã tìm được rồi đấy.
    Kỷ hỏi người đó là ai thì Dũng nhất định không chịu nói. Bữa nay nhìn Vi, Kỷ thấy Dũng quả là có con mắt tinh đời. Không phải cô không đẹp mà trái lại đẹp một cách mộc mạc, khỏe khoắn, tính tình lại thẳng thắn, sôi nổi, y như tính Dũng. Quả là họ cùng chung một chí hướng. Kỷ thầm khen hai người quả là đẹp đôi. Cô đã dám xông pha vào gian lao, nguy hiểm để tìm cách cứu người yêu, làm tròn nhiệm vụ mà người yêu giao phó. “Thuận vợ thuận chồng, bể Đông tát cạn”. Kỷ tin rằng nếu hai người đồng tâm hợp lực thì sau này thế nào họ cũng được chung thủy hưởng hạnh phúc bên nhau.
    Kỷ chạnh nghĩ đến cô Cầm. Giờ Kỷ đã tìm được người yêu đẹp như tiên như mình mơ ước. Nhưng nghĩ đến cô Cầm mà lặn lội ra Bắc Hà tìm cô để có thể chuốc lấy cái chết vô ích, hay là làm theo ước nguyện của cô, dành tấm thân giúp dân, cứu nước. Như cô Vi người yêu của Dũng đã lên đường đi tìm nghĩa quân Tây Sơn. Kỷ thầm nhủ: Dẫu cách mặt mà không xa lòng thì cũng như luôn ở gần bên nhau rồi.

    VII
    Đầu tháng Tư năm Bính ngọ( ) có chiếc thuyền buôn của người khách phương Bắc ghé vào Cửa Eo đến Thanh Hà ở Phú Xuân. Viên cai bạ Tàu ty ra xét hỏi thì người đó dâng trà biếu các viên cai bạ, tri bạ, cai phủ, ký lục rồi xin phép vào gặp quan Trấn phủ để dâng lễ vật. Viên cai bạ vốn là tay chân của Phạm Ngô Cầu, biết tính quan thầy tham lam nên vội cho lính dẫn người khách vào dinh.
    Tới nơi, người khách đưa những tấm gấm, đoạn, lĩnh, và đồ chơi dâng lên Ngô Cầu rồi nói:
    - Tôi là khách thương Quảng Đông có chút lễ mọn dâng trình quan Trấn phủ, mong đại nhân thương tình mà hạ mức thuế cho kẻ hèn được nhờ ơn.
    Trông thấy lễ hậu, Ngô Cầu thích ý vuốt râu cười:
    - Chú đã biết đến ta thì ta cũng mở lượng cho mà nhờ. Chẳng hay chú từ đâu tới, đi mất mấy ngày đường mới tới đây?
    Người khách đáp:
    - Bẩm tôi là người Quảng Đông, từ phủ Quảng Châu theo đường biển đến đây, may gặp cơn gió thuận nên chỉ ba ngày ba đêm là tới quý quốc.
    - Chú có những thứ hàng gì?
    - Bẩm, có sa, đoạn, gấm, vóc, vải, các vị thuốc, giấy vàng bạc, hương vòng, các thứ đồ giấy, kim tuyến, ngân tuyến, các thứ phẩm, y phục, giầy tốt, dạ, kính, pha lê, quạt giấy, bút mực, kim, cúc áo, các thứ bàn ghế, đèn lồng, đồ đồng, đồ sứ, đồ sành, ngoài ra là đồ ăn uống không thiếu thứ gì. Nếu quan Trấn phủ cần món gì tôi sẽ xin dâng tặng.
    - Chú định mua những thứ gì?
    - Tôi muốn mua hồ tiêu, đậu khấu, gỗ vang, hạt sa nhân, thảo quả, gỗ mun, hồng mộc, gỗ trác, hoạt thạch, sắt, phấn kẽm, kỳ nam hương, nhục quế, trầm hương, trân châu, đồi mồi, ngà voi, tê giác…
    - Ta có kỳ nam hương có thể bán cho chú nhưng chú định giá cả bao nhiêu?
    - Nếu đại nhân có kỳ nam hương, màu sáp trắng thì tôi xin mua hầu đại nhân hai trăm quan một lạng.
    Ngô Cầu nhớ lại lần hắn bán kỳ nam hương cho khách buôn Phúc Kiến chỉ được trăm hai mươi quan một lạng. Thấy giá hời hắn vội tìm cách giữ người khách ở chơi trong dinh chờ mua bán xong xuôi để mối lợi khỏi lọt ra ngoài, nhưng chưa kịp ngỏ lời thì người khách bỗng nhìn kỹ mặt Ngô Cầu một hồi rồi nói:
    - Nhìn nét mặt đại nhân hồng sắc có vượng khí, chắc sắp tới sẽ có tài phát lộc lớn.
    Ngô Cầu mừng thầm nghĩ người khách nói đúng vì nếu lần này mình bán trôi món kỳ nam hương cho người khách thì ít nhất cũng được mấy chục vạn quan tiền. Số kỳ nam hương này của dân hai phủ Bình Khang và Diên Khánh dâng nộp cho hắn chứ hắn có mất tiền mua đâu. Ngô Cầu hỏi người khách:
    - Thế ra, chú cũng tinh thông về tướng pháp hay sao?
    - Dạ tôi có biết sơ qua về tướng pháp nhưng xem tướng phải kết hợp với thuật số mới chắc chắn. Xin ngài cho biết ngày giờ tháng năm sinh, tôi sẽ lấy hầu ngài một lá số.
    Ngô Cầu nói:
    - Ta sinh năm Nhâm Tuất , tháng ba, ngày hăm nhăm, giờ Thìn.
    Người khách bấm đốt ngón tay một hồi rồi nói:
    - Hậu vận của ngài rất tốt, phúc lộc không sao kể xiết. Có điều hiện nay ngài đang gặp phải năm xung tháng hạn, cần đề phòng có sự ốm đau…
    Ngô Cầu lo lắng hỏi:
    - Liệu có cách gì qua được không?
    Người khách tính toán hồi lâu rồi trầm giọng:
    - Đã đành là số trời không sao tránh được nhưng nếu thành tâm cầu đảo thì sẽ được quỷ thần phù hộ tai qua nạn khỏi. Vào mùa thịnh hạ này ngài nên lập đàn mà sám hối cầu đảo, ắt mọi sự tốt lành.
    Ngô Cầu tin lời tức thì sai lập đàn chay linh đình ở chùa Thiên Mụ, cúng cấp luôn bảy ngày bảy đêm, mời các sư chay đàn tụng niệm liên miên không dứt. Binh lính trong trấn phải phục dịch suốt ngày thâu đêm, rất là vất vả. Trong và ngoài thành đều không phân bổ tướng sĩ tuần hành phòng thủ.
    Thình lình, thấy có tin báo bộ binh của Tây Sơn đã vượt qua đèo Hải Vân, tướng giữ đồn Hải Vân là Quyền Trung hầu Hoàng Nghĩa Hồ đã co về giữ đồn An Nông. Hiện nay, các đạo thủy binh của địch đang theo đường biển tiến ra, chỉ sớm tối sẽ đến đây.
    Ngô Cầu cuống quýt sợ hãi không biết xoay xở ra sao. Bấy giờ, lính thú phải phục dịch vào việc đàn tràng đã mệt, lại được tin “giặc” đã kéo đến thì đều kinh hãi hết hồn. Ngô Cầu gọi cho người đi tìm người khách thì không biết hắn đã biến đi đâu mất rồi. Bấy giờ, Ngô Cầu mới biết hắn là thám tử của Tây Sơn bày mưu xúi mình xao lãng việc binh để đánh úp.
    Bỗng có một tên lính mang vào trình một phong thư có sáp bọc kín:
    - Bẩm quan Trấn phủ, có người từ bên địch mang bức thư tới trước cửa dinh nói là dâng lên quan tướng.
    Ngô Cầu gỡ sáp ra thấy một tờ giấy bản viên tròn khi vuốt thẳng ra thì đó là một bức thư. Ngô Cầu đọc thấy thư viết như sau:
    “Kính trình Phó tướng Thể quận công Hoàng đại huynh nhã giám.
    Tiểu đệ cùng đại huynh trước ở trong cửa cụ Việp sau lại ở trong cửa cụ Huy bị bọn kiêu binh hại, tiểu đệ phải bỏ xứ mà trốn đi. Chẳng qua vì họ Trịnh hôn ám khiến nên kẻ bầy tôi lương đống bị mắc họa, tiểu đệ nhớ đến cái ơn truy ngộ của cụ Huy trong lòng đau đáu, thường dậm chân đấm ngực thẹn mình không làm được như Dự Nhượng thời xưa. Nay tiểu đệ đã mượn được viện binh của Tây Sơn, kéo về Bắc Hà báo thù cho chủ cũ. Nghĩ đến đại huynh có cái tình cố cựu nên muốn hợp sức với đại huynh làm điều nghĩa lớn. Nếu đại huynh nhận lời làm nội ứng mở cửa thành Phú Xuân cho đại quân kéo vào thì không những mối thù của chủ cũ đã trả được mà đại huynh cũng được hưởng phú quý vẹn toàn. Tiểu đệ chờ thư phúc đáp của đại huynh.
    Đệ Nguyễn Hữu Chỉnh bái thư”.
    Ngô Cầu đọc xong thư nghiến răng:
    - Ta vẫn ngờ là quận Thể có dị chí, quả nhiên đến nay đã thành sự thật. “Đúng là nuôi ong tay áo”.
    Rồi giữ lấy bức thư để làm chứng cứ bắt tội Thể, Ngô Cầu thầm cảm ơn trời đất run rủi cho tên đưa thư đi lạc vào dinh mình nên mình mới khám phá ra âm mưu của địch liên lạc với Thể, có ngờ đâu người đưa thư cố tình đi lạc để làm kế ly gián giữa Cầu với Thể, bức thư của Vũ Văn Dũng gửi Lê Thị Vi mang đến cho Nguyễn Huệ nói về mâu thuẫn giữa hai vị tướng giữ thành Phú Xuân cũng như tính chất mê tín, đa nghi của Ngô Cầu, đã giúp cho Nguyễn Huệ nghĩ được cách đưa Ngô Cầu vào bẫy.
    Ngày 24 tháng 5 năm Bính ngọ , quân thủy, quân bộ Tây Sơn từ đèo Hải Vân tiến đánh đồn An Nông. An Nông là đồn lũy kiên cố của quân Trịnh, là yết hầu của thành Phú Xuân, là chỉ huy của sở mặt trận bảo vệ phía Nam thành Phú Xuân do Quyền Trung hầu Hoàng Nghĩa Hồ đóng giữ.
    Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy nghĩa quân đánh vào đồn An Nông, nhưng An Nông có lũy cao hào sâu, phòng thủ rất kiên cố. Mỗi lần nghĩa quân đến gần đồn đều bị quân Trịnh phản công quyết liệt, các mũi tiến quân đều bị đánh bật trở lại. Thấy đánh mãi không hạ được, Nguyễn Huệ sốt ruột liền cho họp các tướng lại bàn bạc. Đô đốc Long đứng lên nói:
    - Bẩm Tiết chế, quân ta không đi đường ven biển mà đi đường Thượng đạo, qua An Khê, vượt đèo Mang, đèo Mang Giang, đi đường tắt xuất kỳ bất ý đánh úp đồn Hải Vân, quân Trịnh thấy quân ta chẳng khác gì từ trên trời rơi xuống nên không kịp đối phó mới tan vỡ nhanh chóng. Nay một số quân địch đã co lại giữ đồn An Nông, chúng đã có kinh nghiệm về trận thua lần trước nên ra sức cố thủ, ta không thể dùng mẹo bất ngờ mà thắng chúng được. Chỉ có cách bao vây chặt đồn An Nông, khiến quân trong đồn hết lương tự khắc phải ra hàng.
    Đô đốc Bảo tiến ra chắp tay thưa:
    - Bẩm Tiết chế, quân ta xuất binh quý ở thần tốc, nếu đánh mãi đồn An Nông mà không hạ được, không những quân ta đã nhụt nhuệ khí mà quân Trịnh ở Phú Xuân cũng đủ thì giờ phòng bị, đưa thêm viện binh từ Thăng Long vào thì ta khó mà thắng nhanh chóng được. Vì vậy, tiểu tướng cho rằng cái kế bao vây đồn An Nông cho đến khi quân địch hết lương ra hàng là không có lợi.
    Giữa lúc các tướng còn đang băn khoăn chưa biết tính cách nào thì Lê Thị Vi đứng lên nói:
    - Bẩm Tiết chế, thiếp được biết ông Trần Chánh Kỷ là người tài cao chí rộng, trước đây ông có hứa là khi nào nghĩa quân cần đến, ông ta sẽ xin hết sức giúp đỡ. Nay ông ta đang ở gần đây, sao Tiết chế không cho mời ông tới hỏi ý ông xem nên như thế nào, biết đâu ông chẳng có cao kiến đóng góp với ta trong lúc này.
    Nguyễn Huệ vui mừng:
    - Ta vẫn có lòng ái mộ Trần tiên sinh từ lâu. Vậy cô nương hãy thay ta đến gặp tiên sinh và thưa với ông rằng: đáng lẽ ta phải thân hành đến mời ông nhưng vì đang bận việc quân không đến được nên xin ông dời gót ngọc đến trại quân của ta để ta được hầu chuyện.
    Lê Thị Vi vâng lời, lập tức về Vân Trình tìm Trần Chánh Kỷ. Được lời mời, Kỷ liền tới trại quân Tây Sơn. Tới nơi, Kỷ nhìn thấy doanh trại nghiêm mật, quân sĩ đội mũ mao, mắc áo đỏ trông thật là uy nghi tề chỉnh.
    Nghe tin báo Trần Chánh Kỷ đã tới. Nguyễn Huệ cắm cờ đỏ có tháp lông gà nhuộm đỏ, vội thân hành ra đón. Trần Chánh Kỷ nhìn thấy một người cao lớn, tóc quăn, da sần, đôi mắt sáng như ánh chớp, tiếng nói sang sảng như chuông đồng biết đó là Nguyễn Huệ, Kỷ liền chắp tay vái:
    - Kính chào Thượng công Tiết chế.
    Nguyễn Huệ đáp lễ:
    - Kính chào Trần tiên sinh. Nghe nói Trần tiên sinh là người học vấn uyên thâm, bấy lâu ẩn cư nơi lều cỏ, Huệ này muốn mời tiên sinh ra cùng gánh vác việc lớn. Nay tiên sinh đã vì thương xót sinh dân và yêu mến nghĩa quân mà tới đây, Huệ rất lấy làm cảm kích. Xin mời tiên sinh vào đại bản doanh, ta sẽ cùng nhau đàm đạo.
    Nguyễn Huệ cầm tay Kỷ đưa vào trong trướng, sai quân sĩ dọn rượu khoản đãi. Cạn một tuần rượu, Nguyễn Huệ nói:
    - Thưa tiên sinh, nghĩa quân đánh đồn An Nông mấy ngày nay mà chưa hạ được, các tướng sĩ cho rằng quân Trịnh đã có phòng bị nên không thể dùng mẹo bất ngờ mà thắng chúng như trận đánh úp đồn Hải Vân vừa rồi. Chẳng hay tiên sinh có cao kiến gì giúp cho nghĩa quân hay không?
    Trần Chánh Kỷ mỉm cười khoan thai:
    - Tôi thấy vẫn có thể dùng mẹo bất ngờ.
    Nguyễn Huệ sốt sắng:
    - Xin tiên sinh cho nghe.
    Trần Chánh Kỷ nói:
    - Thượng công hẳn chẳng lạ gì, phép dùng binh phải khéo biến hóa, hư hư thực thực. Nay ta cứ hư trương thanh thế làm như là tập trung binh lực bao vây đồn An Nông để cho quân Trịnh trong thành Phú Xuân yên tâm không phòng bị, trong lúc đó đem thủy quân đến đánh úp thành Phú Xuân. Thành Phú Xuân ở ngay bên bờ sông, ta có thể dùng chiến thuyền tiến đánh được. Hạ xong thành Phú Xuân, khi đó ta quay lại đánh đồn An Nông thì thế như chẻ tre, đồn nào mà chẳng vỡ.
    Nguyễn Huệ vui mừng, giữ Trần Chánh Kỷ ở nơi màn trướng để cùng bàn việc cơ mật. Huệ nói với Kỷ:
    - Từ giờ trở đi tiên sinh là tham mưu của ta. Ta sẽ tâu hoàng huynh phong cho tiên sinh chức Trung thư Phụng chính, tước Kỷ thiện hầu. Để ghi nhớ buổi hội ngộ hôm nay, ta muốn tiên sinh đổi chữ lót tên Chánh thành chữ Văn, để tỏ lòng ta kính mộ một văn thân lỗi lạc. Từ nay tiên sinh sẽ mang tên Trần Văn Kỷ, chẳng hay tiên sinh có vui  lòng nhận hay không?
    Kỷ xúc động:
    - Đội ơn thượng công đã ban tên, thần xin bái nhận.
    Từ khi Phạm Ngô Cầu nhận được bức thư, đâm ra nghi ngờ sợ hãi, ngầm có ý muốn hàng Tây Sơn, liền dìm luôn bức thư đi vì sợ nếu nhận được thư, Hoàng Đình Thể sẽ ra hàng trước mình thì mình sẽ không được công với Tây Sơn.
    Bữa trước, nghe tin Tây Sơn đánh đồn An Nông mà không hạ được, Ngô Cầu tin rằng bao giờ Tây Sơn lấy xong đồn An Nông mới đánh tới thành Phú Xuân nên chưa thấy cần gấp gáp lo việc đối phó. Bỗng nghe tin đại quân Tây Sơn kéo đến bất ngờ, Phạm Ngô Cầu cuống quýt vội cùng Hoàng Đình Thể bàn cách chống cự.
    Phía trước, thành Phú Xuân kề bên bờ sông, từ mặt nước dưới lòng sông trông lên thành, chiều cao khoảng hơn hai trượng. Lúc ấy, thuyền Tây Sơn ở dưới sông bắn ngược lên, vì vậy không tới mặt thành. Trong thành, người ta cho đóng chặt các cửa, rồi dốc tất cả quân sĩ ở trên bắn xuống. Bộ binh của Tây Sơn phải lui cả vào trong thuyền. Trên thành bắn theo thuyền của Tây Sơn bị chìm một chiếc. Nguyễn Huệ bình tĩnh đôn đốc tướng sĩ vững thế trận. Lúc bấy giờ trời đã về chiều, thủy triều dâng lên dữ dội, nước sông tràn ngập quanh chân thành. Quân Tây Sơn thừa dịp thả thuyền tiến sát vào, bắn thẳng lên thành rồi cho bộ binh vây chặt cửa thành. Phạm Ngô Cầu bấy giờ mới tỉnh ngộ ra rằng đã sa vào mưu kế của địch, trong lòng tối tăm mù quáng, tự đem các toán quân ra giữ đồn lũy trong thành.
    Hoàng Đình Thể cùng thuộc tướng là Kiên kim hầu Vũ Tá Kiên đều đem quân bản bộ ra ngoài thành nghênh chiến, bày trận ở cầu Lạc Nô. Thể có hai người con trai cùng theo cha ra trận. Cửa lũy bốc cháy, cả toán cùng dựa lưng vào bờ thành mà dàn trận. Giao chiến vừa được hơn một trống canh thì tên đạn đều hết cả. Thể sai người vào trong thành xin thêm quân và đòi Ngô Cầu cấp phát cho thuốc đạn. Ngô Cầu ngồi trên lều thành sai người đóng cửa chặt lại mà cự rằng:
    - Cơ nào đội ấy, ngoài chế lộc khẩu phần từng người ra đều đã có tiền thuốc đạn, bây giờ lại còn đòi ai bao cả cho nữa?
    Thể giận lắm, liền bảo với các tướng:
    - Tên Cầu phản rồi! Để ta đánh phá cửa thành chặt lấy đầu thằng giặc già trước đã rồi sau sẽ ra đánh.
    Đoạn ngoảnh lại nói với các con:
    - Các con hãy đứng phía trước cản địch, ta vào một lát sẽ ra ngay.
    Rồi Thể co đầu voi quay vào. Voi vừa quay lại, thế trận tức thì rối loạn, quân Tây Sơn thừa cơ sấn đến. Hai con Thể quay ngựa xông lên phía trước, phất cờ thúc quân đối địch. Quân Tây Sơn trùng trùng điệp điệp kéo thêm đến, chém vào chân ngựa của hai người. Ngựa quỵ, hai người lại hoa đao đánh bộ, nhưng cuối cùng bị thương nặng và đuối sức, bèn gọi cha ra cứu.
    Thể vội quay voi đến cứu thì hai người đã bị chém chết ở trước trận. Liền đó Kiên kim hầu cũng bị giết chết.
    Thể thu quân, toan bày trận khác, nhưng ngoảnh đầu nom lên thành thì thấy bốn mặt đã kéo cờ trắng rồi.
    Tên quản tượng của Thể hốt hoảng, bỏ voi nhảy xuống đất chạy trốn. Quân Tây Sơn thúc voi xông vào bắn. Thể lùa voi xuống lòng sông tự vẫn ở trên bành voi. Đốc thị Nguyễn Trọng Đang cũng chết trong đám loạn quân.
    Phạm Ngô Cầu truyền mở cổng thành, xe theo quan tài ra hàng. Các lính thú trong thành chạy trốn ra ngoài xóm làng để xin trú ngụ. Nhân dân bấy lâu vẫn ghét bọn chúng hay sách nhiễu bắt bớ nên nhân dịp này đều chém giết chúng cho hả giận.
    Lê Thị Vi dẫn đầu một đội quân xông vào nhà ngục. Bọn lính canh ngục đều bỏ chạy trốn, nghĩa quân đạp toang cửa kéo vào. Lê Thị Vi nhìn thấy Vũ Văn Dũng ngồi tựa vách ngục, cổ đeo gông nặng, chân duỗi thẳng, cổ chân tra vào trong một cái cùm bằng gỗ lim rất chắc, lại có những vòng xích sắt quấn lòi tòi. Vi vội rút gươm chặt đứt xiềng, khóa rồi phá gông cửa cùm cho Vũ Văn Dũng. Nhìn Dũng mình mẩy đầy thương tích, hình dáng tiều tụy, Vi hết sức đau đớn. Cô nắm chặt tay Dũng, giọng nói lẫn lộn cả cười và khóc vì mừng mừng tủi tủi:
    - Vũ huynh! Gặp được anh em mừng quá cứ ngỡ là trong giấc mơ. Không ngờ kiếp này hai ta còn gặp nhau. Anh có đau đớn lắm không? Trời! Bọn chúng nó tra tấn anh ác độc như vầy kia à?
    Vũ Văn Dũng xúc động:
    - Không sao đâu em ạ. Gặp lại em anh thấy trong người khỏe hẳn, tưởng chừng lành lặn mọi thương tích. Mừng nhất là nghĩa quân ta đã thắng lợi vẻ vang. Chủ soái có ở đây không, em hãy đưa anh ra bái yết chủ soái để tạ ơn người.
    Vi vừa toan dìu Dũng đi thì Nguyễn Huệ đã bước vào, Huệ nói giọng hồ hởi:
    - Kìa! Vũ tướng quân! Nếu không nhờ có bức mật thư của tướng quân báo rõ tình hình trong thành Phú Xuân thì nghĩa quân e không chiến thắng nhanh chóng, dễ dàng được như vậy. Điều đáng quý nữa là tướng quân đã tiến cử cho ta một nhân tài của Thuận Hoá đó là ông Trần Chánh Kỷ. Ta thay mặt nghĩa quân cảm ơn tướng quân đã quên mình vì nghĩa lớn, giữ vững khí tiết, bất khuất trước kẻ thù, đem tài trí giúp nghĩa quân lập nên nghiệp lớn.
    Vũ Văn Dũng chân thành:
    - Tiểu tướng xin đội ơn chủ soái đã ra quân cứu cho Dũng này ra khỏi ngục tối, lại cứu vớt cho nhân dân Thuận Hóa ra khỏi cảnh lầm than. Việc tiểu tướng đã làm chỉ là bổn phận đối với nước nào có đáng kể vào đâu.
    Nguyễn Huệ nghiêm trang:
    - Xét công lao của tướng quân, ta phong cho ông chức Chiêu viễn đại tướng quân, ông hãy gắng lên để báo đền ơn nước.
    Trên khuôn mặt đầy vết thương của Vũ Văn Dũng bỗng sáng bừng. Dũng cảm kích nhìn chủ soái rồi quay lại vừa bắt gặp nụ cười sung sướng của Vi.
    Chiếm xong Phú Xuân, Nguyễn Huệ nhân đà thắng kéo quân về đánh đồn An Nông, thấy thành Phú Xuân đã mất, quân Trịnh trong đồn An Nông đều hoang mang sợ hãi không dám chống cự. Quân Tây Sơn tràn vào đồn, Hoàng Nghĩa Hồ bị chết trong khi xô xát.
    Nguyễn Huệ lại kéo quân ra lấy luôn đồn Cát Doanh và Động Hải. Tướng giữ đồn là Vị phái hầu cùng viên Hiệp trấn là Ninh Tốn đều chạy trốn. Thế là quân Tây Sơn lấy được cả đất Thuận Hóa. Bấy giờ là ngày 14 tháng 5 năm Bính ngọ.

     

    (còn tiếp)
    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Quyển 9 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.
    www.trieuxuan.info

     

     

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,164,300

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/