Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,411,007

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Thứ sáu, 10:01 Ngày 06/08/2021
  • Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

    Cô Cầm khép nép:
    - Đội ơn quân tử đã xót thương đến cảnh ngộ của thiếp. Cha mẹ thiếp mất sớm, người anh lại cờ bạc rược chè, bán hết gia sản của ông cha để lại, nên thiếp phải đem thân vào chốn giáo phường , học nghề đàn hát để mua vui cho người giàu sang cốt kiếm sống qua ngày. Tuy vậy, mỗi khi dứt cuộc vui, canh tàn rượu tỉnh, thiếp vẫn thầm đau xót cho phận hồng nhan, không tìm được ai là người đáng mặt anh tài để trao thân gửi phận. Nay gặp chàng ở đây phải chăng là do duyên trời run rủi, khiến thiếp gặp được khách tương tri.
    Nguyễn Du vui vẻ nói xen vào:
    - Vậy là “trai anh hùng gặp gái thuyền quyên”, nếu hai người sau này có thành duyên thì đừng quên bữa rượu mừng ông mối này nhé.
    Cô Cầm ngượng ngùng:
    - Cậu Chiêu cứ nói đùa chứ em làm sao dám sánh với bậc tài danh như Trần Giải nguyên.
    Trần Chánh Kỷ cả quyết:
    - Nàng đừng e ngại gì cả, tôi xin hứa với nàng, một mai công thành danh toại cũng không bao giờ quên nàng, quên lời thề vàng đá hôm nay. Nguyện có vầng trăng trên đầu chứng cho những lời của tôi.
    Cô Cầm xúc động:
    - Đội ơn chàng đã rộng lòng thương đến phận hèn, thiếp cũng xin hứa với chàng dẫu biển khô đá nát cũng không dám sai lời nguyện ước.
    Kỷ chân thành:
    - Xin nàng hiểu cho, tôi đang lênh đênh ở nơi đất khách, không có vật gì để làm sính lễ. Nếu khoa thi này mà tôi chiếm bảng vàng, sẽ xin đón nàng về, hai ta sẽ thành gia thất.
    Cô Cầm nghẹn ngào:
    - Một ngày là nghĩa, dẫu sau này cảnh ngộ có trắc trở đến thế nào chăng nữa, thiếp cũng không bao giờ quên tấm tình của chàng, quên được vầng trăng huyền diệu đêm nay.
    - Nàng có biết không, sáng nay cùng cậu Chiêu Bảy đi qua đền Bích Câu, tuy không khấn vái nhưng đã thầm cầu mong gặp được mối duyên giai ngẫu. Thì ra hai vị Tú Uyên, Giáng Kiều đã chứng giám cho lời cầu nguyện chân thành của tôi.
    - Năm trăm năm trước, một người con gái Thăng Long là nàng Huyền Trân đã lên đường vào miền trong, không ngờ hôm nay, đất Thăng Long lại được vinh dự tiếp đón một chàng trai từ Đàng Trong ra, mang theo âm hưởng của khúc nam bằng nặng tình non nước, Bắc Nam vốn là một nhà, chàng đừng ngại chi nỗi ngàn trùng xa cách, lòng thiếp bao giờ cũng ở bên chàng như bóng trăng kia.
    Hai người ngây ngất nhìn nhau, mắt nhìn vào mắt, hầu như quên cả ngoại cảnh. Đến khi nhìn lại thì Nguyễn Du đã tránh đi từ hồi nào. Chỉ có vầng trăng tròn vành vạnh, tỏa ánh sáng mơ mộng trên hạnh phúc thần tiên của họ.

    V
    Sáng hôm sau, ở nhà họ thức dậy, Trần Chánh Kỷ vẫn bồi hồi về cuộc gặp gỡ hôm qua. Trong một ngày mình đã gặp một người bạn chân thành là Nguyễn Du và một người tình tài sắc là cô Cầm. Trước Kỷ vẫn nghĩ các cô gái nơi phồn hoa đô hội thường hay bắc bậc kiêu kỳ, coi người bằng nửa con mắt, nhưng giờ đây Kỷ đã lọt vào mắt xanh một giai nhân tuyệt sắc của thành Thăng Long. Kể ra cô cũng có cặp mắt tinh đời, chỉ qua vài câu chuyện trò trao đổi đã biết Kỷ là người trung hậu và có chí khí. Tuy cô còn ít tuổi nhưng trong các tiệc hát đã gặp gỡ biết bao vương tôn công tử, vậy mà cô không hề để ý đến ai, đến nay chỉ thoáng qua đã nhận Kỷ nổi bật lên giữa đám người hỗn tạp kia, kể cũng lạ lùng. Thảo nào Nguyễn Du phải khen cô ta đã đoán ra anh hùng giữa trần ai, thế mới là già dặn. Có điều cô ta tuy từng trải, nhưng vẫn giữ được cái ngượng ngùng, e ấp của một cô gái con nhà nề nếp. Nghĩ như vậy, Kỷ lại thầm lo lắng cho cô, nếu mình không sớm thành danh để cưới cô về, e cánh sen lại vương vào bùn lấm. Giữa lúc nghĩ đến chuyện thi đỗ làm quan thì những lời Ngô Thì Nhậm chỉ trích gay gắt cái khoa học cử lại làm cho Kỷ tan giấc mộng. Ông đã làm quan vậy mà vẫn không mắc thói hủ lậu của quan trường, lại có những kiến giải sáng suốt, khác thường, biết đâu ông ta không đích là một nhân tài ở Bắc Hà này. Nhưng sao không thấy Nguyễn Nghiễm nhắc đến tên ông ta trong số những nhân tài Bắc Hà. Lúc bấy giờ Kỷ có rỉ tai Nguyễn Du hỏi về Ngô Thì Nhậm, thì được biết Nhậm đang làm tùy giảng dạy Thế tử Trịnh Tông học. Tuy Nhậm là con cụ Ngô Thì Sĩ, hai nhà ở sát cạnh nhau, nhưng Nhậm và Du không giao du với nhau vì tính Nhậm nghiêm chỉnh, đứng đắn trong khi Du lại chơi bời, phóng túng. Cái chí của hai người đã khác hẳn nhau nên họ không thân với nhau là phải. Cũng vì thế mà Du cũng không biết gì thêm về Nhậm, hơn nữa Nhậm với Nguyễn Lệ lại có hiềm khích với nhau, nên không bao giờ Nhậm bước chân sang nhà họ Nguyễn Tiên Điền. Kỷ định bụng sẽ có dịp tới thăm Ngô Thì Nhậm để thử xem ông ta có đúng là người tài trí hay không?
    Riêng về tài thơ thì phải nhận là Nhậm thua kém Nguyễn Du. Bài thơ Vịnh hoa sen của Nhậm tuy ý tứ mới lạ nhưng chưa có tình cảm sâu sắc như thơ Nguyễn Du. Thơ Nhậm nói lên chí nguyện của người đem tài ra giúp dân nước, trong khi thơ Nguyễn Du lại ánh lên cái tâm của một nhà thơ lo đời, thương người. Nguyễn Nghiễm không nhắc đến Nguyễn Du, có thể là do tỵ hiềm không muốn khoe con mình trước mặt người khác cũng có thể là chưa hiểu hết tài năng và tâm hồn của một người ở thế hệ khác với ông. Nhưng sao ông lại nhắc đến Nguyễn Thiếp, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự? Kỷ thầm nghĩ: Nếu nhân tài mà là người ở ẩn như Nguyễn Thiếp thì cũng khác gì Ngô Thế Lân liệu có ích gì cho đời. Còn văn chương mà chỉ dùng đối đáp với nhà Thanh như Nguyễn Huy Oánh thì cũng chưa phải là điều cấp thiết trong lúc này. Ta thử đọc văn chương Nguyễn Huy Tự xem sao.
    Về đến quán trọ, đêm đó Trần Chánh Kỷ khêu đèn lên đọc truyện Hoa tiên. Điều Kỷ tâm đắc nhất là Nguyễn Huy Tự viết bằng chữ nôm. Có nhiều đoạn Kỷ đọc cũng phải gật gù khen hay:
    “Song hồ nấn ná thôn dâu
    Thẻ rồng xuân điểm, ngày thâu chìm chìm
    Lối thơm khi nhẹ gót tìm
    Mùi hoa như rước, tiếng chim ngỡ chào
    Dợn đào mảnh mảnh bông đào
    Mặt xuân ưa ngắm khác nào hoa xuân”
    Đọc thơ tưởng chừng hiện lên trườc mắt cảnh vườn hoa tường gấm nhà Nguyễn Nghiễm mà Kỷ vừa dạo qua. Đến đoạn này mới thật là tiêu tao rất mực:
    “Nhớ ngày nào liễu mới giâm
    Le le bên vũng độ tầm ngang vai
    Chợt đâu cội cả cành dài
    Đã sương, đã khói, đã vài năm nay
    Xuân sang lục mới khoe mây
    Thu về vàng đá ố tay lạ gì”.
    Ngỡ như màu cúc hoa vàng dây ố bàn tay mình! Văn hay thế này chẳng trách được một cô cháu gái Nguyễn Nghiễm đem lòng say mê thầy đồ tư dạy học trong nhà mình, đến nỗi phải gả cô cho Nguyễn Huy Tự.
    Vì mê văn chương nên Kỷ đọc một hơi dài hết cuốn truyện. Đọc xong gấp sách lại, Kỷ bỗng thấy băn khoăn, văn Hoa Tiên tuy trang nhã nhưng vì quá chải chuốt nên đọc lên cảm thấy lạnh lùng, không làm xúc động lòng người. Nếu chỉ đem tài văn chương hoa gấm ra thêu dệt những câu chuyện diễm tình nơi cửa tía, lầu hồng phỏng có ích gì cho dân, cho nước trong lúc nước sôi, lửa bỏng. Nếu nhân tài Bắc Hà mà chỉ có những người như thế này thì dân nước biết trông cậy vào đâu.
    Hôm sau, Trần Chánh Kỷ tìm đường đến Phạm Vĩ Khiêm. Khi đó Khiêm đang làm chức Hàn lâm viện hiệu thảo kiêm Quốc sử toản tu.
    Đọc xong bức thư giới thiệu của Nguyễn Nghiễm, Phạm Vĩ Khiêm cười:
     - Bữa trước gặp quan bác trong tiệc nhưng chưa có dịp trò chuyện. Chẳng hay tình hình Phú Xuân hiện nay ra sao?
    Trần Chánh Kỷ kính cẩn:
    - Dạ, thưa đại nhân, tình hình Phú Xuân vẫn như hồi đại nhân còn trọng nhậm ở đó. Được đọc bài Đêm mưa cảm tác của đại nhân tôi rất thích những câu thơ tả cảnh thành Phú Xuân như: “Quân gầy trại lính nhìn ngao ngán. Dân đói đường quan chết dãi dầu”. Lại bài Cám cảnh dân cư tan tác, có những câu: “Cửa đầy bụi cát lầm xương cỏ, người thiếu hơi cơm nửa cháo rau”, chứng tỏ đại nhân có lòng thương dân Thuận Hóa sống cảnh lầm than.
    Phạm Vĩ Khiêm khiêm tốn:
    - Đó chẳng qua là tức cảnh sanh tình mà thôi, còn văn chương tôi vốn thô dụng thật thà, xin quan bác đừng quá lời khen khiến tôi thêm hổ thẹn.
    - Không, đọc những câu thơ ghi chép sự thực như vậy lại chan chứa tình người, tôi thấy xúc động hơn đọc những câu thơ hoa mỹ như văn Hoa Tiên của ông Nguyễn Huy Tự.
    Phạm Vĩ Khiêm cảm kích:
    - Sinh bình tôi muốn học theo lối thơ của Bạch Cư Dị, ghi chép thực trạng của dân để giúp cho nhà cầm quyền biết rõ mà sửa đổi cách cai trị khiến dân được yên ổn. Vì vậy trong bài Cám cảnh dân cư tan tác, tôi viết:
    “Ấy cũng dân ta một cõi trời
    Trăm năm chìm đắm những thương ôi;
    Mắc vòng Mãng Tháo, mồi chim két
    Trong thế Tề, Trần, kiếp lợn nuôi!
    Đói kém can qua không thể cưỡng,
    Giày vò than bụi mãi chưa thôi.
    Việc đời như nước sông trôi thẳng,
    Chỉ có lòng nhân mới vãn hồi”
    Ý tôi muốn nói Nam Bắc cũng là dân một nước phải thương xót lấy nhau, sự thế nay cuồn cuộn như dòng nước chảy dài, chỉ có nguồn nhân là vãn hồi được thôi. Cũng vì thế mà khi ở bên cạnh Việp công và Dĩnh thành hầu, tôi đều khuyên hai ông phải đem lòng nhân mà đối xử với dân.
    Kỷ hỏi:
    - Việp công thì tôi được tin là đã mất rồi, còn Dĩnh thành hầu thì từ khi về kinh đến nay ra sao?
    - Lê công ở Thuận Hóa làm được một số việc, nhưng sau đó bọn gian thần sàm tấu là Lê công tự ban ơn đức mua chuộc lòng người hòng gây thế lực riêng, nếu không đề phòng e có ngày sinh biến. Thế là nhà chúa cho triệu Đoan quận công và Dĩnh thành hầu về kinh, sai Tạo quận công thay chức trấn phủ cho phép tùy tiện thi hành mọi công việc. Theo tôi biết thì Tạo quận công là kẻ nhút nhát, chỉ khéo chiều lòng người trên mà thôi.
    Trần Chánh Kỷ thầm nghĩ, một người thật lòng lo lắng cho dân như Lê Quý Đôn lại bị nhà chúa nghi ngờ triệu về, thay vào đấy bằng kẻ xu nịnh như Phạm Ngô Cầu thì dân Thuận Hóa còn trông mong vào đâu được nữa.
    Phạm Vĩ Khiêm nói tiếp:
    - Vừa đây, trấn thủ Sơn Tây là Nguyễn Lệ( ) tâu về triều trong khi Lê công làm quan coi Hộ phiên xét viên quản thủ mỏ đồng Tụ Long là Hoàng Văn Đồng về tội thiếu thuế, đã đòi Văn Đồng phải hối lộ ba ngàn lạng bạc. Văn Đồng đút lót cho người giữ ngục được thoát ra, về nhà dấy quân làm phản, nhân lúc sơ hở, kéo quân xông thẳng vào phố Tam Kỳ. Trấn thủ là Nghi trung hầu đóng cửa thành, chống giữ. Triều đình hạ lệnh cho Nguyễn Lệ đem quân cứu viện Tuyên Quang. Khi quân Nguyễn Lệ kéo đến, Văn Đồng rút lui chạy trốn. Lệ sai người dụ bảo Văn Đồng đầu hàng, Văn Đồng bèn mượn cớ đổ tại Lê công đã sách nhiễu đòi y phải nộp hối lộ ba ngàn lạng bạc nên y mới phải làm loạn. Nguyễn Lệ đem việc này tâu về triều, triều đình đều đổ xô vào buộc tội cho Lê công nên Lê công đã bị giáng chức.
    Kỷ lại hỏi:
    - Thế ông Nguyễn Lệ là người thế nào?
    Phạm Vĩ Khiêm ngó trước, ngó sau rồi nhỏ giọng:
    - Nói thật cho quan bác biết, ông Nguyễn Lệ chỉ nhờ có ông thân là cụ lớn Xuân quận công mà thi đậu tiến sĩ thôi. Còn làm quan to là nhờ cái công hầu nhà chúa. Khi nhà chúa hiện nay còn ở Lượng quốc phủ thì ông Nguyễn Lệ làm phiên liêu, hằng ngày được vào hầu yến trong nội cung. Chúa thân thiết xem như bạn áo vải. Sau đó, ông Lệ được thăng làm Tri phiên liêu kiêm quản Nhất hùng cơ, tước Kiều nhạc hầu. Chúa lại thích đi ngự chơi, lúc đi thưởng hoa, lúc đi câu cá, thế nào cũng đón ông Nguyễn Lệ cùng đi. Khi trở về thì lại mặc áo chẽn tay hẹp ra vào nơi cung cấm, nhà chúa đặc ban cho ông được đi lại ra vào không khác gì quan nội giám. Khi nhà chúa thưởng ca, thường sai Nguyễn Lệ ngồi hầu, ông được đội khăn lương, mặc thường phục ngồi ngay bên cạnh, cầm chầu điểm hát. Những ngày rỗi, chúa lên ngự chơi Tây Hồ, thị thần vệ sĩ bày hàng quanh cả bốn mặt hồ, nhà chúa chỉ cùng với bà Đặng Tuyên phi cùng ngồi trên thuyền mà Nguyễn Lệ thì ngồi hầu ngang trước mặt, cùng thưởng lãm cười nói, không khác gì bạn bè, người nhà. Trong cung có bày bể cạn núi non bộ và cảnh hoa đá gì đều phải qua tay ông Nguyễn Lệ sửa sang thì mới vừa ý nhà chúa. Nhà chúa lại thường sai ông đi sửa sang các hành cung ở Châu Long, Tử Trầm, Dục Thúy. Ông có tài đục nặn núi đá, vẽ vời phong hoa nên thường được nhà chúa ban khen. Ông lại thích nghề hát xướng, sành âm luật, thường đặt những bài hát nhạc phủ ra làm bài hát mới, viết xong bài nào thì những nghệ sĩ ngoài giáo phường tranh nhau truyền tụng.
    Trần Chánh Kỷ thầm nghĩ nếu vậy thì Nguyễn Lệ cũng là một người có tài, nhưng đó là cái tài của một nghệ sĩ chứ không phải của một người cầm quyền trị nước. Kỷ chợt nhớ đến câu Tô Hiến Thành trả lời Thái hậu nhà Lý: “Nếu Thái hậu cần người hầu hạ thì tôi xin tiến cử Võ Tân Đường, còn Thái hậu cần người giúp nước thì tôi xin tiến cử Trần Trung Tá”. Cái sai lầm của chúa là ở chỗ đặt một người chỉ giỏi hầu hạ vào ngôi vị một bầy tôi lương đống.
    Phạm Vĩ Khiêm vui miệng nói tiếp:
    - Có mấy chuyện cũng khá thú vị. Ông Nguyễn Lệ khi đang làm quan thường xin phép nghỉ nhà, nhà Chúa có đưa cho bài thơ nôm rằng:
    “Đã phạt năm đồng bỏ lỗi chầu
    Lại phạt năm đồng bỏ thiếu câu
    Nhắn nhủ ông bay về nghĩ đấy
    Hãy còn phạt nữa chửa thôi đâu”
    Vì khi ấy buổi ngoại chầu và buổi ngự câu, ông đều đang lúc nghỉ, không tới hầu ngự được nên đều bị phạt năm đồng. Nguyễn Lệ có họa lại bài thơ ấy rằng:
    “Váng vất cho nên phải cáo chầu,
    Phiên chầu còn cáo lọ phiên câu.
    Trông ân phạt đến là thương đến
    Ấy của nhà vua chớ của đâu”.
    Nhà chúa lấy làm khen. Một ngày kia, trong nhà Nguyễn Lệ bày cuộc yến tiệc thiếu trà uống, chợt quan Trung sứ có việc ra nhà ông, ông không làm kịp tờ khải, chỉ viết tay mấy chữ rằng: “Thần Khản( ) khất trà nhất hạng”. Quan Trung sứ đem về dâng, nhà chúa ban cho một hòm trà. Được ít lâu, ông được vào tham tụng phủ đường, cha con cùng ở trướng phủ, xưa nay chưa có biết bao giờ.
    Trần Chánh Kỷ thầm nghĩ, bữa trước gặp Nguyễn Nghiễm, mình còn thất vọng về ông ta, huống chi Nguyễn Lệ khí cục còn tầm thường hơn ông bố. Một người chỉ có tài hoa vặt lại xu nịnh như Nguyễn Lệ mà đứng ra buộc tội Lê Quý Đôn thì chắc gì Quý Đôn đã có tội. Nhất là lời một kẻ hiện nay đang đứng ở phía chống đối cũng chưa có thể tin ngay được. Biết đâu đó chẳng là kế ly gián trong nội bộ triều đình. Nếu chúa thích nghe lời gian tà xu nịnh thì người tài giỏi bị gièm pha vu hãm là chuyện thường. Không tiện đi sâu vào những chuyện cơ mật của triều đình, Kỷ lảng sang chuyện khác.
    - Tôi nghe nói khoa này đại nhân lại ra thi hội. Thiết nghĩ đại nhân đã làm quan lâu ngày rồi, hà tất phải thi làm gì?
    - Quan bác không hiểu. Thói đời ở Bắc Hà vẫn trọng khoa hơn trọng hoạn, nhiều người làm quan to mà không đỗ đại khoa vẫn bị người ta coi thường. Đầu đời Trung hưng có cụ Phùng Khắc Khoan đã là bậc công thần tham mưu chốn cơ mật, từng giữ những trọng chức ở các bộ, các tự mà còn phải hạ mình xuống chốn trường thi, cầu lấy đỗ đại khoa mới cho là vinh. Ông Lương Hữu Khánh sự nghiệp văn chương cũng suýt soát với Phùng công, chỉ vì khi còn bên nhà Mạc, bị các quan Lễ vi chủ khảo đè nén, ông không chịu vào thi đình, vậy nên không đỗ đại khoa. Đến khi về triều theo Lê triều, trải qua những chức trọng yếu, thể diện ông đã tôn rồi, nên ông không thèm ganh đua với các nhà cử tử nữa. Các nhà chép sử nghĩ rằng ông không phải là bậc đại khoa, lược bỏ mà không chép đủ. Sau này, ở Mộ Trạch có ông Võ Duy Chí, Thanh Lâm có ông Nguyễn Đình Phái đều là bậc danh thần một thời mà xét ở trong sử thì không nói đến một chút sự trạng nào cả, chỉ vì các ông không đỗ đại khoa. Vì thế mà tôi mới phải cố gắng đi thi đấy chứ.
    - Sao trước đại nhân không đi thi mà đến tứ tuần mới đi?
    - Tôi đã đi thi nhiều khoa rồi đấy nhưng vì các quan chủ khảo ở Lễ vu cho tôi là hay khí khái, trái ngược với đời nên hễ thấy quyển nào nghi là văn của tôi thì đánh hỏng, vì vậy đến nay tôi vẫn lận đận chưa đỗ. Chuyện của tôi cũng chẳng khác gì chuyện của Ngô Thì Sĩ.
    - Chuyện cụ Ngô thế nào?
    - Cụ Ngô Thì Sĩ nổi tiếng là bậc hay chữ, bị bọn quan đương thời ghen ghét, khi đến thi hội thì các khảo quan tìm mò, dò xét hễ thấy quyển nào giọng văn hơi giống thì bảo nhau rằng: “Quyển này hẳn là khẩu khí Ngô Thì Sĩ” thế là họ hết sức bới móc, đánh hỏng đi. Đức Nghị Tổ( ) biết có cái thói tệ ấy, nên đến khi thi cử xong rồi, truyền đem quyển hỏng của Ngô Thì Sĩ ra duyệt lại, các khảo quan bấy giờ nhiều người bị truất phạt, nhưng vẫn không cấm được cái tệ ấy. Khoa Bính tuất, Ngô công bị bệnh tả, khi vào thi trường đệ tứ, phải cố làm qua loa cho xong quyển. Khảo quan chấm quyển bảo rằng, “Quyển này kim văn thì luyện đạt lắm, đúng là văn hội nguyên, nhưng văn khí hơi yếu, không phải là giọng văn Ngô Thì Sĩ”. Khi chấm đến quyển ông Nguyễn Bá Dương lại bảo nhau rằng: “Quyển này văn khí mạnh mẽ khác thường, nhưng kim văn lại kém, Thì Sĩ tất không làm như thế”. Vì họ hồ đồ không biết đích quyển nào là văn Ngô Thì Sĩ mà đánh hỏng, nên cụ Ngô mới chiếm hội nguyên.
    Hai người cùng cười.
    Trần Chánh Kỷ định hỏi về cách thức khi vào trường thi, nhưng thấy Phạm Vĩ Khiêm nói về những chuyện không hay của quan chấm trường nên thấy mất hứng xin cáo từ. Phạm Vĩ Khiêm nói:
    - Chẳng mấy chốc anh em ta gặp nhau ở cửa trường thi. Chúc quan bác phen này đậu cao để làm danh giá cho đất Nam Hà.
    Kỷ về đến nhà trọ, Kỷ đã thấy nhiều sĩ tử ở các nơi đến trọ. Thấy trong số đó có một người già cả, Kỷ mời sang phòng mình ngồi chơi, gọi lấy rượu và thức nhắm để cùng thù tạc. Kỷ hỏi họ tên được biết người đó là Trần Huy Liễn, vốn là chân huấn đạo, người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm.
    Rượu ngà ngà say, Kỷ hỏi Trần Huy Liễn:
    - Huynh ông thi khoa này là khoa thứ mấy?
    Trần Huy Liễn cười:
    - Tôi thi hội khoa này là khoa thứ tám, hai mươi bốn năm nay khoa nào tôi cũng thi mà vẫn chưa đỗ đại khoa, vì ở bên trong còn có nhiều điều khuất tất, những người quyền quý đều đem vàng bạc đút lót cho con mình thi đỗ nên nhiều người tài hẳn hoi mà vẫn trượt vỏ chuối. Ngay như vị quốc lão Hoàn quận công , người ta bảo khi ông ta vào thi hội, bài văn sách là hợp sức sáu người văn sĩ làm giúp, vì nể ông thân sinh ra ông là Tham tụng quận công Hiệu, nên các quan trường phải cho ông đỗ. Năm Mậu Tý, các ông Ngô Duy Viên, Phạm Vĩ Khiêm, Nguyễn Trọng Đang cùng là bạn thân thiết với nhau, thường họp nhau ở Cầu Dát trên sông Tô Lịch để làm văn, rồi lại cùng bình duyệt lẫn cho nhau. Một hôm, soạn ra một đầu đề, rồi cùng bảo nhau rằng: đầu đề này hợp thời nghi lắm, anh Đặng Điền Phạm lâu nay đã được nhà chúa biết tiếng, nếu khoa hội thi sau này mà được triệu vào soạn đề thi nên nhớ đến đầu đề này. Từ bấy giờ không họp nhau làm văn nữa. Gặp khi ấy, có một anh chàng sơ học thiếu niên ở nhà bên cạnh, nghe lỏm nhưng không dám nói ra. Đến khoa hội thi năm Kỷ sửu, vào kỳ đệ tam thì ông Phạm Vĩ Khiêm phải bị đánh hỏng. Khi vào kỳ đệ tứ thì ngự đề ra chính đúng vào bài văn làm trước, bởi vậy hai ông Ngô Duy Viên và Nguyễn Trọng Đang đều đỗ đại khoa.
    - Vậy ra, chính ông Phạm Vĩ Khiêm đã gợi ý đầu đề này cho nhà chúa?
    - Chuyện ấy cũng không biết ra thế nào. Khoa Mậu tuất, qua quốc lão Nhữ Công Toản có người công tử thứ ba là Công Vũ vào kỳ đệ nhị sau đỗ đầu, trong quyển có bốn chủ “phương phương chủng chủng”. Đến cậu công tử thứ tư tên là Công Chân khi thi khoa Nhâm thìn trong bài tứ lục cũng có những chữ ấy. Ông Nguyễn Bá Dương đã từng trích những câu ấy ra để tố cáo với nhà chúa, song nhà chúa cũng không hỏi đến.
    Kỳ thi hội năm Ất mùi, ông Võ Duy Nghi sung làm khảo quan nội trường mà ông Nguyễn Quốc Ngạn vốn là kẻ học trò ông trước. Nguyễn Quốc Ngạn khi nhỏ cũng có thụ nghiệp học ông Nguyễn Huy Vượng. Gần đến kỳ thi, ông Huy Vượng có đến thăm Quốc Ngạn để mật hỏi những điều sư truyền tâm ấn, nghĩa là dò xem quan thầy chủ khảo có bảo gì không. Quốc Ngạn hết sức biện bạch là không có. Huy Vượng tức mình ra cửa than rằng: Danh lợi có làm suy đốn lòng người tệ lắm thay! Chỗ thầy trò mà cũng không thể lấy tình cảm động được, huống chi là người khác. Quốc Ngạn nghe tiếng mới mời Huy Vượng ở lại nghỉ chơi. Khoa ấy ông đều đỗ cả. Sau ông Nguyễn Bá Dương có dâng sớ khải lên đàn hặc việc ấy. Nguyễn Bá Dương cũng chỉ trích khoa Ất mùi vừa qua có đến 16 quyển văn sách, trong quyển có câu “trích chu bách độ” là câu dặn để làm dấu, song đều không hỏi đến cả.
    - Huynh ông đã biết thi cử có nhiều chuyện gian lận như thế, sao còn cố sức đi thi làm gì nữa?
     Trần Huy Liễn ngậm ngùi:
    - Tôi có mẹ già đã tám mươi tuổi, mà thi hương đỗ chỉ được bổ huấn đạo, lương bổng làm sao đủ nuôi mẹ già. Làm huấn đạo còn bị bọn phủ, huyện chèn ép, bao giờ mới ngóc đầu lên được! Vì vậy, tôi quyết dùi mài kinh sử đỗ cho bằng được đại khoa, để trả đũa bọn phủ, huyện từng đè nén mình mới hả.
    Trần Chánh Kỷ càng nghe càng ngán cho cái thói ham danh lợi của người đời. Lúc này, lòng ông bỗng nguội ngắt về chuyện thi cử, không cảm thấy hào hứng như buổi đầu nữa. Bây giờ, ông thầm nghĩ lời Ngô Thế Lân nói vậy mà đúng. Cần phải biết căn bản của gỗ tốt hay xấu chứ đừng nên hỏi có cách trị mọt hay không. Nếu ở Đàng Trong có bọn Trương Phúc Loan sâu mọt thì ở Đàng Ngoài cũng có kẻ như vậy.
    Hỏi dò về vụ án Lê Quý Đôn, Kỷ biết Hoàng Văn Đồng trước là chủ mỏ đồng ở Tụ Long, châu Vị Xuyên, Tuyên Quang. Công trường khai mỏ có hàng vạn thợ làm thuê. Mỏ đồng mỗi năm nấu được bốn, năm chục vạn cân. Để kiếm được nhiều lời đồng thường cho đem quặng sa hoặc chì trộn lẫn vào quặng đồng. Đồng bán ra chất lượng xấu nhưng nhiều mà giá cao, trong khi đó thuế khai ít đi. Ngoài ra hắn còn chiếm đất, chiếm rừng, thu thuế ruộng, Đồng giàu có nhất thiên hạ, kho tàng của cải không biết bao nhiêu mà kể. Đồng bỏ tiền mua chuộc trấn phủ Tuyên Quang, các quan địa phương người nào chính trực thì Đồng tìm cách vu cáo để người đó bị bãi chức, người nào tham nhũng bị Đồng lôi kéo làm tâm phúc. Khi Lê Quý Đôn xét việc này, ra lệnh bắt Đồng giam cầm tra khảo, Đồng dâng lên một trăm nén bạc để xin chuộc tội, Lê Quý Đôn đem số bạc đó nộp nhà chúa, chúa truyền tha cho Đồng. Đến khi Đồng khởi loạn, bọn quan lại bất tài không đánh dẹp nổi, đổ lại tại vì Lê Quý Đôn làm việc ấy mà gây biến xin giáng chức để lấy lòng Đồng.
    Như vậy đã rõ ràng: dân hối lộ cho quan, quan lại trích một phần hối lộ cho chúa, để chúa lấy tiền đó mà ăn chơi xa xỉ. Chúa chính là con sâu mọt lớn nhất. Đã thế chúa còn thiếu sáng suốt, nghe lời kẻ gian nịnh mà trị tội những người trung trực. Lúc này Kỷ mới vỡ ra một điều: có tôi hiền còn phải có chúa sáng. Nếu không có chúa sáng thì dầu có nhân tài cũng không làm nên trò trống gì mà có khi còn thiệt thân, uổng mạng!
    Trần Chánh Kỷ nảy ra ý định không thi hội mà bỏ về Phú Xuân. Nhưng lại ngại tên mình đã ghi trong số thí sinh do xứ Thuận Hóa đệ nộp ra kinh, nếu bỏ không thi, triều đình cho là mình có ý khác thì thân mình khó yên được.
    Mấy hôm sau, có tờ bố cáo nói vì sau nạn hạn hán, dân bị đói to, lại có giặc biển nổi dậy ở vùng Đông nam cho nên khoa thi hội phải hoãn lại, Trần Chánh Kỷ không hiểu ý tứ thế nào. Sau hỏi dò mới biết chúa Trịnh từ lâu đã có chí toan cướp ngôi vua Lê. Năm ấy, nhân kỳ tuế cống, chúa Trịnh làm tờ biểu mật tâu với triều đình nhà Thanh nói nhà Lê không có người con cháu nào hiền tài xin cho mình là cháu ngoại lên thay, rồi sai Vũ Trần Thiệu đi sứ, căn dặn Trần Thiệu đem việc ấy vào tâu với nhà Thanh. Lại sai nội giám cùng đi để dâng của đút và xin phong tước.
    Vũ Trần Thiệu đang làm chức Lại thị đô đài, khi ấy đã ngoài sáu mươi. Làm quan trong triều đã hơn bốn mươi năm, cứ như lệ cũ thì không phải đến lượt đi sứ nữa. Vậy mà trong triều không biết duyên cớ làm sao nhà Chúa đòi ông vào Trung Hòa đường mật đưa cho ông tờ biểu cầu phong quốc vương và bảo rằng: “Sau khi xong việc thì được cùng hưởng phúc”. Ông biết ý chúa Trịnh đã quyết nên không dám chối từ. Khi thuyền qua hồ Động Đình, ông giả vờ có bệnh, đang đêm mời quan phó sứ là Hồ Sĩ Đống và Nguyễn Trọng Đang tới dặn bảo mọi công việc và làm tờ khai, tờ bẩm để lại. Ông lại đưa mật biểu của chúa Trịnh đốt trước mặt hai quan sứ thần rồi uống thuốc độc tự tử. Qua chuyện này chúa Trịnh biết lòng dân không phục mình nên tạm xếp việc cầu phong lại, cho phao tin là Trần Thiệu bị bệnh chết và phong tặng chức thượng thư.
    Trước, chúa Trịnh định sau khi lên ngôi vua sẽ ra coi thi đình, nhưng nay mộng làm vua không thành nên cho tạm hoãn khoa thi hội thường lệ để bày cách khác.
    Nhân dịp hoãn thi hội, Kỷ bèn đến từ biệt Phạm Vĩ Khiêm để về thu xếp việc nhà chờ khoa thi mở lại lên. Khiêm ân cần nắm tay Kỷ:
    - Quan bác cần thu xếp việc nhà thì cứ về, bao giờ có khoa thi, tôi sẽ báo tin cho bác biết ngay. Tôi mới gặp bác ít ngày đã thấy có nhiều điều tương đắc. Hiện nay, em nội nhân tôi là Nguyễn Hữu Chỉnh đang làm việc trong dinh Trấn phủ ở Phú Xuân, tôi sẽ viết một bức thư gửi gắm bác cho Chỉnh, chắc ông ta sẽ giúp bác được nhiều việc.
    Kỷ nhận thư ngỏ lời cảm tạ Phạm Vĩ Khiêm rồi cáo từ.
    Đến Ô y hạng từ biệt Nguyễn Nghiễm, ông cho biết Nguyễn Du đã lên Thái Nguyên để chịu tang cha nuôi là quan võ họ Hà vừa thất lộc. Kỷ thầm nghĩ có lẽ lần này Nguyễn Du được chức Chánh thủ hiệu hiệu quân hùng hậu đây. Nguyễn Du đổi văn sang võ, chắc hẳn cho rằng thời này nếu chỉ ôm lấy văn chương thì khi biến loạn xảy ra sẽ không đủ sức đối phó với thời cuộc nhưng không biết chí hướng của cậu ấy thế nào.
    Hỏi thăm sang nhà Ngô Thì Nhậm, người nhà cho biết Nhậm đã được nhà chúa bổ làm Đốc đồng trấn Kinh Bắc, bắt phải đi nhậm chức ngay. Thôi đúng rồi, hẳn là những lời Nhậm chỉ trích cái họa khoa cử, chạm nọc các quan trong phủ khiến các ông ấy mới tìm cách đẩy Nhậm đi xa cho khuất mắt. Cũng có thể còn một lý do khác: Nếu cứ để Nhậm dạy thế tử học, sau này thế tử lên ngôi chúa, ắt Nhậm sẽ được trọng dụng, chi bằng gạt Nhậm ra hỏi cái chức tùy giảng là hơn. Nguyễn Lệ sẽ nhân dịp này gài được người khác vào chân ấy để tiện bề dò xét và dụ dỗ thế tử. Nguyễn Lệ luôn luôn ở bên cạnh chúa, hẳn thừa sức làm cái việc ton hót chúa để trừ khử địch thủ và gây thêm tay chân vây cánh cho mình. Kỷ dậm chân than tiếc vì nỗi vô duyên không được gặp Nhậm và thầm mong sau này có dịp hội kiến với con người có những tư tưởng mới mẻ đó.
    Điều khó khăn nhất bây giờ là đến từ biệt cô Cầm. Biết nói với nàng sao đây? Liệu nàng có tin vào lời mình hứa sẽ quay trở lại không? Từ buổi gặp gỡ đầu tiên đến nay, Kỷ đã có lần đến giáo phường thăm nàng. Nàng đã chúc cho Kỷ thi đỗ khoa này, nay khoa thi hoãn, hẳn nàng sẽ thất vọng không biết đến bao giờ mới được thành duyên.
    Lần này Kỷ đến, thấy nàng đang ủ rũ bỗng vui mừng khi giáp mặt người thương. Nàng nhanh nhẹn phủi bụi đường bám trên quần áo Kỷ, cầm quạt ngà quạt cho Kỷ khô mồ hôi rồi hối hả pha trà, hai tay nâng chén trà mạn sen mời Kỷ, giọng âu yếm:
    - Mấy bữa nay thiếp mong chàng tới để thiếp gỡ ván cờ thua hôm trước mà mong hoài chẳng thấy. Chàng đi đâu mà mấy ngày liền bặt tăm khiến thiếp trong lòng nóng như lửa đốt. Thôi phải rồi, chắc chàng bận sửa soạn thi phải không? Bữa nào nhập trường vậy chàng? Chàng cho thiếp biết để kịp sắm sửa những thứ cần thiết cho chàng mang vào trường.
    Từ lúc nãy thấy nàng đang vui nên Kỷ không dám báo tin hoãn thi nhưng đến lúc này thì không dừng được nữa, Kỷ ngập ngừng:
    - Vì có chuyện bất thường nên khoa thi tạm hoãn, bởi vậy tôi phải về Thuận Hóa thu xếp việc nhà chờ đến lúc khoa thi mở lại ra. Hai ta phải tạm xa nhau ít lâu, nàng thấy thế nào?
    Cô Cầm biến sắc mặt:
    - Thật vậy ư chàng?
    Thấy nàng hoảng hốt, Kỷ vội an ủi:
    - Tôi biết rằng nàng sẽ đau lòng vì chuyện xa cách, nhưng xin nàng cứ tin ở tôi, tôi về quê lần này còn để xin phép các bậc tôn trưởng về chuyện hôn nhân với nàng, nếu ít nữa tôi thi đỗ thì có thể làm lễ cưới ngay. “Võng anh đi trước, võng nàng đi sau”, như vậy nàng thỏa lòng rồi chứ.
    Cô Cầm nghẹn ngào:
    - Thiếp rất tin chàng nhưng mà…
    - Nàng cứ yên lòng, chầy ra là một năm sẽ đến ngày mở khoa, tôi về lần này dốc chí học tập thêm quyết sẽ lên chiếm bảng vàng, khi đó hai ta sẽ thành gia thất. Dầu phải xa cách nhưng tôi không bao giờ quên những lời hẹn ước đêm trăng trên hồ Giám, nàng hãy tin vào tấm tình thành thực của Kỷ này.
    Xúc động trước lời nói chân thành của Kỷ, cô Cầm gạt nước mắt:
    - Nếu chàng đã quyết phải về thì thiếp cũng không dám đem tình riêng nhi nữ mà ngăn cản cánh chim bằng. Thiếp đã yêu chàng thì dầu chàng thi không đỗ, hai ta vẫn có thể chung sống một nhà, chia sẻ cháo rau, chàng đừng bận tâm về cảnh nhà bần bách. Dầu khoa thi có mở hay không, hễ thu xếp xong việc nhà thì chàng kíp ra kinh ngay, đừng để thiếp phải mỏi mòn chờ đợi. Trong buổi tạm biệt này, thiếp chỉ xin mượn câu thơ của cậu Chiêu Bảy: “Trong cuống có tơ mành, hoa lìa tơ khó dứt” để nói lên cái tình của thiếp đối với chàng.
    Cảm phục trước tâm hồn cao quý của cô Cầm, Kỷ trân trọng:
    - Trong đám quần hoa người trọng nghĩa như nàng quả là ít có. Vẫn biết nàng không ngại gì cảnh cực khổ đắng cay, nhưng tôi sao đành lòng để nàng chịu lầm than, vất vả. Nàng cứ yên lòng chờ đợi, tôi về quê thu xếp xong việc nhà rồi sẽ lên ngay. Tình ta như bông sen bị bẻ nhưng ngó còn thì năm sau lại sinh ra bông sen mới. Chậm nhất là một năm tôi sẽ trở lại với nàng, khi đó mối tình ta trải qua xa cách lại càng thêm thắm thiết. Chỉ mong nàng ở lại gắng bảo trọng mình vàng, đừng lo buồn mà hao mòn vóc ngọc.
    - Chàng đi đường cũng nên gắng ăn uống để giữ gìn sức khỏe. Thiếp xin giúp chàng sửa soạn hành trang để chàng đủ đồ nhu dụng dùng ở dọc đường.
    Trong lúc nàng thu xếp đồ đạc, Kỷ thấy nàng không có vẻ gì của một ca nữ phong lưu kiều mỵ đã làm say lòng bao vương tôn công tử, mà như một người vợ hiền nết na, đảm đang, hết lòng yêu thương chồng. Kỷ tin rằng nếu chung sống với nàng, đời mình sẽ có nhiều hạnh phúc.
    Từ khi trở về Phú Xuân, Trần Chánh Kỷ vẫn chờ đợi ngày mở khoa thi. Không phải Kỷ nôn nóng về chuyện công danh mà chỉ muốn thi đỗ làm quan, để cùng cô Cầm yên bề gia thất. Nhiều lúc Kỷ đã nghĩ hay là không cần đợi khoa thi nữa, mình cứ ra kinh để sum họp với nàng, rồi vợ chồng có rau ăn rau, có cháo ăn cháo, miễn là được gần gũi bên nhau. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, Kỷ gạt bỏ cái ý nghĩ viển vông đó. Đường đường là thân nam tử, lẽ nào lại cam chịu ăn nhờ một người đàn bà, bắt người ấy phải đi hầu hạ mua vui cho kẻ giàu sang để lấy tiền về nuôi mình. Còn bảo nàng bỏ nghề đàn để về làm lụng chân tay vất vả, Kỷ cũng không đang tâm. Dầu sao, hiện nay nàng cũng đang sống trong cảnh phong lưu, quần là áo lượt, đệm gấm rèm the, mình để nàng phải chịu lầm than khổ cực, liệu có đành lòng hay không? Nàng yêu chuộng môn đàn cầm, nếu buộc nàng phải rời bỏ cây đàn hẳn nàng cũng không sao chịu nổi, nghệ thuật cũng quý như sinh mệnh, Kỷ hiểu điều đó lắm. Cũng như mình nếu ai bắt mình bỏ cái thú làm thơ, mình có ưng chịu hay không? Chỉ còn một cách mình thi đỗ làm quan để có chút bổng lộc nuôi gia quyến, nàng không phải đánh đàn mua vui cho thiên hạ mà vẫn giữ được ngón nghề sở trường của mình, khi nào buồn nàng lại đánh đàn cho mình nghe, như vậy có phải là hạnh phúc vẹn tròn hay không? Chính vì vậy, Kỷ cứ nấn ná chờ đợi, nhưng gần đến khoa thi thì Kỷ lại có tang chú ruột, không thể ra Thăng Long dự thi. Đến năm sau nữa thì cục diện đã đổi khác: trong triều đình chúa Trịnh đang lục đục; Trịnh Sâm nghe lời Đặng Thị Huệ, bỏ con trưởng là Tông, lập con nhỏ là Cán làm thế tử, Nguyễn Lệ là tay chân của Trịnh Tông nên bị bắt giam vào ngục. Đặng Thị Huệ tiến cử Huy quận công Hoàng Đình Bảo, nhân tình của thị, làm chức a bảo trông nom bảo hộ thế tử. Trịnh Sâm vốn lắm bệnh, ít khi ra ngoài, Đặng Thị Huệ ở trong nắm giữ mọi việc, vây cánh ở khắp các địa vị trọng yếu. Cán lên nối nghiệp chúa trong khi còn thơ dại. Bầy tôi và dân chúng trong kinh và ngoài trấn, do đó thảy đều nơm nớp lo âu…
    Nghe tin đó, Kỷ vội tới dinh Trấn phủ gặp Nguyễn Hữu Chỉnh để hỏi thăm tình hình. Chỉnh đã được thư giới thiệu của anh rể là Phạm Vĩ Khiêm từ trước nên tiếp đãi Kỷ hết sức trọng hậu.
    Nghe Kỷ hỏi, Chỉnh vội đuổi hết tả hữu ra ngoài rồi nói nhỏ với Kỷ:
    - Tôi vốn là người nhà cụ Huy( ) nên cụ sai người đưa mật thư cho tôi nói rõ tình hình. Vừa rồi đây có kẻ cáo giác rằng, năm trước khi chúa se mình, thế tử Tông đã âm mưu nổi loạn, cướp ngôi chúa. Chúa liền giao cho quan đồng Tham tụng Nghĩa phái hầu Lê Quý Đôn làm thay việc tra xét. Cuối cùng, nắm được hết tình hình tội trạng, chúa nổi giận truất Tông xuống làm con út, giam trong ngôi nhà ba gian cho người giám sát chặt chẽ, không cho phép ai được ra vào thăm hỏi. Vây cánh của Tông như Huân quận công Nguyễn Phương Đĩnh, Hồng lĩnh hầu Nguyễn Lệ, Tuân sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân, Khê trung hầu Chu Xuân Hán đều bị trị tội, bắt phải tự xử. Lệnh ban xuống, Khắc Tuân và Xuân Hán đều uống thuốc độc tự tử. Hiện nay, nhà chúa đang dò tìm dư đảng của bọn mưu phản để lùng bắt cho tiệt hậu họa. Do đó phe đảng của họ, mỗi người lẩn trốn đi một nơi.
    - Bác có biết tin gì về Nguyễn Du, em ông Nguyễn Lệ không?
    - Nguyễn Du thì tôi không biết, chỉ biết rằng giáo phường do ông Nguyễn Lệ lập nên đã bị giải tán, các con hát đều tản mát hết cả, đó quả là điều đáng tiếc.
    - Còn ông Ngô Thì Nhậm thì thế nào? Nghe nói ông ta trước đây là tùy giảng của thế tử Tông kia mà.
    - Ngô Thì Nhậm khi làm Đốc đồng trấn Kinh Bắc rất ăn ý với trấn thủ Tuân sinh hầu, nên cũng bị dính líu vào vụ này. Nhưng do ông ta có công tố giác bọn phản nghịch nên không bị tội mà còn được thăng chức Hữu thị lang bộ Công. Nghe tin này, cha Nhậm là ông Ngô Thì Sĩ buồn bực, uống thuốc độc tự tử. Do đó, người ta mới có câu: “Sát tứ phụ nhi Thị lang”( ) ý chê trách Nhậm đã giết thân phụ là Thì Sĩ và ba người phụ chấp( ) là Nguyễn Lệ, Phương Đĩnh, Khắc Tuân để được làm Thị lang.
    Nghe xong câu chuyện, Kỷ rất đỗi buồn bực. Ngỡ Nhậm là người khá không ngờ lại đang tâm làm cái việc đê hèn như vậy. Vậy còn ông Lê Quý Đôn, là một người bác học, sao lại dây vào vụ án này làm gì để mang tiếng là kẻ xu phụ quyền thế. Kỷ mừng thầm là mình đã không dính líu đến chốn quan trường, nếu năm trước mình thi đỗ làm quan, biết đâu chẳng có kẻ cáo giác mình là vây cánh của Nguyễn Lệ, vì mình không những đã chơi với Nguyễn Du mà còn lui tới nhà Nguyễn Lệ. Bây giờ, nhà họ Nguyễn đang mắc nạn, mình ra ngoài đó chưa chắc đã gặp được Nguyễn Du mà có khi còn liên lụy vào thân nữa. Giáo phường bị giải tán, biết cô Cầm có còn ở Thăng Long không hay là đã lưu lạc đến phương trời nào.
    Tuy rất mong nhớ và lo lắng cho Nguyễn Du và cô Cầm nhưng sau khi cân nhắc, Kỷ thấy mình không thể khinh xuất ra Thăng Long lúc này được. Nguyễn Hữu Chỉnh là kẻ khôn ngoan lại đầy tham vọng, biết đâu hắn chẳng mật báo với quận Huy mình là người thân của Nguyễn Lệ để tâng công. Mình ra Bắc lúc này có khác chi chui đầu vào bẫy.
    Nghĩ như vậy nhưng niềm mong nhớ người bạn và người tình vẫn không bao giờ nguôi mà mỗi ngày lại càng thêm da diết. Có đêm, Kỷ nằm mộng thấy cô Cầm, khi tỉnh dậy thấy nước mắt ướt đầm mặt gối. Lúc này, Kỷ lại giở cuốn truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự ra xem, thấy có một đoạn nói đúng tâm sự mình, Kỷ thích ý cứ ngâm đi ngâm lại mãi:
    “Biết trăng hãy nói trăng chơi
    Vẻ thanh soi biết cõi người mấy thung
    Người thời trướng trập uyên trùng
    Người thời cầm dạc loan chung chưa từng
    Người thời nương triện xem vừng
    Người e áo mảnh, người ngừng quê khơi
    Lại người bướm Sở Dương đài
    Giấc tàn nhường thấy hiên cài ngẩn ngơ
    Cũng sầu song cũng vừa vừa
    Riêng người gối lẻ tương tư là sầu…”
    Đến lúc này Kỷ mới thấy hết sức mạnh của văn chương chẳng khác gì sức mạnh của tình yêu. Đọc đến hai câu:
    “Đàn đâu réo rắt bên tai,
    Lửa đâu chất chứa nhường khơi trận hằng”.
    Kỷ lại nghe dìu dặt bên tai tiếng đàn của cô Cầm bên trăng trên hồ Giám. Dưới ánh trăng, mọi vật huyền ảo hơn, con người cũng thanh sạch hơn, tưởng chừng dứt hết bụi trần. Tiếng đàn nâng con người bay lên giữa khoảng bao la quấn quýt với vầng trăng. Mỗi hơi thở chạm vào không khí như cũng rung lên thành tiếng vang vì khắp đất trời chỉ còn có ánh trăng lai láng…

    (còn tiếp)
    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Quyển 9 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.
    www.trieuxuan.info

     

     

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,411,008

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/