Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,164,268

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Thứ tư, 09:53 Ngày 28/07/2021
  • Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

    Ngô Thế Lân cười:
    - Nếu hiền đệ muốn ra thi thì mỗi người một chí, tôi không dám ép. Còn tôi thì đã nguyện sống trót đời ở nơi núi rừng không màng chi đến chuyện công danh.
    Ngô Thế Lân ngừng lời, trầm ngâm nhìn vườn trúc trước sân, Trần Chánh Kỷ nhìn ra, những cây trúc gióng thẳng mà đốt bền, cành thưa mà lá cứng, dáng thanh thanh ong óng vươn thẳng lên trời. Nhìn khóm trúc sau lớp sương khói tỏa, đáng yêu biết chừng nào. Ngô Thế Lân lắng tai nghe rồi nói:
    - Hiền đệ có nghe thấy tiếng trúc reo đó không? Đó là tiếng trúc reo hay là tiếng gió reo, hiền đệ có biết không? Gió là cái vật không có chất mà có hơi, trúc là cái vật có chất mà không có ruột, cho nên trúc nhờ gió mà có tiếng, gió nhờ trúc mà thành vết, cho nên gió đến thì trúc kêu, gió qua thì trúc lặng, gió to thì kêu to, gió nhỏ thì kêu nhỏ. Thế kêu là tại gió chứ không tại trúc. Ta cũng cần phải giữ lòng trong sạch như trúc để đón gió mà cất lên thành tiếng, như cảnh vật mà hát ra thành thơ, thanh điệu thiên nhiên, đều được tính tình đúng đắn, cũng như trúc đối với gió. Huy động tùy phát, âm vận không cùng mà người nghe không chán vì phiền vậy.
    Trần Chánh Kỷ thầm nghĩ Ngô Thế Lân đã quen với cảnh ẩn dật nên không muốn đua chen vào vòng thi nữa. Chuyện vãn một lúc, Kỷ cáo từ ra về. Ngô Thế Lân không cố giữ, khi tiễn Kỷ ra đến cửa, Lân đọc bài thơ:
    “Thanh thế thùy cao thượng
    Nhàn miên vị bất tài”
    Rồi ôn tồn nói tiếp, giọng cảm khái:
    - Chúc hiền đệ phen này đỗ cao, còn ta chỉ muốn suốt đời vui với cảnh vườn trúc mà thôi.

    IV
    Qua phủ chúa Trịnh, lầu các ngất trời với gác vẽ, rèm châu, bao lơn lượn vòng… Trần Chánh Kỷ đi men theo một bờ cừ dài. Con cừ Long Lâu oằn oèo chảy qua một cái bờ sâu mà rộng, nước rất trong, mùa hè hoa sen nở nhiều, mùi hương bay xa mấy dặm. Men bờ hồ vào đến bờ cừ, chỗ cây, chỗ đá chen nhau. Từ phía Tây đi về phía Nam, đường quanh co lát đá, dẫn đến ngôi chùa Tiên Tích, chùa rộng lớn, nóc chồng cửa khép, sân bày tám miếng đá vuông cao chừng hai thước, trên bày những chậu lan, gió thoảng mùi hương. Cây tháp ở bên phải, cao chín tầng, bốn góc đeo chuông, trang sức bằng những nét vàng xanh rực rỡ.
    Phía trước chùa, về tay trái, chỗ nước cừ chảy thông ra hồ, có bắc cầu, dưới cầu ghe thuyền đi lại được. Trên cầu dựng thành mái nhà khắc vẩy rồng trên những tấm ván. Cạnh cầu mấy chục bước, phía Nam cừ và phía Bắc hồ, có cái ly cung là chỗ vua chúa ngự chơi, trồng sáu bảy cây muỗm, cây trắc và cây thông, cành lá chi chít đến nỗi ánh mặt trời không lọt xuống được. Hai đôn trâu đá, hươu đá cùng chầu vào nhau, chế tạo rất tinh tế sinh động, do Hoàng Ngũ Phúc, khi đi đánh phương Nam mang về.
    Khỏi chùa Tiên Tích, Trần Chánh Kỷ đi một quãng nữa thì đến đền Bích Câu. Chiếc lá đỏ trôi theo ngòi biếc như một bài thơ hẹn ỡm ờ. Mái đền rêu mốc cong cong như nghiêng xuống, dáng Tú Uyên chờ đợi một Giáng Kiều nào. Trong đền nghi ngút khói hương, mường tượng xiêm áo của nàng. Nhưng không có tiên nào cả mà chỉ có những cô gái đi lễ đền, nón quai thao tua bay phất phới, một tay giữ quai nón, tay kia vung vẩy, hài thêu rón rén trên lối cỏ xanh. Thấy có chàng văn nhân đi tới, các cô ngượng ngùng núp sau lưng bà mẹ, nhưng vẫn đưa mắt nhìn trộm. Không gian im ắng nghe tiếng xà tích bạc lách cách theo nhịp bước. Cây đại trước đền nở hoa trắng, mùi hương man mác quyện vào tà áo the bên trong lót nền hồ thủy của các cô…
    Trước cảnh nên thơ, Trần Chánh Kỷ bỗng thấy lòng buâng khuâng xao xuyến. Nhưng chàng gạt bỏ những ý nghĩ mơ mộng vừa nảy ra trong óc mình, rảo bước đi đến xóm Bích Câu. Đây là một xóm phồn hoa đô hội nhất thành Thăng Long với dinh thự của nhiều bậc đại thần.
    Qua các cổng lớn trên có đắp ba chữ đại tự Ô y hạng, Trần Chánh Kỷ đi tới trước cửa một phủ đệ lớn, trên có tấm biển đề chữ Nghi Xuân Đường. Kỷ biết đây là dinh quan Thái bảo xuân Quận công Nguyễn Nghiễm nên dừng bước lại. Hai tên lính áo vải đen trong lót vải vàng, tay chẽn, khố lục thắt ngang lưng chạy ra thấy Kỷ mặc áo lương, khăn lượt, tỏ ý khinh thường cầm giáo ngáng lại, nạt nộ:
    - Ngươi là thường dân, bén mảng đến dinh thự Quận lớn làm gì, muốn mất đầu à?
    Kỷ điềm tĩnh:
    - Phiền các cậu vào bẩm giùm cụ lớn, có người ở chỗ quan Trấn thủ Thuận Quảng Tạo quận công họ Phạm đến, xin vào yết kiến.
    Trần Chánh Kỷ trao bức thư giới thiệu của Phạm Ngô Cầu cho tên lính gác mang vào trình. Lát sau, tên đó ra lễ phép nói:
    - Xin mời quan Giải nguyên đi theo cháu ạ.
    Đi quanh co một hồi, Kỷ đến trước một tòa đình, trên có tấm biển vàng đề ba chữ thảo Kim âu đình, bên cạnh là mấy chữ nhỏ Tĩnh đô vương ngự bút. Trước đình có bể cạn núi non bộ và những đôn chậu bằng sứ, chung quanh toàn hoa thơm, cỏ lạ. Một ông già râu bạc, hồng hào quắc thước, áo gấm lam, khăn nhiễu đỏ, ngồi trên chiếc sập gỗ trắc chân quỳ, tì khuỷu tay vào chồng gối xếp. Trước mặt có một chiếc điếu ống bằng gỗ mun, bịt bạc, khảm xà cừ với cần trúc vàng óng có mấu, cong vút, Kỷ vội chắp tay vái chào:
    - Tiểu sinh Trần Chánh Kỷ xin ra mắt cụ lớn Thái bảo.
    Nguyễn Nghiễm khoan thai:
    - Không dám. Xin chào Trần Giải nguyên. Phạm Trấn thủ có giới thiệu với ta, thầy là tay văn học lỗi lạc nhất ở Nam Hà, được gặp thầy ở đây ta rất lấy làm hân hạnh.
    Kỷ khiêm tốn:
    - Bẩm cụ lớn, cụ lớn là bậc văn học đại gia còn Kỷ này chỉ là kẻ học vấn tầm thường, non nớt có đáng kể vào đâu.
    - Thầy đã là chỗ quen thuộc với Phạm trấn phủ thì đối với ta cũng như tình người nhà, hà tất phải quá nhún mình! Bay đâu! Hầu trà, nghe!
    Viên đội nhà chè mang ra nào là cấp thiêu, nào là hỏa lò than đá đặt trước mặt Nguyễn Nghiễm. Nguyễn Nghiễm vừa nhóm lò vừa nói:
    - Hỏa lò với than Tàu này tôi phải mua từ bên Tô Châu đấy. Lò này là lò Thanh Hóa, còn ấm này là ấm Dương Tiễn, toàn là thứ tuyệt phẩm cả. Trà này là thứ trà ở Vũ Di Sơn, mọc trên núi cao chót vót phải dùng khỉ trèo lên mới hái được. Hái về lại lấy búp đem cho ngựa ăn rồi mổ bụng ngựa lấy trà ở bên trong, cho nên gọi là trà trảm mã. Còn nước nấu để pha trà mỗi buổi sớm phải sai gia nhân bơi thuyền ra giữa hồ, vét những hạt sương móc đọng trong lá sen mang về. Chén ấm phải cốt cho nhỏ và mỏng thì khi pha trà mới nổi hương vị. Vòi ấm rót cho thẳng thì nước không đọng, mặt đĩa phẳng thì mặt chén không nghiêng, rế lò dày mà lỗ thưa thì than lửa không bốc nóng quá, lòng ấm siêu lồi lên mỏng thì sức lửa dễ thấu và chóng sôi. Gần đây, có người dùng siêu đồng để pha trà, nhưng mà kim khí bị hỏa khí nó hấp hơi thường có mùi tanh đồng, dùng siêu đất nung để pha thì tốt hơn. Ta có thói quen tự tay pha lấy trà, có thế mới giữ được hương vị mà thưởng thức hết cái thú uống trà.
    Nguyễn Nghiễm pha trà rót vào hai chén quân nhỏ đẩy một chén trà về phía Trần Chánh Kỷ. Kỷ nhắm một ngụm thấy vị trà đậm mà thanh, cảm thấy tinh thần sảng khoái. Nguyễn Nghiễm gật gù:
    - Thầy uống thứ trà này có cảm thấy cái tính nó thanh sạch, cái hương nó thơm tho, có thể tỉnh được mộng trần, dứt được lòng tục lụy hay không? Ta việc quan bận rộn nhưng mỗi khi nhàn hạ lại thưởng thức trà ngon để cho tâm thần được thư thái.
    Kỷ cung kính:
    - Cụ lớn quả là một vị tiên trong cõi đời. Tiểu sinh nghe tiếng cụ lớn là bậc đạo cao đức trọng, đáng mặt Thái sơn Bắc đẩu trong làng nho, từ lâu đã có lòng ngưỡng mộ nhưng hiềm vì đường xá xa xôi nên không được hầu tiếp để lắng nghe những lời châu ngọc. Nay nhân lên kinh thi hội, tiểu sinh mới có dịp đến bái yết. Trộm nghe Thăng Long là đất linh tú, tụ hội nhiều anh tài, tiểu đệ đến đây không phải chỉ mong cầu danh mà muốn được học hỏi cho rộng đường kiến văn. Chẳng hay nhân tài nước Nam hiện nay có những ai, xin cụ lớn làm ơn chỉ giúp cho.
    Nguyễn Nghiễm cười:
    - Lời của thầy hỏi lão phu trong lúc uống trà, nhắc cho lão phu nhớ đến chuyện Tào Tháo và Lưu Bị uống rượu thanh mai cùng luận về anh hùng trong thiên hạ. Chẳng lẽ lão phu lại bắt chước người xưa mà nói rằng: Nhân tài trong thiên hạ chỉ có lão phu và nhà thầy mà thôi. Nói vậy thôi, người Nam Hà thì lão phu ở xa không biết nên không dám nói, còn ở Bắc Hà này, đạo học cao xa thì có Lạp Phong cư sĩ, văn chương khuôn phép thì có Thám hoa Nguyễn Huy Anh, còn thiếu niên đa tài đa nghệ thì chỉ có Nguyễn Huy Tự mà thôi. Còn lão phu là kẻ già hủ bất tất phải bàn đến làm gì!
    - Cụ lớn là bậc lão sư túc nho, tiểu sinh được đọc bài phú Khổng Tử mộng Chu Công của cụ lớn, vẫn kính phục tài đức của người, sao người lại quá khiêm như vậy.
    Nguyễn Nghiễm gạt đi:
    - Có câu “Thanh xuất ư lam nhi thắng ư lam” . Đạo đức của ta không phải bì kịp Lạp phong cư sĩ, văn chương của ta cũng còn thua kém ông Thám hoa Trường Lưu…
    - Xin cụ lớn cho biết Lạp phong cư sĩ là ai?
    - Lạp phong cư sĩ tên là Nguyễn Thiếp, người huyện Can Lộc, trấn Nghệ An. Buổi đầu ông có ra làm quan nhưng sau ở ẩn ở thành Lục Niên, thuộc huyện Hương Sơn. Ông học rộng, thông hiểu sâu sắc nghĩa lý kinh sử, được mọi người tôn kính như một bậc đạo cao, đức trọng…
    - Dạ, còn Nguyễn Thám hoa?
    - Ông Thám hoa Nguyễn Huy Oánh người làng Trường Lưu, huyện Can Lộc, trấn Nghệ An, đã từng đi xứ Bắc quốc, có tập thơ Bắc sử thi tập, trong có nhiều bài thơ xướng họa với các quan nhà Thanh khiến người Thanh phải nể phục, đúng là lấy văn chương làm tăng thế nước vậy.
    - Dạ còn Nguyễn Huy Tự?
    - Tự là con trai ông Nguyễn Huy Oánh, năm 17 tuổi đỗ thi hương, sau được bổ làm Tri phủ Quốc Oai, mấy năm gần đây mới cải sang võ chức. Chẳng nói giấu gì thầy, Tự là cháu rể tôi. Anh ta không những có tài văn chương mà còn tinh thông các món cầm kỳ thi họa.
    Nguyễn Nghiễm gọi gia nhân ghé tai nói nhỏ rồi mở tráp lấy một cuốn sách trao cho Kỷ:
    - Đây là cuốn truyện Hoa tiên do Nguyễn Huy Tự soạn, thầy thử ghé mắt đọc qua xem có khả thủ hay không?
    Kỷ hai tay trân trọng đỡ lấy cuốn sách. Giữa lúc ấy, một người trẻ tuổi, mặt mũi thanh tú, dáng cao, hào hoa phong nhã từ trong nhà bước ra, chắp tay vái chào Kỷ rồi đứng một bên chờ lệnh. Nguyễn Nghiễm nói với Kỷ:
    - Đây là con thứ bảy của ta tên là Nguyễn Du. Thấy Trần Giải nguyên mới ra Bắc còn lạ nước lạ cái nên ta sai em nó đưa thầy đi chơi khắp chốn cho biết cảnh phồn hoa đô hội của đất Thăng Long. Du nó thông thuộc đường đi lối lại từ hang cùng ngõ hẻm đến trà đình tửu quán, thầy còn trẻ đi chơi với nó chắc thú vị hơn ngồi nói chuyện với cánh già hủ chúng ta- Rồi quay sang Nguyễn Du, ông tiếp - Đây là ông Giải nguyên Trần Chánh Kỷ từ Thuận Hóa ra thi hội, có lòng tốt đến thăm ta, vậy con hãy thay ta thù tiếp cho chu đáo nghe!
    Nguyễn Du cúi đầu vâng lệnh. Nguyễn Nghiễm bảo Kỷ:
    - Còn chuyện thi hội thì ta sẽ giới thiệu thầy đến gặp một người đã quen cách thức chốn trường thi, đó là ông Phạm Vĩ Khiêm, ông ta sẽ chỉ bảo cho thầy. Ông Phạm đã từng theo Việp công vào Nam, ở thành Phú Xuân một độ, nếu gặp ông ta chắc sẽ có nhiều chuyện hay…
    Nhận thư giới thiệu xong Kỷ cáo từ, cùng Nguyễn Du ra đi. Ra đến ngoài đường, Nguyễn Du hỏi:
    - Ta đi đâu bây giờ?
    - Tôi muốn đến thăm cảnh hồ Lục Thủy và hồ Kim Ngưu  một chút. Sáng nay tôi đã đi qua hồ Lục Thủy, nhưng chưa kịp dừng chân ngắm cảnh…
    Hai người đi theo con đường chính giữa lát gạch hai bên là lối cho ngựa voi đi, đường rộng thênh thang, giá mươi mười con ngựa đi ngang cũng không vướng mắc.
    Qua đến Bích Câu, hai người gặp những thiện nam tín nữ đi lễ cầu duyên. Những cô gái nón quai thao có tua, tay giữ quai nón, tay kia vung vẩy văn hài rón rén trên cỏ xanh. Thấy chàng trai đi tới, cô yểu nấp sau bà mẹ áo ngoài tam giang trong lót nền hồ thủy. Tiếng xà tích bạc đeo bên thắt lưng lách cách như nhạc ngựa. Cây đại hoa trắng, hương man mác quyện vào tà áo các cô đang uốn éo. Rặng liễu trước cổng đền phấp phới trước gió gợi lên mái tóc của một Giáng Kiều nào. Nguyễn Du nói đùa:
    - Trần huynh ngắm xem ưng cô nào thì liệu chọn lấy vào lễ hai vị Tú Uyên, Giáng Kiều cầu cho được thành duyên đi.
    Kỷ cười:
    - Cái đó để dành cho cậu Chiêu Bảy  chớ tui là kẻ quê mùa đâu dám mơ tưởng đến các cô gái kinh kỳ.
    Tuy nói như vậy nhưng lòng Kỷ cũng thấy bâng khuâng trước cảnh thơ mộng của đền Bích Câu, quả xứng đáng là cái nền của một câu chuyện tình tuyệt đẹp. Nhìn những đôi trai gái đang chắp tay khấn vái trước bàn thờ khói hương nghi ngút, Kỷ mường tượng sau làn khói hương kia bóng xiêm áo của Giáng Kiều. Kỷ mơ màng nàng sẽ dòng tóc xuống đưa Kỷ bay lên trời cùng với đám mây trắng bềnh bồng kia… Nhưng giấc mộng Tú Uyên chợt tỉnh vì tiếng cười trong trẻo của Nguyễn Du:
    - Trần huynh cứ yên tâm, tối nay tôi sẽ giới thiệu Trần huynh với một giai nhân tài sắc của Thăng Long, giờ ta hãy đi ngoạn cảnh cho thỏa thích đã.
    Qua phường Tàng Kiếm, trước cửa hàng bán kiệu áo giáp, đồ đài, mâm, võng, ghế, vóc trừu, dù, lọng, tàn… lố nhố bóng nón chóp bạc của người nhà các quan đến sắm sửa.
    Cửa hàng thêu phường Tả Nhất, mấy người thợ đang cúi xuống tấm vóc đại hồng thêu hình kiếm, sách bút, bầu trói, quạt lá vả… Những hoa văn mây lửa chói lọi, hình kỳ lân phượng hoàng dưới mũi chỉ đường kim thoăn thoắt như múa lượn.
    Hai người dừng bước trước hồ Lục Thủy. Hồ rộng mêng mông, sóng vỗ rạt rào bờ lau. Thuyền chài ngang dọc trên hồ. Cạnh bãi nổi một đàn chim le đùa giỡn bơi lội tung tăng. Trước gò Ngọc Sơn là bãi dâu xanh mướt nối liền với sông Nhị. Hồ có thế “xuyên hoa giáp điệp” hai hồ liền nhau ở giữa thắt đáy lưng ong, như hai cánh giương ra, và dải đất làng mạc như tân hình của một con bướm đang vươn vòi hút nhị là dòng nước sông Nhị. Mặt hồ in bóng lầu các rực rỡ của phủ chúa Trịnh. Nguyễn Du bảo Kỷ:
    - Hồ này dùng làm nơi tập luyện thủy quân, nên còn gọi là hồ Thủy Quân.
    Kỷ hỏi:
    - Đây có phải là nơi đức Lê Thái Tổ trả gươm hay không?
    - Chính đó.
    - Câu chuyện thế nào, cậu Chiêu kể cho tôi nghe đi.
    - Hồi Thái Tổ khởi nghĩa, ngài bắt được một thanh kiếm cổ, sau khi lên làm vua, thường vẫn đeo ở bên mình. Một hôm, chơi thuyền ở trong hồ, bỗng thấy một con rùa rất lớn nổi lên trên mặt nước, bắn không trúng, ngài lấy thanh kiếm mà chỉ. Bất đồ, thanh kiếm rơi xuống nước, con rùa cũng lặn theo. Ngài giận, sai lắp cửa xổ lại, đắp cái bờ ngang, tát hết nước để tìm. Nhưng chẳng thấy đâu cả. Đời sau, nhân cái bờ ấy, chia ra làm hai hồ Tả Vọng, Hữu Vọng như Trần huynh nhìn thấy bây giờ đấy.
    - Hiện chỉ có người gọi tên hồ này là hồ Hoàn Kiếm.
    - Phải rồi, hồ này ở bên cạnh phường Báo Thiên. Ngày trước, ở phía Tây hồ có tháp Báo Thiên mười hai tầng, cao vài mươi trượng. Những tầng trên bằng đồng, những tầng dưới bằng đá, bằng gạch hoa. Nền đất xây rộng như một tòa nhà có bốn cửa đi vào, phía trong mỗi cửa có hai pho tượng kim cương bằng đá. Bên trong còn có nhiều tượng tiên thánh, chim muông, cùng ghế, chén, bát đĩa bằng đá…
    - Bây giờ tháp đâu rồi cậu?
    - Nó bị bọn tướng Minh Vương Thông phá hủy để lấy đồng đúc súng bắn đá chống nhau với quân đức Lê Thái Tổ rồi còn đâu! - Nguyễn Du ngậm ngùi.
    Trần Chánh Kỷ thầm nghĩ mỗi bước đi trên đất Thăng Long này đều đụng phải dấu vết lịch sử. Mà sao Chiêu Bảy lại rành chuyện cũ thế không biết, cứ kể vanh vách ấy. Được người dẫn đường hiểu sâu biết rộng như thế này quả là may mắn.
    Qua cửa khẩu, hai người đi ngược lên chợ Cầu Đông. Hôm nay đúng ngày phiên. Đủ mọi thứ thổ sản: chuối xù, giò Chèm, nem Vẽ… Mấy thầy khóa níu gánh cô gái Kẻ Mơ mua một mâm rượu. Rồi say men hay say cái duyên thầm của cô, các thầy chếnh choáng dắt nhau vừa đi vừa ngâm thơ… tấm lụa làng Trúc được soi lên trời xem có đều mặt, nhẵn biên không. Tranh Tam đa, Phúc, Lộc, Gà, Lợn của làng Hồ phơi màu ánh lên chất điệp. Bến sông Tô, thuyền mành từ Nghệ ra chuyển lên bờ những sọt cam Xã Đoài vàng ối, những buồng cau trĩu quả, những thùng nước mắm thơm lừng…
    Lò vôi phường Thạch Khối, khói trắng làm đục cả bầu trời. Cửa Đông thành mở ra con đường rợp bóng hòe. “Hòe hoa hoàng, cử tử mang”  đúng vào mùa thi nên hoa hòe nở như màu giấy vàng của sắc phong. Từ đường hòe nhìn ra, thuyền chiến đậu san sát trên bến Đông Bộ Đầu. Cờ ngũ hành, cờ đuôi nheo phấp phới đầu cột buồm. Kỷ đã từng đọc sử, biết đây là nơi ghi dấu chiến công thắng quân Nguyên đời Trần.
    Qua cửa ô Yên Hòa, hai người gặp những cô gái đội nón ba tầm gánh hoa từ trong làng ra bán, miệng cười cũng tươi tắn như hoa.
    Nhìn ra hồ Kim Ngưu như cả một biển sương mù. Những con thuyền trúc tựa lá khô dập dềnh trước gió. Xóm làng ven hồ lờ mờ sau làn khói. Bến đá hoa bên hồ, mấy cô gái đang đập chài giặt lụa.
    Có tiếng vỗ cánh của đàn chim sâm cầm bay về phía bến trúc góc hồ, rồi xúm lại dày đặc mổ tôm cá, rong rêu dưới hồ. Kỷ ngắm kỹ thấy sâm cầm đầu và cổ đen, chuyển xám chì thẫm ở mặt lưng, xám chì ở bụng, ở ngực và giữa bụng màu nhạt, dưới đuôi thẫm hơn. Nó có đôi mắt nâu đỏ, mỏ trắng ngà và góc mỏ phớt hồng. Chân nó màu lục nhạt ống chân phớt màu cam, mỗi ngón chân có ba màng tách như hình cái quạt nan…
    Nguyễn Du nói:
    - Chính ra mùa này không còn bóng sâm cầm ở đất ta nữa, nhưng đám sâm cầm này không bay theo bầy mà ở lại một góc kín đáo của hồ này, ăn ở đám cỏ rác, rong rêu, lặn mò củ súng, củ ấu và củ sen. Bẫy được loài chim quý này đem rán, nấu cháo hay ngâm rượu uống thì tuyệt. Thịt nó béo ngậy, bổ như sâm mà!
    Hai người ghé thăm ngôi chùa Kim Liên ở phường Nghi Tàm. Chùa xoay lưng ra sông Nhị. Hồ Kim Ngưu vòng quanh trước mặt, khói sóng man mác, trời nước một màu. Chùa có năm gian tiền điện và năm gian chánh điện. Mấy ngọn tháp gạch xây ở trên những cái gò, phía đầu chùa. Bên các tháp có thông trúc um tùm, đầy vẻ liêu sơ u tịch. Trong nhà hậu có một pho tượng đứng đội mũ miện, cầm hốt, mặc áo cổ tràng khép lên nhau, râu mày rõ nét như vẽ, chân không mang giày. Sân chùa có những ngọn núi giả, cây chen đá, lá chen hoa rất đẹp.
    Kỷ chỉ pho tượng hỏi:
    - Tượng ai thế?
    - Tôi nghe nói đó là tượng của Uy Nam vương( ) vì người trụ trì ở chùa này ngày trước là Hòa thượng Huệ, Nội thị của nhà chúa. Nghi Tàm còn là bến tắm của chúa Uy Nam vương nữa.
    - Sao tôi thấy chùa này có những đầu đao cao vút, nhất là những nét chạm trổ và chỗ mái trước hậu cung giáp với tiền đường, không giống kiểu kiến trúc các ngôi chùa khác, cậu có biết vì sao không?
    - Nghe nói, đời Lý trong địa bàn làng này ngàn dâu xanh ngát một màu chạy suốt bờ đê. Những trại nuôi tằm, ở đó có những “tang thất phụ” tức là những đàn bà có tội phải làm lao dịch, ngày đêm vất vả hái dâu chăn tằm, kéo kén, ươm tơ, để cung nữ tập dệt lụa là gấm vóc. Khi đó, công chúa Từ Hoa vốn tính nhân từ, chán cảnh cung đình tẻ nhạt, nằng nặc xin vua cha Lý Thần Tông cho ra ở trại chăn tằm, chung sướng khổ với đám đàn bà bị tội khổ sai. Vua đành phải cho phép nhưng thương con nên cho xây cung Từ Hoa giữa khu trại để công chúa ở. Sau khi công chúa qua đời, cung Từ Hoa trở thành chùa Từ Hoa, rồi đổi tên là chùa Đại Bạch My Vương. Cách đây mấy năm, nhà chúa mới sai Thiều quận công và Thái giám Tuân xin hầu lấy các vật liệu ở chùa Bảo Lâm đem đến làm ở đây, bấy giờ mới đổi tên là chùa Kim Liên. Dân chúng phải phục dịch rất vất vả.
    Trần Chánh Kỷ thầm nghĩ kinh thành Thăng Long đẹp đẽ tráng lệ như thế này là do công sức của bao người dân thường, thợ khéo các nghề đến phu phen, tạp dịch. Nguyễn Du lại nói:
    - Trần huynh nhìn phía bờ hồ đằng kia mà xem, ở dãy có cung Thụy Liên của nhà chúa. Mỗi tháng ba bốn lần, Trịnh Vương  ngự chơi ở ly cung, binh lính dàn hầu quanh vòng bốn mặt bờ hồ, kẻ nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà dàn bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán. Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hộ tống đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán hàng hóa như các cửa hàng buôn bán trong chợ. Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc hay ngồi ở bóng cây bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc âm…
    Kỷ kinh ngạc nhìn Nguyễn Du. Không ngờ một người trẻ tuổi mà đã từng trải đến mức ấy. Có điều, lời Nguyễn Du bề ngoài chỉ là kể chuyện tai nghe mắt thấy, tưởng chừng lạnh lùng, vô tư nhưng ngẫm ra thì bên trong chứa bao ý vị sâu sắc: thương xót dân đen khổ ải, chê trách vua chúa ham ăn chơi phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của trăm họ. Thì ra, chúa Nguyễn hay chúa Trịnh cũng cùng một duộc mà thôi.
    Thấy trời về chiều, Nguyễn Du nói:
    - Tối nay trưởng huynh tôi có mở tiệc trên hồ Giám, mời các văn nhân uống rượu, nghe hát, làm thơ. Xin mời Trần huynh quá bộ đến dự cuộc vui, nếu được thừa tiếp một bậc danh sĩ đất Thuận Hóa như Trần huynh, hẳn gia huynh và các quan khách sẽ lấy làm hân hạnh.
    Kỷ nhận lời, đi cùng Nguyễn Du. Tới nơi thì trời chưa tối, Kỷ đòi vào xem cảnh nhà Giám. Văn Miếu hướng mặt về Nam, trông ra hồ Giám. Qua cái cổng lớn xây gạch theo kiểu tam quan, đi theo con đường gạch chạy qua sân thứ nhất thẳng tới cổng lớn thứ hai là Đại trung môn, hai bên cũng có hai cổng nhỏ. Sau đấy vào sân thứ ba, có một giếng nước hình vuông, xung quanh có bao lan gọi là Thiện quang tỉnh. Qua cửa Đại thành, vào sân thứ tư tức là khu vực chính của Văn Miếu gồm Đại Thành điện là nơi thờ tiên thánh, gồm hai nếp nhà chính cách nhau bằng một cái sân hẹp, mái lợp bằng thứ ngói cổ rất to và dày. Nếp nhà ngoài là nhà Đại bái để bày đồ thờ và tế lễ. Nếp nhà trong là Chính tẩm, ba mặt xây tường hoặc trước có cửa gỗ bức châu, trong chính tẩm có khán thờ đặt trên bệ gạch để thờ Khổng Tử. Nhà Giải vũ ở hai bên tả hữu chia ra thờ các tiên hiền, tiên nho. Điện Canh phục làm nơi túc yết đế, các quan lại tới túc trực trước khi làm lễ, một kho chứa đồ tế khí và một phòng làm nhà bếp. Đằng sau Văn Miếu là khu nhà học, gồm nhà Minh Luân và nhà Thái Học. Trong khu nhà Thái Học, có hai giảng đường, một ở phía Đông một ở phía Tây, làm chỗ giảng dạy học trò, và một kho bí thư để chứa ván gỗ đã khắc thành sách. Hai phía Đông và Tây nhà Thái Học lại dựng mỗi bên một nhà bia để trưng bày những bia đá có ghi tên những người đỗ tiến sĩ của từng khoa thi từ đầu đời Lê đến lúc bấy giờ, mỗi khoa một bia. Hai bên Đông Tây nhà Thái Học còn làm nhà cho học sinh ở, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25 gian, tổng cộng 150 gian. Nguyễn Du nói:
    - Những gian này chứa được ba trăm học sinh là những người đã thi hương ở các địa phương và dự trùng được bốn kỳ…
    - Cậu có phải là sinh viên Quốc Tử Giám không?
    Nguyễn Du cười:
    - Tôi tuy mới đỗ tam tường nhưng các quan nể gia nghiêm nên đặc cách cho tôi vào học nhà Giám. Mấy lần tôi đến dự cuộc bình văn ở đấy, thấy Quốc lão Nguyễn Hoàn ngồi chủ tọa, chẳng biết đánh giá văn chương gì cả, thủy chung chỉ hi hí cười mà thôi. Chỉ có Tứ xuyên hầu Phan Lê Phiên và Kế liệt hầu Bùi Huy Bích là am hiểu văn chương đôi chút. Nhưng thứ văn mà các ông ấy ưa chuộng lại là thứ văn sính dùng từ chương điển cổ, không có gì thiết thực cho nhân tâm thế sự. Vì thế tôi chán không đến tập văn ở nhà Giám nữa…
    - Cậu không thích học nhà Giám thì sao có thể thi đỗ ra làm quan được?
    - Cứ kể ra tôi có thể tập ấm ra làm quan văn được, nhưng tôi lại thích cải sang võ chức như Nguyễn Huy Tự. Hiện tôi có người cha nuôi họ Hà, là Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu ở Thái Nguyên, tôi định lên đó tòng ngũ dưới quyền ông nhưng vì tính ham chơi bời nên còn nấn ná ở đất Thăng Long này.
    - Trông cậu có vẻ phong lưu công tử, chắc thành thạo về đường ăn chơi lắm thì phải?
    Nguyễn Du cười:
    - Không hẳn thế đâu. Tôi chỉ thích những thú chơi thanh nhã như nghe đàn, nghe hát mà thôi. Hồi ở Bắc Ninh quê mẫu thân tôi, tôi thường hay đi nghe hát quan họ. Còn khi ở Nghệ An, quê nội, tôi lại thích nghe hát phường vải. Nhớ lại hồi đi hát phường vải, tôi gặp một cô gái tên là Cúc, người đẹp giọng hay, tài bẻ chuyện, nhưng chỉ phải một nỗi sắp quá thì. Tôi liền bẻ một câu:
    “Trăm hoa đã nở tiết xuân
    Cớ sao cúc lại muộn mằn về thu”.
    Cô Cúc cũng hát đáp lại:
    “Vì chưng ham chút nhị vàng,
    Cho nên Cúc phải muộn màng về thu”
    Kỷ buộc miệng khen:
    -Hay! Hay! Quả kỳ phùng địch thủ.
    Nhưng lúc này đôi mắt Nguyễn Du đang mơ màng nhìn đi xa. Trước mắt ông như hiện ra cảnh các cô gái ngồi tựa cột nhà, mỗi người một cái xa, một chân đạp lên then xa, một chân co lại, tay phải quay quàng xa, tay trái cầm sợi vải đưa lên đưa xuống uyển chuyển nhịp nhàng như múa. Tiếng xa quay vè vè với tiếng quàng kêu ro ro êm ái tạo nên một điệu nhạc trầm trầm đệm cho câu hát du dương. Bấy giờ đêm đã khuya, không gian tứ bề im lặng. Tiếng hát mảnh như tơ giăng dài trong không gian ràng buộc lòng người. Tiếng hát “giọng cao đón gió, giọng trầm lắng sương” làm hơi thở như ngừng lại, nhịp tim đập chậm hơn, lắng sâu vào tận đáy lòng. Trai gái đắm chìm trong tiếng hát, trong nguồn yêu đương dào dạt như chỉ có mình họ giữa trời đất mênh mông… Hồi ấy, Nguyễn Du thường sang Trường Lưu chơi với Nguyễn Huy Quýnh, chú Nguyễn Huy Tự, được ông Quýnh dẫn đi hát phường vải. Sau buổi hát đầu tiên, từ đấy đêm nào Nguyễn Du cũng quen lệ tìm sang. Có lần nhỡ hẹn không sang, thế là lần sau đến, trước khi ra về, các cô gái còn bắt chàng gởi khăn áo lại để làm tin. Rồi dần dần sau cuộc hát đối, một cô gái Trường Lưu tên Sạ đem lòng yêu Du, bỏ cả nghề canh cửi. Nguyễn Huy Quýnh biết chuyện viết thư hộ để kể lể sự tình:
    “Trời làm chi cực bấy trời
    Cơi trầu này để còn mời mọc ai,
    Tim gan đổ hắt ra ngoài,
    Trông theo truông Hống đò Cài thấy đâu.
    Khi lên để rối cho nhau,
    Khi về trút một gánh sầu về ngay...”
    Nguyễn Du cũng viết bài Thác lời trai phường nón để trả lời:
    “Giữa thềm tàn đuốc còn tươi,
    Bã trầu chưa quết nào người tình chung
    Hồng Sơn cao ngất mây trùng
    Đò Cài mấy trượng thì lòng bấy nhiêu
    Làm chi cắc cớ đến điều
    Mới đêm hôm trước lại chiều hôm nay…”
    Nghe Nguyễn Du kể chuyện đến đây thì dừng lại, Kỷ sốt ruột:
    - Thế câu chuyện tình giữa cậu Chiêu với cô Sạ sau rồi đi đến đâu?
    - Sau cô ấy đi lấy chồng, tui bực mình bèn viết bài văn tế sống cô ấy để trả đũa!
    Hai người cùng cười. Nguyễn Du trầm ngâm rồi nói:
    - Trước cứ nghĩ đó chỉ là mối tình lúc tuổi trẻ bồng bột thôi, ai ngờ hóa ra sâu nặng đáo để. Có lẽ vì đó là lúc mình mới bước vào đời, cái thời nhìn cái gì cũng đẹp, mùa xuân dễ khiến cho người ta yêu đương, ngọn gió như se những tà áo vào với nhau, cành cây cũng nghiêng xuống như thầm thì với người và tiếng chim hót như lời chào đón… Lúc đó, tôi chỉ giận tiếng gà gáy làm tan mất giấc mộng đẹp nên đã viết: “Tan canh chỉ giận con gà chết toi. Tức gan cho cái sao mai. Thảo nào vác búa đánh trời cũng nên”. Nhưng sau khi mối tình đầu lỡ dở, tôi thấy mình không thể yêu dễ dàng như trước nữa. Thú thật với Trần huynh là từ ngày đó đến giờ tôi chưa yêu ai mà chỉ chơi bời cho khuây khỏa. Cũng vì thế mà tuy có quen một giai nhân tài sắc của Thăng Long, tôi cũng không dám coi cô ta như người tình mà chỉ là bạn tri âm thôi. Tối nay, tôi sẽ giới thiệu cô ấy với Trần huynh, nếu hai người ưng nhau thì đó quả là thiên duyên kỳ ngộ vậy…
    Bảy giờ trời đã tối. Bờ hồ Giám, trên những cây phù dung treo đèn lồng, ánh sáng dập dờn trông như ngàn vạn ngôi sao sa. Tham tụng Nguyễn Lệ anh trưởng Nguyễn Du đi cáng đến hồ, xuống thuyền lớn ở chính giữa, trên mui treo đèn kết hoa, trong khoang dọn bàn tiệc để đãi khách quý. Nguyễn Lệ ngồi chính giữa, hai bên là các Bồi tụng Phan Lê Phiên và Bùi Huy Bích. Những thuyền nhỏ châu chung quanh là các quan lại và văn nhân. Nguyễn Du dắt Kỷ xuống thuyền giới thiệu với Nguyễn Lệ. Lệ niềm nở:
    - Tôi được gia phụ cho biết Trần giải nguyên lặn lội từ Thuận Hóa ra đây, nên kính mời ông rời gót ngọc đến dự tiệc mọn, để người Bắc Hà chúng tôi được thừa tiếp một danh sĩ ở Đàng Trong.
    Kỷ chắp tay cám ơn. Nguyễn Lệ mời Kỷ ngồi cùng với mình nhưng Kỷ khiêm tốn ngồi né sang một bên. Nguyễn Du cũng ngồi bên cạnh thay anh tiếp Kỷ. Mở đầu bữa tiệc, Nguyễn Lệ nói:
    - Bữa nay, chúng ta họp mặt ở đây uống rượu thưởng trăng, nghe đàn, nghe hát, sau đó mỗi người phải làm một bài thơ, ai không làm được thơ sẽ bị phạt một chén rượu. Các vị có bằng lòng không?
    Mọi người dạ ran, Phan Lê Phiên nói:
    - Xin mời Hồng Lĩnh hầu( ) ra đề.
    Nguyễn Lệ khiêm tốn:
    - Đây có Tứ xuyên hầu và Kế liệt hầu là bậc văn chương hơn đời, xin mời hai vị ra đề cho.
    Phan Lê Phiên và Bùi Huy Bích nhường nhau mãi, cuối cùng Bích ra đề: “Vịnh hoa sen”. Mỗi người đều vịnh một bài thơ, nhưng phần lớn tầm thường sáo rỗng, nét mặt Bùi Huy Bích có vẻ không vui. Nhân tài Bắc Hà kém thế này thật là bẽ mặt trước người khách ở Thuận Hóa tới. Ông toan đọc một bài thơ để Kỷ biết tài thơ của danh sĩ Bắc Hà, nhưng lại ngại mình là chủ tọa cuộc ngâm vịnh nên chưa tiện trổ tài. Bỗng ông nhìn thấy Nguyễn Du đang ngồi mỉm cười liền nhắc:
    - Còn cậu Chiêu Bảy sao chưa đọc thơ cho mọi người nghe.
    Nguyễn Du vì ngại có anh mình ở đây nên không muốn ganh tài với khách của anh. Thấy Bùi Huy Bích nhắc, chàng liền chắp tay thưa:
    - Bẩm các đại nhân và chư vị, Du nay xin mạo muội đọc một bài thơ, xin các đại nhân và chư vị phủ chính cho.
    Rồi Nguyễn Du cất giọng đọc:
    “Công tri liên liên hoa
    Thùy giả liên liên cán
    Kỳ trung hữu chân ti
    Khiên liên bất khả đoạn
    Liên diệp hà thanh thanh
    Liên hoa kiều doanh doanh
    Thái chi vật thương ngẫu
    Minh niên bất phục sinh”.  

    Dịch:
    “Yêu sen, người yêu hoa
    Cuống sen ai thưởng thức
    Trong cuống có tơ mành
    Hoa lìa tơ khó đứt
    Lá sen dờn dờn xanh
    Hoa sen mơn mởn đẹp
    Bẻ sen chớ chạm ngó
    Năm sau hoa chẳng sinh”.
    Nghe xong, Bùi Huy Bích hỏi cử tọa:
    - Xin các vị cho biết ý kiến về bài thơ này?
    Phan Lê Phiên tấm tắc:
    - Bài thơ này quả là có ý tứ cao kỳ, không chỉ nói đến hoa sen mà còn nói đến cuống, tơ, lá, ngó sen liên quan với nhau, qua đó nói được cái tính của con người ràng buộc với vạn vật…
    Kỷ thầm nghĩ chắc khi làm bài thơ này Nguyễn Du nghĩ đến mối tơ tình chưa dứt với cô gái phường vải. Bỗng nghe thuyền bên cạnh có người nói:
    - Tứ xuyên hầu phẩm bình rất chí lý. Tài thơ của cậu Chiêu Bảy quả là không hổ với mạch thư hương của nhà họ Nguyễn Tiên Điền…
    Thấy người khen dòng dõi nhà mình, Nguyễn Lệ có vẻ đắc ý, nhưng cố làm ra vẻ khiêm nhượng. Giữa lúc ấy ở thuyền bên lại có tiếng người nói lớn:
    - Bác Vĩ Khiêm nói thế chưa đúng lắm. Cậu Chiêu Bảy có tài như vậy sao đi thi chỉ vào đến tam trường. Có phải vì cái tài văn chương xuất sắc nên mới bị quan trường đánh hỏng hay không? Thế mới biết cái học khoa cử chỉ tổ đánh mất nhân tài mà thôi!
    Mọi người nhìn ra thì đó là Ngô Thì Nhậm. Bùi Huy Bích thấy Ngô Thì Nhậm chỉ trích khoa cử, có ý không bằng lòng nên nghiêm giọng:
    - Ngô Thì giảng nói vậy không đúng. Nếu cái học khoa cử mà sai lầm thì sao ông lại thi đỗ tiến sĩ? Như vậy hóa ra ông cũng là bất tài ư?
    Phan Lê Phiên thấy găng, lại dàn hòa:
    - Lời Bùi đại nhân và Ngô Thì giảng nói đều chưa hết lẽ. Đi thi phải làm văn sách, chiếu biểu để sau này ra làm việc quan; còn làm thơ là cái tài riêng của mỗi người, có khi thi không đỗ mà vẫn làm thơ hay. Như Lý Bạch đâu có đỗ tiến sĩ mà vẫn hay thơ hơn bao nhiêu ông tiến sĩ khác, qua đó đủ thấy thơ hay không liên quan gì đến chính sự.
    Ngô Thì Nhậm gay gắt:
    - Phan đại nhân nói như vậy cũng chưa thấu lý đạt tình. Ngày xưa, khi vua nước Địch đưa thư đến hăm dọa sẽ chinh phục Trung Nguyên, trong triều nhà Đường không một vị tiến sĩ nào thảo nổi thư trả lời, chỉ có mình Lý Bạch viết được thư khiến cho vua nước Địch đọc xong không dám xâm phạm đến Trung Nguyên nữa. Bởi vậy mới có câu “Bạch thi thoái lỗ”( ). Sao lại bảo là tài thơ không có liên quan gì đến chính sự. Tôi nhớ Dĩnh thành hầu đã từng phải than: “Sĩ tập ngày nay suy bại quá lắm”. Suy bại là bởi đâu nếu không phải do tệ của cái học khoa cử. Sĩ phu chỉ đua nhau theo lối học tầm chương trích cú cốt sao được “dạ” một tiếng ở trường thi, để làm quan vinh thân phì gia không nghĩ gì đến việc kinh bang tế thế.
    Thấy Ngô Thì Nhậm nhắc đến địch thủ của mình là Lê Quý Đôn, Nguyễn Lệ không bằng lòng, nên lái câu chuyện sang hướng khác:
    - Có câu “chủ không lấn khách”, nhân tiện có Trần Giải nguyên là bậc danh sĩ ở Thuận Quảng ra đây, xin mời ông vịnh một bài thơ, để bọn tôi còn lắng nghe lời phun châu nhả ngọc của ông.
    Trần Chánh Kỷ khiêm nhượng:
    - Bẩm các đại nhân và chư vị, vừa rồi Ngô Thì giảng có nhắc tới Lý Bạch, tôi cũng xin phép đọc hai câu thơ của Lý Bạch khi thấy bài thơ Thôi Hiệu đề trên lầu Hoàng Hạc: “Nhãn tiền hữu đạo cảnh bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”( ). Vừa rồi được nghe thơ của cậu Chiêu Bảy tôi tự thẹn tài mình không sao sánh kịp, nên không dám đọc thơ e làm rác tai các vị ở đây.
    Nguyễn Lệ giục mãi nhưng Kỷ vẫn một mực từ chối. Bùi Huy Bích nói:
    - Trần Giải nguyên đã cố chối thì ta không nên ép. Xin Nguyễn đại nhân cho đòi ca nữ ra đây đàn hát cho chúng ta cùng thưởng thức.
    Nguyễn Lệ dõng dạc:
    - Truyền cô Cầm ra đánh đàn hầu quý khách, nghe!
    Từ thuyền bên một ca nữ trẻ tuổi ôm đàn nguyệt bước sang chiếc thuyền lớn, cúi trước mặt Nguyễn Lệ. Kỷ nhìn kỹ thấy nàng mặt tươi như hoa đào, mày thanh má phấn, áo hồng, quần lụa cánh chả, đầy vẻ phong lưu yểu điệu. Má cô đỏ vì rượu hay vì màu áo hồng ánh lên, vẻ ngây thơ dễ thương càng nhìn lại càng ưa. Cô gảy một khúc đàn, năm cung réo rắt thay đổi theo ngón tay, tiếng thánh thót tiêu tao khác hẳn mọi khúc trên đời đương thường nghe. Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông, tiếng trong như đôi chim hạc trên trời xa thẳm. Tiếng mạnh như sét đánh tan tấm bia đá, tiếng buồn như lời rên của người mang bệnh nhớ nước… Lúc ấy, bốn bề đều im lặng chỉ còn tiếng đàn réo rắt như thổ lộ nỗi niềm riêng tư trong lòng. Nghe đàn, Kỷ thấy bứt rứt xốn xang, có lúc phải chau đôi mày, có lúc phải nắm chặt bàn tay lại để chế ngự bớt niềm cảm xúc.
    Trong âm hưởng tiếng đàn, mặt hồ dường như càng mênh mông hơn, khói sóng mỗi lúc một mờ ảo hơn và óng ánh những ngọn đèn lồng cũng chập chờn khi tỏ, khi mờ. Kỷ tỳ khuỷu tay vào mạn thuyền cúi đầu xuống lắng nghe tiếng đàn thấm dần vào lòng như nguồn nước mát. Tiếng đàn đã ngừng rồi mà dư âm còn xao xuyến trong không trung, như tiếng thở dài của rặng lau sậy ven hồ, tiếng nức nở của lớp sóng chìm trong đáy nước.
    Bỗng Kỷ giật mình. Khách khứa trên thuyền đã về từ lúc nào, chỉ còn lại mình với Nguyễn Du và cô Cầm trong khoang thuyền lớn, trước mặt là mâm rượu đã tàn, chén bát bừa bộn. Đèn đuốc đã tắt hết, chỉ còn một vầng trăng sáng vằng vặc trên đầu, Nguyễn Du chỉ cô Cầm nói với Kỷ:
    - Xin giới thiệu với Trần huynh: đây là cô Cầm, người đàn cầm nổi tiếng nhất của kinh thành Thăng Long, đã học được khúc “Cung phụng” trong cung của triều vua trước- Rồi chàng lại chỉ vào Kỷ: còn đây là ông Giải nguyên Trần Chánh Kỷ, người đỗ đầu khoa thi hương trường Phú Xuân vừa rồi, nay lên kinh thi hội. Thấy hai bên một là văn nhân, một là tài nữ, nên tôi muốn cho hai người làm quen với nhau, nếu thành đôi tri kỷ, thì thật là thỏa lòng nguyện ước của Du này.
    Trần Chánh Kỷ nói:
    - Vừa rồi được nghe ngón đàn tuyệt diệu của nàng, tôi vô cùng xúc động, không ngờ bây giờ lại được thừa tiếp ngọc nhan, quả là ba sinh hữu hạnh. Chỉ hiềm vì tôi là kẻ quê mùa ở nơi cùng tịch, không xứng đáng được làm quen với một giai nhân tài sắc đất kinh kỳ.
    Cô Cầm cúi đầu giấu cặp má ửng hồng vì e thẹn.
    - Trần Giải nguyên đừng quá khiêm như vậy, phận ca nữ như thiếp đâu dám mơ tưởng được hội ngộ với một danh sĩ như chàng. Xin cảm ơn cậu Chiêu đã hao tổn tâm lực thu xếp cho cuộc gặp gỡ này, khiến thiếp được diễm phúc làm quen với một người vừa là bậc quân tử vừa là khách tri âm, chẳng khác gì Tử Kỳ đối với Bá Nha ngày trước.
    Trần Chánh Kỷ trìu mến:
    - Nàng đã thấu tấm lòng kính mộ của tôi, tôi rất lấy làm cảm kích. Nàng nhìn ra mà xem, cảnh lúc này đúng là “thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt, một vầng trăng trong vắt lòng sông” như trong thơ Bạch Cư Dị ngày xưa. Nàng khiêm tốn nói nàng là ca nữ, còn tôi tuy mang tiếng văn nhân nhưng bao ngày nổi trôi lưu lạc, hơn ba mươi tuổi đầu vẫn chưa thành danh nên càng bùi ngùi thương cảm cho thân thế mình bao phen lận đận. Nghe tiếng đàn của nàng mà vạt áo xanh càng thêm chan chứa giọt lệ Tầm Dương. Xin nàng vui lòng đàn cho tôi nghe một khúc nữa, để suốt đời tôi ghi nhớ mãi cuộc kỳ ngộ đêm nay.
    Cô Cầm dịu dàng:
    - Chàng đã sai khiến, thiếp dám đâu không tuân mệnh. Nhưng nếu tiếng đàn không được vui tai, xin chàng cũng vui lòng mà bỏ qua cho.
    Cô Cầm lại đàn một khúc nữa, lần này tiếng đàn càng tiêu tao hơn, có lúc như tiếng chim oanh ríu rít trong hoa, có lúc như nước tuôn róc rách đổ xuống ghềnh, có lúc nghe như tiếng bình bạc vỡ nước ào ạt tuôn ra, có lúc nghe như tiếng ngựa sắt phi ra chiến trường gươm đao xô xát. Có tiếng như lời nói u ơ của trẻ thơ, lại có tiếng xoàn xoạt như xé lụa. Cuối cùng, vì đánh mạnh quá nên dây đàn đứt phựt. Tiếng đàn đang ngân bỗng ngừng bặt, chính cái im lặng ấy lại chứa chan ý vị hơn khi tiếng đàn còn đang bổng trầm, dìu dặt…
    Nghe xong, Kỷ chắp tay nói:
    - Tạ lòng nàng đã thổ lộ nỗi niềm tâm sự trên phím tơ, tôi nghe tiếng đàn như lòng nàng thổn thức. Không ngờ một cô gái trẻ tuổi như nàng mà đã có nỗi lòng đầy uẩn khúc như vậy, hẳn là nàng đã trải qua nhiều cảnh éo le, ngang trái phải không?

     

    (còn tiếp)

    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

    ___

    [1] Vẫn biết đời thái bình có nhiều người cao thượng, nhưng nằm khểnh một nơi chỉ vì mình bất tài.

    [2] Màu xanh ở màu lam mà ra nhưng vượt hơn màu lam. Ý nói người không sánh kịp người.

    [3] Tức Hồ Hoàn Kiếm và Hồ Tây.

    2 Tức Nguyễn Du.

    [4] Hoa hòe vàng, sĩ tử bận rộn

    [5] Tức Trịnh Giang.

    2 Tức Trịnh Sâm.

    [6] Tước của Nguyễn Lệ.

    [7] Thơ Lý Bạch có thể đuổi được giặc.

    [8] Trước mắt có cảnh không nói được, Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,164,268

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/