Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,164,438

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

Hoài Anh

  • Thứ ba, 09:47 Ngày 27/07/2021
  • Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ

    Nói xong, Phúc quay lại bảo viên thư ký theo hầu trong quân là Nguyễn Hữu Chỉnh:
    - Lời hịch của ông thảo ra quả là có sức lay động lòng người.
    - Tôi nào có tài cán gì đâu, chẳng qua đó là nhờ uy đức của Minh công mà thôi.
    Phúc hài lòng truyền giục quân tiến lên. Thấy Trần Duy Trung vẫn quỳ ở bên đường, Phúc cho đòi tới bên kiệu để nói chuyện. Tới nơi Trần Duy Trung nhìn vào trong kiệu vừa được vén rèm, thấy một lão tướng mặt tròn phì nộn, hồng hào nhưng không râu nên trông có vẻ trơ trẽn – Phúc vốn xuất thân quan hoạn – Trần Duy Trung kính cẩn chấp tay lạy hai lạy rồi thưa:
    - Tiểu sinh Trần Duy Trung xin bái yết quan Bình nam thượng tướng quân! Nghe tin đại quân qua đây, tiểu sinh vui mừng khôn xiết ra nghênh tiếp để tỏ lòng kính mộ.
    Hoàng Phúc tìm lời ôn tồn phủ dụ nhưng giọng the thé như đàn bà:
    - Ta đọc bài thơ đã hiểu lòng thành của thầy rồi. Chẳng hay thầy có lời gì khuyên ta về công việc đánh dẹp nên như thế nào thì cứ việc trình bày, đừng ngại ngùng gì cả.
    Trần Duy Trung nói nhỏ:
    - Bẩm Minh công, quân Nguyên không quen đánh bộ, chỉ quân thủy là giỏi. Đại quân ở xa tới, xin đừng tranh ở chỗ sở trường của họ.
    Hoàng Ngũ Phúc bèn cho là phải, giữ Trần Duy Trung ở lại trong quân và ban cho chức Câu kê.
    Mấy bữa sau, sứ giả của chúa Nguyễn mang đến dâng năm mươi nén vàng mười, kèm theo một tờ biểu dâng vua Lê, một tờ khải dâng chúa Trịnh, cám ơn về việc đưa quân vào làm thanh viện giúp mình lấy lại đất Quảng Nam. Lại có một bức thư riêng gởi cho Phúc. Phúc giở thư xem thấy trong thư có đoạn viết:
    “Nay thiểm thích vì còn trẻ dại mà làm việc, phàm binh chính được mất, dân gian ta tật khổ chưa từng trải qua, sợ hãy như cầm dây cương nát mà đánh sáu ngựa. Thấy Trương Đạt  vốn là người huân cựu tuổi tác, lại làm bảo phó, nên hết thảy công việc đều phó thác không ngờ. Dè đâu Trương Đạt là đứa tiểu nhân, đã khinh thiểm thích trẻ trung, nhiều cách che lấp, lại dùng bọn tôi tớ làm tay sai, tha hồ ngang dọc, hút hết mỡ dân mà đứng nhìn người chết, hao hết sức lính mà chỉ mưu béo mình, nói tới điều ấy “cắn rốn không kịp” . Đến như Thái Sinh, xuất thân khoa giáp, lại thân thuộc Trương Đạt, làm quan đến Hộ bộ, ai biết người ấy mà tệ ấy, thực là danh giáo tội nhân, đáng bắt giải nộp cửa tướng, xé xác ra làm muôn đoạn để rửa giận cho quân dân, nhưng Thái Sinh ở trong ngục vì lo mà đã chết rồi. Nay Quốc lão ủy sai Khổn võ hầu đến báo, như nói trước hết để trừ giặc mọt Trương Đạt, rồi sau trừ đến Biện Nhạc ngông cuồng để cứu dân đen, đó là trời nhờ tay Quốc lão để yên dân Thuận Quảng vậy. Anh hùng như thế đáng là bia tạc núi Yên. Lại nói có thể sai một hai người thân vọng, xin nộp thuyền ghe voi súng, phá bằng lũy Thầy và niêm phong của cải của Trương Đạt, phàm châu ngọc vàng bạc, đồ đạc, tiền thóc và voi ngựa thuyền súng đều phải đệ nộp. Đến như các vật kiện của hai xứ thì hiện còn phải sai phái đi đánh giặc, chưa có thể kê rõ cặn kẽ được, hãy đợi sau xong rồi sẽ đem thực số viết sổ chuyển tâu lên và khải lên để nộp. Còn của cải của Trương Đạt thì niêm phong như cũ, rồi lại sẽ giải nộp sau. Đến như tiền thóc khác thì trước đã chẩn phát cho quân dân để đền vào máu mỡ của họ ngày thường đã bị hao tổn. Còn các viên công tộc, các viên tướng tá thì cũng một lòng quy thuận, mong tạ ơn. Đó chính là sợ uy của trời để cứu lấy mạng mạch sinh linh của hai sứ Thuận Quảng vậy. Cầu xin soi xét chiếu tới tim phổi này.
     Kính thư”.
    Đọc xong biểu, khải và thư, Hoàng Ngũ Phúc thầm nghĩ: Đúng là Nguyễn Phúc Thuần đã mắc mưu qua bức thư mình đưa tới hôm trước nói việc hành quân này chỉ cốt trước hết trừ khử một Phúc Loan, sau nữa tiêu trừ bọn giặc Tây Sơn kiệt hiệt, thực không có ý gì khác cả. Nhưng muốn làm cho bọn chúng càng tin hơn nữa thì phải giả bộ giận dữ mới được. Phúc bèn cho gọi sứ giả của chúa Nguyễn vào hầm hầm quát mắng:
    - Các ngươi toan đặt lời múa mép ngăn trở việc binh hòng che mắt ta sao nổi? Đất đai Thuận Quảng mất rồi, dám nói lấy lại được tám, chín phần. Biện Nhạc vẫn tung hoành như cũ, bảo chỉ còn một hai xứ chưa yên ổn. Hiện giờ Nhạc còn đóng ở xã Câu Đê xứ Quảng Nam, có đúng không?
    Sứ giả run sợ:
    - Bẩm… quả là không thể giấu giếm quốc lão một điều gì.
    - Hừ, chúa của ngươi đã dung túng cho bọn gian thần, thư gửi tới chỉ nói hàm hồ, từ lời đến ý không có chút nào thành thực. Ta đã mở rộng lòng thành nói hết ý thương người tai nạn, cầm quân phòng bị, toan dùng mưu gỡ mối nguy nan. Vậy mà chúa của ngươi đã bao che cho kẻ gian, lại cố giữ lòng nghi ngờ, toan lời dối ta phải chăng? Ta bảo thật, nếu không sớm bắt Trương Đạt nộp trước trại quan thì ta sẽ san thành Phú Xuân thành đất phẳng, lúc ấy hối thì đã muộn.
    Sứ giả về tâu lại với triều đình Đàng Trong. Thấy Nguyễn Phúc Thuần còn do dự không dám nộp Trương Phúc Loan, các tướng Nguyễn là bọn Nguyễn Cửu Pháp cùng nhau lập mưu bắt Phúc Loan, đem nộp quân doanh Ngũ Phúc. Ngũ Phúc bắt được Phúc Loan mừng lắm, lại hạ lệnh cho quân cuốn cờ im trống, kéo lên đến huyện Đăng Xương, lại đưa thư nói: Giặc Tây Sơn chưa tiêu trừ xong, xin hội quân ở Phú Xuân để ứng tiếp.
    Lúc ấy Đàng Trong mới vỡ lẽ là Ngũ Phúc không có ý định rút quân, mới cử Tôn Thất Hiệp làm Thống binh quản lãnh, thuộc hạ là bọn cai đội đặng đem quân chống cự. Chưởng cơ Nguyễn Văn Chính đem các quân thủy, quân bộ hội ở sông Bái Đáp. Ngũ Phúc mật sai bọn Hoàng Đình Thể và Hoàng Nghĩa Phúc do đường núi sang ghềnh Trần và ghềnh Ma rồi mặt trước, mặt sau đánh khép lại. Văn Chính cố sức đánh, bị chết trận, các quân đều tan vỡ.
    Nguyễn Nhạc sai sứ đến cầu hòa với Hoàng Ngũ Phúc. Hoàng Ngũ Phúc chấp thuận, tâu chúa Trịnh xin phong cho Nhạc làm Tây Sơn Hiệu trưởng Tráng tiết tướng quân. Sau đó, chúa Trịnh lại phong cho Nhạc chức Quảng Nam Trấn thủ, Tuyên úy Đại sứ, tước Cung quốc công.
    Rảnh tay đối phó với quân Trịnh, Nguyễn Nhạc tập trung binh lực vào đánh chúa Nguyễn. Định Vương phải chạy rút vào Quảng Nam. Theo lời khuyên của Nguyễn Cửu Dật, Định Vương nhường ngôi cho cháu là Hoàng Tôn Dương, hiệu là Tần Chánh Vương, còn mình thì làm Thái Thượng Vương.
    Nguyễn Nhạc đem quân tấn công và bắt được Dương ở Câu Đê, xứ Quảng Nam. Nhạc đối đãi với Dương rất mực ôn tồn và gả con gái cho Dương. Nhưng sau đó Dương bỏ trốn vào Ba Giồng. Được quân Đông Sơn của Đỗ Thành Nhơn giúp đỡ, Thái Thượng Vương và Tần Chánh Vương trở về Bến Nghé. Nhưng chẳng bao lâu Tây Sơn đem một đạo thủy quân, một đạo lục quân hùng hậu cùng tiến vô Bến Nghé, đánh tan quân Đông Sơn. Thái Thượng Vương phải chạy xuống Cần Thơ. Tây Sơn bắt được Tần Chánh Vương ở Ba Vác, thuộc cù lao tỉnh Bến Tre, áp giải về Sài Gòn và xử tử ở chùa Kim Chương. Lối cuối tháng Chạp đầu tháng Mười năm Đinh dậu , Thái Thượng Vương bôn tẩu về Kỳ Giang (có lẽ là sông Cái Bé và sông Cái Lớn ở Kiên Giang ngày nay). Tây Sơn đến tập kích bắt được ông cũng áp giải về Sài Gòn xử tử ở chùa Kim Chương. Chỉ có Nguyễn Ánh cháu gọi Thái Thượng Vương bằng chú ruột trốn thoát được.
    *
    Ngày mồng ba Tết Ất mùi , quân Trịnh vào chiếm thành Phú Xuân.
    Nghe tin vừa chiếm được Phú Xuân. Trịnh Sâm sai sứ thần dụ bảo nhân dân Thuận Hóa: tha cho tô thuế, đình hoãn việc bắt phu tráng và nộp quân nhu. Lại cho phép kỳ lão, hào mục ở dân gian đều được giãi bày điều lợi hại về tình trạng của dân cùng đem cơ mưu về việc binh nên đánh nên giữ thế nào tâu lên để triều đình rõ.
    Khi Ngũ Phúc có bệnh phải triệu về triều, Trịnh Sâm sai Bùi Thế Đạt và Nguyễn Đình Đống trấn giữ Thuận Hóa và dùng bọn Phan Lê Phiên, Uông Sĩ Điển và Nguyễn Lệnh Tân giúp việc. Sau đó bổ dụng Lê Quý Đôn và Nguyễn Mậu Dĩnh giữ chức hiệp đồng, xếp đặt công việc trong quân.
    Năm Bính thân , quan Hiệp Trấn phủ Dĩnh thành hầu Lê Qúy Đôn vào Thuận Hóa. Đường qua xã Yên Định, có một nhà nho tên là Lê Viết Trinh đón đường dâng thơ. Lê Quý Đôn giở ra xem thấy trên ba bài thơ có bài tiểu dẫn rằng:
    “Gia thế tôi vốn theo nghiệp nho, tài sơ học cạn, không được nước cũ dùng, ẩn náu ở Phú Xuân, chuyên dạy học trò, xuân thu thấm thoát đã quá năm mươi tuổi. Từ tháng Giêng năm Giáp Ngọ, trông thấy quân nhà vua tới cõi, mới trở về làng, chính muốn nhàn để được lấy giáo hóa mới. Nhưng vì liền năm đói kém, mất kế sinh nhai, chính là “Lòng lo gạo củi trời khôn hiểu, vận gặp ba đào mộng cũng kinh”, thường muốn trở về dinh Phú Xuân để cúi bày một vài ý kiến nhỏ bé, nhưng bởi tráng sĩ hổ thẹn về nỗi hết tiền, khó mà thực hiện được kế ấy. Nay lại thấy xe thiều phó nhậm đi qua địa phương, bất giác quên mình quê mùa, viết thành ba bài thơ luật để ngụ ý nhỏ dâng cầu hiến bộc. Nếu có nhờ ơn dung nạp, không bỏ lời quê thì dù không phải là gươm thanh bình, ngọc kết lục, nhưng cũng nhờ giá cao ở cửa Tiết Chúc, Biện Hòa vậy”.
    Lê Quý Đôn đọc đến thơ thì thấy bài thứ hai viết như sau:
    “Nam Bắc mừng nay đã một dòng,
    Lẽ nào tiền tệ chịu không thông
    Tiền Thương khuôn mới chì đem đúc
    Đồng Nguyễn đồ xưa phải phá tung
    Vật giá tự nhiên không nảy vọt
    Sinh dân hầu sẽ được ung dung
    Cứu thời mong duỗi tay thay giỏi
    Điều gấp trước tìm bệnh đế công”.
    Lê Quý Đôn úy lạo Lê Viết Trinh và mời bữa khác đến công đường làm việc. Mấy bữa sau, Lê Viết Trinh tới, Lê Quý Đôn truyền pha trà khoản đãi. Chuyện trò một hồi, Lê Quý Đôn hỏi:
    - Bữa trước ông gởi thư cho ta nói chuyện tiền tệ chẳng lưu thông, chẳng hay đầu đuôi việc đó thế nào?
    Lê Viết Trinh thưa:
    - Bẩm quan Hiệp trấn, họ Nguyễn trước kia cũng đúc tiền đồng, dân gian hay phá tiền đồng làm đồ, tiền cũ mỗi ngày một hao. Đỉnh Quốc công  từng đúc tiền đồng, kể tốn rất nhiều. Hiến Quốc công  nghe lời người Khách họ Hoàng mới mua kẽm của nước Hòa Lan để đúc tiền, mở trường đúc ở xã Lương Quán, mỗi trăm cân giá tiền tám quan, tính trừ phí tổn về tiền ăn tiền công ra, còn được 20 quan tiền, vành và nét chữ theo dáng tiền Đường phù nhà Tống. Lúc mới đúc tiền rất cứng dày, tuy có thể đốt chảy nhưng không thể bẻ gãy được. Lại nghiêm cấm đúc tiền riêng nên tiền ít khi mỏng quá, việc công việc tư đều tiện tiêu dùng. Thế rồi người ta cất chứa tiền đồng không cho phát ra. Lần đầu người quyền thế tranh nhau xin đúc thêm, đến hơn trăm lò, gọi là tiền “Thiên minh thông bảo”, trộn lẫn cả chì vào, tiền càng ngày càng nhỏ mỏng, có thể bẻ gãy được. Dân gian hiềm tiền xấu, mua bán không thông. Trước một đồng tiền kẽm ăn một đồng tiền đồng, đến nay thì ba đồng mới ăn mà còn chọn bỏ. Thuyền buôn nước ngoài đến hết thảy đều không chịu lấy, đòi đổi vàng bạc và tạp hóa lấy gạo muối rồi đòi đi. Nhà giàu chứa cất nhiều tiền không dùng được, không chịu bán thóc ra, vì thế giá gạo cao vọt…
    Lê Quý Đôn chăm chú nghe rồi hỏi:
    - Thế trước đây không ai có ý kiến gì về chuyện dùng tiền kẽm cả?
    - Bẩm, trước đây có Dật sĩ Ngô Thế Vân viết bài luận về tiền tệ dâng Định Vương nhưng Định Vương không xét đến. Bài luận đại ý nói: Ngày nay thiên hạ bình định đã lâu, đất rộng dân đông, những đất trồng lúa đã khai khẩn hết, nguồn lợi núi chằm đã khai thác hết. Hơn nữa, ruộng ở Phiên Trấn và Long Hồ lại không bị hạn lụt bao giờ. Thế mà từ năm Mậu Tý đến nay, giá thóc cao vọt, nhân dân đói kém là cớ làm sao. Thần trộm nghĩ không phải là thiếu thóc mà chính vì tiền kẽm gây nên vậy. Từ khi việc đúc trộm tiền kẽm ở Ba Xắc hoành hành thì giá thóc ở Gia Định cao vọt, là bởi kẻ đúc trộm tiền kẽm được lợi rất nhiều, nên chở đi nơi khác thì sợ lộ việc gian, cho nên không kể hàng đắt hay rẻ, đều tùy tiện mà mua lấy, giá thóc bèn nhân đó mà đắt lên. Thóc đắt thì dân sợ đói, sợ đói thì tranh nhau mà mua để chứa, tranh nhau chứa thì thóc càng ngày càng đắt, thóc đắt thì mọi vật trong thiên hạ cũng theo đó mà lên. Huống chi tính người ta ai cũng thích cái bền chắc mà ghét cái chóng hỏng. Nay lại lấy đồng tiền kẽm chóng hư mà thay cho đồng tiền đồng bền chắc cho nên dân tranh nhau chứa thóc mà không chịu chứa tiền. Tuy nhiên, cái tệ tiền kẽm đã lâu rồi, nay muốn đổi đi thế rất là khó, mà nạn đói của dân lại rất gấp. Thần trộm nghĩ phương kế ngày nay không gì bằng đặt kho thường bình, mỗi phủ một kho, đặt quan phụ trách, tùy phủ mà định giá thường bình, thóc rẻ thì theo giá mà đong vào, thóc đắt thì theo giá ấy mà bán ra. Như thế thì giá thóc không đến mức rẻ quá để hại nhà nông đến nỗi phải bỏ nghề, cũng không đến mức đắt quá để làm lợi cho bọn phú thương mà dân nghèo thì đói. Rồi sau sẽ dần dần đổi cái tệ tiền kẽm.
    Lê Quý Đôn ngẫm nghĩ rồi nói:
    - Lời bàn của Ngô Thế Lân rất hợp lý, chỉ tiếc Nguyễn Phúc Thuần không biết nghe. Nhưng nay ta chưa lấy được đất Gia Định thì việc vận chuyển thóc từ trong đó ra không thể làm được. Nhà thầy có kế gì đóng góp với ta để xử trí công việc trước mắt hay không?
    Lê Viết Trình Nói:
    - Tôi đã viết trong bài thơ: “Tiền thương khuôn mới thì đem đúc. Đồng Nguyễn đồ xưa phải phá tung” là ý nói nên đem những đồ đồng bắt được của họ Nguyễn mà không dùng được, để đúc tiền đồng. Có như vậy mới tránh được cái tệ dân gian dùng nồi đất nấu kẽm, lấy thìa rót vào khuôn tiền, lấy ra mài qua thành tiền giả mà không ai hay biết.
    Lê Quý Đôn khen phải bèn dâng tờ khải về tâu chúa Trịnh. Ít lâu sau, có lệnh nhà Chúa truyền rằng phàm bắt được súng đồng ở Thuận Hóa, nòng súng đã rộng không dùng được, cùng là đồ đồng, tấm đồng nặng lớn không dùng được và không chở đi được thì đem phá hủy gấp mà đúc tiền. Đồng tiền nặng một đồng cân, để chữ “Cảnh hưng thuận bảo”.
    Lê Quý Đôn lại bàn với viên Trấn phủ là Đoan quận công Bùi Thế Đạt, sai Tả tượng cơ là Lai trung hầu coi việc đúc, mở xưởng đúc ở phía hữu trấn dinh, lấy cai đội cũ là Luận bình hầu Văn Thế Nghị đảm nhiệm việc ốp làm, lấy người am hiểu các xã làm thợ. Đỉnh to, vạc lớn, thùng lớn của họ Nguyễn nặng bảy,tám trăm cân trở xuống đều phá để đúc tiền.
    Đúc xong ba mươi ngàn quan tiền đồng, dùng tiền ấy chi dùng cho quân sĩ. Đồng tiền lưu thông trên thị trường, nhiều người bán thóc ra thu tiền đồng vào, nhờ đó giá gạo đã xuống thấp hơn trước.
    Nghe nói xã Nam Phổ hạ huyện Phú Vang có một dải núi đất, chân núi có vàng, Lê Quý Đôn liền xin với Bùi Thế Đạt thuê phu đào đất để lấy vàng.
    Trước đây, người Đàng Trong vẫn ăn mặc như người Đàng Ngoài. Đến năm Giáp Ngọ , Nguyễn Phúc Chu  nhân nghe người Nghệ An truyền câu sấm “Tám đời trở về Trung Nguyên”, thấy từ Nguyễn Hoàng đến lúc bấy giờ vừa đúng tám đời, bèn xưng Vương hiệu, lấy thể chế áo mũ trong “Tam tài đô hội” của Trung Quốc làm kiểu, hạ lệnh cho hàng võ từ chưởng dinh đến cai đội, hàng văn từ quản bộ đến chiêm hậu huấn đạo, đều y theo lối mới, áo đều dùng vóc đoạn, người sang thì dùng mãng bào thủy ba, mũ thì trang sức bằng vàng bạc. Lại hạ lệnh cho trai gái Thuận Quảng dùng quần áo thêu kiểu Tàu để tỏ sự biến đổi.
    Lê Quý Đôn chủ trương chính trị và phong tục phải thống nhất, không được mặc quần áo kiểu người Tàu mà mặc theo tục nước nhà. Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ cứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hay hẹp tùy tiện. Áo thì từ hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không cho xẻ mở. Duy đàn ông muốn mặc áo cổ tròn và hẹp cho tiện làm việc thì cũng được. Lễ phục thì dùng áo cổ cứng tay dài, vải xanh chàm hay vải đen, vải trắng, tùy nghi.
    Bấy giờ, lính và dân ở lẫn với nhau, quân đội cậy thế cướp bóc, dỡ trại quân để làm củi, đặt đồn về chuyên khám xét bắt bớ. Dân nấu muối bỏ nghề, quan cũ của họ Nguyễn cùng dân chúng tranh nhau ruộng đất mà sinh kiện cáo, kẻ khỏe thì to mồm, kẻ yếu thì uất ức.
    Lê Quý Đôn cùng đồng liêu bàn tính công việc khu xử, mới tạm đặt đề lại, định lệ kiện, cấm quan đồn xử kiện, việc nào xét, việc nào trấn xét, đều có quy chế. Lại sức cho tướng hiệu cấm quân lính không được ức hiếp cướp bóc, không được sai quân đến núi Hòn Chén ở thượng lưu để lấy củi, cắt cỏ, không được tự tiện vào nhà dân.
    Lại bỏ các sở thuế thân, thuế đò, thuế chợ rườm rà 140 sở. Ngoài ra, xã dân nào xin ngồi thu thì cấp giấy cho, hoặc thu theo lệ, hoặc thu giảm phần, đều theo sở nguyện. Gọi các thôn phần nấu muối, cấp bằng cho mở nấu, thuận tình mà bỏ thuế.
    Nhưng ở Thuận Quảng, nông dân chiếm phần lớn nên điều quan trọng hơn cả vẫn là chế độ ruộng đất. Trước khi cho quan lại quân dân chiếu lệ cũ mà quân cấp ruộng với nhau, Lê Quý Đôn sai quan huyện chuyển sức cho các tổng xã khai rõ diện tích ruộng đất công tư, ruộng chùa, đất bãi màu, quan điền trang, quan đồn điền, ruộng tư các họ biệt trưng bỏ hoang chưa khẩn.
    Lê Quý Đôn tuyên bố những điều hiểu thị, định lại hạn cấm ruộng, chuộc ruộng cho khỏi kiện nhau. Ruộng công, ruộng tư các xã hiện có sổ hiện canh, từ trước vì phải bồi thường thuế thiếu cho nhà nước, đã được chữ châu phê cho bán đoạn làm của tư, hoặc tự viết là ruộng tư mà đem bán đoạn, đến nỗi dân không có ruộng làm ăn sinh sống. Nay ra lệnh, phàm ruộng công bán đoạn, không cứ thời gian lâu hay chóng, luân lưu mua bán, đều được theo khế mà chuộc lại, để quân cấp cho dân làm ăn, người mua không được cố giữ, người đã được chuộc, sau không được bán đoạn lần nữa.
    Lại cho dân phu vét bùn cát, khơi sông ở hai xứ Quán Tháp, Ông Đốc để thông thương vận tải.
    Vừa đi đôn đốc việc đo ruộng đào sông, vừa đem những điều thu thập được trong khi làm việc và hỏi thêm nhân dân địa phương, ghi vào những tấm thẻ mang theo bên mình, chẳng bao lâu Lê Quý Đôn đã có một số liệu lớn. Ông bắt tay viết bộ sách Phủ biên tạp lục, ghi tường tận về mọi mặt lịch sử, địa dư, chính trị, kinh tế, văn hóa, phong tục của đất Thuận Quảng.
    Ngồi trên các Triêu Dương, cột sơn son thếp vàng, bao lơn lượn vòng, khuôn cửa vách tường chạm vẽ, Lê Quý Đôn dầm ngọn bút loang vào nghiên mực rồi đưa nhanh trên nền giấy một dòng chữ: “Nhân tài đời nào là không có”. Vừa viết ông vừa nghĩ đến một chuyện mà ông nghe được trong bữa đến kinh lý xã Vân Trình để lấy tư liệu viết sách. Biết ông ngoài việc là một quan cai trị cao cấp còn là một nhà văn chương đại gia, nên hương chức ở đây đã mời một văn thân đến hầu tiếp ông. Người đó xưng tên là Trần Chánh Kỷ, theo lời giới thiệu của các hương chức thì đó là một người có văn tài lỗi lạc nhưng vì chán ghét chính sự thối nát của họ Nguyễn nên trước đây không chịu đi thi. Lê Quý Đôn hỏi về lệ thi cử của họ Nguyễn thì Trần Chánh Kỷ trả lời:
    - Ở Thuận Quảng và Phiên trấn, từ Đoan quận công Nguyễn Hoàng đến Đỉnh quốc công Nguyễn Phúc Trú, cứ năm năm thì khiến học trò các huyện đến cả trấn dinh mà thi một ngày, thơ một bài, văn một bài, lấy đỗ bao nhiêu người, cho làm nhiêu học tuyển trường, miễn cho tiền gạo sai dư trong 5 năm gọi là quận thí mùa xuân. Cứ 9 năm thì học trò các phủ tri huyện đều đến thi đình ở Phú Xuân, thi cả ba ngày, ngày thứ nhất văn tứ lục, ngày thứ hai thơ phú, ngày thứ ba văn sách, lấy trúng cách bao nhiêu người, khai để đệ nộp. Chúa Nguyễn phân định ba hạng: hạng giáp là hương cống, bổ làm tri phủ huyện; hạng ất là sinh đồ, bổ làm học quan huấn đạo; hạng bính cũng là sinh đồ, hoặc bổ làm lễ sính hoặc cho làm nhiêu học cả đời, treo bảng ở trước công trường, gọi là hội thi mùa thu, đó là phép ba năm một khoa thi hương như vậy. Chúa Nguyễn lại thi một bài thơ để định cao thấp mà bổ chức người ta cũng gọi là thi đình.
    Thời Dũng quận công Nguyễn Phúc Tần nhiều kỳ tuyển duyệt, không cho khảo thi sĩ tử chính đồ và học sinh hoa văn hai xứ, trong khoảng 40 năm, không hề lấy một người nhiêu học nào, đến con nhà Hoàng quốc công Nguyễn Phúc Trăn mới bỏ lệ ấy.
    Thời Tộ quốc công Nguyễn Phúc Chu, lấy nhiêu học, có một khoa dư luận học trò sôi nổi, Phúc Chu khiến gởi đến cả công đường chính dinh ra đề thi lại, học trò đều không thi bỏ ra, rồi truất bỏ cả không lấy một người. Canh thân không có quận thí, chỉ có thu thí, kỳ thứ nhất làm ba bài văn, người đỗ cho làm nhiêu học tuyển trường, được miễn tiền gạo 5 năm; kỳ thứ hai thơ phú hai bài; kỳ thứ ba kinh nghĩa hai bài, người đỗ cho làm nhiêu học thị trung, được miễn sai dịch suốt đời; kỳ thứ tư văn sách một bài, người đỗ cho làm hương cống, bổ chức tri phủ tri huyện huấn đạo. Nguyễn Phúc Thuần thi khoa Mậu Tý cũng thế. Từ năm Canh thân đến nay là 37 năm chỉ có một khoa thi ấy.
    Nghe đến đâu, Lê Quý Đôn chép vào thẻ đến đấy. Chép xong, ông thở dài:
    - Họ Nguyễn ít chú trọng đến việc thi cử để kén chọn nhân tài, nên dẫn tới cái họa diệt vong là đúng lắm.
    Trần Chánh Kỷ thưa:
    - Bẩm Hiệp trấn, họ Nguyễn chỉ mở thi hương, cốt chọn lại tư giúp việc, không chuộng văn học nên ít thu nạp được người tài. Mỗi khi có khảo thí thì lấy học sinh hoa văn nhiều gấp năm lần chính đề và những nơi quan yếu thì ủy cho họ hàng coi giữ mà cho người đậu hoa văn giúp việc. Người đậu thi hương, bắt đầu bổ tri phủ tri huyện, chỉ coi việc kiện tụng, thứ nữa là làm ký lục thì chỉ giữ việc đòi thu thuế khóa, những kế lớn mưu lớn thì không hỏi han gì đến, còn bọn tiểu học hậu sinh thì không thấy có sự nuôi dạy tác thành. Tuy vậy, xứ này vẫn có nhiều người tài giỏi, mặc dù chỉ đậu thấp hay có khi xuất thân từ khoa cử, như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tích, Nguyễn Đăng Thịnh, Nguyễn Quang Tiền… đều là những người có tiếng văn học. Như Nguyễn Cư Trinh vịnh thơ Lư khê ngư bạc có câu:
    “Vẫy vùng giang hán chèo đôi mái,
    Thu thập càn khôn lưới một vàng,
    Nghe nói thuồng luồng nay đã lớn,
    Chờ khi ngủ dậy thử tài năng?”
    Lê Quý Đôn gật gù:
     - Hay lắm! Khí phách lắm!
    Kỷ nói tiếp:
    - Tôi trộm nghe người xưa nói: “Trong khoảng mười nhà, cũng có được người trung tín”. Phong dao ta cũng có câu: “Kinh đô cũng có người rồ/ Man di cũng có sinh đồ trạng nguyên”. Xin tướng công đừng chê nơi này là đất biên viễn mà cho là không có văn học vậy.
    Lê Quý Đôn thầm khen, lại hỏi về văn chương sách vở thì Kỷ đối đáp đâu ra đấy, Lê Quý Đôn càng cảm mến nói:
    - Lời thầy vừa nói chứng tỏ thầy không những đã làu thông kinh sử mà còn có kiến giải khác thường. Phen này ta sẽ tâu xin triều đình cho mở khoa thi hương ở Thuận Hóa, thầy nên chịu khó đi thi, biết đâu sau này không trở thành một tay đại dụng của đất nước.
    Ngay sau hôm gặp Trần Chánh Kỷ, Lê Quý Đôn thảo sớ dâng triều đình xin cho mở khoa thi để kén chọn nhân tài. Nhưng triều đình chưa trả lời thì Lê Quý Đôn đã bị triệu về kinh. Số là có quan cũ của chúa Nguyễn là Miên đức hầu làm loạn ở xứ Hải Lăng, quân Trịnh đi đánh bắt được cả bọn, Lê Quý Đôn ra lệnh chỉ giết vài người đầu sỏ, còn dư đảng hơn trăm người đều tha cả. Sau đó Lê Quý Đôn cũng không bịa đặt nói quá lên là thế giặc rất mạnh mình phải vất vả lắm mới dẹp được, tâu lên triều đình để cầu thưởng công. Một viên tướng là Phạm Ngô Cầu liền dèm pha với chúa Trịnh, Lê Quý Đôn tha bọn giặc để dùng làm vây cánh để sau này mưu chuyện kia khác. Trịnh Sâm tin lời Cầu, hơn nữa cũng gờm, sợ Bùi Thế Đạt và Lê Quý Đôn cầm binh ở ngoài cõi sẽ liên kết với nhau làm chuyện không hay, nên lấy cớ rằng Quảng Nam chưa bình định được, mà lòng dân Thuận Hóa lại chưa thỏa thuận phục tùng. Trong khi đó, Bùi Thế Đạt ở trấn không thi thố được việc gì cả, bèn triệu bọn Thế Đạt, Quý Đôn và Lê Phiên về, còn các cơ, các đội trưởng trong mười ba quận hiệu hiện đóng ở đấy cũng nhất luật cho triệu về. Lại cho Tạo quận công Phạm Ngô Cầu lãnh chức Trấn phủ Thuận Hóa thay Bùi Thế Đạt, cho phép Ngô Cầu được tùy tiện thi hành mọi công việc, để bọn Nguyễn Mậu Dĩnh và Nguyễn Lệnh Tân ở lại giúp việc, đổi sai binh lính mười danh cơ, đội đến đón giữ.
    Trước đây, chúa Trịnh đã ra lệnh dò tìm những người hiền tài ẩn dật còn sót lại ở Thuận Hóa, để cân nhắc tài năng bổ dụng. Đến năm Đinh dậu  ra lệnh cho Trấn phủ Phạm Ngô Cầu chiếu theo điều lệ thi hương, trước hết khảo hạch học trò, kê thành sổ sách dân nộp, triều đình lại chọn quan trong kinh phụng mệnh sung vào giữ công việc trường thi.
    Phạm Ngô Cầu dâng sớ lên nói: “Thuận Quảng trải qua binh lửa lâu ngày, việc học tập của học trò bỏ gián đoạn, nên chưa thấy có người nào xin thi hạch. Vậy xin làm phép quyền nghi, đều tùy theo sức học của học trò, hễ ai có thể thông được bài thơ, bài phú và hiểu biết công việc hiện thời, thì được tham dự tập hợp để thi khảo, sẽ cân nhắc lấy người trúng cách, để cổ vũ cho chí khí của sĩ phu”.
    Trịnh Sâm theo lời, bèn hạ lệnh cho Trấn ti thi khảo một lần, đề đều dùng thơ phú và văn sách, chọn lấy người trội hơn làm hương cống, người thứ nhì là sinh đồ, để thu dùng những sĩ tử văn học.

    III

    Nghe tin chúa Trịnh mở khoa thi hương ở Thuận Hóa, Trần Chánh Kỷ tìm đến nhà Ngô Thế Lân ở xã Vu Lai, huyện Quảng Điền để hỏi ý Ngô Thế Lân xem có nên đi thi hay không. Tới nơi, thấy từng xóm chạy vòng quanh theo bờ khe, rải rác vài nhà nép dưới rặng liễu xanh. Phía Đông nam, một dải hồ liền với biển, còn phía Tây bắc đền cỏ tiếp với dãy núi. Trên cánh đồng phẳng, cỏ xanh tốt mấy đứa trẻ chăn trâu đang véo von thổi sáo. Dưới khe sâu, một vài bác thuyền chài đang thong thả kéo lưới, những con cá trắng lóa như thỏi bạc đang quẫy trong mắt lưới được ánh mặt trời chiều hắt vào óng ánh như kim tuyến. Đến trước một ngôi nhà tranh, trước cửa trồng toàn trúc, Trần Chánh Kỷ trông thấy một ông già đang lúi húi bừa cỏ trong vườn trồng thuốc. Trần Chánh Kỷ vái chào:
    - Xin chào Ngô Đại huynh.
    Ngô Thế Lân nhìn ra:
    - Kìa Trần hiền đệ, ngọn gió nào thổi hiền đệ đến đây vậy. Mời hiền đệ vào trong này.
    Ngô Thế Lân mời Trần Chánh Kỷ vào nhà rồi xin phép đi ra rửa chân tay. Lát sau, Ngô Thế Lân vào, tự tay pha trà khoản đãi. Cạn một tuần trà, Kỷ hỏi:
    - Đại huynh gần đây có làm được bài thơ nào đắc ý không?
    Ngô Thế Lân cười:
    - Ta vừa ngẫu hứng làm được bài thơ “Sáng bừa vườn thuốc” ta đọc để hiền đệ nghe và phủ chính cho.
    - Xin đại huynh cho nghe.
    Ngô Thế Lân cất giọng đọc:
    “Bán mẫu khâu viên dược kinh khai
    Linh miêu tài nộn thảo hoàn lai
    Trừ tuy bất giác liên vân toát
    Cố bản ninh từ mạo vũ hồi
    Phất hạm lam hoa hồng thượng kiểm
    Nhiễu điền cao diệp lục xâm lai
    Phóng sừ thời hạn tùng âm tọa
    Dã điểu chi đầu tác ý thôi”.
    Nghe dứt, Kỷ tấm tắc khen:
    - Thơ của đại huynh có cái phóng khoáng, siêu thoát của bật đại hiền, quả là tuyệt bút. Để tiểu đệ thử mạo muội diễn nôm xem có được không?
    Ngô Thế Lân cười đưa bản cảo cho Trần Chánh Kỷ.
    - Nghe nói hiền đệ chỉ thích làm thơ nôm không thích làm thơ chữ Hán, có phải không?
    Kỷ mỉm cười, đỡ lấy bản cảo, ngẫm nghĩ một hồi rồi cất giọng đọc bản dịch nôm:
    “Vườn đồi luống thuốc mở mang
    Mầm non vừa mọc, cỏ hoang đã dày
    Cỏ bừa mà sạch cả mây
    Gội mưa liều bởi chăm cây vun trồng
    Hoa chạm cột, má ửng hồng
    Quanh mương cây trổ biếc lồng tóc ai
    Gốc tùng bừa hạ, nghỉ ngơi
    Đầu cành chim hót giục người đó chăng?”
    Ngô Thế Lân gật gù:
    - Bản diễn nôm của hiền đệ là thanh thoát, ta rất hân hạnh bài thơ kém cỏi của mình lại được tài văn chương của hiền đệ điểm xuyết cho.
    - Tiểu đệ đã cố gắng nhưng chỉ e không lột hết được tinh thần của nguyên tác.
    - Không! Chỉnh lắm, chỉnh lắm. Bữa nay hiền đệ đến thăm ta chẳng hay có việc gì?
    Kỷ cung kính:
    - Thưa đại huynh, lần trước tiểu đệ đến thăm đại huynh, được nghe đọc câu thơ: Như cần hữu khách đề huy lệ. Thực nhục hà nhân vị giải nhan. Đế sự lý sương toàn bất hội. Khả liên nhất phiến cẩm giang san , tỏ nỗi lo lắng về chuyện chúa Nguyễn và các quan không biết ngăn ngừa mối họa loạn của Trương Phúc Loan như người giẫm chân lên làn sương, dù hối thì đã muộn. Nay sự thế đúng như lời đại huynh tiên đoán. Giờ Trương Phúc Loan là kẻ cầm đầu đảng ác đã bị diệt rồi, mà họ Trịnh từ khi vào Thuận Hóa đã thi hành những điều nhân chính như xá tô thuế cho dân Thuận Hóa hai năm, đúc tiền đồng thay tiền kẽm khiến cho giá gạo hạ xuống, đo đạc lại ruộng đất, đào sông để vận chuyển, định thể lệ chuộc lại ruộng cầm, ruộng bán, như vậy là cũng biết nghĩ đến đời sống của dân. Tiểu đệ nghe nói quan Hiệp trấn Lê Quý Đôn là người học rộng lại thực bụng thương dân, chẳng hay ý đại huynh như thế nào?
    Ngô Thế Lân mỉm cười:
    - Ông Lê Quý Đôn đã sai người đến mời tôi nhưng tôi không chịu đến, chỉ gởi thư cảm tạ và nói thác rằng lấy sự xu thời cầu cạnh làm hổ thẹn. Ông ấy biết ý tôi không muốn giúp họ Trịnh, nên cũng bỏ qua không muốn nhắc đến chuyện đó nữa. Tôi cũng nghe nói ông Lê có khá hơn các ông khác, có lòng nghĩ đến dân, nhưng một mình ông ấy cũng không làm nên trò trống gì đâu, vì dẫu sao ông ấy cũng là bầy tôi của chúa Trịnh phải lo vun vén cho họ Trịnh. Ở đời phải nghĩ đến cái gốc chứ không nên nghĩ đến cái ngọn. Cho nên người giỏi trị gỗ trước hãy xem căn bản của gỗ đã. Nếu chỉ biết mọt có thể trị thì một con mọt này đi, một con mọt khác lại sinh ra. Sinh ra đó là tại gỗ chứ không phải tại mọt. Cho nên ông thầy thuốc giỏi không phải bảo bệnh có thể cứu, tật có thể trừ mà bảo biết được mạng sống hay chết, có thể chữa cho hay không thể chữa cho mà thôi. Trịnh hay Nguyễn thì cũng phải lo đến việc củng cố quyền hành thống trị của mình trước khi nghĩ đến dân. Lúc mới kéo quân vào đất lạ, họ phải dùng chính sách mị dân, nhằm mua chuộc dân chúng trong buổi đầu mới đặt ách chiếm đóng. Cũng như tiến hành một số cải cách về kinh tế, nhằm mục đích chính là lấy thuế má của hai xứ Thuận Quảng để cung cấp lương bổng cho quan lại thật đầy đủ dồi dào… Sau đó, họ sẽ quen mùi cũ vơ vét bóc lột dân lành, chẳng khác gì từ thứ gỗ xấu tất sẽ sinh ra mọt…
    - Đại huynh lo xa quá. Tiểu đệ trộm nghĩ rất có thể họ Trịnh thực lòng muốn cứu vớt dân Thuận Quảng trong cảnh lầm than. Bằng cớ là họ chú ý thu dụng kẻ hiền tài để giúp dân, giúp nước. Khoa Mậu Tý đời chúa Định Vương, tiểu đệ đã bỏ không thi vì chán ghét chính sự thối nát của họ Nguyễn, họ Nguyễn lại có óc kỳ thị những người ở Thuận Quảng, chuyên dùng người họ mình, huyện mình và xứ Thanh Hoa, Chưởng dinh, chưởng cơ, cai cơ, cai đội, không phải hạng ấy thì không được sung tuyển. Con cháu họ đời đời được miễn thuế, đi lính. Người ở xứ Thuận Quảng thì gọi là bách tính, người cầu xin làm chức cai đội thì chỉ cho chức cai đội, đội thủ ngự đầu nguồn và tạp đội thổ binh, con cháu họ không được trừ thuế. Như con cháu quan văn từ cai bạ đến phủ huyện và câu kê, cai hợp, cũng đều phải nộp thuế, không phải là chức sắc. Con cháu và người thân tộc của họ, cũng không được miễn đi lính. Như vậy là người Thuận Quảng ta dưới thời chúa Nguyễn, một đời cũng không thể làm quan to được. Nay chúa Trịnh đã đặt lệ thi kén kẻ hiền tài không phân Nam Bắc, nếu ta bỏ lỡ việc xuất đầu lộ diện, thì uổng lắm. Từ năm Canh thân đến nay đã 35 năm mà chỉ có khoa thi Mậu tý vừa rồi ta đã bỏ không thi, nếu khoa này mà ta cũng không thi thì biết đến bao giờ mới lại có khoa thi nữa. Chẳng lẽ ta đành chịu chết già ở nơi làng xóm hay sao?

     

    (còn tiếp)

    Nguồn: Mưu sỹ của Quang Trung: Trần Văn Kỷ. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh, 16 cuốn. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

    ___

    [1] Tức Trương Phúc Loan.

    2 Ý nói hối hận thì đã muộn.

    [2] Năm 1777.

    [3] Năm 1775.

    3 Năm 1776.

    [4] Tức Nguyễn Phúc Trú.

    2 Tức Nguyễn Phúc Khoát.

    [5] Năm 1714.

    [6] Năm 177.

    1 Có kẻ ăn rau cần nọ luống những gạt nước mắt. Người sơi thịt nào đó làm tươi được nét mặt nhân dân? Cớ sao cái họa giẫm làn sương mà không hiểu gì? Đáng thương cho một dải non sông gấm vóc này.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,164,438

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/