Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,516,039

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Một chặng đường bút mực (2)

Vũ Hạnh

  • Thứ hai, 02:31 Ngày 08/02/2010
  • Cũng năm 1965, hưởng ứng miền Bắc kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du, tôi đã gom lại các bài đã viết về tác phẩm Kiều để in thành sách, gọi là Đọc lại Truyện Kiều. Do quân đội Mỹ ồ ạt kéo sang, những người thợ in trẻ tuổi đều bị đẩy ra chiến trường nên sách in từ 1965 phải đến 1966 mới hoàn thành được. Tôi phải bọc ở bên ngoài tác phẩm tấm băng ghi rõ: “Kỷ niệm 201 năm sinh thi hào Nguyễn Du”.

    Một buổi sáng nọ, tôi thấy có chú tiểu đồng ăn mặc lối xưa bưng cái khay phủ nhiễu đỏ tìm vào nhà tôi. Đó là người nhà của thi sĩ Đông Hồ đem những bài tôi viết về Truyện Kiều được ông bọc giấy kim tuyến, kết bằng chỉ hồng để tặng lại tôi với lời trân trọng cảm ơn vì “chưa bao giờ được đọc những bài lý thú như vậy”. Từ Pháp, nữ sĩ Mộng Trung, sau khi đọc xong tác phẩm, đã gởi thư về yêu cầu chủ bút Bách Khoa là ông Lê Châu tìm đến gặp tôi để thay mặt bà nói hộ một tiếng “cảm ơn”...

    Năm 1966, tôi cùng một số cơ sở nòng cốt trong giới văn nghệ và trong sinh viên - theo sự chỉ đạo trực tiếp từ trên - vận động các giới thành lập Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc, một tổ chức đã tập hợp gần trăm hội, đoàn văn hóa, văn nghệ bấy giờ để tạo một phong trào lớn phát huy các giá trị văn hóa tích cực của dân tộc, lên án mọi sự đồi trụy, lai căn... Đồng thời, tờ Tin Văn được ra đời để hỗ trợ, phổ biến các hoạt động của Lực lượng. Trên tờ Tin Văn, tôi viết Chín điểm trong văn nghệ để phổ biến các quan điểm sáng tác của Cách mạng và phê phán những hiện tượng tiêu cực trong văn học của chế độ. Chín điểm, chỉ là cách nói để gợi tò mò nơi các người đọc. Khi in thành sách, được đổi tên là Tìm hiểu Văn nghệ. Cũng trên Tin Văn tôi viết truyện dài Lối xóm phản ảnh dời sống xã hội bị sự tha hóa nặng nề từ khi Mỹ kéo quân sang, sau đó truyện được trích đoạn để in thành sách Người chồng thời đại. Suốt nhiều năm dài, công việc phê bình, đả kích của tôi không gặp những phản ứng nào gay gắt. Cũng có đôi người tên tuổi - xin được miễn nêu ra đây - sau khi bị sự phê phán đã nằm liệt giường gần cả tuần lễ, để rồi sau đó gượng dậy bắt đầu phản pháo bằng miệng và đặt điều bôi nhọ tôi. Chỉ từ khi Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc ra đời, có một khí thế quá lớn, do tập họp được đông đảo quần chúng trí thức, văn nghệ nên giai đoạn đầu khiến các cơ quan bảo vệ chế độ hoang mang, phải một thời gian mới nghĩ đến sự đánh phá. Chúng đã cho tên Chu Tử mở một chiến dịch để vu cáo tôi, bấy giờ là Tổng Thư ký của Lực lượng, suốt cả tháng trời bằng đủ luận điệu thô tục, bỉ ổi, cốt gây một luồng công luận nghi ngờ vai trò của Lực lượng Bảo vệ Văn hoá Dân tộc, bởi lẽ một tổng thư ký tồi tệ như thế thì phong trào ấy có giá trị gì. Đồng thời, mỗi ngày khi tôi bước ra khỏi nhà luôn có một đoàn công an, mật vụ độ bảy, tám người đi theo, bằng đủ loại xe gắn máy. Sự bám theo đuôi dai dẳng, ồn ào như thế cốt làm cho tôi suy sụp tinh thần. Khu ủy đã cho điều tra xem tôi có khiếp sợ không, thì được báo cáo ra ngoài mật khu là tôi đã tỏ ra rất căm phẫn, bất bình, do đó thông qua đ/c Hoàng Hà ở trên khuyên tôi hãy giữ bình tĩnh. Sự khủng bố như thế kéo dài hàng tháng khiến Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc không hoạt động được, vì các hội đoàn đều co rút lại. Các trường tư thục tôi có giờ dạy đều gởi thư đến để tôi khỏi tới trường nữa, “vì đã dính líu đến các vấn đề chính trị, không thể tiếp tục giảng dạy”. Trong lúc có sự bao vây kinh tế như vậy thì riêng ông Nguyễn Văn Phú, hiệu trưởng một tư thục lớn - là trường Hưng Đạo ở đường Cống Quỳnh - đã tìm đến mời tôi dạy. Ông Phú nói rằng: “Ở đây chúng tôi cần một giáo sư dạy giỏi và chúng tôi mời ông đến là vì lẽ ấy. Còn chuyện chính trị gì đó của ông, nếu quả có thực, thì không can dự gì đến chúng tôi”. Bấy giờ, nhà giáo trung học đều gọi là giáo sư cả. Và dầu tôi vốn là người giảng dạy rất được học sinh yêu chuộng, song tôi nghĩ rằng ông Nguyễn Văn Phú bấy giờ đã tìm đến tôi vì một ý tưởng cao quí hơn nhiều.

    Trong thời gian tôi chịu sự khủng bố bằng bao vây, đe dọa và bôi nhọ liên tục, có sự kiện đáng ghi lại. Sau khi tổng thống Hoa Kỳ là Kennedy bị ám sát, phó tổng thống Johnson lên thay thế đã cử đại văn hào John Steinbeck sang Việt Nam để ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược này.

    Buổi tối ngày 4 tháng giêng năm 1967, tùy viên Văn hóa tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam là Alexander Bardos tổ chức cuộc tiếp tân tại nhà riêng để chào mừng vợ chồng Steinbeck, với khoảng vài chục văn nghệ sĩ người bản xứ được mời dự.

    Cách đó một ngày, nhạc sĩ Phạm Duy đã đến Tòa soạn báo Bách Khoa nhờ chuyển lá thư mời tôi. Tôi đoán người ta mời tôi vì tôi bấy giờ là nhân vật chính trong vụ bôi nhọ qui mô được thực hiện trên báo Sống của Chu Tử. Thật lòng, tôi không ưa Steinbeck. Những tác phẩm của ông mà tôi đã đọc, được dịch qua Việt ngữ và Pháp ngữ như Của Chuột và Người, Chùm nho uất hận, Viên ngọc, Phía đông Vườn Địa Đàng, Tortilla Flat, Trong một cuộc chiến đáng ngờ vực… không gây cho tôi ấn tượng sâu sắc nào. Qua báo chí trên thế giới, tôi được biết ông trước kia có khuynh hướng xã hội và những tác phẩm bênh vực lớp cùng khổ của ông từng gợi được sự chú ý của công luận. Nhưng, sau đó, báo chí tư bản liên tiếp tấn công ông và ông đã trở cờ. Có lẽ, để tưởng thưởng kẻ đầu hàng, người ta trao cho ông giải Nobel về văn chương, và sau đó ông trở thành một trại chủ khá giàu có. Từ lâu, tôi vẫn nghĩ giải Nobel là công cụ chính trị của tài phiệt quốc tế - trong đó tài phiệt Mỹ là chủ đạo. Và lần này, trong chuyến sang thăm Việt Nam để bênh vực quân xâm lược, Steinbeck lại tiếp tục phản bội với chính mình. Bỡi lẽ, đã là nhà văn không thể không đặt tấm lòng nhân ái lên trên hàng đầu của mọi cảm nghĩ cũng như hành động, huống thay đây là văn hào, và hơn thế nữa, còn được xung tụng là đại văn hào lại đi cổ võ cho sự chém giết dã man một dân tộc khổ nghèo hơn, nhỏ bé hơn chỉ muốn sống trong độc lập, hòa bình.

    Do vậy, gặp Steinbeck - theo tôi nghĩ - là giáp mặt một đối thủ, và như thế, phải tấn công, tấn công trong những điều kiện tối thiểu mà mình có được. Tôi trao đổi với ông Lê Ngộ Châu - chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa - để chọn lựa vài câu hỏi đặng chất vấn Steinbeck.

    Đúng 6 giờ chiều hôm ấy, tôi có mặt tại tư thất ông Bardos, ở góc đường Bà Huyện Thanh Quan và Phan Đình Phùng - nay là đường Nguyễn Đình Chiểu. Một số văn nghệ sĩ đã có mặt. Người ta mời tôi vào một phòng riêng, bên cạnh phòng dự họp. Trong phòng chỉ có Steinbeck và Bardos. Với vóc người rất cao to, dềnh dàng Steinbeck có vẻ như một nhân vật khổng lồ trong các chuyện tranh dành cho thiếu nhi. Tôi được biết Steinbeck không nói được ngoại ngữ nào, còn tôi dầu có cái vốn tiếng Pháp theo học nhiều năm nhưng suốt mấy thập niên qua không hề dùng đến chắc đã sét rỉ phần lớn. Nghe nói ông Bardos là người Ba Lan, thông thạo tiếng Pháp, nên tôi đề nghị ông tùy viên làm thông dịch, để chuyển những gì tôi nói ra Anh ngữ cho Steinbeck.

    Câu chuyện vừa bắt đầu, tôi nhìn thấy giáo sư Bùi Xuân Bào thấp thoáng ở ngoài cửa. Bấy giờ ông là cán bộ cao cấp trong bộ máy chế độ cũ, nhưng trước Cách Mạng Tháng 8, ông là thầy dạy tôi, một thầy dạy nổi tiếng - môn Pháp Văn - ở trường Việt Anh, tại Huế. Tôi bèn mời ông vào, nhờ ông làm thông dịch, vì có vậy mới nói hết được ý mình. Ông Bùi Xuân Bào vui vẻ nhận lời ngay. Như thế, câu chuyện đòi hỏi bốn người: tôi nói tiếng Việt, ông Bào dịch ra tiếng Pháp để ông Bardos chuyển ra Anh ngữ cho Steinbeck.

    Steinbeck bắt đầu câu chuyện và nói khá dài. Đại ý - đúng như tôi đã dự đoán - ông sang Việt Nam và nghe có một chiến dịch trên báo đang tấn công tôi hàng ngày. Người ta cho rằng tôi là Cộng Sản có nhiều hoạt động chống đối chính phủ, đã có qua nhiều lần tù, tôi đang là Tổng thư ký của một lực lượng văn hóa có qui mô lớn với nhiều ý đồ sách động, gây rối, làm hậu thuẫn cho Cộng Sản. Nhưng qua một số văn nghệ sĩ được tiếp cận, ông biết tôi không phải là Cộng Sản, nhưng có thể tôi bị sự tác động của Cộng Sản hoặc bị sự hiểu lầm, sự ghen ghét của nhiều người. Rồi ông nói lan man về quá khứ của ông. Rằng đã có hồi ông bị chụp mũ là Cộng Sản đến nỗi người ta tìm mọi cách phong tỏa ông, ngăn cấm ông. Có lần, ông vừa in xong một tác phẩm, ở thành phố lớn nọ (lâu ngày, tôi không nhớ tên). Hội đồng quản trị đã tổ chức họp và ra quyết định tịch thu hết sách của ông để mà hỏa thiêu. Sau đó, người ta lùng sục tất cả hiệu sách nhưng không tìm ra được một quyển nào. Thì ra, chẳng cửa tiệm nào ở thành phố này dám bán sách của ông cả.

    Kể ra, Steinbeck cũng cho tôi thấy phần nào cái mặt thực của dân chủ ở nước Mỹ. Sau đó, ông tâm sự rằng mối quan tâm của người cầm bút về các vấn đề xã hội thường phải trả một giá đắt, nhưng rồi mọi việc cũng sẽ qua đi…

    Đợi ông dứt lời, tôi nói tiếng cám ơn và tiếp:

    - Thời cuộc cho tôi cơ hội được gặp gỡ một văn tài có tầm cỡ lớn như ông, vậy nếu ông vui lòng, tôi xin thay mặt một tạp chí lớn ở Thành phố này phỏng vấn ông chừng ba câu.

    Steinbeck đáp:

    - Tôi sẵn sàng, ông cứ hỏi. Nhưng nên dừng ở ba câu, vì chúng ta còn tiếp khách.

    Tôi hỏi:

    - Từ lâu, ở Hoa Kỳ, cùng với John Dos Passos, Erskine Caldwell, Sinclair Lewis, William Faulkner… ông được xem là nhà văn khuynh tả. Vậy khuynh hướng ấy, hiện nay, được thể hiện như thế nào trong tác phẩm của ông?

    Steinbeck nhíu mày, nhún vai đáp:

    - Ồ, tả hay hữu chỉ là nhãn hiệu gán ghép để nhằm thực hiện một ý đồ nào. Tôi không quan tâm đến các nhãn hiệu.

    - Vậy xin hỏi câu thứ hai: Giải hòa bình Nobel về văn học mà ông từng được trao tặng ắt hẳn có mối quan hệ với chuyến ông sang Việt Nam, lần này?

    Steinbeck trả lời một cách miễn cưỡng:

    - Giải Nobel chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời tôi. Chỉ có vậy thôi.

    - Xin được hỏi ông câu cuối cùng: Nước Việt Nam và nước Mỹ, cách xa nhau ngàn vạn dặm, không thù oán, không tranh chấp, thế chẳng hay vì lẽ gì mà chính phủ Mỹ đem quân đội cùng đạn bom sang tàn sát người Việt Nam. Nói rằng người Mỹ giúp Việt Nam để chống Cộng thì với tư cách là người không đảng phái, và chỉ biết yêu đất nước của mình tôi thấy rằng người Cộng Sản Việt Nam chỉ tranh đấu cho độc lập và hòa bình của đất nước. Và khi quân đội Mỹ sang Việt Nam, nói là để tiêu diệt Cộng Sản thì thú thật tôi không sao biết được bao nhiêu người Cộng Sản đã bị giết, song điều rất rõ mà tôi chứng kiến là vô số đồng bào vô tội của chúng tôi ở các thôn bản, làng mạc xa xôi đã bị giết hại vô cùng thảm khốc. Là một văn hào, hẳn ông có thừa tấm lòng nhân ái, vậy ông nghĩ gì về cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam?

    Sau khi nghe xong, vẻ mặt Steinbeck từ đỏ hồng đã tái sạm. Ông lộ vẻ rất khó chịu và lúng túng khi trả lời:

    - Tôi sang Việt Nam là để thăm con trai tôi, hiện đang làm nghĩa vụ quân sự ở đây. Thế thôi.

    Khi người ta không chính nghĩa thì trí tuệ cũng lẩn quẩn. Cả ba câu hỏi chẳng được câu trả lời nào đáng giá. Tôi thấy đến lúc mình phải rời khỏi nơi đây. Tôi cảm ơn giáo sư Bùi Xuân Bào, chào Steinbeck và Bardos rồi ra về, không dự buổi tiếp tân. Sau đó, báo Bách Khoa có thuật lại cuộc gặp gỡ trên đây, nhưng chỉ nói rất vắn tắt vì sợ bị kiểm duyệt.

    Sự vu cáo, khủng bố càng ngày càng tăng cường độ, khiến tôi tìm đến một số luật sư nổi tiếng bấy giờ để nhờ can thiệp. Tất cả đều chỉ ậm ừ, rồi phớt lờ luôn. Tôi càng thấm thía cái gọi là thứ luật pháp của một chế độ bạo tàn. Nhưng trong lúc ấy, quần chúng sinh viên tiến bộ đã ủng hộ tôi một cách nhiệt tình, bởi lẽ sự ủng hộ này không chỉ nhằm vào mỗi cá nhân tôi, mà qua đó là Lực lượng Bảo vệ Văn hóa, là một chính nghĩa. Anh em sinh viên in những bài báo chuyền tay lên án Chu Tử, bênh vực những sự phê bình công khai trên báo, và tổ chức cuộc họp lớn ở giảng đường đại học, đường Pétrus Ký (tức Lê Hồng Phong ngày nay) mời tôi và Chu Tử cùng đến tham dự để cùng tranh luận cho rõ ai đúng, ai sai. Sinh viên thuộc nhiều ngành học đã đến đông đúc, chật một hội trường và tôi cũng đã có mặt đúng giờ, nhưng rồi Chu Tử đã không dám đến.

    Có một chi tiết cảm động, là trong cuộc tập họp này tôi thấy xuất hiện một người ăn mặc chững chạc đi lại ở trước cổng trường mà không vào lớp. Khi tôi đến gặp, mới rõ là một bạn dạy từ xưa, anh Trần Thế Kỷ vốn người đồng hương, quê ở Gò Nổi. Ngoài một nhà giáo, chuyên về vật lý, toán học, anh còn là một võ sĩ quyền Anh có hạng. Anh không được mời, nhưng đã nghe tin và tự nguyện đến canh chừng phía trước, để phòng có kẻ gây hấn với tôi là anh sẽ xông vào đặng cứu nguy. Về sau, tôi lấy cuộc đời của anh để viết truyện dài Cú đấm, đăng trên nhật báo Tin Sáng. Sau ngày Giải phóng, một nhà xuất bản yêu cầu tôi đổi tên khác khi in thành sách - cho dễ bán hơn - đó là Tính sổ cuộc đời.

    Các sự can thiệp của quần chúng tiến bộ nhằm ủng hộ tôi khiến cho kẻ địch gấp rút ra tay, đưa tôi vào tù cùng với một số nòng cốt trong Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc, hòng sớm dẹp bỏ cái tổ chức này.

    Lần này tôi bị an trí ở trại giam Tân Hiệp tròn ba năm chẵn thì nghe ở ngoài phong trào học sinh sinh viên, quần chúng các giới đấu tranh mạnh mẽ nên nhân gia đình thăm nuôi tôi đã gợi ý đến nhờ tạp chí Bách Khoa liên hệ với Trung tâm Văn Bút can thiệp cho tôi tự do. Ông Lê Ngộ Châu đã hoạt động tích cực và chủ tịch Hội là linh mục Thanh Lãng cũng vận động nhiệt tình để can thiệp cho nhiều văn nghệ sĩ bị giam giữ, bởi mục đích lớn của Hội là đấu tranh cho tự do cầm bút mà không phân biệt chính kiến. Bấy giờ, giữa Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ có sự mâu thuẫn gay gắt, nên để tranh thủ quần chúng trí thức Thiệu đã cho trả tự do lập tức những người mà Hội Văn Bút đề nghị, trong đó có tôi, nhạc sĩ Miên Đức Thắng và vài người nữa.

    Tôi vừa về nhà ít hôm thì đến ngày giỗ Nguyễn Du, bộ Văn hóa gởi giấy đề nghị Văn Bút giới thiệu cho một diễn giả vào ngày tưởng niệm thi hào, ở tại hội trường Quốc gia âm nhạc. Linh mục Thanh Lãng giới thiệu tôi làm việc này, nhưng Bộ Văn hóa trả lời là không thể chấp nhận tôi, vì tôi hoạt động cho phe Cộng Sản và nhờ Văn Bút giới thiệu cho một người khác. Linh mục Thanh Lãng không trả lời ngay, nhưng đợi gần ngày tổ chức viết thư nói rằng trung tâm Văn Bút nhận thấy chỉ tôi mới xứng đáng làm việc này và không thể tìm bất kỳ ai để thay thế. Dù trước đây trong nhiều cuộc nói chuyện về Kiều, tôi có hấp dẫn người nghe, không phải ở sự nghiên cứu uyên bác - mà tôi rất thiếu - song ở những điều mới mẻ mang các quan điểm xã hội rõ nét, như là Trường hợp hai Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh, Từ Hải - sự lỡ tay của thiên tài, Đứa con của nàng Kiều, Khách viễn phương, người là ai?... nhưng sự cương quyết của linh mục Thanh Lãng, trong trường hợp này, ngoài ủng hộ tôi còn là bảo vệ uy tín cho Trung Tâm Văn Bút. Cuối cùng, Bộ Văn hóa phải nhượng bộ, và vấn đề tôi trình bày hôm ấy là Tính cách phi thường trong con người bình thường Thúy Kiều.

    Thời gian bị giam giữ ở Tân Hiệp, nhờ sống chung với một bạn tù người dân tộc là Y Bang Ni-ê, tôi được nghe anh kể lại câu chuyện thực về một bác sĩ người Pháp, trước đây ở Pleiku, trong chuyến đi săn đã bắt được một con xà-niêng và đem về tìm mọi cách để thuần hoá rồi lấy làm vợ, nhưng cuối cùng con xà-niêng đã qua đời. Từ câu chuuyện ấy, tôi xây dựng một tiểu thuyết có nội dung nâng cao hơn: các đô thị - bấy giờ - cũng là những chốn rừng già u-uất cuộc sống bản năng và những con người luôn bị lôi kéo trở về cuộc sống thú vật. Ra khỏi tù, tôi viết truyện dài Cô gái xà niêng và cho ấn hành vào năm 1971(1).

     Cũng vào năm này, có lẽ thấy quyển Người Việt cao quí trong thời gian qua đã đóng góp được chút gì tích cực nên Khu-ủy khuyên tôi viết tiếp về chủ đề Con người Sài Gòn, nhằm phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp nơi con người ấy để góp thêm phần kích động cho sự vươn lên của đô thị này. Tôi bèn viết ngay Con người Sài Gòn, một thứ tùy bút đan xen tiểu luận, và định sẽ đăng dài ngày trên nhật báo Đại Dân Tộc, nhưng chỉ được vài chục kỳ thì đành dở dang, vì tôi bị bắt vào lần thứ tư.

    Sau đó, anh em có cho tôi biết là khi Con người Sài Gòn lên báo độ khoảng mươi hôm thì một ngày nọ, trong quán cà phê đường Trần Hưng Đạo có người đã tán thưởng nó, và con người đó là ông Sơn Vương. Ông tên là Trương Vạn Năng, khét tiếng một thời là một tướng cướp gan dạ nhưng cũng từng được ca ngợi là người hào hiệp. Ông bị Thực dân Pháp bắt, kết án trên 70 năm tù, đưa ra Côn Đảo giam cầm và khi Cách Mạng Tháng Tám thành công ông được lên làm chúa đảo một thời gian ngắn cho đến khi Pháp quay lại để mong tái chiếm Việt Nam thì ông trở lại ngục tù. Dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu, nhiều người và nhiều đoàn thể đã xin cho ông được hưởng tự do. Ông về cư ngụ trong ngôi nhà nhỏ, nằm sâu trong hẽm đường Nguyễn Cư Trinh, Quận Một, thành phố Sài Gòn. Sáng nọ, ông uống cà phê rồi cầm tờ Đại Dân Tộc đọc to một đoạn nói về Con người Sài Gòn cho nhiều người ngồi trong quán cùng nghe, rồi nói:

    - Thằng Vũ Hạnh là thằng nào vậy cà? Tao chịu nó quá!

    Sau ngày Giải phóng ít lâu, tôi được thư ông mời tôi đến nhà nhận tập hồi ký của ông. Tập này ghi lại toàn bộ cuộc đời ngang dọc và cả tù đày của ông, được đánh máy làm bốn bản, một bản ông nộp vào cho Thư Viện Quốc Gia, một bản ông lưu lại cho gia đình, còn lại hai bản ông dành tặng riêng hai văn nghệ sĩ miền Nam mà ông đặc biệt cảm tình, đó là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và tôi. Hôm được thư ông, nhân gặp anh Lê Ngọc Cầu từ Hà Nội vào, tôi mời cùng đến thăm ông. Và trước bàn thờ đã được đốt nến, thắp nhang, tôi đã đứng lên nhận lãnh từ tay Sơn Vương một tập hồi ký khá dày.

    Độ vài năm sau, ông cho người đến mươn lại tập hồi ký này để mà đánh máy, vì tập của ông bị người mượn xem đã làm thất lạc. Rồi tôi nghe ông bị tai nạn xe và ông trở về quê nhà, dưới Gò Công Đông. Nhiều lần tôi muốn xuống thăm, song sau Giải phóng thì giờ quá ít nên chưa đi được thì nghe ông đã qua đời. Tôi vẫn nhớ mãi con người cao niên, gầy gò, nhưng đôi mắt vẫn sáng quắc và giọng nói đầy uy lực, với những cử chỉ ngang tàng, tạo một ấn tượng khó lòng phai nhạt cho những ai đã một lần gặp ông.

    Sau loạt bài Con người Sài Gòn, khi bị bắt lần thứ tư rồi được tự do, tôi ra mật khu để nhận chỉ thị của Khu-ủy là viết chống chủ trương bán-công-hóa các trường tư thục mà địch có thể ban hành. Tôi đã làm một phóng sự khá dài - Trường tư hai mặt - đăng trên nhật báo Dân Chủ của Vũ Ngọc Các để lồng vào đấy các ý phản bác lại chủ trương trên. Sau đó, tôi viết một quyển truyện vừa Ngôi trường đi xuống để nói lên sự suy đồi của nền giáo dục đương thời. Sách được phổ biến không lâu thì bộ trưởng Bộ Giáo dục bấy giờ là Trần Hữu Thế cử một thứ trưởng xuống tìm gặp tôi tại trường Hưng Đạo. Ông thứ trưởng cho biết là ông bộ trưởng rất buồn khi thấy lưu hành quyển sách của tôi và yêu cầu tôi hãy viết một quyển Ngôi trường đi lên, ông sẽ cung cấp đủ các phương tiện cần thiết để tôi thực hiện công trình. Tôi đã lễ phép trả lời là Bộ trưởng khỏi bận tâm cung cấp bất cứ là phương tiện nào, và bao giờ nền giáo dục có sự khởi sắc, đi lên, thì với tư cách là người cầm bút trung thực, tôi sẽ viết ngay tác phẩm Ngôi trường đi lên...

    Thực sự, phần việc mà tôi đầu tư tim óc cùng với thời giờ nhiều nhất trong suốt thời gian hợp tác với tờ Bách Khoa, là chiếm lĩnh mục phê bình của tạp chí này và cố gắng để có sự lên tiếng liên tục. Hầu tránh bớt “sốc” cho những người bị phê bình, tôi mượn tên con gái tôi là Phương Thảo, để ký dưới các bài này. Nghe phụ nữ nói gay gắt vẫn dễ chịu hơn là nghe đàn ông. Trên quan điểm văn học tiến bộ, Cô Phương Thảo đã phê phán hầu hết các cây bút nòng cốt của chế độ cũ, như Vũ Khắc Hoan với Thành Cát Tư Hãn, Đỗ Thúc Vịnh với Dì Mơ, Mặc Đỗ với Siu Cô nương, Nhất Linh với Dòng sông Thanh Thủy, Ngô Duy Cần với Thuật yêu đương... Gần như hàng năm, tôi có tổng kết tình hình văn học, trên tạp chí này, gián tiếp giúp vùng Giải phóng có thêm cái nhìn tổng lược về những hoạt động văn nghệ nội thành.

    Các hoạt động ấy khiến tôi bị chế độ cũ giam giữ nhiều lần, nhưng vì tôi đã đấu tranh công khai, hợp pháp, lại là đơn tuyến nên chỉ chịu sự tập trung theo kiểu an trí chứ không hề bị xét xử, và tùy tình hình quần chúng đấu tranh bên ngoài mà được tự do. Nhớ năm 1970, sau 3 năm bị lao tù, tôi vừa được trả tự do ít hôm thì thấy ông Nghiêm Xuân Việt tìm đến thăm hỏi. Ông cũng ở trong lãnh đạo Văn Bút, là một nhà thơ và còn được xem như nhà nghiên cứu. Ông đã đề nghị tôi viết một quyển tiểu thuyết để chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình, độ 500 trang với số tiền do một hội đoàn lớn trợ cấp là 500 ngàn. Bấy giờ, giá vàng chưa đến 10 ngàn 1 lượng. Ông bảo: “Nếu đồng ý thì ngày mai sẽ ký kết và nhận trước một phần ba, làm xong đề cương cốt truyện thì nhận thêm phần ba nữa, xong sách sẽ thanh toán hết”. Tôi cảm thấy sự đáng ngờ trong đề nghị này, nên hỏi: “Thế chống chiến tranh thì phải lên án ai đây?”. Ông đáp: “Ông khỏi lên án ai cả. Chỉ chống chiến tranh một cách nói chung vậy thôi”. Tôi nói: “Theo sự hiểu biết của tôi thì cuộc chiến nào cũng có kẻ gây chiến trước, và phải chịu trách nhiệm chính, chứ không thể nói khái quát như vậy. Ông cho tôi suy nghĩ lại, và tôi sẽ trả lời sau”. Nghĩa là không bao giờ tôi trả lời.

    Vào khoảng 1971, trước ý đồ của Mỹ là Việt Nam hóa chiến tranh, ngụy quyền lại cho phát động phong trào “Về nguồn”, gọi là quay về với những giá trị truyền thống của dân tộc. Nhớ lại năm năm trước đó, ngụy quyền đã tìm mọi cách tấn công Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc, tôi mượn diễn đàn Trung tâm Văn Bút để nhằm vạch rõ tính cách giả hiệu của phong trào đó. Bài thuyết trình Văn hóa và mạo hóa - vào ngày 25/7/1971 - đã được đăng lại trên tờ Bách Khoa, số 350 và 351. Trong thời gian này, tôi dịch hồi ký Chuyện đời tôi của Charlie Chaplin là nhằm góp thêm tiếng nói chống Mỹ, vì ông vua hề Chaplin dầu sống nhiều năm ở Mỹ cuối cùng đã nói lên nỗi bất bình đối với xứ sở của đạo đức giả mà ông đã không ngần ngại gọi là “khốn nạn”.

    Những hoạt động ấy, thật khó ghi lại trong vòng năm, bảy trang giấy, nhưng tôi có thể ghi lại sau đây nhận xét của cấp lãnh đạo Khu ủy về suốt quá trình công tác của tôi, là “trên lĩnh vực đấu tranh văn hóa nội thành, đã tích cực thực hiện tất cả chủ trương Cách mạng đề ra trong thời chống Mỹ, và chỉ có mỗi khuyết điểm là đã làm trên yêu cầu của Đảng”.

     

    (còn tiếp)

    Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.



    (1) Sau Giải phóng, tiểu thuyết này được đạo diễn Hồng Sến đem làm phim và đổi tên là Những bóng ma rừng. Nội dung của sách đã bị đảo ngược một cách tệ hại. Vì quá tin ở đạo diễn nên tôi đã sơ suất không có một văn bản để ràng buộc sự tôn trọng nội dung của tác phẩm (V. H.).

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,516,040

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/