Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập34,548,650

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

  • Thứ tư, 08:20 Ngày 23/10/2019
  • Người chồng nói với Kostaky:

    - Ông đến sở quân cảnh mà hỏi. Tôi không biết ai tên Iléana Kostaky cả. Cả ông nữa, tôi có biết ông là ai đâu? Ông đi đi.

    - Xin ông nghe tôi, tôi xin nói một lời thôi.

    - Tôi không có gì để nghe ông nữa và cũng không biết gì để nói với ông. Ông đến hỏi quân cảnh đi, ông hiểu chưa? Tôi không biết gì về bà ấy cả, cũng như tôi không hề quen biết ông.

    Người vợ dọa:

    - Nếu ông không đi, tôi sẽ gọi lính cho xem. Tôi sẽ gọi lính bây giờ đây.

    - Thưa hai ông bà, nào tôi có làm thiệt hại gì hai ông bà đâu?

    - Thế thì ông từ đâu đến?

    - Từ thế giới bên kia, từ bên kia đại dương và núi rừng. Nhưng ở đây chính là nhà của tôi.

    Người đàn bà lại hét:

    - Đây là nhà chúng tôi. Nếu ông muốn gì, hãy đến ban ngày chứ không thể đến trong đêm tối như thế nầy. Tại sao ông lại đến đây vào ban đêm?

    - Ông bà không biết gì về vợ tôi sao? Tôi chỉ muốn biết tin bà ấy thôi?

    - Không, tôi không biết ai là Iléana Kostaky cả. Chưa bao giờ tôi nghe nói đến cái tên đó. Tôi không phải là người làng Piatra.

    - Thế ông bà không nghe nói bà ta còn sống à?

    - Không có ai tên Iléana Kostaky ở đây cả.

    Người đàn bà tắt đèn. Bóng tối bao trùm căn phòng. Ion Kostaky lại vuốt ve bờ cửa sổ. Vôi trên tường lại nứt ra rơi xuống, Kostaky thấy thế mà đau lòng. Ông ta cầm lấy một nấm vôi trong tay trái, trong lúc tay mặt ông ta vẫn vuốt ve cửa sổ.

    Trong nhà người vợ vẫn còn cãi vả với người chồng. Người đàn ông nói:

    - Đúng là Ion Kostaky, người đã bị kết án khổ sai và trước đây ông ta ở căn nhà nầy.

    - Nhưng nhà nầy là nhà của chúng mình. Em không nghe nói đến ai là chủ cũ cả, mà em cũng không muốn nghe thêm nữa.

    - Nhưng tại sao em bảo là em chưa bao giờ nghe nói đến tên Kostaky. Em thường nghe là Ion Kostaky đã ở đây từ trước và đã bị bắt chứ!

    - Nông dân bị loại trừ hết rồi. Nhà cửa bị sung công và chính phủ đã cấp cho vợ chồng mình căn nhà nầy rồi.

    - Nhưng trước khi bị sung công, căn nhà nầy là của Ion Kostaky.

    Người vợ hằn học:

    - Điều đó không liên quan gì đến vợ chồng mình cả.

    - Nhưng ít ra mình cũng nên nói là vợ ông ta đã chết. Ông Kostaky khốn khổ đó sẽ bỏ đi ngay. Em là một người đàn bà, tại sao em sắt đá như thế. Tất cả điều ông ta hỏi chỉ vỏn vẹn có một câu là vợ ông ta còn sống hay không. Ông ta không còn ai thân yêu trên đời nữa. Nếu chúng mình nói thật, ông ta sẽ bỏ đi ngay. Người đàn ông đó có đòi hỏi điều gì khác hơn đâu. Ông ta có thể từ Sibérie trở về đây. Có thể là ông ta đã đi hàng ngàn cây số đề về đây xem thử vợ ông ta còn sống hay chết. Tại sao lòng dạ em lại như sắt như đá? Anh sẽ đi kiếm ông ta và bảo rằng vợ ông ta đã chết trong tù. Anh sẽ nói với ông ta bất cứ điều gì anh biết. Anh đem cho ông ta thức ăn nữa là đằng khác... Một ngày nào đó, sự khổ sở đó cũng có thể xảy đến cho mình. Giả tỉ anh ở vào trường hợp ông ấy và anh lo ngại cho em thì em nghĩ sao?

    - Nhưng nếu anh đi, anh sẽ bị bắt chung với ông ta.

    Người đàn ông vẫn mặc áo:

    - Anh sẽ ra kiếm ông ấy. Tại sao lại không nói thật cho một người chỉ muốn biết là vợ còn sống hay đã chết.

    Người vợ hét:

    - Anh đừng đi.

    Kostaky nghe tiếng người đàn bà giựt chiếc áo ông chồng đang cầm.

    Kostaky đành bỏ đi. Mồ hôi chảy nhễ nhại trên trán. Tai ông ta vẫn còn nghe tiếng người vợ cãi vả với chồng trong nhà. Người vợ nói:

    - Em sẽ tố cáo anh với quân cảnh nếu anh đi bây giờ.

    Kostaky để ý thấy hai cây táo trồng trước nhà đã bị đốn mất. Ông ta buồn rầu không hiểu sao người cộng sản lại hay đốn cây như thế.

    Người đàn bà vẫn to tiếng:

    - Nếu anh đi em sẽ tố cáo anh.

    Kostaky bỏ đi xa. Ông ta bắt đầu khóc. Cố quay đầu lại nhìn một lần nữa. Nhà ông còn nằm yên trong bóng tối. Kostaky thầm nói: Lạy Chúa, rước linh hồn Iléana về nước Thiên đàng, ông ta cất mũ làm dấu. «Lạy Chúa tha tôi cho bà.» Kostaky đội mũ lại và đi về phía rừng. Làng mạc hoang vắng. Đường sá vắng bóng người. Không có Iléana, trái đất đối với ông chỉ là một bãi sa mạc hoang vắng.

    °

    Kostaky thấy ba bóng người đuổi theo ông trên đường làng. Ông ta muốn vào trong một khu vườn, nhưng lính gác đã trông thấy và cố đến gần ông ta. Kostaky bỏ đi thật nhanh. Ông ta cảm thấy mùi đất thấm vào thân thể và hai buồng phổi. Đằng sau, lính gác đã nổ súng. Đã có lệnh báo động trên sân bay. Lính gác tràn đầy đường. Các lối ra khỏi làng bị gác hết. Kostaky chửi:

    - Đồ lũ chó cộng sản.

    Ông ta không trốn về nơi Pillat đang chờ, vì lính gác từ đó đến, ông ta đành bò về phía ngược lại. Đó là con đường dẫn đến nghĩa địa, ông ta núp vào trong các bụi rậm và nghĩ đến Iléana mà không hề nghĩ đến lũ lính gác đang đuổi bắt mình và làm náo động cả làng.

    «Lạy Chúa đem Iléana về đất thánh. Bà đã đau khổ nhiều lắm rồi. Càng khổ nhiều hơn nữa nếu bà bị chết trong tù.

    Iléana khốn khổ ơi!»

    CHỈ CÒN MỘT THẾ GIỚI

    I

    Nhiều tháng trôi qua từ ngày Ion Kostaky bỏ đi, bỏ đi để có thể thăm lại đất nhà, làng mạc và tìm lại tin tức người vợ thân yêu; nhưng bỏ đi để không trở về được nữa. Pillat đợi ngày một, ngày hai, tháng nầy qua tháng nọ mà vẫn chẳng thấy tăm hơi. Thế mà đã gần một năm trời từ ngày Pierre Pillat bị bắt buộc phải trốn vào rừng. Quân đội và cảnh sát càng ngày càng lùng soát gắt gao những người bỏ trốn vào rừng. Mà rừng núi thì đầy ắp cả người bỏ trốn; con người từ ngàn năm đã cùng những súc vật, cây đất tạo dựng, mang trên hai vai, trên hai tay, sỏi đá và tất cả thứ cần thiết để kiến thiết làng mạc phố phường, bây giờ bị bắt buộc phải từ bỏ hết mà đi; từ bỏ ruộng vườn, đường sá, cây cối đã mất bao năm gầy dựng, để trốn vào rừng sống như súc vật không nơi nương tựa, sống trong lùm cây hốc đá.

    Như là cuộc di cư trong lời sấm Jérémie: «Hãy rời xa thành phố đến sống trong các hốc đá, như chim bồ câu làm tổ trên hố sâu vực thẩm». Pillat nhớ đến lần di cư của Ante Petrovici, cuộc trốn tránh của Daniel Motok; chàng nhớ đến Eddy Thall, đến Varlaam, Marie; chàng quay đầu nhìn lại, ngỡ rằng nước mắt chảy vì ánh nắng mặt trời, nhưng nào có phải tại mặt trời chút nào đâu.

    °

    Một tiếng súng vang trong thung lũng. Máy bay gầm trên trời. Pillat nép người dưới bóng cây; và nghĩ đến Ion Kostaky trốn vào rừng với cây gậy cụt ngủn, cây gậy có vẻ huyền thoại như của Tannhauser hay của Aaron trong kinh Cựu Ước.

    Cầm dao găm, Pillat bắt đầu khắc lên thân cây tên Marie vợ chàng rồi lần lượt đến tên chàng, tên Ion Kostaky, Ante Petrovici, Eddy Thall, Daniel Motok, Varlaam, Isaac Salomon, Milan Paternik... nghĩa là tên tất cả những người chàng đã gặp trong cuộc di cư khổng lồ nầy; khắc tên như thế chỉ vì chàng đang quá cô đơn và chàng muốn có bất cứ ai bên cạnh; vâng, chàng đang cô đơn trong khu rừng nầy; cô đơn trong vũ trụ, cô đơn trong trời đất.

    Mà con người thì không thể nào sống cô đơn. Rồi vừa nhìn cả lô tên khắc trên thân cây, Pillat vừa thầm gọi:

    «Lạy Chúa, tim Ngài sẽ nát tan vì đau đớn khi loài người đến trước Ngài để được phán xét. Con tin là Ngài sẽ không phán xét người mà chỉ rủ lòng thương hại; vâng, chỉ rủ lòng thương hại đối với con người khốn khổ của thời đại nầy. Ngay cả lý trí nơi con người được phát triển nhiều nhất cũng không thể thấu hiểu những gì ngoài tầm tay, ngoài tầm mắt, hay ngoài điều tai con người có thể nghe thấy được. Lý trí của loài người thật là hèn mọn.»

    Có giọng nói đàn bà bên tai:

    - Ông là tu sĩ.

    Đó là giọng một cô gái chừng 17 tuổi, đầu tóc bím quê mùa, nét nhìn e lệ. Pillat hỏi:

    - Sao cô hỏi thế? Tại đầu tôi giống tu sĩ lắm sao?

    - Không, tôi tưởng thế vì ông đang viết gì trên thân cây và lại không mang súng. Ai biết viết đều không phải là kẻ cướp. Khu rừng nầy đầy cả kẻ cướp, nhưng họ không biết viết. Mà chỉ có tu sĩ mới không mang vũ khí.

    Pillat bỏ dao vào túi. Thiếu nữ sau một hồi yên lặng, nói tiếp:

    - Tôi không biết đọc, nhưng tôi thích ai viết chữ được. Tôi tên là Magdalena.

    Pillat đứng dậy chìa tay bắt. Nàng lại hỏi:

    - Tại sao ông không mặc áo nhà dòng. Ông sợ hả? Tu sĩ trong rừng nầy ai cũng sợ mặc áo dòng cả.

    Magdalena bỗng im tiếng, nàng thấy mình nói nhiều quá và bỗng sợ những gì mình vừa nói. Pillat hỏi:

    - Cô ở đâu đến?

    - Chúng tôi sống ở đây từ ngày Sô Viết xâm nhập. Người ta lùa chúng tôi từ bờ Hắc Hải; rồi cho nhà cửa đất đai ở nông trường, trong thung lũng, nhưng cha tôi đã đem súc vật đi trốn vào rừng. Chúng tôi đến sống trong khu rừng nầy còn sướng hơn ở nông trường tập thể.

    - Thế cô có biết làng Piatra không?

    Chàng muốn trở về đó để dọ tông tích Ion Kostaky; chàng đã xuống đó bao nhiêu lần nhưng không biết gì hơn về số phận của ông nhạc cả. Người thiếu nữ trả lời không biết, rồi hái một cánh hoa màu đỏ đưa lên môi, rồi vừa cắn cánh hoa bằng những chiếc răng trắng của nàng, vừa hỏi:

    - Tại sao ông ở đây mà không lên trên hốc đá? Trên đó có nhiều tu sĩ lắm. Và đứng trên đó mới thấy quân đội và cảnh sát đến được chứ. Nếu là ban đêm ba tôi sẽ đốt lửa trên mõm đá báo động, ban ngày ba tôi thổi tù và, nghe thấy thế là các vị tu sĩ đi ẩn núp ngay. Ông có biết là trên đó dễ kiếm ăn lắm? Ba và dân làng bỏ trốn đều có mang theo bầy ong và súc vật vào rừng để sinh sống. Các vị tu sĩ cũng làm lụng để kiếm ăn, các vị đó luc trốn đi không đem theo gì cả nhưng được cái là họ rất lương thiện. Tôi không thể nói chuyện gì với họ được vì không biết lấy một tiếng Lỗ nào. Nhưng tại sao ông lại biết tiếng Lỗ nhỉ, ông không phải là tu si ngoại quốc sao?

    Pillat trả lời:

    - Tôi ở làng Piatra, cô không quen ai ở làng Piatra thật sao?

    Nàng vẫn tiếp tục cắn cánh hoa hồng:

    - Đây là lần tấn công lớn nhất và kéo dài vài ngày nay rồi. Quân cảnh bắn vào chúng tôi, máy bay thì dội bom trên rừng.

    Tiếng nổ trên thung lũng vang lên đinh tai nhức óc. Trong rừng tiếng gì cũng nghe như là đang nổ bên cạnh, nhưng thật ra còn xa lắm.

    Magdalena hỏi tiếp:

    - Ông mặc áo dòng loại nào đó? Có vài tu sĩ mặc áo dòng màu trắng thật đẹp, tôi thích các vị đó nhất. Các vị khác lại mang dây lưng bằng thừng và kết bạn với chim chóc. Họ tốt đến độ chim đến bên họ mà cũng không sợ. Các vị khác lại mặc áo dòng thật chật như là loại áo các sĩ quan, mặt lúc nào cũng nghiêm nghị, họ không bao giờ ăn thịt và sống cộng đồng với nhau, họ không hề nói chuyện với dân làng và cầy cấy riêng rẽ.

    Magdalena không biết họ thuộc dòng Tên. Pillat hỏi nàng:

    - Cô có chắc mấy người đó là tu sĩ không chứ?

    - Họ đều là tu sĩ cả, bởi vì họ biết đọc, biết viết, thường hay cầu nguyện và không mang vũ khí. Đúng là tu sĩ chứ còn ai vào đó nữa.

    Súng nổ càng ngày càng nhiều, máy bay tiếp tục dội bom.

    Magdalena vẫn nói:

    - Nếu ông lên trên đó, ông sẽ có sữa uống. Tôi sẽ nói với ba tôi. Ông mặc áo dòng loại nào thế? Và tại sao ông lại có râu, mấy ông kia không để râu.

    Nói xong nàng bỏ đi không cần chờ trả lời. Pillat gọi theo nhưng nàng đã đi xuống đồi thật nhanh.

    Pillat đã nhìn thấy những toán lính tràn lên thung lũng sắp theo đội hình tấn công và chàng không thấy Magdalena đâu nữa.

    Vài ngày sau, lính tràn cả khu rừng. Pillat phải lang thang như một con chó đói. Chàng muốn gặp lại Magdalena, muốn lên nơi các vị tu sĩ ở, nhưng quân đội đã chiếm cứ dãy núi mất rồi.

    Pillat trông thấy một xác chết, thấy có thuốc lá, tiền Nga và hộp quẹt. Trong bị rết còn cả đồ hộp và nhiều gói thuốc lá khác. Pillat lấy bị rết và cởi áo quần nạn nhân. Đó là một anh chàng dân quân tự vệ. Không phải dân sự mà cũng không phải là lính nhà nghề. Anh ta mang theo súng tự động và một hộp đạn. Pillat dùng lưỡi lê của cây súng đào một hố nhỏ chôn xác chết rồi đắp một nấm mồ nhỏ. Cắt một nhánh cây làm chữ thập trên mộ, chàng cầu nguyện nho nhỏ:

    «Lạy Cha chúng tôi...»

    Bỗng có giọng nói:

    - Tôi đã nói ông là tu sĩ, đúng quá mà.

    Thì ra Magdalena đã đến sau lưng chàng, nàng nói:

    - Rõ ràng tôi thấy ông là tu sĩ, chỉ có tu sĩ mới chôn người chết.

    Magdalena suy nghĩ một chốc, không hiểu có nên nói tiếp hay không, sau cùng nàng quyết định nói:

    - Hôm qua, lính lên trên đó bắt tu sĩ. Ba tôi trốn được, nhưng nhiều vị tu sĩ đã bị bắt.

    - Sao lại có nhiều tu sĩ thế? Quanh đây có tu viện nào không? Họ ở đâu đến đây?

    - Họ là tu sĩ ở Vatican, ông đã đến Vatican lần nào chưa?

    Từ trên đỉnh núi, có tiếng tù và vọng xuống, Magdalena nói:

    - Ba tôi báo động đó.

    Và nàng mất dạng trong rừng cây.

    Pillat lại cô đơn. Chàng lắng nghe đạn trung liên réo liên hồi cùng với nhiều tiếng nổ. Chàng châm một điếu thuốc vừa lấy được trong túi xác chết. Trên đầu chàng trực thăng bay lượn; lần đầu chàng trông thấy cảnh nầy, chưa bao giờ rừng núi lại có nhiều âm vang như thế. Pillat sợ hãi, sợ hãi hơn bao giờ hết. Cái chết đã gần kề.

    II

    Boris theo đám đông đã phá tù để vào rừng. Phá sập tường để cứu cha Angelo, nông dân cứu thoát luôn cả Boris. Họ còn cho hắn ẩn náu ở các chỗ núp trong khu rừng. Boris đang đau nhưng mỗi ngày hắn vẫn muốn trở về với một cuộc sống hợp pháp. Đối với hắn, tất cả những ai vào rừng đều là kẻ thù của Sô Viết, đều là tụi phản động, kẻ thù của nhân dân? Hắn thầm nghĩ: «Địa vị của mình không phải trong đám dân đen nầy. Hắn đợi cho sức lực bình phục hẳn để tìm cách xuống thung lũng. Ở gần hắn ít nói chuyện với dân làng, dù họ đã tìm cách cứu hắn khỏi cảnh tù đày. Bệnh hoạn đã bắt buộc hắn phải sống nhiều tuần trong rừng. Trong cảnh cô đơn, Boris suy nghĩ về cuộc nổi dậy của đám nông dân đó. Đó là một cuộc nổi dậy thực sự, một cuộc nổi dậy mà hắn chưa bao giờ thành công ở Lỗ ma ni lúc hắn được phái đến để tổ chức một cuộc phá hoại và một đội quân bí mật.

    Đó là một cuộc vùng dậy của dân chúng, những kẻ đã phá từng viên gạch của nhà tù ở Molda, điều hắn thích làm mà chưa bao giờ thành công. Hắn chỉ thành công trong các cuộc phá hoại không đáng kể. Số người hắn gặp thường bất động trong tay hắn và trong tay các đồng chí hắn. Hắn chống lại lũ dân làng đã cứu thoát hắn chỉ vì cuộc nổi loạn của họ nhằm phản đối Sô Viết. Hắn hiểu rõ sức mạnh của kẻ thù Sô Viết, nhưng hắn không hiểu sức mạnh đó do đâu mà có.

    Trí óc hắn đã tạo ra thần tượng Tinka Neva, nhưng sự tạo dựng đó cũng như những lâu đài bằng giấy, đẹp thật đấy nhưng toàn là tiền chế cả. Nông dân thì đúng là cả một lực lượng rồi đó. Hắn đã trông thấy họ nhắc từng viên gạch để phá bỏ nhà tù. Hắn hiểu rõ bây giờ kẻ thù của hắn là ai rồi. Lực lượng đã phá bỏ nhà tù ở Molda thật là bất tận. Hắn muốn dùng lực lượng đó để phục vụ cho Sô Viết. Nhưng lực lượng phản động đó do đâu mà có được?

    Boris nghĩ về tất cả những gì có thể làm thành lực lượng, một đảng phải, một tổ chức, nghĩ đến một tổ chức hành chánh hoàn hảo, một cơ quan cảnh sát đàng hoàng, nghĩ đến sự trung thành của các đảng viên, đến những tòa án, những biện pháp trừng trị kẻ lừng khừng. Sô Viết có tất cả những đặc tính đó, hơn nữa Sô Viết lại có đủ cán bộ, cả cán bộ siêu việt nữa. Hắn muốn ở lại với các cán bộ cộng sản ở trên hẳn cả thân phận làm người, trên hẳn loại cán bộ Thiên Chúa giáo cao cấp, vì người cộng sản có thể chế ngự được cái chết. Chỉ có một kẻ trong Thiên Chúa giáo có thể chế ngự được cái chết, kẻ đó là Chúa Jésus. Nhưng trong chế độ cộng sản, có cả hàng trăm triệu người không còn ý thức về mạng sống riêng rẻ của mình nữa mà có thể chết cho đảng không cần do dự, như chính hắn, như Rajk, như những kẻ muốn sẵn sàng hy sinh thân mạng cho ích lợi chung? Trái với người Thiên Chúa giáo, người Sô Viết hy sinh mà không cần đền bù.

    Thế thì tại sao với cán bộ như thế mà Boris không thể xúi dục dân làng ở Lỗ ma ni nổi loạn như trong cuộc phá vỡ nhà tù ở Molda? Với sự trợ giúp nào, với lực lượng nào mà lũ dân đói khát đó, không súng ống, không tổ chức, không có một tí gì cả mà vẫn vùng dậy được?

    Boris bỗng giật mình. Đâu đây trong rừng có tiếng tiêu réo rắc một khúc nhạc lưu đày Doina. Doina là một khúc nhạc như một kiếp người, buồn tẻ. Boris cài lại khuy áo. Hắn không còn mang áo choàng bằng da nữa. Lần đầu tiên trong cuộc đời cộng sản của hắn, hắn không mặc áo choàng da, quàng khăn đỏ, đi ủng đen. Bây giờ hắn đi chân trần. Hắn phải ẩn núp để người thổi tiêu không trông thấy hắn. Hắn nhìn những viên gạch vỡ mà dân làng đã mang từ nhà tù Molda đến chất quanh lều nầy. Một mối thù khủng khiếp dâng lên trong lòng hắn đối với lũ nông dân phản động. Hắn muốn phá bỏ căn lều nầy. Hắn nghe một cuộc đối thoại đằng xa. Tiếng người đàn bà:

    - Tôi chưa bao giờ thấy người thổi sáo, nhưng biết ông ta là đảng trưởng đảng cướp.

    Thiếu nữ có vẻ sợ hãi. Magdalena kể cho Pillat nghe những gì nàng biết về đảng cướp ở cạnh đây. Boris lắng nghe câu chuyện. Giọng Magdalena:

    - Đừng có lại gần. Đó là một tên sát nhân chưa bao giờ có. Hắn khủng bố tất cả vùng nầy và lại điên nữa. Hắn vừa sát nhân vừa điên, ông hiểu chưa?

    Pillat nghe tiếng nói của Magdalena hòa lẫn với điệu buồn của khúc hát Doina. Chàng biết lời của khúc nhạc đó. Con chàng cũng mang tên Doina. Tâm hồn chàng cũng chẳng khác gì một khúc nhạc lưu đày Doina. Marie cũng có thể được gọi tên là Doina. Đó là bài hát của người đứng nhìn trời cao mà nghĩ về cái chết, về tình yêu, về Chúa và về cuộc đời. Đó là chủ đề của Doina: con người nghĩ về những điều thiết yếu. Và tướng cướp làm cho Magdalena sợ hãi lại đang thổi khúc nhạc Doina. Magdalena nói:

    - Chờ cho hắn đi đã, tôi sợ lắm. Nếu hắn thấy chúng ta, hắn sẽ giết chúng ta mất thôi.

    Pillat vẫn thầm nghĩ tiếp: «Ion Kostaky cũng có một cuộc đời, một tâm hồn, một đôi mắt nhìn buồn như Doina. Tâm hồn Kostaky mở rộng để đón nhận tất cả những sự kiện lớn lao của nhân loại: sự vĩnh cửu, cái chết, tình yêu, trời đất và tất cả những gì chung quanh đời sống».

    Magdalena lập lại:

    - Nếu chúng ta đến gần, hắn sẽ giết chúng ta ngay. Nhiều đội quân cảnh vẫn truy tầm hắn trong rừng. Người ta gọi hắn là «Thằng Nông Dân». Không bao giờ người ta thấy hắn cầm vũ khí mà chỉ đấu súng ống ở các gốc cây vì thế hắn còn có tên là «tướng cướp tay không». Tuy vậy hắn dấu vũ khí ở khắp nơi, ông hiểu không, dưới mọi gốc cây đều có vũ khí hắn cất đấy.

    Pillat hỏi:

    - Thế nhưng có bao giờ cô thấy hắn chưa?

    - Có một lần tôi trông thấy hắn lúc tôi đi lấy nước uống. Nhưng tôi không dám nhìn, tôi run lên rồi bỏ trốn, hay nói cho đúng tôi nhìn trộm hắn một chút thôi và thấy hắn đang nằm dài trên bãi cỏ để thổi tiêu và ngắm trời xanh. Quân cảnh thường nghe tiếng tiêu để kiếm hắn, nhưng hắn thính lắm, có thể nghe tiếng chân người cách xa hàng cây số và bỏ trốn ngay.

    Cứ thế Magdalena thao thao kể về giai thoại của tướng cướp tay không cùng những kinh hoàng hắn gieo rắc khắp vùng. Pillat chặn hỏi:

    - Hắn có nhiều đồng minh không nhỉ?

    Magdalena chỉ nhún vai không trả lời.

    Boris vẫn lắng nghe. Hắn muốn biết đồng minh của tướng cướp tay không đó là ai. Hắn đoán chắc là những kẻ nổi loạn đã phá ngục ở Molda, vì không còn ai khác hơn nữa; lúc nào trở về hắn sẽ khai báo cho Sô Viết hay lũ đó. Tiếng Pillat hỏi:

    - Cô có bao giờ trông thấy đồng bọn của hắn chưa?

    - Chưa bao giờ, nếu tôi thấy, chắc tôi sợ đến chết mất.

    Boris lắng nghe, bây giờ chỉ có khúc nhạc Doina vang lên giữa cảnh yên tĩnh của núi rừng, khúc nhạc như reo lên tình yêu vĩnh cứu và nổi lòng quạnh hiu của con người trên trái đất, khúc nhạc muôn thuở của tướng cướp tay không. Magdalena lại lên tiếng:

    - Chưa ai thấy đồng minh của tướng cướp đó, nhưng ở đâu cũng có họ cả.

    Boris tưởng tượng trong khu rừng, trong các ấp ở thung lũng, đâu đâu cũng có đồng minh của tướng cướp, mà dù thế, vẫn không ai biết họ ở đâu. Họ đã xúi dục dân làng, đã phá ngục, trả tự do lại cho Đức Cha và cho những kẻ khác. Boris thích có loại đồng minh như thế để tổ chức các cuộc phá hoại, loại đồng minh ở đâu cũng có cả mà cảnh sát không thể dùng trực thăng xe tăng để bắt họ được. Thứ cộng sự viên mà không ai thấy đó, Boris không thể bắt giao cho cảnh sát để thủ tiêu, không thể giam trong xà lim, không thể chụp hình hay lấy dấu tay, không thể hành hạ. Đúng là một loại cộng sự viên đắc lực nhất cho một cuộc đấu tranh bí mật, cho những giai đoạn khó khăn.

    «Đó là một loại đồng minh Sô Viết cần có ở Tây phương để có thể chinh phục thế giới. Có như thế mới có thể thay đổi khí hậu, thiết lập một chính quyền cộng sản khắp nơi, kiến tạo một nền hòa bình theo kiểu cộng sản đồng nhất. Với loại đồng minh như thế, ta có thể nâng cao đời sống con người và giải phóng con người khỏi những thành kiến.» Boris thầm nghĩ như thế, nhưng không bao giờ hắn có được những cộng sự viên như vậy cả. Hắn chỉ thấy và gặp toàn là lũ phản bội mà hắn phải mất công dò xét ngày đêm. Boris không tin là có loại đồng minh như thế trên quả đất nầy, và nếu chỉ có một thôi, hắn cũng hoàn thành được những kỳ công trên đời.

    «Tụi đó phải mang tên mật, phải đặt tên là gì nhỉ?» Boris suy nghĩ mãi và không tìm ra nổi một cái tên để đặt cho thứ đồng minh đó đang sống ở trong rừng, ngoài vòng pháp luật, dù tên đó ở trên cửa miệng người đời. Bởi vì Boris sẽ không ngờ tên đó là Trời, cái tên gần như xa lạ với một kẻ biết quá nhiều điều như hắn, đó là một đồng minh hoàn hảo, nhưng xa lạ với Boris, hoàn toàn xa lạ với người Sô Viết, cái tên chống Sô Viết hữu hiệu đó lại không có trong danh sách mật vụ Nga Sô.

    Không có người chỉ huy như thế, không thể nào phá nhà tù trong vài giờ. Chỉ có ông ta mới có tài làm thế. Không có những cộng sự viên như thế, người ta chỉ thực hiện được vài cuộc phá hoại nho nhỏ, kiểu huyền thoại Tinka Neva là cùng. Thế mà Boris vẫn thầm nghĩ: «Tai hại là mình chưa biết đến cộng sự viên đó. Với hắn, mình đã có thể thay đổi hoàn toàn khí hậu của Nga Sô, thay đổi tất cả các giòng nước trên đất. Với tất cả kẻ khác thì mình chỉ có cảm tưởng là đang làm việc trong hư vô mà thôi».

    Buồn bã, Boris bước xuống thung lũng. Lại một cuộc tấn công khác đang bắt đầu. Trực thăng, lính nhảy dù, xe tăng, liên thanh đang được huy động để đổ bộ lên khu rừng. Nhưng Boris không còn sợ súng đạn nữa, không còn sợ chết nữa. Với hắn người ta chỉ chết khi người ta tưởng là phản đảng có lý. Boris đang sống và biết rõ cần phải làm gì, lúc nào hắn cũng trung thành với đảng. Dù đảng cũng rất có thể đang dùng hắn như một kẻ phục vụ vô danh. Boris nhớ lại một tướng Tây Ban Nha mà tên tuổi được đăng trên khắp báo chí, ngay cả trên các hộp quẹt Sô Viết. Trên đỉnh danh vọng, đảng đã quyết định rút tên đó lui để mình đừng làm phương hại đến chính tên tuổi mình hay đừng phạm vào những lỗi lầm lúc ông mang tên tuổi lừng danh đó... Người ta đã đặt cho ông ta một tên khác. Với Boris rất có thể đảng cũng sẽ hành động như thế. Trong một nước xã hội chủ nghĩa nếu biết tôn trọng khoa học thì thật là một điều dĩ nhiên khi không để tên giá trị cho một kẻ hèn mạt. Có thể là Boris không còn giá trị nào nữa chăng? «Nhưng cần gì, Boris thầm nghĩ, bổn phận mình là trình diện với Sô Viết và nói với họ rằng mình chấp nhận mọi sứ mệnh họ giao phó và tin cậy. Nếu họ muốn đưa mình đến nông trường, mình sẽ làm tròn bổn phận tại nông trường đó. Mình là cộng sản, thế là đủ, mình phải làm việc đến tận cùng của một đời người, và phải chết hoàn toàn theo cách của một đảng viên cộng sản.»

    Thế là hắn bước về phía làng mạc trong lúc lính đổ bộ lên rừng. Boris muốn bước đến gần đội quân đầu tiên hắn gặp trên đường. Khu rừng đã bị phong tỏa kỹ càng, một con chim nhỏ cũng không thể thoát ra được, Boris nhìn mà bỗng sung sướng: «Muốn có một tổ chức quân đội hoàn hảo như thế, dù phải hy sinh hàng triệu người cũng được; mình kiêu hãnh về việc nầy của Sô Viết. Chưa bao giờ mình thấy một đội quân nào hoàn hảo như đội quân đang bủa vây để quét sạch khu rừng nầy».

    Boris say sưa ngắm và khâm phục đội quân đang hùng hổ tiến lên mà quên cả đôi chân không giày đau đến rướm máu. Sung sướng hơn bao giờ hết, hắn bèn hát lại bản «Khúc nhạc rừng» mà hắn đã hát lúc làm việc để thay đổi khí hậu Nga Sô dạo nào. Cứ thế hắn bước dần đến phân đội cảnh sát đang tiến lên, sung sướng ngỡ rằng đó là quân đội Sô Viết.

    Hắn cũng hiểu rằng cá nhân hắn chẳng còn gì nữa cả, nhưng đối với Sô Viết, cuộc đời mới chỉ vừa hé mở. Sô Viết sẽ hùng cường, dần dần hùng cường thêm lên nhờ những đóng góp, hy sinh của từng cá nhân trong đó có cả hắn nữa. Boris hát ngày càng to, hát khúc nhạc «Canh tác sa mạc và thay đổi khí hậu». Nhìn xe tăng và trực thăng, hắn biết mình đã dính liền dù chỉ là vô danh, dù không có một ấn thưởng nào với cuộc cách mạng vĩ đại Sô Viết. Và đó là điều chính yếu đối với hắn: Được dính liền với biến cố lịch sử duy nhất do Sô Viết lãnh đạo. Nghĩ như thế, hắn bước nhanh ra khỏi rừng.

    °

    Một người lính mắt chếch da vàng thò đầu ra khỏi xe tăng nhin Boris, để yên cho hắn lại gần. Boris thì chân trần, áo rách tương, trong lúc người lính mang nón sắt, áo da. Áo giáp sắt làm hắn to hệt như một tượng sắt. Đúng là phong độ một người lính, hàm luôn luôn siết chặt nghiêm nghị. Đúng là một quân đội hùng mạnh với những chiếc xe tăng cao ngất nghểu, cao hơn cả nóc nhà thờ trong làng. Boris sung sướng với ý tưởng đó là quân đội Sô Viết, sung sướng thấy mình đang ra khỏi khu rừng để hòa mình vào guồng máy vĩ đại của lực lượng đang mang sứ mệnh chinh phục thế giới, và sự hòa mình đó là công việc quan trọng nhất trong đời Boris.

    Nhìn bộ mặt da vàng của người lính trên xe tăng, Boris nghĩ rằng người da vàng như Nhật Bản, Trung Hoa cũng góp phần vào lực lượng Sô Viết chứ không phải chỉ có người da trắng mà thôi, bởi đằng sau gốc xe tăng còn có cả người lính da đen nữa, thế có nghĩa là người da đen cũng được sung vào lực lượng Sô Viết như người Bắc Âu. Boris có cảm tưởng là tất cả giống người đều chiến đấu trong tình huynh đệ dưới ngọn cờ Sô Viết. Ở trên cùng một chiến xa, dưới cùng một ngọn cờ, đều có cả lính da vàng, da trắng lẫn da đen. Thế là Boris dong tay lên cao và đi về phía các họng súng trên chiến xa, đi về phía các người lính đủ màu da như là đi về với các đồng chí.

    Bỗng có lệnh: «Đứng lại» do một người lính da trắng hô to, bằng tiếng Đức. Hắn dừng lại và nghĩ rằng hàng triệu lính đủ màu da đủ ngôn ngữ đang chiến đấu trong quân đội Sô Viết. Người da vàng, dáng nhỏ con, bước xuống xe và đi về phía Boris. Boris hô to:

    - Hoan hô Sô Viết.

    Hô to như thế không phải là để làm hài lòng mấy người lính mà là hắn muốn tự làm mình vui lòng, vì đã ngưỡng mộ và trung thành với Sô Viết. Hắn muốn tìm ngôi sao đỏ trên nón sắt của người lính đang khám xét thử hắn có mang vũ khí trong người không, trong lúc các người lính khác cầm vũ khí sẵn sàng nhã đạn về phía hắn nếu cần. Ở cuối khu rừng vẫn vang rền tiếng nổ. Boris nói với người lính bằng tiếng Nga:

    - Tôi rất sung sướng được trở về với quân đôi Sô Viết.

    Đôi mắt Boris sáng ngời khâm phục khi nhìn bộ quân phục dã chiến cùng vũ khí mà các người lính đang mang trên người. Người lính da vàng dùng lưỡi lê ra hiệu cho Boris dang xa ra, nhưng Boris vẫn la to:

    - Hoan hô quân đội Sô Viết.

    Dù những người lính trên xe không hiểu tí gì, nhưng hắn vẫn cảm thấy cần nói với họ đôi lời, và hắn khổ tâm khi thấy họ nhìn đi nơi khác mà không thèm nghe hắn.

    - Hỡi các đồng chí, nếu các đồng chí biết là tôi đã chờ giây phút nầy từ bao lâu rồi, giây phút được trở về trong hàng ngũ Sô Viết...

    Một người lính chăm chú nhìn Boris rồi bật cười và nói với hắn bằng tiếng Anh:

    - Anh chờ cái gì mới được chứ?

    - Đồng chí không nói tiếng Nga ư?

    Boris hỏi thế vì cứ tưởng rằng Sô Viết cũng có nhiều quân đội Lê dương ở ngoại quốc.

    Người lính vẫn cười to và ra hiệu cho Boris dang ra xa. Boris cứ nói:

    - Tôi rất hãnh diện khi nhìn thấy quân đội Sô Viết như thế nầy. Người lính trên xe chỉ hiểu được có một tiếng Sô Viết thôi, và ông ta trả lời cho Boris bằng tiếng Đức:

    - Không còn Sô Viết nào nữa, hết rồi, hết rồi. Không còn Sô Viết ở đây nữa.

    Một người lính da ngâm đen hình như là góc Ý chỉ cho Boris cái huy hiệu trên ngực y có đề: «Liên minh thứ 9 của Lực lượng Đông Âu». Boris ngạc nhiên hỏi:

    - Thế ra ông không phải là lính của quân đôi Sô Viết?

    Một người lính lại trả lời bằng tiếng Anh:

    - Không còn Sô Viết nữa, không còn Nga Sô ở đây nữa. Bây giờ chỉ còn một thế giới thôi hiểu chưa?

    Boris ngơ ngác nhìn các chiến xa, các bộ quân phục; nhìn các bộ mặt đang đối diện với hắn, bỗng mắt hắn nhìn đúng vào bức hình tên thống chế trưởng giả mà hắn định tâm ám sát độ nọ khắc trên bảng súng lục của một người lính. Dưới bức hình có đề «Chỉ huy trưởng».

    Boris không muốn tin vào điều đã trông thấy. Vậy thì đây không phải là quân đội của Sô Viết? Vị chỉ huy trưởng lại là viên thống chế có nuôi con chó dạo nào ư? Boris đang ngơ ngác thì bị một mũi súng đẩy mạnh. Các người lính cả da vàng lẫn đen trắng đều nhìn hắn cười to và bảo hắn đi xa đi. Họ mang cùng một thứ huy hiệu nhưng không phải là huy hiệu Sô Viết, không phải là ngôi sao đỏ. Boris òa khóc và qua làn nước mắt, hắn trông thấy trên các chiến xa đều có giòng chữ «Made in U.S.A.» viết thật to.

    Mũi súng vẫn đẩy hắn ra đằng sau và bây giờ qua làn nước mắt, Boris thấy mình đang đứng trong một trại giam bao quanh bằng một hàng rào kẽm gai.

    KẾT

    Trong khu rừng, những người bỏ trốn đang kinh hoàng vì cuộc tấn công kéo dài gần một tuần lễ. Chưa bao giờ người ta giết nhiều người như thế. Chưa bao giờ người ta dội bom nhiều như thế. Chưa bao giờ người ta tấn công khu rừng nầy bằng ngần ấy lính tráng, vũ khí, thiết giáp và phi cơ.

    Có tin đồn từ lâu là Sô Viết đã lùi chân và mọi người có thể bình yên trở về thị thành, làng mạc. Hồng quân đã lùi binh và người ta không còn trông thấy bóng dáng người Nga nữa. Nông dân đã dám phá ngục ở Molda vì người Nga đã rút quân. Nhưng đúng vào lúc mọi người tràn trề hy vọng là nếu không còn người Nga nữa, họ có thể trở về sinh sống trong căn nhà mà người Nga đã đuổi họ ra từ lâu, đúng vào lúc đó thì cuộc tấn công tàn nhẫn bắt đầu. Những kẻ tị nạn lại cứ tiếp tục chui rúc trong các rừng rậm, số phận của họ cũng chẳng cải thiện được chút nào.

    Magdalena là người đẹp duy nhất trong rừng này, khu rừng mà từ một tuần nay con người bị cảnh sát săn đuổi như những con thú. Pillat say sưa nhìn đôi chân Magdalena. Người đàn bà bao giờ cũng là của đẹp trời cho, như bầu trời, như mặt trời. Người đàn bà soi sáng đời sống người đàn ông cho dù là trong bóng tối thâm cung nhất. Người đàn bà cũng giống như ánh trăng, đi đến đâu, bóng tối biến mất đến đó, người đàn bà làm cho mặt đất rạng rỡ thêm lên. Đôi chân Magdalena đang cử động nhanh, nàng đi mà như đang khiêu vũ, cả thân hình nàng như đang khiêu vũ với cây trong rừng. Nàng biến đi một hồi, rồi trở về òa khóc bên cạnh Pillat:

    - Họ giết tướng cướp tay không rồi, rõ ràng tôi thấy tận mắt hắn chết, chết hẳn rồi.

    Và nàng nức nở khóc, vì sợ hãi.

    - Ai chết?

    - Người nông dân có tên là tướng cướp tay không đó. Tôi dẫm phải xác hắn. Đi với tôi đi, tôi sợ phải đến gần hắn một mình. Rất có thể hắn giả vờ chết cũng nên. Đi đi. Hắn dễ sợ ngay cả khi đã chết, đúng là đồ quỷ.

    Magdalena làm dấu thánh giá. Pillat cầm tay nàng đi đến nơi tướng cướp đã chết. Trong thung lũng, trên mõm đá, người nông đàn nằm ngửa mặt lên trời, ống tiêu vẫn để trên ngực, chết trong đám cỏ hoa. Magdalena che mặt để đừng trông thấy cảnh tên cướp nằm sóng sượt trên mõm đá. Cảnh sát Sô Viết đã không thể nào hạ nổi hắn ta dù họ đã từng gởi nhiều đội quân cảnh để đuổi bắt hắn, thế mà bây giờ hắn phải chết bởi cuộc săn đuổi của cảnh sát của khối Liên Quốc Gia. Magdalena che mắt chỉ:

    - Đúng hắn đó.

    Pillat bỗng đau đớn:

    - Trời ơi hắn đây ư?

    Và chàng quỳ xuống bên cạnh xác chết:

    - Đúng là Ion Kostaky, cha của Marie đây rồi.

    Ion Kostaky vẫn mặc bộ áo Gia Nã Đại. Pillat cầm lấy bàn tay lạnh lẽo đang nắm chặt ống tiêu để trên ngực. Chàng sững sờ nhìn chiếc nón theo lối Mỹ, quần dài theo kiểu Anh và đôi ủng nặng nề của Đức. Chàng sững sờ nhìn ống tiêu muôn đời gốc Lỗ ma ni. Chàng sững sờ nhìn miệng Ion dính đầy máu, lấy tay chùi hết máu nơi miệng. Chàng không quên vuốt đôi mắt đang mở rộng nhìn về phía đại đồng minh của người Nông dân: Trời. Kostaky vẫn hình như đang mỉm cười thỏa mãn vì đã chết bên cạnh Trời. Chàng sững sờ nhìn dây lưng gốc Sô Viết, nhìn bộ quần áo đủ mọi quốc gia, ở khắp nơi mà Kostaky đã từng đổ máu lên đó, đã từng chết dần chết mòn, mọi quốc gia đều có giết Ion một phần, và Ion tượng trưng cho xứ Lỗ ma ni bất hạnh này. Chàng bảo:

    - Thôi chôn cất ông ta đi.

    Cả hai đào đất và đặt Kostaky nằm dài xuống hố. Ở trên đầu, họ cắm ống tiêu mà ông ta vẫn dùng để dạo khúc nhạc Doina.

    Và cả hai đồng quỳ xuống bên mộ đọc kinh: «Lạy Cha chúng tôi ở trên trời...»

    Và họ bỏ đi. Magdalena thúc dục:

    - Chúng ta lên trên cao kia đi. Trên đó không ai có thể đến được. Pillat bây giờ mới nói cho Magdalena hiểu:

    - Ông ta không phải là một tướng cướp, dù luôn luôn bị các chính quyền săn đuổi, kể cả chính phủ Liên Minh.

    Một chiếc trực thăng vừa khám phá ra Pillat và Magdalena. Ho trốn vào trong bụi rậm. Pillat bảo:

    - Nên để tôi chết ở đây. Tại sao các tổ chức đó vẫn cố giết người. Cô nói cho tôi biết đi, Ion Kostaky cũng chỉ là một con Người. Tại sao họ lại bắn chết con Người?

    Lính nhảy dù đang từ đỉnh núi tràn xuống. Pillat và Magdalena lại phải trốn vào một hố sâu. Bất ngờ họ vấp phải một xác chết đang chôn dở. Chắc là đồng bọn chưa kịp lấp đất. Xác chết mang áo dòng màu trắng. Magdalena cầu nguyện, trong lúc Pillat hỏi:

    - Tại sao tu sĩ mà cũng bị giết?

    - Vì tu sĩ trốn khỏi tu viện. Tu sĩ không có quyền ra khỏi tu viện nếu không sẽ bị xem như là đồ phản loạn. Mấy người mặc áo dòng trắng lưng đeo dây đai làm ruộng ở trên kia đều trốn khỏi Vatican.

    Magdalena rút trong áo một mảnh giấy: đó là lệnh của Liên minh Đông Âu thứ 9, gởi cho các tu sĩ Thiên Chúa giáo bỏ trốn, yêu cầu họ trở về tu viện. Lệnh do một tướng Mỹ, chỉ huy trưởng tối cao của Lực lượng An ninh thế giới và viên thống chế các người Slaves miền Nam, lãnh tụ khối Liên minh Đông Âu thứ chín đồng ký tên. Pillat hỏi:

    - Các tu sĩ đó bị tội gì đối với chính phủ Liên hiệp thế giới? Tại sao bắn họ, họ chỉ là những người rao truyền tình huynh đệ, tại sao lại giết họ? Họ có tội gì đối với Lực lượng «Một Thế giới»?

    - Các tu sĩ này bị kết án là đã không nhìn nhận vị lãnh đạo của họ. Họ có kể cho tôi nghe là tại các quốc gia họ đã có kỹ luật tôn giáo sẵn. Khi hòa bình đã tái lập, Đức Thánh Cha được phong làm Bộ trưởng trong chính phủ Liên hiệp thế giới, nhưng ngài không chịu nhận và chết vì buồn phiền lo âu. Nên người ta đã đem đến từ bên kia đại dương một Đức Thánh Cha khác không biết tiếng La tinh để thay thế. Các tu sĩ ở Vatican thì chỉ biết tiếng La tinh thôi nên họ không hiểu nhau. Các vị đó không chống đối gì, nhưng họ bỏ đi vào khu rừng này, và cảnh sát cứ theo đuổi mãi, dù họ chỉ biết cầu kinh suốt ngày.

    Một đợt máy bay xuất hiện trên trời, lính nhảy dù lại được thả xuống trên đỉnh núi. Magdalena lo sợ:

    - Đúng là sắp tận thế rồi!

    Nhìn đôi mắt đầy kinh hoàng của người thiếu nữ, bất giác Pillat nhớ đến một câu văn của Martin Luther nói về tận thế nhưng vẫn thanh thản như lời nói của Magdalena. Pillat nói bằng tiếng Đức «Und wenn morgen Weltuntergang ware, ich werde am heutigen Tage doch Apfelbaume pflanzen».

    Magdalena lo lắng:

    - Họ bắn đó, làm sao bây giờ?

    - Cứ làm như con người vẫn thường làm... «und wenn morgen Weltuntergang ware...».

    Đạn réo trong các bụi cây trên đầu họ, Magdalena áp má xuống đất, thầm hỏi:

    - Ông nói gì thế?

    Pillat dịch ra:

    - Ngày tận thế có đến trong ngày mai chăng nữa, hôm nay tôi vẫn trồng táo như thường...

    Một tràng súng làm Pillat im tiếng và Magdalena cũng hết nghe. Trong lúc máy phóng thanh trên một chiếc phi cơ vẫn loan tin khí tượng cho binh lính của chính phủ Liên hiệp thế giới, âm thanh vang lên trong thung lũng:

    “Trời vẫn đẹp, trời vẫn đẹp”!

    Hết.

    Nguồn: Lối thoát cuối cùng, tiểu thuyết của Constant Virgil Gheorghiu. Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty, dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: La Seconde Chance. Lá Bối, Sài Gòn xuất bản.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21

    Bài viết liên quan

  • Quo Vadis
    • Quo Vadis

      Tiểu thuyết Nguyễn Hữu Dũng dịch và giới thiệu. NXB Văn học in lần đầu 1985-1986, sau đó tái bản nhiều lần. Những lần mới nhất là: năm 2011; năm 2016- Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Đại văn hào Ba Lan. Lời bạt của nhà văn Triệu Xuân: Nhà văn, Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng và Quo Vadis. Dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan: Henryk Sienkicvicz. Quo Vadis. Anstwwy InstytutWydawniezy. Warszawa - 1977. *Post từ năm 2008, nay update!

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập34,548,650

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/