Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,978,295

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Hưng Đạo Vương và những truyện khác

Hoài Anh

  • Thứ hai, 10:03 Ngày 09/08/2021
  • CHAI RƯỢU LÀNG MƠ

    Ra khỏi trại cơ công binh pháo thủ số 9 ở Cửa Đông, Đội Nhân rảo bước, mắt nhìn trước nhìn sau như sợ có người theo dõi.

    Qua dãy nhà bọn quan Tây, Nhân đi theo hè gạch bọc đá sạch mát. Hàng cây bên hè, cành rêu bám đầy ngoằn ngoèo đan vào nhau như một đàn rắn lục khổng lồ quấn rối rít. Từng chiếc lá vàng lộp độp rụng xuống đầu Nhân. Một thân cây cụt ngủn bị một cây leo rễ chằng chịt mọc át hết gợi cho Nhân một ý nghĩ chua chát: Phải chăng cũng giống cảnh nước mình dưới ách bảo ho.

    Những hàng rào chấn song sắt phủ dây leo lốm đốm hoa ti gôn, tử vi, thiên lý tây... lan cả lên mái. Những ngôi nhà đồ sộ có cái mặt tiền giữa xây gồ lên như cái bụng phệ một tên thực dân ưỡn ra, có cái mái nhọn hình tháp xen với mái bằng hình hộp giống những lâu đài trung cổ châu Âu mà Nhân được xem ảnh trong báo bên Tây gửi sang. Cột đèn đúc bằng gang, dưới phình trên thót, ngọn có bóng đèn điện, trên che mũ.

    Đến một cây bàng xương xẩu lá đỏ như máu, đứng làm cột ranh giới, Nhân rẽ sang khu người Nam ở. Phần lớn nhà gỗ lụp xụp kiểu chồng hộp diêm, thỉnh thoảng mới có nhà gạch hai tầng lợp ngói. Hè gạch bọc đá đã bong hết chỉ còn đường rải đá, nước cống ứ lên vì không có hệ thống cống ngầm. Cột đèn điện cũng đã được thay bằng cột gỗ sơn hắc ín, trên có hộp vuông lắp kín, giữa để đèn dầu hỏa, nón che bằng sắt tây. Cái văn minh khai hóa chỉ đi đến đây là hết đường hay sao...

    Nhân((1) Đội Nhân: Tức Đặng Đình Nhân (1880-1908) hạ sĩ quan trong cơ công binh pháo thủ số 9 quân đội thực dân Pháp, một trong những người cầm đầu vụ “Hà thành đầu độc”.1) dừng trước một ngôi nhà hai tầng bằng gạch, tầng dưới có cửa lùa gỗ và lan can sắt, tầng trên thò ra hai đầu xà gỗ sơn đỏ, khắc chữ triện, hai bên gờ tường xây lõm vào đắp nổi hình cây cảnh. Đó là hàng cơm số nhà 20 phố Cửa Nam.

    Được ông Nhiêu Sáu((2) Nhiêu Sáu: chủ hàng cơm số nhà 20 phố Cửa Nam, cơ sở và nơi hội họp của Đảng “Nghĩa Hưng” chủ trương vụ này.2), chủ hàng cơm mời đến ăn giỗ, đúng hẹn, Đội Nhân đến quán. Nhân linh cảm có lẽ không phải giỗ mà Nhiêu Sáu muốn mời mình đến bàn một chuyện hệ trọng. Tuy hai người ở khác làng - Nhiêu Sáu ở Tương Mai, còn Đội Nhân ở Bạch Mai - nhưng cùng tổng, hai nhà từ trước vẫn đi lại thân mật nên Nhân coi Nhiêu Sáu như hàng cha chú, đi lại thăm hỏi luôn luôn. Vì vậy, có ngày giỗ nào nhà Nhiêu Sáu mà Nhân không biết.

    Độ rày, quán hàng cơm 20 Cửa Nam bỗng đông khách lạ. Vào đây hình như người ta không cốt ăn mà chỉ để kiếm cớ gặp nhau, người vào trước như ý ngóng chờ ai rồi khi thấy người mình mong gặp thì bỗng tỏ vẻ mừng rỡ. Nhưng sự mừng rỡ cũng rất kín đáo, nếu không tinh mắt, đố nhận ra. Những khách mới đến có vẻ người tỉnh xa về vì phần lớn mặc áo chàm và nước da sạm nắng gió. Hình như họ là lái buôn mang măng khô, mộc nhĩ, cao hổ, mật gấu... về bán, vì nhiều người khoác những lồ tre to tướng... Họ thường vào một góc nói chuyện thầm thì rồi chỉ một lúc là chia tay. Và mặc dù ông chủ quán đã mang giới thiệu cả thứ rượu Mơ đặc sản của quê mình, khách hàng cũng không tỏ vẻ tha thiết lắm, thường thác là mình còn phải đi xa nữa nên không dám uống say... Mà xem chừng họ lại là dân rượu cả! Thế mới lạ!

    Một sự lạ nữa là nhiều khách còn quen biết ông chủ, thỉnh thoảng có người được ông mời lên gác, lấy cớ là khách quen lên đấy cho tĩnh hơn. Kể ra ông chủ cẩn thận cũng phải vì hàng này thường có cai đội lính tráng hay bồi bếp trại lính trong thành ra ăn uống.

    Gần đây, ông Nhiêu Sáu thấy Đội Nhân thường đến một mình, mặt mày ủ dột, không hay rủ bạn bè đến quấy vữa như mọi khi. Nhiêu Sáu thấy khác ý, sinh ngờ không biết Đội Nhân có đến dò xét gì hàng mình không. Ông lựa lời thăm dò được biết Đội Nhân buồn vì lính Nam bị đối xử chênh lệch so với lính Tây. Lương một tên lính Tây so với lính Nam gấp mấy chục lần. Ấy là chưa kể áo quần, nhà ở và các thứ phụ cấp khác. Bọn sĩ quan Pháp lại đối xử bất công với sĩ quan binh lính người Việt, ngay cả mình đã đóng đội mà còn bị tên quan một Pháp sà lù mẹc.

    Thấy Đội Nhân kể về cảnh khổ của sĩ quan, binh lính người Việt trong quân đội Pháp, Nhiêu Sáu thừa dịp nói:

    - Này thầy đội ạ, tôi nghe được cái bài vè này hay lắm, để tôi đọc cho thầy nghe nhá.

    Kìa những kẻ lưng đeo súng đạn

    Dưới cường quyền theo bọn Pháp binh

    Mũ vàng lẫn với khố xanh

    Ấy là rặt lũ tập binh nước mình

    Một nam tử tranh vanh trong nước

    Vì thần tiền phải bước chân ra

    Có đâu ta lại giết ta

    Cũng là một gốc mọc ra, nỡ nào

    Tưởng những lúc đương đầu giáp hạn

    Bụng không đành mà vẫn không đang

    Há vì tháng mấy đồng lương

    Mà quên làng nước họ hàng hay sao?...

    Đội Nhân tấm tắc:

    - Hay thật!

    - Tôi tưởng thầy còn lạ gì bài này nữa. Ông chú của thầy trước khi đi Đông du thế nào chẳng đã đọc cho thầy nghe...

    Nhân có ông chú ruột đi Đông du từ năm 1902, nhưng sợ liên lụy nên mỗi lần Nhiêu Sáu hỏi, Nhân đều chối là không hay tin tức. Thấy Nhân bắt đầu có chuyển hướng tốt, Nhiêu Sáu tỉ tê gợi chuyện, cuối cùng Nhân thú thực chú mình xuất dương theo ông Tăng Bạt Hổ, nghe nói hiện đang ở Quảng Châu. Nhiêu Sáu lân la nhắc đến các ông Lương Văn Can, Nguyễn Quyền. Nhân bảo là đã được đọc những bài văn của trường Đông kinh nghĩa thục, trong đó có những bài Nhân thích, thuộc lòng. Nhiêu Sáu hỏi Nhân có muốn gặp những người làm ra những bài văn đó không? Nhân tỏ ra rất mong mỏi. Lúc đó, Nhiêu Sáu mới cho Nhân biết cái người nhỏ nhắn, dáng điềm đạm, có đôi mắt rất sáng... thường đến hàng cơm là ông cử Lương Văn Can, sáng lập viên trường Đông kinh nghĩa thục... Thì ra từ khi Đông kinh nghĩa thục bị đóng cửa, ông cử Can vẫn hoạt động bí mật, tuyên truyền đắc lực cho phong trào yêu nước.

    Buổi gặp gỡ ông cử Can trong hàng cơm đã mở ra một hướng mới cho cuộc đời Đội Nhân... Khi về, Đội Nhân vừa đi vừa lẩm nhẩm mấy câu trong bài Vè tập binh của ông Phan Bội Châu mà ông cử Can vừa đọc cho nghe. Nhân gật gù trước cái câu chí lý Yếm bà lại buộc cổ bà đến nỗi quên chào tên quan một Tây, bị nó bắt đứng nghiêm lập giòong hồi lâu và mắng chửi côxông như tát nước vào mặt.

    Khi đến quán, Nhân không thấy Nhiêu Sáu đâu mà chỉ thấy một anh thầy tướng ngồi ở ngoài hàng. Anh ta ngồi khư khư cái tráp sơn đen, phía dưới để tấm biển vẽ mặt người với một lô chữ nho đề ở những chỗ tai, mồm, mắt, mũi. Khi Đội Nhân bước vào, anh thầy tướng nhìn kỹ khuôn mặt dài, hiền lành của Nhân hồi lâu, rồi bỗng giật mình, lẩm bẩm:

    - Lạ quá! Lạ quá!

    Đội Nhân khó chịu:

    - Thầy làm gì mà cứ nhìn chằm chằm vào mặt tôi thế? Tôi có xem tướng đâu.

    - Tướng thầy đội lạ lắm, tôi xem tướng đã nhiều nhưng chưa thấy ai tướng lạ như thầy. Ừ ừ, thiên đình cao vượt, địa các vuông tròn, lại nhân trung dài nữa này... Tướng này phải làm đến quan năm quan sáu chứ không ít. À... Nhưng mà... nhưng mà...- Bỗng thầy tướng lắc đầu quầy quậy - Hỏng! Hỏng...!

    - Thầy cứ nói tôi nghe đi, tôi nhất sinh không biết sợ cái gì cả!

    - Tướng thầy đội là quý tướng nhưng chỉ hiềm ngọa tàm hơi bị hắc hãm. Tướng này phải phá ngang mới có thể làm to... Nếu không sẽ có chuyện tai ương... Cũng do phúc nhà thầy còn vượng, nên mới xui khiến gặp tôi đây... Thầy có muốn tai qua nạn khỏi thì cứ biện một cái lễ nhờ tôi lễ sao giải hạn cho...

    - Tôi chẳng phải lễ lạt gì cả. Tai vạ gì cũng bất chấp. Để rồi tôi xem thầy nói có đúng không. Nếu sai, tôi sẽ đập cái tráp của thầy đi đấy!

    - Được, nhưng nếu tôi nói đúng thì thầy đội mất cái gì nào?

    Giữa lúc ấy ông Nhiêu Sáu đi đâu về. Ông mặc áo ngắn năm thân, cài khuy tết, khoác một cái bị chằng kín. Thấy hai người đang to tiếng với nhau, ông vội can:

    - Thôi người nhà cả, mời thầy với anh đội vào trong nhà...

    Khi lên gác, Nhiêu Sáu mời hai người ngồi, rồi giới thiệu với Nhân:

    - Ông này không phải thầy tướng đâu mà là ông lang Seo, người của quan Đề trên Yên Thế về đấy!

    - Tôi thử thầy đội đấy thôi - Lang Seo cười - Nghe danh từ lâu nay mới biết thầy quả là bậc trượng phu!

    - Bác cứ gọi tôi bằng cái tên cúng cơm là Nhân thôi. Vinh gì cái thứ đi lính cho Tây mà cai với đội!

    - Anh Nhân đây với tôi cũng như ruột thịt trong nhà, bác Seo đừng nên khách khí gì cả...- Nhiêu Sáu nói chêm vào.

    Nhân sốt sắng hỏi:

    - Bác cho biết tình hình quan Đề hiện nay thế nào?

    - À từ ngày tạm đình chiến với Tây, hiện nay quan Đề chiêu mộ dân chúng các nơi làm ruộng ở Phồn Xương. Tĩnh vi dân, động vi binh mà. Mỗi khi ra ruộng cấy cày đều giấu súng bên bờ đề phòng sự bất trắc. Gần đây, các chí sĩ như cụ Sào Nam, cụ Tây Hồ, cụ Giải Huân, cụ Tú Kiên... đến bàn đại sự với quan Đề cũng nhiều. Quan Đề chiêu nạp những trai tráng con các vị văn thân và giang hồ hảo hán bốn phương lại, còn lập đồn Tú Nghệ dành cho các nghĩa sĩ miền trong ra luyện tập binh bị trở về địa phương khởi nghĩa.

    - Tôi nghe chú tôi kể chuyện, mộ tiếng quan Đề đã lâu mà chưa có dịp yết kiến. Nhiều lúc tôi chỉ muốn bỏ quách cái đời lính tập mà lên Yên Thế theo quan Đề.

    - Ấy ấy, chính thầy là lính tập nên mới giúp đỡ được nhiều cho quan Đề đấy... Tôi sở dĩ về đây cũng chính vì việc ấy...

    - Nếu vậy xin bác cứ nói ngay cho nghe, nếu giúp được quan Đề chút gì, dù chết tôi cũng không ngại...

    Lang Seo chưa kịp nói gì thì bỗng phía dưới cầu thang có tiếng oang oang:

    - Giỏi! Giỏi! Thầy đội có mấy đầu mà định đi theo tên giặc cỏ Đề Thám! Phen này cháy nhà mới ra mặt chuột!

    Đội Nhân nhìn thấy hai người ban cùng một cơ với mình là đội Bình và đội Cốc:

    - Phải! Cháy nhà ra mặt chuột, nên tôi mới biết hai anh không những phản bạn mà còn phản dân phản nước! Các anh có muốn lấy xác tôi làm bậc thang lên lon thì cứ việc mà đi lập bô với lão Hai!

    - Đấy! Tôi nói đã thánh chưa - Lang Seo cười - Cái tai ương đã thấy nhỡn tiền rồi đấy! Liệu thầy đội có định đập tráp của tôi nữa không hay phải mất cái gì cho tôi?

    - Tôi chỉ có mỗi cái đầu thôi, nếu mất rồi thì còn có gì để mất cho thầy nữa! - Nhân quay lại Bình và Cốc - Có cần tôi phải đi theo các anh về bây giờ không?

    Bỗng đội Cốc phá lên cười. Mồm anh đã rộng lại càng thêm rộng:

    - Khá, khá lắm! Anh Nhân này, tôi sở dĩ trêu anh là để trả miếng anh không rủ tôi đến hàng mà định đi ăn mảnh một mình...

    Đội Bình cũng cười. Giữa lúc ấy, Nhiêu Sáu lật đật từ dưới bếp lên, nói với Nhân:

    - Hai thầy đội đây cũng đã biết là có anh Nhân trong cánh ta nhưng tôi dặn đừng nói trước, có thế thì buổi kỳ ngộ hôm nay mới thật là lý thú.

    Bà Nhiêu Sáu tất tả bưng một mâm đặt lên chiếu. Nhiêu Sáu mời mọi người ngồi vào mâm. Ngoài món thịt gà lá chanh quen thuộc, còn có món đậu mua ở Hàng Bạc, thứ đậu rán nở như bông, nhất là món mộc tồn, điểm mấy nhánh húng Láng. Lang Seo cười:

    - Gớm, bà chị chu đáo quá. Trời đất này mà bà chị cũng lùng được món đặc sản Kinh kỳ!

    Nhiêu Sáu đỡ lời:

    - Bà ấy nhà tôi đảm có tiếng đấy. Không có bà ấy thì tôi cũng đến lúng túng... Không cứ việc chạy thức ăn làm hàng, cả đến việc đi đưa tin tức tôi cũng nhờ bà ấy. Một công hai việc. Bà ấy để thư từ của các ông Đội Hổ, Chánh Tình người của quan Đề gửi cho ông Đồ Đạm, Chánh Song... ở dưới thúng, phủ rau, cá, gà, vịt lên trên. Nhiều khi bị lính kín nó khám, bà ấy gan chí mề, mặt cứ thản nhiên như không. Nó không ngờ gì cả lại để cho đi...

    Bà Nhiêu Sáu khiêm tốn:

    - Ấy, ông ấy cứ khen tôi thế, chứ có gì đâu ạ...!

    Đội Bình xen vào:

    - Bác đừng có nhún mình, tôi mà theo đòi được các bác đây là cũng nhờ công của bác đấy. Bác có nhớ hôm tôi bị nó phạt, đến hàng, bực chí uống rượu say, bác phải rấp nước lã vào mặt mãi mới tỉnh không nào...

    Bà Nhiêu Sáu cười, xin phép lui xuống dưới nhà. Nhìn mâm rượu, lang Seo tấm tắc:

    - Lâu nay ở trên rừng xanh núi đỏ ăn toàn măng với củ mài, giờ mới lại được thưởng thức món ăn Hà Nội...

    - Con món này mới thật đủ quốc hồn, quốc túy - Nhiêu Sáu lấy từ trong bị ra một chai rượu đút nút kỹ bằng lá chuối khô - Rượu Mơ chính cống từ quê tôi mang ra đây. Rượu này phải nấu lậu, không có tụi Đoan nó bắt thì bỏ sừ... Ấy, ở làng tôi hễ nó thấy ruộng nào có chĩnh bỗng là bắt ngay người làm ruộng, không cần hỏi có nấu rượu hay không? Dạo trước nó còn cho lính về đóng gông Thành Hoàng làng...

    - Đóng gông thật ư bác? - Đội Cốc ngạc nhiên.

    - Có gì đâu. Nó hạ bát hương xuống lấy hai chiếc đũa và sợi dây buộc vào. Dân nghèo có gì mà sợ, nhưng thế mà kỳ mục phải chạy chọt để Tây tha cho thành Hoàng Làng!

    Mọi người cùng cười. Nhiêu Sáu mở nút, mùi rượu bị nén trong chai từ lâu được dịp tỏa ra. Nhiêu Sáu rót ra từng chén. Nhân nhắp một hớp. Thứ rượu tăm nấu bằng gạo nếp nguyên chất nên vừa nhắp, vị ngọt đậm đã lan khắp cuống lưỡi. Nhân người quê rượu, nên am tường cách thức nấu. Gạo phải kén giống nếp hoa vàng mãi bên Bắc, không được giã, xay xong không lấy đớn. Đến lứa rượu, là con cháu trong nhà phải thức suốt đêm để nhặt gạo tẻ ra. Men là men gia truyền, đặc biệt toàn các vị thuốc Nam chứ không phải thuốc Bắc. Phải tự làm để giữ bí mật. Ngày hanh nắng mới bắt đầu ủ men, nồm thì ít nước lại không có tăm. Khi nấu phải luôn luôn thay nước ngoài ống trắm, nếu để nước nóng thì đục rượu... Nghề nấu rượu cũng lắm công phu, vì thế rượu mới ngon, uống chỉ ngà ngà say chứ không gắt như thứ rượu Phông ten mà Tây bắt ép dân phải uống... Hãng Phông ten nấu rượu cồn bằng bất cứ thứ gì nấu được, rồi pha thêm nước máy đóng chai, vốn mỗi lít chỉ mấy xu thôi, nhưng uống thì cháy cổ lại nhức đầu chóng mặt. Ấy thế mà nó lại bắt ép mỗi tỉnh, mỗi huyện, mỗi xã hàng năm phải tiêu thụ bao nhiêu lít. Nếu không bán được thì Công sứ gọi Tri huyện lên khiển trách. Lý trưởng cứ bổ cho mỗi nhà phải mua ba chai, lại nghĩ cách hễ ai mổ lợn mổ bò hay đình đám ma chay, mỗi khi phê đơn cho phép là bắt phải mua bao nhiêu lít.

    Nhìn qua khung cửa sổ chấn song sắt che mành, Nhiêu Sáu thấy dưới đường có người nhốn nháo. Ông vội quay lại nói với mọi người:

    - Cẩn thận, lão trưởng phố lại vào khám xét khách trọ đấy.

    Đội Nhân và Bình, Cốc vội xoay sang chuyện khác. Họ oang oang kể cho nhau nghe những chuyện đi dẹp giặc cỏ ở các nơi, thằng nào chém một lúc mấy cái thủ cấp, được mề đay, thằng nào bắt sống tên đầu sỏ, được lên lon... Ông thầy tướng cũng hết lời tán tụng mấy thầy đội, đoán thầy này phát công danh, thầy kia sắp có hỉ sự, thầy này sắp có tài có lộc...

    Lát sau, tên trưởng phố bước lên gác. Y đằng hắng:

    - Làm gì mà tụ tập đông người thế, ông chủ?

    Nhiêu Sáu lật đật đứng dậy mời trưởng phố vào:

    - Có gì đâu, chả nhà tôi có giỗ, nên mời anh đội đây là cháu gọi tôi bằng chú đến ăn giỗ. Anh ấy lại mời thêm mấy thầy đội cùng một cơ đến cho vui. Còn ông thầy tướng này, đoán cho các thầy ấy hay quá, nên tôi mời lên đây đoán nốt...

    Trưởng phố nhìn thấy toàn là các viên đội nên cũng có ý nể, giơ tay bắt tay Nhân, rung tít:

    - À, thế là ngài đội đây là người nhà ông chủ đấy. Quý hóa quá. Xin mời các ngài đội cứ tự nhiên. Các ngài bỏ quá cho, tôi cũng vì phận sự mà quấy rầy các ngài. Ấy từ khi có cái vụ Đông kinh nghĩa thục, ông Cẩm bắt tôi tối phải đến kiểm soát các nhà hàng cơm xem khách trọ có đủ thẻ thuế thân không. Thấy trên gác có tiếng nhiều người, nên phải lên xem qua đấy thôi...

    Lang Seo làm bộ ân cần:

    - Mời ông trưởng phố ngồi xơi rượu với anh em chúng tôi cho vui. Chả mấy khi...

    - Thôi các vị tha lỗi cho, tôi đang dở việc quan, xin để cho khi khác...

    Trưởng phố đi rồi, mấy người lại bàn tiếp công việc.

    Đội Nhân mải trút nỗi uất hận của mình vào chén rượu, nên từ nãy đến giờ không nghe lang Seo và các bạn mình nói gì. Mãi đến lúc lang Seo hỏi gặng:

    - Anh em có cách gì giúp quan Đề đem binh về đánh Hà Nội được không?

    Nhân sực tỉnh khi nghe thấy tiếng đội Cốc nói đến việc giết lính, mở cổng trại, giúp quan Đề. Đội Nhân chằm chằm nhìn vào mồm đội Cốc, Cốc ta không nói gì nữa mà đưa mắt nhìn mọi người chung quanh. Nhân ngửng lên tĩnh trí, thấy đầu óc bình tĩnh sáng suốt lạ lùng. Ngay trong lúc bình tĩnh, sáng suốt ấy, Nhân tính đến cái được cái mất của bản thân: “Giết chúng nó, việc ấy mình làm được, ma, làm việc ấy là từ rầy mình không còn là mình hiện nay nữa. Không lĩnh lương đội, vợ con mình cũng không còn sinh sống bằng đồng lương, bổng lộc của một người đội có thể có”. Mới hôm kia là đầu kỳ lương, vợ Đội Nhân đã sáng mắt lên khi đón mấy chục đồng bạc xòe mà Đội Nhân đưa về. Đêm đã khuya, Nhân nằm ngủ lơ mơ vẫn nghe thấy tiếng vợ đếm từng cọc bạc lọc xọc, mà mường tượng dáng vợ đang ngồi đờ đẫn mồm lẩm nhẩm tính từng khoản tiền, đong gạo, mua thức ăn, sắm quần áo rét, sắm chăn bông...

    Sau khi làm việc giết lính Pháp, hẳn là không còn món tiền này nữa... Vợ con mình sẽ trông cậy vào đâu? Bỗng Đội Nhân nhớ đến những câu dè bỉu mỉa mai của những người xung quanh: Chớ tham đồng bạc con cò, bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa. Dù bây giờ Tây đã bỏ loại giấy bạc con ó của Mễ Tây Cơ mà dùng bạc hoa xòe, nhưng lời chỉ trích ấy vẫn nguyên giá trị một lời cảnh tỉnh những kẻ lầm đường. Nhân bậm môi. Ngay từ khi trong óc chợt lóe lên ý nghĩ giết lính Pháp, Đội Nhân đã thấy mình trở thành một con người khác. Những ràng buộc bởi đồng lương, manh áo hình như đã được giựt tung ra và những cam lòng nhẫn nhục đã thoát ra khỏi mình rồi.

    Nhân chậm rãi bảo Cốc:

    - Anh nói lại rõ rành việc ấy xem nào?

    - Hay là thế này! Quan Đề cứ hẹn ngày đem binh về Hà Nội, chúng tôi sẽ giết lính gác, mở cổng trại làm nội ứng!

    - Không được! - Bình lắc đầu - Quân quan Đề kéo về đây dù khéo cải trang nhưng đông người thì thế nào cũng lộ liễu, mà lực anh em ta ở trong trại thì còn mỏng quá, liệu có đối phó được với tụi lính Tây không? Chúng nó canh phòng ngặt lắm, lại không tin người mình nên đều cắt lính Tây gác cả...

    Trời đã tối, ngọn đèn tọa đăng hắt bóng mấy người lung lay trên vách, khi chụm vào nhau thành một mảng, khi lại tách rời ra, bóng ôm đầu, bóng chống tay vào cằm suy nghĩ... Ngoài đường vọng vào tiếng xe bánh sắt lọc cọc, tiếng roi vun vút trong không khí, tiếng lừa kéo xe nhà binh thở phì phò, móng sắt lốp cốp trên mặt đường đá rắn khấc... Tiếng những con bạc vừa thua ở sòng về, than vãn, chửi tục... Tiếng Cẩm quát tháo biên phạt nhà nào đánh đổ nước ra cửa... Tiếng ngáy của khách trọ ngủ dưới nhà... Tiếng côn trùng ở bãi cỏ phía sau nhà rên rỉ... Từng ấy thứ tiếng quyện vào đêm đặc sệt.

    Nhân soi bóng mình vào chén rượu trong vắt. Bỗng Nhân ngửng lên nhìn mọi người xung quanh một lượt. Nhiêu Sáu đã ngồi xổm hai tay bó gối từ lúc nào. Dáng điệu ấy nhắc Nhân nhớ một lần đến hàng cơm không thấy Nhiêu Sáu đâu, xuống bếp thì thấy ông đang ngồi ủ rũ bó gối... Từ ngoài hàng vọng vào tiếng bọn lính vừa đi đánh dẹp nghĩa quân các nơi về được thăng thưởng, kể cho bạn nghe về những công trạng của mình: Giết được bao nhiêu tên giặc cỏ, triệt hạ được bao nhiêu làng cứng đầu. Nhìn vẻ mặt Nhiêu Sáu, Nhân chợt hiểu nỗi khổ tâm của ông mỗi khi thấy bọn lính đến ăn uống, tuy chúng chưa nói gì đã thấy trước bao nhiêu chuyện đầu rơi máu chảy. Rồi rượu vào, lời ra, chúng kể hết những chuyện tàn bạo ấy, cười sằng sặc, tâng bốc lẫn nhau. Ấy thế mà ông vẫn phải kính cẩn bưng từng đĩa thịt, mang từng chai rượu đến cho chúng nó ăn uống... rồi lủi thủi xuống bếp ngồi bó gối. Nhiêu Sáu nói với Nhân:

    - Ấy, mọi hôm thì tôi đóng cửa ngách lại khỏi phải nghe những lời lẽ ghê tởm ấy, nhưng vừa rồi tôi lại mở toang ra. Phải nghe thấy hết những chuyện nó chém giết mình...

    Giờ thấy Nhân nhìn mình, Nhiêu Sáu bừng tỉnh cũng nhìn thẳng vào mắt Nhân. Đọc được vẻ kiên nghị trong ánh mắt Nhân, Nhiêu Sáu tin rằng Nhân có thể làm nên việc. Ông toan nói một điều gì thì Nhân đã vội nói trước:

    - Thôi, chú không cần phải nói nữa, tôi đã hiểu rồi...

    - Hiểu cái gì đã chứ?

    - Chai rượu làng Mơ...

    Nhân lại im lặng. Mùi rượu nồng nhắc Nhân nhớ lại một chuyện đã lâu. Có lần Nhân thấy bếp Nhiếp tất tả đến tìm mình, hỏi dồn dập:

    - Thầy đội là người Mơ phỏng?

    - Vâng, tôi ở Bạch Mai, bác hỏi gì?

    - Chả là lão quan hai Tây nó không thích vang, cô nhắc, sâm banh. Một lần được lão Đoan thết rượu Mơ, nó thích cái tang ấy, cứ bắt đi lùng bằng được. Mà thầy tính, người nhà binh về thì đời nào dân họ bán. Thầy người làng Mơ, thầy có quen nhà nào nấu thì mách tôi để tôi về mua...

    Từ hôm mách chỗ mua rượu, bếp Nhiếp thân với Nhân thường chuyện trò với anh. Câu chuyện lân la, Nhân biết Nhiếp rất căm tên quan hai thường đánh phạt mình, có lúc tức mình đã nói ra mồm:

    - Nó cứ hành tôi mãi, bực lên tôi bỏ tí thuốc độc vào món ăn cho nó chết mất ngáp!

    Câu chuyện vô tình ấy khiến óc Nhân lóe một tia sáng. Ừ sao ta không bàn với bếp Nhiếp, nhân ngày Tây làm việc chiêu đãi sĩ quan binh lính, thì người của mình bỏ thuốc độc vào món ăn. Khi bọn lính Tây trúng độc rồi, một phát súng hiệu nổ, quân quan Đề phục sẵn ở ngoài vào đánh chiếm trại, hưởng ứng với binh lính từ trong đánh ra! Ồ, quả là diệu kế! Nhân biết có thứ cà độc dược, chỉ cần trộn một ít vào thức ăn là đủ công hiệu. Còn thằng quan hai thì sẽ dành cho nó hẳn một chai rượu Mơ, bỏ vào một ít nhân ngôn. Nhà Nhân mấy đời làm thuốc nên đã trữ sẵn cái của ấy.

    Mùi rượu Mơ vẫn thoang thoảng bốc lên, thứ rượu đã đi vào tục ngữ từ ngàn xưa: Rượu làng Mơ, Cờ Mộ Trạch... Bên tai Nhân còn văng vẳng tiếng mẹ ru mình từ thuở bé:

    Em là con gái Kẻ Mơ,

    Em đi bán rượu tình cờ gặp anh

    Rượu ngon chẳng quản be sành...

    Không ngờ những sản vật quê hương đã vào lời ru của mẹ đến nay lại là phương tiện để giết quân thù. Thế đấy! Thế đấy!

    Đội Nhân nhìn vào chén rượu vẫn còn đầy. Nhân mường tượng từ những chén rượu mình sắp sửa pha ra, quân thù nằm xuống như ngả rạ. Chúng nó chết, còn mình thì từ bỏ hẳn được những ràng buộc của cuộc đời một anh đội, cùng hành động, ăn nói với kẻ thù của đất nước...

    Những ý nghĩ chôn chặt trong lòng bao lâu bật ra như mùi rượu men ủ kỹ lại đựng trong chai đóng nút chặt, giờ bốc lên mạnh mẽ, ngây ngất...

    Đúng! Hôm chiến thắng thì phải khao quân một bữa túy lúy rượu làng Mơ!

    CHIẾC ROI

    Mông-tơi, tên xếp ở đồn điền cao su có cái thú mỗi ngày kiểm tra roi hai lần. Mỗi ngày y cử hai người phu chuyên đi chặt roi. Y quy mức cho mỗi người phải chặt đủ mười bó, mỗi bó mười chiếc roi. Người phu phải nộp đủ số roi thì mới được lãnh lương ngày hôm đó. Song, số lượng roi mang về nộp vẫn chưa đủ, y còn kiểm tra “chất lượng” roi, xem cái roi ấy đánh có đau không? Giống như ông tướng thời xưa thử xem đao có sắc không bằng cách “khai đao” chém đầu người thợ rèn vừa đánh đao cho mình, Mông-tơi cũng “khai roi” bằng cách quất ngay lên lưng người nộp roi. Nếu roi dập ngay thì y phạt bằng cách cúp lương, còn nếu thấy người bị đánh thấm đau mà roi vẫn còn tốt, y mới thu nhận. Thành thử người kiếm roi phải lựa những khúc mây nhỏ nhưng dẻo, hoặc lớn bằng đầu ngón tay cái, đốt dài đến ba tấc, mới chặt về nộp cho y mặc dầu biết rằng roi ấy sẽ quật thử lên lưng mình đau thấu xương. Có người phải lặn lội vào sâu trong rừng để kiếm được mây lớn. Phu không có quần áo, chỉ đóng độc một chiếc khố bằng bao tải rách. Có người vào rừng bị chết vì rắn chàm quạp cắn. Kiến vàng to bằng cọng rơm, bám đầy vào cây, bò chật đất, đốt rất đau. Muỗi đòn sóc màu vàng hoe, cánh dài, tua tủa bâu quanh người mà hút máu. Mùa mưa thì vắt nhiều. Người bị ong vò vẽ đốt, kiến, vắt, muỗi cắn, gai cào, những vết thương ấy không được băng bó, bị bụi bặm bám vào làm lở loét, sinh sâu quảng. Nhiều khi mụn loét ra to bằng miệng bát, sâu tới xương, nhức nhối và hôi thối vô cùng.

    Bữa nay, đến phiên Bài nộp roi. Anh vừa oằn lưng dưới từng nhát roi của xếp vừa nhớ lại hồi mình còn đi học trường tiểu học, có một ông thầy giáo dữ đòn. Mỗi tuần ông phân công cho một học sinh giữ roi mây, hàng ngày phải mang đến trường. Khi đứa nào không thuộc bài, trả lời ngắc ngứ hay nghịch ngợm, nói chuyện trong giờ học, ông bắt nằm sấp xuống quất cho mấy roi quắn đít. Tuy nhiều lần bị đòn nhưng Bài không oán thầy vì nghĩ rằng: “Yêu cho vọt, ghét cho chơi”, thầy muốn cho mình học giỏi nên mới răn dạy bằng cách ấy. Cha mẹ Bài cũng thường khuyên nhủ: “Thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn”, thầy có dữ đòn thì mới kèm cặp được học trò nên người. Có lần thấy thầy đánh không được mạnh như trước nữa, Bài lại chạnh lòng thương thầy đã già, tay yếu rồi. Nhưng bây giờ bị tên xếp đồn điền cao su đánh, Bài chỉ thấy tủi nhục và uất hận. Bài chỉ ao ước có một ngày nào sẽ dùng những chiếc roi này quất lên lưng nó để trả thù. Nghĩ vậy thôi nhưng Bài cũng hiểu rằng cái ngày đó không biết bao giờ mới tới.

    Nhận đủ số roi để dùng trong ngày hôm sau, Mông-tơi lại đợi những tên cai mang số roi đã dùng trong ngày hôm ấy về nộp. Khi cai mang roi về, y lại kiểm tra từng chiếc một. Thấy chiếc roi nào oằn đi, hoặc dập nát, xây xước thì y khen tên cai. Nhưng nếu thấy chiếc roi nào còn nguyên vẹn, chưa xây xước gì, tức khắc tên cai ấy phải nằm xuống đất mà thế mạng.

    Ngắm nghía chiếc roi, y gầm lên với cai Mô:

    - Hôm nay mày không đánh đám dân phu, roi không nát, vậy mày phải nằm xuống đất để ông đánh mày!

    Mô oằn oại dưới từng ngọn roi tưởng chừng lửa đốt bỏng da rát thịt. Trên lưng Mô lằn ngang lằn dọc, những vết roi để lại nỗi nhức nhối không thể tả. Mô thầm nghĩ: Phu ở đây vẫn truyền tụng câu: “Xếp đánh cai, cai nhai chết dân phu”. Mình cứ đánh đập thả sức tội gì phải nương tay để đến giờ phải lấy thân mình ra đền bù. Mô đã chứng kiến những tên cai khác đánh phu rất dữ. Phu đặt bát hứng mủ hơi nghiêng, không kịp lau kỹ bên trong và bên ngoài: đánh! Cạo không ngay, miệng cạo không thẳng: đánh! Cạo không đúng quy định sâu một mi-li-mét: đánh! Cạo dày hơn một mi-li-mét: đánh! Cạo vào xương cây: đánh! Mủ rơi xuống đất vài giọt mà không vét lên hết: đánh! Trời mưa để mủ tràn dính thân cây mà không gỡ kịp: đánh...! Tên cai bắt người cạo phạm nằm xuống bên gốc cao su rồi dùng roi quật túi bụi. Đánh xong y lấy mủ nước cao su giội lên đầu. Thứ mủ ấy đã bám vào đầu, vào tóc ai thì khó bề gột sạch được. Họ phải giội dầu hôi lên đầu, rồi lần lần gỡ ra từng mảng. Cho đến khi gỡ hết mủ thì da đầu tróc hết, đầu đỏ ối như người bị bỏng...

    Nhưng Mô lại nghĩ: mình không thể ác độc như những tên cai khác được. Lương hàng tháng của cai không hơn lương phu bao nhiêu. Về quyền lợi thì ngoài việc được ở một mình một gian nhà lán ra, cai không được hưởng quyền lợi gì hơn phu. Một số cai muốn ngoi lên Xú-vây-dăng để được hưởng quyền lợi cao hơn. Mỗi tên xú được cấp từ 2 đến 3 gian nhà ngói thoáng mát và một gara ôtô. Trong nhà xu được trang bị từ 3 đến 4 giường lò so đệm, một bộ sa lông cùng rất nhiều các thứ khác như tủ, nồi niêu, xoong, chảo... Mỗi nhà cũng đều có kẻ hầu người hạ. Những cai muốn được hưởng cảnh sung sướng ấy nên đối với phu, chúng thẳng tay đàn áp, còn đối với chủ chúng sẵn sàng quỳ gối, có thể làm bất cứ việc gì dù là đê tiện nhất...

    Mô cũng là phu mộ như những người ở đây nhưng vì có đôi chút chữ nghĩa nên được nâng lên làm cai. Phu đồn điền này phần lớn cũng là dân Hà Nam như Mô. Có lần một người phu cùng quê với Mô làm việc liền mười hai tiếng mệt quá lên cơn sốt không thể đứng được phải nằm lại “săng-chi-ê”((1) Khu vực công trường.1). Anh ta mới lên không biết ở đây có giống mối rừng thích ăn thịt người. Giống mối này nhiều hơn kiến, hai nanh cong vắt, vừa nhọn vừa sắc. Chúng cắn ai, mồm và nanh ngoạm sâu vào da thịt, không thể dứt ra được. Đêm ấy mối rừng xuất hiện, cứ thế xơi đến sáng, người bất hạnh chỉ còn bộ xương trắng. Mỗi lần đi làm về muộn, nghe tiếng mối ăn rào rào, Mô lại sởn gai ốc nghĩ đến người bạn đồng hương xấu số.

    Đêm ấy nằm trên chiếc giường tre bương trong gian lán ẩm thấp, mùi rác mùi nước đọng thành vũng quanh nhà xông lên nhức óc, tiếng ruồi muỗi bay vo ve khiến Mô trằn trọc không sao ngủ được. Mô nằm suy nghĩ, bỗng nhớ ra tên xếp thường đem những chiếc roi đã dập chứa trong một kho riêng để có dịp sẽ báo cáo với quan trên về thành tích trị phu của y, y cũng muốn thiết lập một bảo tàng lưu lại kỷ vật về công cuộc khai hóa thuộc địa bằng roi vọt.

    Nghĩ vậy, Mô rón rén trở dậy, lần đến chỗ kho chứa roi, tìm cách mở khóa vào ăn cắp một bó roi lớn đem về giấu đi một chỗ cẩn thận. Hôm sau, Mô giấu những chiếc roi còn nguyên vẹn, lấy mười chiếc roi đã dập mang về nộp. Quả nhiên Mông-tơi thấy roi đều bị dập nát, khen ngợi Mô làm việc tốt.

    Nhưng thấy ngày nào Mô cũng nộp roi dập nát, lại thấy nhiều roi đã cũ, Mông-tơi sinh nghi. Y liền thân hành đến kiểm tra tại chỗ.

    Bữa đó đến phiên Bài cạo mủ cao su. Đứng nấp rình, thấy Bài cạo vào xương cây mà Mô đứng đó không đánh, Mông-tơi xuất hiện, bắt Bài nằm sấp chổng chân lên dùng roi đánh vào hai bàn chân. Y giao hẹn đánh năm mươi roi nhưng cấm không được kêu la, thấy Bài buột miệng kêu “đau quá”, y xóa hết số roi đã đánh, đánh trở lại từ đầu cho đến khi bàn chân Bài tóe máu. Đánh xong, y bắt Bài phải lạy và hứa từ nay không được phạm lỗi.

    Sau đó, y lại bắt Bài phải dùng roi đánh Mô. Thấy Mô vì không đánh mình nên bị đòn, Bài thương Mô quá chỉ đánh gượng nhẹ lấy lệ. Mông-tơi giằng lấy roi, quất túi bụi vào người Mô không thương tiếc...

    Thấy Mô gần như ngất xỉu đi dưới trận mưa roi, anh em phu căm hờn bèn nhất tề xông lại. Một anh hô lớn: “Đánh”. Thế là mọi người cầm những chiếc roi nguyên vẹn mà Mô mang theo xông vào đánh Mông-tơi. Y hoảng hốt vùng chạy, Bài cầm dao phang vào đầu y khiến y vỡ đầu chết ngay tại chỗ. Lòng căm tức đang bốc cao, mọi người xông vào nhà bọn cai, xếp khác, tìm diệt chúng. Bọn chủ đồn điền đã cho lính xả súng bắn vào đám dân phu, làm một số người chết và bị thương. Bài bị bọn lính bắt, chúng dùng giày đinh đá vào mạng mỡ, giận giày lên ngực anh khiến máu mồm ứ ra. Sau đó chúng bắt anh về giam ở nhà tù Thủ Dầu Một. Khi mãn hạn tù anh lại xin vào làm trong đồn điền cao su Dầu Tiếng.

    Kể xong câu chuyện cho tôi nghe, bác Bài nói với tôi:

    - Qua câu chuyện chiếc roi, tôi thấm thía một điều này: mình đừng bao giờ nên kiếm roi để cho kẻ khác đánh người cùng cảnh ngộ với mình vì có khi chính chiếc roi ấy sẽ quật vào mình. Nhất là đừng bao giờ nên biến chính mình thành chiếc roi để hành hạ người khác. Sau khi anh Mô vì không chịu đánh tôi là bị thằng xếp Tây đánh chết, tôi có lượm lấy chiếc roi thấm máu anh để giữ làm kỷ niệm.

    Bác vào trong nhà lấy ra chiếc roi bầm dập đen xì ra cho tôi xem. Bất giác tôi nhìn ra những lô cao su xanh tươi phía trước. Có phải màu xanh ấy đã phải đổi bằng bao nhiêu cực hình và máu đổ. Và những cây mây trong rừng không bị biến thành roi vọt của kẻ thù mà hóa thân thành bộ sa lông mây thanh nhã mà tôi đang ngồi êm ái trong ngôi nhà gạch khang trang của người phu cao su cũ này...

    PHỐ SỬ

    Lượng vẫn đi quanh bờ hồ. Trời đã về chiều. Những buổi chiều mùa đông sầm sì không có hoàng hôn. Phố vắng một cách lạ. Đường như rộng thêm với những ngày sơ tán. Cuộc chiến càng ngày càng quyết liệt trên đất Thăng Long vốn được các cụ cho là “phi chiến địa”. “Bò” Mỹ đã lần vào đánh phá ác liệt ngoại thành phía bắc Hà Nội. Các phố nội thành đã được lệnh triệt để sơ tán. Gió bỗng nổi lạnh đánh rớt những chiếc lá muồng đào cuối cùng xuống mặt con hồ dâng đầy như lòng người nhiều tâm sự.

    Mấy anh công nhân hối hả đạp xe trên đường. Chiều rồi. Sắp đến giờ của B.52.

    Hà Nội vào những ngày tháng Mười hai dương lịch im ắng đến lạnh lẽo. Phần lớn các nhà đều đóng cửa. Chiếc tàu điện sơn đỏ chạy lanh canh trên đường, nhiều toa không có người, trong một chiều sương mù như một chuyến tàu nào rất xa của ký ức. 

    Lượng bỗng nghĩ đến đứa con nhỏ ở chỗ sơ tán. Lượng vừa lên thăm nó hôm kia. Một chiếc xe đạp lỉnh kỉnh thồ bao nhiêu thứ. Nước mắm, gạo, mỡ, củi, dầu, đường. Lại cả mấy mớ rau nữa. Lượng lóng ngóng mãi không làm sao mà thồ tất cả các thứ đó lên xe được. Nhất là cái túi gạo, cứ đi một lúc là nó lại ngoẹo hẳn sang một bên như người trúng gió. Lượng toát cả mồ hôi. May gặp một cô công nhân mồng 8 tháng 311 Nhà máy dệt mang tên Mồng Tám tháng Ba ở Hà Nội.  , người cùng phố đi mua rau về. Thấy Lượng vất vả quá, cô phì cười: 

    - Anh buộc thế thì đi thế nào được. Thôi, để lại em buộc cho.

    Không biết do một bản năng sẵn có, hay do kinh nghiệm mà phụ nữ họ buộc giỏi thế. Cũng từng ấy thứ mà cô ta buộc cứ gọn như không ấy. Thằng Sử, con trai của Lượng mới lên bốn. Nhưng nó đã biết rất nhiều thứ. Hình như trẻ thơ bây giờ khôn hơn ngày trước nhiều. Gặp bố, thằng Sử tíu tít hỏi về các thứ ở Hà Nội. Kem còn không hở bố... Con voi còn không hở bố... Khi nghe nói voi cũng đã sơ tán rồi, thằng bé bốn tuổi mắt bỗng đăm chiêu nhìn mãi về phía tít chân trời mịt mờ mây trắng, giọng hơi buồn:

    - Có lẽ voi đi sơ tán xa lắm, phải đi tàu điện mới đến được, bố nhỉ?

    Nhưng được cái trẻ nhỏ buồn cũng không lâu. Đứa bé lại chuyển sang cái tàu điện. Tàu điện có còn không bố? Có phải sơn xám không? Có còn được kêu leng keng nữa không? Con thích đi tàu điện lắm. Tàu điện hình như gắn liền với những thế giới xa xôi đầy kỳ lạ của tuổi nhỏ.

    - Đấy, cái lần ấy, mẹ cho con đi tàu điện.

    Chuyến tàu điện từ từ đi về phía Hàng Đào. Những toa tàu không có trẻ nhỏ, buồn vắng một cách lạ. Nó lùi lũi đi hình như cũng chẳng buồn leng keng nữa.

    “Đồng bào chú ý... Đồng bào chú ý...!”

    Mấy người đi đường ngơ ngác nhìn lên trời rồi vội xuống xe chạy nhanh về phía mấy chiếc hầm cá nhân.

    Máy bay địch đã đi xa.

    Lượng vẫn đi quanh bờ hồ. Cái hồ nhỏ này có gì lạ mà Lượng cứ đi quanh mãi. Đúng, cái hồ bé nhỏ này quá quen thuộc, còn có điều gì lạ với Lượng nữa mà anh cứ đi quanh quẩn mãi. Lượng không muốn rời bỏ. Đối với Lượng, cái hồ bé nhỏ lúc này là cả Hà Nội.

    Và khi Hà Nội sớm bước vào một cuộc đấu tranh một mất một còn với giặc, Lượng càng thấy gắn bó với cái hồ nhỏ một cách kỳ lạ, gắn bó đến day dứt, xót xa... Hiện tại như bỗng nhuốm cái màu kỳ ảo, bâng khuâng của kỷ niệm, của lịch sử.

    Đi qua khu tòa báo Nhân dân, mặc dầu vào một ngày cuối năm, Lượng vẫn cứ thấy thoang thoảng một mùi hoa y lăng, cái mùi y lăng ép cùng với những trang Anbum và những trang kỷ niệm ngày đi học, mà một nhà thơ đã gọi là mùi hoa năm ngoái.

    Thanh ngày trước cũng rất thích mùi hoa y lăng.

    Thanh là người yêu cũ của Lượng. Hồi đó Thanh còn là một sinh viên khoa văn. Người cán bộ dạy sử kia đã say mê cách nói bóng bẩy, đầy hình ảnh của cô sinh viên khoa văn trường Tổng hợp. Nhất là những bức thư dày hàng chục trang của cô. Lượng là người ít nói. Anh cảm thấy hết sức khó khăn trong việc diễn đạt những ý nghĩ cũng như tình cảm của mình. Những ngày khai quật hiện vật vùng Cổ Loa, nhiều đêm nằm dưới chiếc lều vịt giữa đồng nghe gió mùa Đông Bắc trăn trở trên mái lá và mưa xối xả trên những giấc ngủ không thành. Lượng nghĩ nhiều đến Thanh và trong đêm lại lẩm nhẩm đọc thầm những dòng thư đầy hình ảnh của người yêu mà anh đã thuộc lòng.

    “Đêm ngan ngát mùi hoa y lăng... Đêm càng sâu càng nhớ người đi xa. Thời gian làm cho không gian thêm rộng. Sao ở hai đầu chân trời đánh mãi những tín hiệu đương chờ giải mã...”.

    Lượng nhớ lắm, thương lắm, nhưng đến khi viết thư cho Thanh anh cũng chỉ viết được ít câu ngắn ngủi:

    “Những đêm nằm ở lều canh hiện vật, không ngủ được, anh lại đọc nhẩm những dòng em viết cho anh, thấy ấm hẳn như ngồi bên bếp củi đương lùi khoai. Anh nhớ em vô cùng, nhớ lắm v… v...”

    Chữ nghĩa hình như khó tính với anh. Lượng khẽ động đến là y như chúng chạy đi đâu cả. Và Lượng chỉ đành dùng những chữ mà người ta vẫn cho là sáo mòn: “Anh nhớ nhiều lắm, em có biết anh rất yêu em không, anh rất quý em không...”. Thanh tuy rất thông minh nhưng có lẽ vì còn quá trẻ nên chưa đủ từng trải để hiểu rằng những lời của Lượng lắng sâu tận đáy lòng của con người cán bộ khoa sử chân thật, như những hiện vật cố lắng sâu dưới đáy thời gian, và cái mòn tưởng chừng như sáo cũ kia chỉ là một lớp patin thời gian, nó như một sự chứng nhận của năm tháng phủ lên những hiện vật đó, làm cho chúng càng thêm phần quý giá.

    Thanh càng ngày càng cảm thấy Lượng khô khan “thế nào ấy” và một hôm, hai người chia tay nhau. Mối tình của Thanh bay đi như con chim di cư tìm sự rực rỡ của những mùa hè chói nắng.

    “Em chẳng có gì giận anh cả, nhưng chúng mình không hợp nhau...”. Và không biết có phải do sự trớ trêu nào của cuộc đời không mà mối tình đẹp đẽ kia lại kết thúc một cách sáo cũ như trong một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền, nghĩa là vào mùa thu.

    Lượng đương bận khai quật ở vùng đất di chỉ Thanh Hóa. Chắc hẳn một vài mũi tên đá nào đó từ một thời Đông Sơn xa xôi không khỏi chát mặn đôi giọt nước mắt của người cán bộ sử học ít nói kia.

    Lượng buồn lắm. Cái đó là lẽ dĩ nhiên. Vốn ít nói, nên nỗi buồn không thoát ra được lại càng âm ỉ, gậm nhấm, nung mủ.

    Nhưng cũng may giữa những ngày đó, đoàn khai quật do Lượng phụ trách phát hiện được ngôi mộ cổ, trong đó còn nguyên di hài của một “nàng công chúa” từ cách đây ba bốn thế kỷ. Nàng công chúa lẽ dĩ nhiên không phải là “người đẹp ngủ trong rừng” và người cán bộ sử học vừa đánh mất một mối tình kia không phải là “chàng hoàng tử xinh trai” trong cổ tích. Nhưng những tìm kiếm, những xác định khoa học làm Lượng túi bụi ngày đêm. Và di hài của nàng công chúa cổ đã choán hết phần lớn thời gian cho di ảnh của một người đẹp còn sống.

    Một năm sau, Lượng lấy vợ. Ngát, vợ Lượng là một cô giáo cấp một vừa được chuyển cấp lên dạy toán cấp hai. Một số lớn bạn bè đều nghĩ rằng Lượng lấy Ngát là để “làm xong một việc”, để lấp một lỗ trống quá lớn do Thanh để lại. Hay như một số người thường nói, đó là một “cuộc hôn nhân lẽ phải” của một anh chàng đã mệt yêu. Họ nghĩ thế cũng có lý vì thoạt nhìn, Ngát hình như “yếu” hơn Thanh về rất nhiều điểm. Ngát không có cái đẹp lộng lẫy của Thanh, Ngát không có cái thông minh, cái mẫn tiệp của Thanh. Ngát kém Thanh về trình độ văn hóa. Và, một điểm nữa hết sức quan trọng là Ngát tuy còn rất trẻ nhưng cũng đã qua một đời chồng. Chồng Ngát là một kỹ sư, có đủ xe máy, tivi, tủ lạnh... nghĩa là đủ những tiêu chuẩn “mười yêu” của nhiều cô gái. Nhưng trong thực tế vợ chồng, anh đã tỏ ra là một người thiếu văn hóa. Anh hay quát mắng vợ và trong một lần cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt nào đó, anh đã đánh Ngát. Ngát vốn là một người vợ dịu hiền và tốt nhịn, nhưng tốt nhịn không có nghĩa là hèn. Sau lần đó, Ngát đã chủ động viết đơn ra tòa xin ly dị. Tòa án buộc Thiệp, chồng Ngát phải chia phần lớn tài sản chung cho vợ. Nhưng Ngát không nhận “khi lấy anh Thiệp tôi muốn chia sẻ với anh một tình cảm vợ chồng. Tình cảm đó anh Thiệp không có, vậy thì những tài sản của anh ấy đối với tôi vô nghĩa”. Thậm chí cái phòng mà tòa bắt Thiệp phải ngăn đôi cho Ngát, chị cũng không lấy. Ngát dọn những đồ đạc riêng của chị về ở với mẹ.

    Khi được tin Lượng hỏi Ngát làm vợ, một người bạn ngạc nhiên hỏi anh:

    - Một thanh niên như cậu, quơ đâu chẳng được vợ, mà lại đi lấy vợ thừa thiên hạ?

    Lượng nhìn bạn ngạc nhiên và nhất là hơi buồn. Một người có học thức như anh ta mà sao lại có một ý nghĩ quá sơ đẳng như vậy. Nhưng vốn tính điềm đạm, Lượng chỉ vắn tắt trả lời bạn: “Ngát có một tâm hồn rất đẹp”. Anh bạn nhún vai cười. Tuy anh ta không nói ra, nhưng qua ánh mắt và nét mặt giễu cợt, Lượng biết anh ta cho mình là gàn.

    Hình như không có một cặp trai gái nào yêu nhau ở Hà Nội mà lại không từng đi với nhau ít nhất là một lần quanh hồ Gươm, chiếc hồ cổ và luôn luôn mới, nó là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống tình cảm của người Hà Nội. Bao nhiêu mối tình đã soi bóng xuống mặt hồ, đem lại cho nước hồ màu xanh bâng khuâng khó tả của mơ ước và hò hẹn.

    Lượng và Ngát đi bên hồ. Ngày trước, qua những hình ảnh ngộ nghĩnh kỳ tưởng của Thanh, Lượng đã thấy được bao nhiêu nét đẹp của trời nước Bờ hồ. Ngát không nói nhiều như Thanh, không nhiều những hình ảnh tân kỳ như Thanh, nhưng chỉ qua bàn tay Ngát khi nắm lấy cổ tay Lượng và đôi con mắt thăm thẳm đến thiết tha, đến da diết của Ngát, nhìn một ánh nắng cuối ửng vàng trên thân cây thau đã rụng hết lá, hoặc một ánh đèn nêông tím bằng lăng hồi hộp in hình trên mặt nước hồ đầy bỗng động sóng một đêm sắp trở gió mùa Đông Bắc... Lượng cũng thấy nổi lên bao hình ảnh mới mẻ tưởng như đó là những hình ảnh mới xuất hiện trong vũ trụ của ngày đầu Sáng Thế. Người ta có thể diễn tả bằng lời nói và người ta cũng có thể diễn tả bằng sự im lặng, cái im lặng nó phần phật bao nhiêu âm thanh, nó xao động bao nhiêu màu sắc.

    Không biết sự xói mòn của thời gian rồi có tác động gì tới hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ kia không, nhưng hiện tại thì cuộc sống của họ thật tốt đẹp, Ngát có cái dịu dàng nết na của những người đàn bà cố hữu Việt Nam, cộng thêm cái ân cần, tế nhị của người phụ nữ mới. Sự chăm sóc kín đáo của chị đem lại một cảm giác đầm ấm đặc biệt. Lượng nói chung là một cán bộ nghiên cứu rất chăm chỉ, nhưng anh mắc một bệnh lười, đặc biệt trong vấn đề tự “chăm sóc” bản thân. Đã nhiều lần, quần áo Lượng thay ra quên giặt vo viên đút vào tủ, để ít lâu sau có khi lại lấy ra mặc lại. Áo thì thường xuyên đứt khuy phải gài kim băng. Ngát kín đáo, giặt giũ, khâu vá cho chồng. Lượng bắt đầu cảm thấy cái thích thú của một chiếc áo lót thơm tho còn tươi mùi nắng, cái mát mẻ dễ chịu của một chiếc cổ áo trắng, nó sáng lên như một niềm vui bất chợt... Ngát đối với Lượng có cái âu yếm của một người vợ, cái chu đáo, cái thể tất của một người bạn. Ngát xuất hiện như một vòm lá tỏa ra nhiều bóng mát xuống tổ ấm bé nhỏ của cái phố Khâm Thiên nhiều nắng, bụi đường run rẩy những tán lá bàng của Tết trồng cây đầu tiên.

    Lượng có thói quen làm việc rất khuya, nhiều khi mệt quá lăn ra ngủ giấy má, tài liệu ngổn ngang trên bàn. Khi tỉnh dậy, bao giờ Lượng cũng thấy bàn giấy gọn gàng ngăn nắp như có một người nào đó từ trong quả thị cổ tích hiện ra dọn dẹp mọi thứ trong giấc ngủ của Lượng. Nhưng vì không nắm vững công việc của Lượng nên đôi khi cái ngăn nắp của Ngát cũng làm cho Lượng mất khá nhiều thời giờ vì Ngát xếp lẫn tài liệu. Điều đó làm cho người vợ yêu chồng kia hết sức khổ tâm.

    Một hôm, vì khó ở, Lượng đi ngủ sớm, đến khuya, chợt tỉnh giấc, Lượng vẫn thấy Ngát đương cắm cúi làm việc. Lượng lặng lẽ đến gần, những tưởng vợ bận chấm bài, thì thấy Ngát đương mải mê đọc một cuốn sách về cổ sử. Lượng khẽ vuốt tóc vợ và không hiểu sao mắt anh cứ cay xè như muốn khóc.

    Thằng Sử hình thành vào những ngày đó.

    Nghĩ đến thằng Sử, Lượng lại bật cười. Lần đầu Tiên đến thăm Ngát ở nhà hộ sinh, Lượng vẫn chưa làm quen được với ý nghĩ rằng từ nay mình đã là một người bố, và khi gặp vợ, Lượng lúng túng hỏi: “Cháu có khỏe không?”, làm tất cả các sản phụ có mặt ở đó phì cười: “Cái ông này lạ thật, lại gọi con bằng cháu?. Và thỉnh thoảng về sau này, mỗi lần muốn đùa yêu chồng, Ngát lại bảo bé Sử: Cháu lại với bố đi, con...

    Trời càng ngày càng tối dần. Các con đường vắng người càng mênh mông. Người công nhân quét rác đã quét những nhát chổi cuối cùng của một ngày, thu gọn những chiếc lá vàng cuối năm vẫn còn xào xạc trên ghế lạnh. Chiếc đồng hồ ở bờ hồ đã chỉ sáu giờ chiều.

    Mấy chiếc xe kéo tên lửa hăm hở chạy về phía cầu Long Biên.

    Gió Đông Bắc bắt đầu ùa về trên các ngả đường... Sóng ộp oạp mỗi lúc một vỗ mạnh hơn vào bờ.

    Lượng tự hỏi tại sao vào lúc Mỹ anh còn lang thang ở đây như vào một buổi chiều nhàn tản nào của những ngày thanh bình cũ. Một giờ, hai giờ nữa không chừng B.52 sẽ tới đây. Lượng ở hẳn lại Hà Nội làm gì? Lượng vào giờ cao điểm này còn loanh quanh bên bờ hồ này làm gì. Sự khôn ngoan không những bảo anh sớm về nhà mà còn bảo anh nên lánh xa Hà Nội về nơi trường sơ tán từ buổi sớm kia. Anh đã mua bán xong mọi thứ và đã thồ lên cho hai mẹ con thằng Sử ở một vùng quê xa xôi. Anh không có nhiệm vụ gì ở thành phố, một thành phố đương bị B.52 và bom rải thảm hăm dọa. Lượng không phải là một kẻ liều lĩnh xốc nổi, thích những hình dung từ oai vệ không cần thiết. Anh cũng không phải là một người thèm khát những tiện lợi của đời sống thành thị. Vợ con anh cũng đã sơ tán. Vậy thì tại sao anh vẫn nấn ná ở lại Hà Nội vào những giờ phút đầy nguy hiểm này. Cái gì đã níu chân người cán bộ nghiên cứu sử học kia vốn quen thuộc với những chiếc trống đồng, những rìu đá, những mũi tên thời dựng nước hơn là tên lửa và máy bay phản lực hiện đại.

    Tiếng rì rì như cối xay mỗi lúc một gần, vang động cả phía Nam thành phố. Rồi từng chùm bom nổ dữ dội, chói tai. Tiếng bom nổ gần. Cả một góc trời thành phố như muốn đổ ụp xuống. Lửa bốc cao lẫn với bụi đỏ quạnh. Chiếc hầm cá nhân của Lượng đảo đi đảo lại như muốn bật tung ra ngoài.

    Thấy có bóng người phóng xe đạp từ phía bom nổ tới, Lượng hỏi:

    - Chúng nó ném bom ở đâu thế bác?

    - Khâm Thiên.

    Lượng chạy về phía Đông, bỗng vấp một viên gạch ngã chúi xuống. Lượng nhăn nhó ngồi ôm chân một lát cho đỡ đau rồi lại cắm cúi chạy.

    Khâm Thiên... Khâm Thiên... bị ném bom. Sao lại có thể như thế được. Lượng không muốn, không thể tin như vậy. Cái khu phố đông đúc của Lượng, cái nơi ở đó Lượng đã lớn, đã sống, cái khu phố vừa mới buổi chiều đây thôi, còn... Khâm Thiên bị ném bom thật sao?

    Lượng không muốn tin, nhưng không tin cũng không được. Hiện thực đập vào mắt tàn nhẫn, phũ phàng. Cả dãy phố quen thuộc của Lượng chỉ còn là gạch đổ. Mắt Lượng mờ đi. Ngôi nhà thân yêu của Lượng không còn nữa. Trong một lúc Lượng như bỗng mất nhận thức về mọi việc chung quanh. Lượng không còn nghe rõ những tiếng gọi nhau, những tiếng nói của đội cứu sập, tiếng động cơ máy ủi. Lượng đứng sững người. Không phải anh tiếc cái ngôi nhà bé nhỏ của mình. Lượng mơ hồ cảm thấy mình vừa mất một cái gì to lớn hơn, thân thiết hơn. Cả người anh lơ lửng trong một tình trạng phi trọng lượng đột ngột. Bỗng như một người chợt tỉnh mộng, Lượng chạy vội về phía cuối phố. Anh gào đến lạc giọng: “Lý... Lý...!”. Chỉ thấy tiếng gạch đổ, tiếng còi của các đội cứu sập, tiếng động cơ máy ủi và tiếng gió mùa Đông Bắc tung hoành trên dãy phố bụi ngổn ngang những xác nhà.

    Lý là em con dì con già với Ngát, nhưng được hai vợ chồng Lượng quý như em ruột. Khác hẳn với chị, Lý là một cô gái sôi nổi, hiếu động, “như con trai”. Mẹ Lý thường cười nhìn con gái nói với các bà bạn: “Nó là con trai hụt đấy. Các thầy đoán số bảo nếu sinh sớm hai giờ nữa thì nó sẽ là con trai”. Lý không đẹp nhưng có duyên, nhất là hai chiếc răng nanh nghịch ngợm, làm cho nụ cười của Lý có một cái gì vừa tươi vừa hóm hỉnh một cách đặc điệt. Không biết các thầy tướng số dựa vào đâu mà đoán rằng nếu sinh sớm hai giờ nữa thì Lý sẽ là con trai, nhưng cứ bằng vào tính hiếu động, sôi nổi, nghịch ngợm nhiều khi đến táo tợn của Lý thì cô gái có cái tên thơm mát kia không thua gì con trai cả. Lý rất mê thể dục thể thao và nhất là môn bóng đá. Cô thuộc gần hết tên các cầu thủ. Không những thế, cô còn sành sỏi cả luật và các chiến thuật bóng đá. Một lần cô kéo hai vợ chồng Lượng đi xem. Cô giải thích cho Lượng biết thế nào là 4-2- 4 thế nào là 4- 3- 3 và hết sức bất mãn vì trọng tài đã phạt việt vị con số 10 trong vùng cấm địa. Lượng không hiểu sao Lý lại có thể quan tâm đến cục diện trên sân như vậy, “tưởng như mọi việc diễn biến trên sân bãi là việc nhà của cô”. Trận đấu bóng hôm đó làm cho Lý không hài lòng. Lúc về, cô lầm lì không nói nửa lời. Đến lúc ăn cơm, khi Lượng nói: “Việc gì mà Lý phải bực tức như vậy”. Cô gái đặt bát xuống sửng cồ: “Không tức! Thi đấu thế mà cũng đòi! Đá đến sáu hậu vệ giữa nhà, không sợ trẻ con nó cười cho thối mũi! Thanh niên mà làm ăn như vậy thì cứ cắm mỗi người một bộ râu vào cằm cho nó được việc. Chưa đá đã sợ thua, sao không ở nhà bú mẹ cho nó xong ra sân bãi làm gì cho tủi cỏ”. Nhìn nét mặt bực tức của Lý lúc đó, một người kín đáo như Ngát mà cũng phải phì cười.

    Lý cũng cười theo: “Đã thế em phải bắt đền anh chị mới được”. Và Lý ngồi ăn thì tì cho đến khi nồi cơm nhẵn thín mới đứng dậy.

    Lý là một con người sống rất sôi nổi, sôi nổi và can đảm.

    Một lần hai chị em đi chơi. Ngát bị hai thanh niên càng quấy chèn suýt ngã. Không những không xin lỗi, hai đứa còn cười lên sằng sặc, buông ra những lời lẽ thô bỉ và khệnh khạng phóng xe đi. Thấy nét mặt Lý đỏ bừng, Ngát bảo em: “Thôi đi em, lôi thôi với chúng nó làm gì?”.

    Nhưng Lý gạt tay Ngát ra phóng lên trước và quay xe ngang đường chặn đứng hai thanh niên càn quấy kia lại. Chưa để cho hai người kịp sừng sộ, Lý đã xuống xe nắm lấy ghi đông của tên lớn nhất, nghiêm khắc nói:

    - Anh phải xin lỗi chị ấy, nếu không mời anh đi với tôi lên đồn.

    Mọi người xúm quanh lại. Lý dằn giọng:

    - Tôi nhắc lại, các anh đã xử sự một cách rất thiếu văn hóa. Các anh có xin lỗi không?

    Hai chàng thanh niên lơ láo nhìn nhau, rồi một tên lí nhí nói:

    - Vâng, tôi xin lỗi chị.

    Khi về, Lượng trách Lý:

    - Sao cô hay lôi thôi thế, nhỡ chúng nó gây gổ thì làm thế nào?

    Lý cười:

    - Ai cũng cứ như anh thì chúng nó làm trời. Vả lại trông chúng nó càn quấy thế thôi nhưng thật ra chúng rất hèn. Chúng chỉ bắt nạt những người nhút nhát thôi.

    Ngừng một lát hình như suy nghĩ một điều gì, Lý chậm rãi nói tiếp:

    - Anh có thấy một người con trai nào can đảm mà lại đi bắt nạt một phụ nữ không?

    Thỉnh thoảng Lý lại có những ý nghĩ đột ngột và hết sức sâu sắc như vậy.

    Một hôm khác, không biết nhân một câu chuyện gì, Lượng đùa bảo Lý:

    - Giá cô nhường cho chị Ngát một phần cái sôi nổi, mãnh liệt của cô thì phải?

    Lý tròn mắt nhìn Lượng:

    - Lý hy vọng rằng anh Lượng nói đùa. Một người như chị Ngát mà lại không sôi nổi, mãnh liệt? Không sôi nổi mãnh liệt mà lại có cái đảm, cái kiên trì học một môn học xa lạ với mình để giúp đỡ người yêu.

    Rồi Lý nói rất nghiêm trang:

    - Nếu anh không nói đùa thì anh có khuyết điểm với chị Ngát- Và Lý cười, hai chiếc răng nanh nổi bật trên hàm răng trắng bóng, nghịch ngợm một cách lạ - Và có khuyết điểm lẽ dĩ nhiên là phải sửa. Đề nghị anh mời chị Ngát và em đi làm một chầu phở.

    Nhưng thích thú nhất vẫn là nghe Lý kể về những mơ ước của cô sau mỗi chuyến đi xa về. Cô cán bộ hải sản say mê ngành đại dương học kia mỗi lần đi về hình như còn mang cả mùi gió mặn của biển, cái chao động của những con sóng bạc đầu và cái mênh mông của những khoảng nước rộng làm tròng trành cả không khí của căn gác nhỏ phố Khâm Thiên này.

    - Chắc anh chị đã nghe nói nhiều đến những buổi bình minh rực rỡ và hùng tráng trên biển rộng. Em thì em thích những đêm sáng trăng hơn. Những đêm mênh mông tưởng như mình lạc trong một thế giới ánh sáng huỳnh quang kỳ lạ, sáng đến mức mình thấy ngủ quên đi mất là có khuyết điểm với cái đẹp của trời đất. Quay mặt về phía nào cũng tràn ngập ánh sáng và biển phập phồng trăn trở như một tâm hồn đầy những hoài bão.

    Lý đứng dậy ra mở tung tất cả các cửa sổ. Mắt cô sáng lên lung linh, có phải đó là cái sáng của những đêm trăng biển. Quay về phía Ngát, Lý nói tiếp:

    - Chị có nhớ cái truyện ngắn của Goócki nói về một ông thủy thủ già lội ra khơi xa để chết với biển rộng không? Ai cũng biết đó là một tình tiết hư cấu, nhưng nó đúng một cách lạ. Quả thật, có nhiều đêm trăng sáng trên biển rộng, em cảm thấy xấu hổ với những lo toan quá chật chội, quá nhỏ hẹp của mình.

    Rồi Lý nói về tương lai:

    - Bao giờ thống nhất với một vùng biển trù phú như vùng biển của nước ta, ngành đại dương học nhất định sẽ phát triển.

    Em thèm được tham gia những đoàn cán bộ nghiên cứu đại dương trong những phòng thí nghiệm đặc biệt nằm sâu dưới đáy biển.

    Và Lý triền miên nhắc đến những tên cá kỳ lạ như trong huyền thoại, những con tu sĩ, những con thiên thần biển, những con mập hành hương, những con cá đèn lồng, cá ghi-ta biển, cá hói đầu...

    “Và biển phập phồng trăn trở như một tâm hồn đầy những hoài bão”.

    Không biết Lý dùng hình ảnh đó để nói về biển cả hay về bản thân mình, chỉ biết rằng cái bệnh “biển cả” kia hình như là một bệnh rất hay lây.

    Đêm đó, Lượng thấy Ngát cứ trở mình luôn. Đêm tháng tám, gió heo thổi những vì sao, xào xạc… xào xạc…

    Người yêu của Lý là một chiến sĩ điều khiển tên lửa. Hai người yêu nhau từ khi còn đi học. Viễn, tên người yêu của Lý là một sinh viên khoa vật lý thiên văn. Không biết chàng sinh viên say mê bầu trời kia khi yêu cô gái Khâm Thiên có biết rằng nơi đây thời xưa, vào những triều Trần, triều Lê gì đó, cái phố hò hẹn của hai người là nơi đặt đài thiên văn cổ sơ của người Việt Nam và nhà thiên văn Việt Nam Đặng Lộ đã sáng chế ra một “linh lung nghi” để quan sát bầu trời. Chàng Đặng Lộ thời nay, nếu có nhìn lên bầu trời Khâm Thiên từ một ống kính viễn vọng nào, chắc là phải nhìn thấy một ngôi sao linh lung màu thiên lý.

    Nhưng giặc Mỹ đã đem chiến tranh đến bầu trời Việt Nam. Và người sinh viên kia, một buổi sớm lặng lẽ từ biệt những tinh cầu, những dải thiên hà, với những chuỗi số dài dặc, từ biệt vòm trời Khâm Thiên đầy sao và kỷ niệm để lên đường đánh Mỹ. Vòm trời anh quan sát hôm nay không còn phải là bầu trời thanh bình của khoa học, của tình yêu mà là vòm trời trên màn hiện sáng, vòm trời đương chảy máu vì những con siêu âm Mỹ.

    Tình yêu của đôi trai gái đầu trời cuối biển này cũng thật lạ. Họ gặp nhau thoáng qua như một vì tinh tú lạc trên vòm trời đạn lửa của đất nước. Lần này Lý được nghỉ phép vào đúng những ngày B.52 đánh phá. Không hiểu do sáng kiến của ai mà hai người quyết định kết hôn vào sau ngày không lực Hoa Kỳ tấn công vào Hà Nội “đánh cho Bắc Việt một đòn gãy xương sống” và bị hạ ba B.52 một lúc trên vòm trời thủ đô. Đơn vị của Viễn đã lập thành tích xuất sắc trong trận đọ sức quyết liệt đó. Đám cưới giữa trận địa còn ngổn ngang bom đạn và những xóm làng bị cháy trụi vì trận bom rải thảm hồi đêm cũng là một thách thức đối với đế quốc Mỹ. Cuộc vui tổ chức vào những ngày “tơi bời khói lửa” mà cũng không kém phần rôm rả. Có văn công xung kích đến phục vụ và đặc biệt lại có lẵng hoa của Bác Tôn gửi tặng đơn vị. Cô dâu và chú rể đầu đội mũ sắt. Chiếc áo màu xanh côban của Lý nổi bật trên nền nắng trơ trụi của trận địa như một ốc đảo dịu mát. Đơn vị tặng cô dâu chú rể mỗi người một bông hồng nổi tiếng ở vườn Bác Hồ. Tiếng cô văn công thiết tha một điệu dân ca hết sức trữ tình:

    Một bầy tang tình con nhện dăng tơ, dăng tơ ấy mấy đi tìm Em nhớ thương ai đôi con mắt lim dim...

    Mấy chàng lính tên lửa ngồi trên chiếc “chuồng chim cu” cao ít bên dàn rađa lắc lư theo nhịp câu hát, “mắt lim dim” như đang nghĩ đến một màu xanh côban chờ đợi ở một vùng xa nào... Gió khẽ rì rào gợn sóng như một hàng mi chớp dài trên những cành lá ngụy trang nơi bệ phóng.

    Em nhớ thương ai đôi con mắt lim dim...

    Câu hát bị cắt đứt bởi lệnh báo động. Chính trị viên dẫn các cô văn công ra hầm. Các chiến sĩ trắc thủ nhanh nhẹn mở cửa trèo vào lòng xe,

    Cả trận địa rộn ràng tiếng máy nổ. Các quả đạn cởi áo ngụy trang ngóc đầu nhòm lên trời, nhọn hoắt như những ngọn mác búp đa chuẩn bị xung kích vào ngực quân thù. Rađa đảo mắt cảnh giới bao quát bầu trời.

    Cô dâu được mời vào xe chỉ huy và chú rể cũng trở về vị trí chiến đấu trước màn hiện sóng. Trong xe chỉ huy bọc thép kín mít, những màn hiện sóng sáng xanh bỗng nhắc Lý nghĩ đến cái xanh của biển cả.

    Không biết Viễn có nhìn thấy cái ngôi nhà bé nhỏ của Lý ở cái phố Khâm Thiên đông đúc kia trên màn hiện sóng không. Lý không tiện hỏi. Ai lại hỏi như vậy, “Bất lịch sự” chết. Nhưng chắc Viễn phải nhìn thấy. Viễn không thể không nhìn thấy.

    Hồi chiều, Lượng gặp Lý về nhà chuẩn bị để mai lên đường sớm. Liệu...

    - Lý... Lý...

    Lượng vừa chạy vừa gọi. Chỉ thấy bốn bề ngổn ngang gạch ngói và bụi đỏ.

    Ngôi nhà của Lý giờ đây chỉ còn là một hố sâu. Lý đã “đi” rồi. Tìm mãi cũng chỉ thấy một mảnh áo xanh côban rớt lại đó như một mảnh biển xanh, một hoài bão bất diệt. Lượng bỗng ngồi bệt xuống, nước mắt rơi lã chã.

    Khi đưa cho Viễn mảnh áo xanh côban của Lý, Lượng xin lại một miếng nhỏ.

    Và bên cạnh những mũi, tên đồng Cổ Loa, những cọc gỗ hiện vật thời Trần lấy được ở Bạch Đằng, cùng với các di vật lịch sử khác của người cán bộ sử học kia, ta thấy có mảnh vải xanh côban của Lý, cô gái nhiều hoài bão của thời đại Hồ Chí Minh và mảnh B.52 do đơn vị của Viễn bắn rơi đúng đêm giặc Mỹ đến rải thảm lên ngõ phố Khâm Thiên. Mặc dầu không một bằng chứng nào có tính chất xác định, Viễn vẫn quả quyết rằng đó chính là mảnh chiếc máy bay đã ném bom xuống căn nhà của anh.

    Hàng tháng sau người ta vẫn thấy Lượng loanh quanh ở phố Khâm Thiên, ở những ngõ Thổ Quan, ngõ Trung Phụng, ngõ Tô Tiền, ngõ Vạn Ứng... thăm từng đống gạch, hỏi về từng người đã mất, về tất cả những cái mới hôm qua đấy thôi, Lượng còn bàng quan nhưng hôm nay bỗng trở thành thân thiết một cách lạ, như những tài liệu lịch sử vô giá.

    Và cũng như Ngát, người đàn bà yêu chồng, quyết tâm học môn Lịch sử hóc búa, người cán bộ sử học kia tự cảm thấy không thể không học viết về những con người bình thường ở cái phố Khâm Thiên của anh vì cuộc đời, việc làm và khát vọng của họ cũng chính là lịch sử.

    Việc đó lẽ dĩ nhiên là khó, rất khó, nhất là đối với một người vụng chữ như Lượng. Nhưng anh có cái quyết tâm của một tình yêu mãnh liệt, dữ dội. Anh tin rằng, cũng như Ngát, anh sẽ làm được.

    Hết.

    Nguồn: Hưng Đạo Vương và những truyện khác. Quyển 4 trong bộ Tuyển tập truyện Lịch sử của Hoài Anh – gồm 16 quyển. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,978,296

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/