Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,817,254

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Hòn ngọc dữ dội/ Một vùng đất đen thân thiềt/ Mùa Thu vàng nóng bỏng nước Nga/ Vị ngọt Gruzia

Phan Quang

  • Thứ ba, 14:09 Ngày 30/06/2020
  • HÒN NGỌC DỮ DỘI

    Qua khỏi đèo, chiếc xe con dừng lại. Chúng tôi xuống xe đi sâu vào rừng. Gọi rừng không hẳn đúng vì thảo vật ở đây phần lớn là những cây thứ sinh không cao lắm lẫn cỏ dại và bụi bờ rậm rịt, che khuất cả đầu người. Địa hình hiểm trở, thoáng trông thì bằng phẳng thế kia nhưng bất ngờ ở đâu đấy có thể gặp những khối đá lớn chồng chất như bức tường chắn ngang lối đi, hoặc là những khe rãnh sâu, bờ dựng đứng. Lần xuống những khe ấy có khi lạc vào những hang động không có mấy dấu chân người.

    Đang giữa tiết xuân, bụi bờ, cây cỏ đều nở hoa. Hoa trắng, hoa vàng nhạt, hoa phớt tím, hoa hồng non… Tôi để ý dường như rất ít có màu sắc mạnh ở đây. Chị Alia hỏi tôi:

    - Anh có ngửi thấy mùi gì không?

    Có. Trong không gian bàng bạc một mùi hương khi thì thoang thoảng như mùi lá hương nhu, khi thì đậm đà hơn một chút, y như mùi tỏa lan từ khóm sả – có lẽ tùy theo sức mạnh của làn gió thổi mà mùi hương mỗi lúc có những cung bậc khác nhau chăng.

    Tôi ngắt một chùm hoa, đưa lên mũi ngửi. Hoàn toàn không có hương. Chị Alia cười:

    - Anh chớ tìm hương ở từng bông hoa riêng rẽ. Đây là hương của núi rừng. Hương của tất cả các loài hoa. Nếu có mùi nào trội lên chăng thì chắc là hương của loài hoa kia. Nó chính là “hoa của rừng”. Thử ngửi nó, may ra anh mới nhận ra được mùi thơm.

    Xin được nói ngay: Từ rừng hoặc núi rừng tôi vừa dùng ở trên là để cho thuận tai người đọc, và vì chưa nghĩ ra được từ tương đương trong tiếng Việt. Tiếng Pháp đọc là maquis; mà nhiều văn bản trước chiến tranh thế giới thứ hai còn cẩn thận lồng nó vào trong ngoặc kép để biểu thị đây là một từ ngoại lai, chưa phổ cập lắm. Từ ngữ ấy vốn xuất xứ từ hòn đảo này. Ở đây từ nhiều thế kỷ trước đã có cụm từ “đi vào maquis”, thoạt đầu có nghĩa là trốn tránh vào rừng. Người ta trốn vào maquis để chống lại nhà cầm quyền, để làm người nổi loạn, thậm chí để làm tướng cướp. Cho đến thời người Pháp kháng chiến chống phát xít Đức chiếm đóng, nội hàm của cụm từ “đi vào maquis” mới mang ý nghĩa tích cực hơn, tốt đẹp hơn, y như người Việt Nam ta nói “vào bưng” hoặc “lên xanh” – vào bưng biền, lên núi xanh để chiến đấu chống Pháp, chống Mỹ. “Đi vào maquis” để chiến đấu chống phát xít. Từ đó, phát sinh một danh từ mới: maquisard, chỉ người du kích quân.

    Loại “hoa rừng”, hay tốt hơn cứ gọi là “hoa của maquis” mà chị Alia vừa nói tới kia là những bông hoa bé bỏng, màu sắc từa tựa như hoa mimôda nhưng nhạt hơn, trắng hơn. Hương của nó không thơm mà hơi hăng hắc. Tôi để ý thấy trong maquis có nhiều loại hoa thường gặp ở nước ta: trúc đào, phượng vàng, sim tím… Mimôda thì rất nhiều. Có những gốc mimôda lâu năm, thân cây xoắn xít vào nhau lớn cả vòng tay ôm. Tôi chợt nhớ hình như có lần ai đó từng nói, chính một người gốc gác từ đảo Corse này đã di thực giống cây ấy lên Đà Lạt, trồng trong vườn biệt thự của mình. Từ cái vườn ấy nó dần dần thích nghi và lan rộng, trở thành một loài hoa Đà Lạt nổi tiếng như hiện nay – quen thuộc đến mức chẳng còn mấy ai, trừ người nghệ sĩ kia, băn khoăn tự hỏi “em từ đâu đến”.

    Chị Alia ngắt một bông hoa khác, đưa cho tôi:

    - Anh thử ngửi bông hoa này xem. Có đúng là thơm hơn không? Nhưng nó độc lắm, có - thể làm chết người đấy. Ngày xưa, những cô gái thất tình uống nước cây hoa này để tự kết liễu cuộc đời.

    Tôi hơi bàng hoàng vì một sự liên tưởng. Bông hoa này đẹp dịu dàng, lại thơm như mùi hồi trong rượu anisette nổi tiếng của người Pháp. Nhưng hình dáng nó tuyệt nhiên không giống hoa cây lá ngón ở miền ngược nước ta, mà tôi có dịp nhìn thấy hoa, nhân chuyến đi thăm bản Mèo trên Hoàng Liên Sơn năm nào. Điều kỳ lạ là hai cây hoa có một điểm giống nhau: hoa cây nào cũng rất đẹp và cũng thoang thoảng mùi hương. Cùng đẹp, cùng thơm và cùng có thể làm chết người.

    - Đấy, anh xem – chị Alia nói tiếp – maquis của chúng tôi đẹp thế kia, dễ chịu thế kia, hấp dẫn thế kia nhưng xin chớ mãi say sưa mà đi sâu vào quá. Nó rộng lắm, và nhất là nó chứa đựng nhiều hiểm nguy khôn lường.

    Thấy tôi mỉm cười, chị nói:

    - Thật đấy mà. Tôi không hù dọa anh đâu. Thời còn là sinh viên tôi từng suýt bỏ mạng vì mải mê đi sâu vào maquis đấy. Lạc hai ngày, và không sao tìm được lối ra. May gặp một đoàn du lịch người Ý cứu. Chậm ít nữa thì tôi chết khát. Có rất nhiều khe suối nhưng đều là suối cạn, chẳng có nước đâu. Lần suýt chết ấy, tôi nhớ đời.

    - Đảo của chúng tôi là như vậy đó, anh ơi. – Chị nói thêm – Đẹp lắm mà cũng dữ dội lắm.

    *

    *   *

    Đẹp thì hiển nhiên rồi. Người Pháp vẫn tự hào đây là một viên ngọc của họ giữa Địa Trung Hải mà. Từ trên máy bay, nhìn xuống bờ biển dựng đứng đá hoa cương hồng, rực lên giữa ánh mặt trời giữa nền biển xanh thắm, giữa đảo lấp lánh những đỉnh núi tuyết, tôi thấy hình ảnh hòn ngọc rất gần với thực tế. Còn nói dữ dội cũng đúng. Hòn đảo này dữ dội cả về tự nhiên và lịch sử. Bên bờ biển nắng chớm hè đã chói chang, mà nhìn lên núi cao, tuyết còn phủ trắng đỉnh hiểm trở. Anh bạn tôi tên là Paulo, chồng chị Alia, điều khiển chiếc xe hai cầu rất điệu nghệ. Tuy vậy, nhìn anh hết quẹo trái lại ngoặt phải rất gấp trên con đường men theo bờ biển, thú thật trong lòng tôi cũng hơi lo. Có lẽ hiểu thấu tâm trạng tôi, anh nói: “Anh có biết con đường này tên là gì không? “Con đường với nghìn khúc gấp”. Cái tên ấy có từ ngày xửa ngày xưa. Hồi tôi còn bé xíu đã nghe các cụ gọi như vậy. Ngày nay ngành du lịch phát triển, nó được hiện đại hóa rồi, chứ như ngày trước thì còn ghê nữa”.

    Về lịch sử, hòn đảo này luôn đầy biến động. Một nhà văn người Corse viết: “Từ thời đế chế La Mã đến nay, đảo này đã trải qua mười chín lần thay đổi chế độ đô hộ, ba mươi bảy cuộc tổng nổi dậy và bảy thời kỳ vô chính phủ. Đó là lịch sử bi thảm nhất trong vùng Địa Trung Hải”. Đảo Corse trở thành lãnh thổ của Pháp đã hơn hai trăm năm, nhưng hầu như vẫn thường xuyên là một điểm nóng của chính trường nước này. Các phe phái kình nhau. Những phần tử cực đoan thỉnh thoảng gây nên những vụ giết chóc đẫm máu. Mới năm ngoái hay năm kia thôi, cảnh sát trưởng còn bị sát hại. Chính phủ xã hội của Thủ tướng Jospin mùa hè này đã phải trình lên Quốc hội Pháp một dự luật tìm giải pháp thỏa đáng nhằm làm dịu bớt các xu thế đối nghịch nhau ở đây.

    Theo con đường nhỏ chúng tôi đi sâu vào rừng hơn ít nữa, chợt nghe tiếng lục lạc. Đó là tiếng lục lạc phát ra từ cổ một đàn dê đang ăn lá cây men theo một sườn đồi chênh chếch. Ông già chăn dê đội chiếc mũ dạ rộng vành, bên ngoài sơ mi còn khoác chiếc áo gi lê không cài cúc thêu hoa văn lạ mắt. Tôi đến gần hỏi chuyện. Ông giương mắt nhìn rồi lắc đầu. Chị Alia giải thích: “Ông ấy không nói tiếng Pháp”.

    Anh Paulo nói gì đó với ông ta bằng tiếng bản địa. Ông đưa tay trỏ một ngôi nhà chênh vênh bên sườn núi, giữa vườn cây ăn quả. Tường rào xếp bằng những hòn đá cuội to, tròn và nhẵn thín. Anh Paulo nói: “Ta vào đấy mua phôma dê đi. Loại phôma brocciu đặc sản, các gia đình tự làm, tuyệt không có bán ở các siêu thị”.

    Vùng này dường như nhiều thỏ hoang lắm. Thỉnh thoảng lại thấy một vài đôi thỏ đùa giỡn, đuổi nhau chạy băng qua đường nhanh như tên bắn. Chị Alia nói:

    - Loài vật này sinh sôi nhanh lắm, săn không xuể. Cho nên chính quyền đặt lệ: Ai bắt được một con thỏ, được thưởng mười frăng.

    - Thế thì tối nay ta ăn món xivê thỏ. Chắc chắn là không đắt – tôi nói vui.

    - Nhưng dân vùng này lại chẳng mấy ai dùng thịt thỏ. Có lẽ tại vì thời gian gần đây, có dịch bệnh lây lan trong loài vật này… - Chị Alia nói.

    Đi sâu vào núi chừng trăm bước, gặp một trại nuôi ong. Mật ong ở đây sản xuất theo lối thủ công. Mỗi năm toàn đảo cung ứng cho thị trường chừng ba trăm tấn mật, “loại mật hoàn toàn tinh khiết”, vì ở đây chưa biết ô nhiễm là gì” – bà chủ trại khoe như vậy. Đi tiếp một đoạn nữa, gặp lò gốm của một nghệ nhân. Trên cái sân rộng trang trí toàn đồ gốm mỹ thuật, có nhiều giá gỗ cao thấp không đều; một bên xếp những chiếc bình mộc vừa được nặn xong, bên kia là những thành phẩm vừa ra lò. “Sản phẩm đơn chiếc. Giá cả thì phải chăng thôi, không đắt như ở Paris đâu. Xin mời quý bà quý ông hãy lựa chọn”, người nghệ nhân già với bộ râu mép gây ấn tượng và một chiếc tạp dề lấm láp đất sét, giang rộng đôi cánh tay niềm nở mời chào.

    Con đường ngoằn ngoèo tưởng đi sâu vào núi, nhưng lại đưa chúng tôi trở lại con đường cái. Ven đường, sát vách núi có một cái máng con dẫn nước ngầm từ lòng núi chảy ra đổ vào lòng một cái giếng đá nguyên thủy. Một toán khách du lịch đang xúm xít, chờ đến lượt mình để chụm hai lòng bàn tay lại, hứng nước đưa lên miệng uống.

    - Người nào khi uống nước từ con suối ngầm này chảy ra mà trong lòng đang có một điều nguyện ước thì điều ước ấy sẽ linh nghiệm. Anh có muốn thử không? – Chị Alia hỏi tôi – Nhưng anh nhớ cho, trong lòng chỉ được có mỗi một điều ước thôi đấy nhé. Một, chứ không hơn. Rồi anh sẽ hài lòng cho mà xem. Chính bà ngoại tôi đã dặn tôi như vậy khi lần đầu dắt tôi đến đây. Hồi được bà ngoại cho đi thăm giếng thiêng, tôi còn bé xíu. Tôi còn đòi bà ngoại cài lên bím tóc đủ hai con bươm bướm thắt bằng dải lụa. Rồi đến lượt mẹ tôi, mẹ tôi cũng nói với cháu gái câu ấy…

    Tôi phân vân trong lòng nhưng không tiện hỏi. Cuộc sống thực là thế này đây, nó như lời chị bạn tôi vốn là người bản địa nói, hay chỉ là những cảnh những chuyện người ta dàn dựng, người ta thêu dệt nên nhằm thu hút khác du lịch? Có lẽ cả hai. Nhà sử học Pierre Antionetti, giáo sư danh dự Trường đại học Aix-Marseille, chẳng đã viết trong Lời kết luận cuốn Lịch sử Đảo Corse đồ sộ xuất bản cách đây chưa lâu của ông, rằng “Corse là một dải đất đầy trái ngược” đó sao?

    *

    *   *

    Sau khi đi gần năm trăm cây số men theo bờ biển, chiếc xe con cắt ngang hòn đảo, vượt rặng núi cao để trở về thị trấn L’Ile Rousse, nơi hai vợ chồng Alia và Paulo có một ngôi nhà xinh xắn nhìn xuống biển, cạnh mấy cây mimôda cổ thụ nở đầy hoa vàng. Chúng tôi dùng bữa tối tại một cái quán nhỏ mang tên thân mẫu Napoléon: Laetezia. Vị hoàng đế nhỏ người và vĩ đại mà nước Pháp luôn tự hào ra đời tại thành phố Ajaccio, thủ phủ lâu đời của đảo Corse này. Hồi chiều, các bạn đã cho tôi ghé qua Ajaccio để chiêm ngưỡng tượng vị hoàng đế oai phong trên mình ngựa đặt chất ngất trên bệ đá hoa cương, mắt nhìn ra biển. Đặt cân đối bốn chung quanh là tượng toàn thân của bốn người anh em trai của ông, chẳng khác bốn vị đại thần “tứ trụ triều đình” đứng chầu hoàng đế.

    Tôi tranh thủ rút sổ tay ghi vội một vài chi tiết, sợ để lâu rồi quên đi. Bốn người anh em trai của Napoléon, khác hẳn với ông, mang những cái tên Pháp rất quen thuộc, rất dễ nhớ: Louis, Alphonse, Lucien và… và… Trí nhớ lại phản bội tôi. Tôi quay hỏi ông chủ quán:

    - Xin lỗi, chắc ông nhớ, ông giúp tôi: bốn người anh em của Napoléon tên là gì nhỉ? Lucien, Alphonse…

    Người chủ quán mà bộ mặt lúc nào cũng cởi mở, cũng tươi cười với khách – đúng như mọi chủ nhà hàng mẫu mực – tự dưng cau mặt lại:

    - Napoléon ư? Tôi chẳng quan tâm đến anh em nhà ông ta. Họ chẳng làm được gì cho cái xứ này cả…

    Tôi ngơ ngác trông lên tấm biển hiệu trang trọng mang tên bà mẹ của hoàng đế, ngự ở gian chính của nhà hàng. Lại một điều nghịch lý nữa. Ông chủ quán nói tiếp:

    - Đối với dân Corse chúng tôi, người duy nhất đáng kính trọng là Paoli, Pasquale Paoli. Chính ông ta là người sáng lập nên thành phố L’Ile Rousse này! Chính ông ta mới xứng đáng là U babu di Patria! Paoli, u babu di Patria.

    Tôi nhìn chị Alia cầu cứu. Chị dịch ra tiếng Pháp trong nụ cười. Câu ấy có nghĩa là: Paoli, người cha của Tổ quốc.

    À ra thế! Hòn đảo ngọc này quả chứa đựng bao nhiêu điều nghịch lý. Dân số đảo hiện nay khoảng hai trăm ba mươi ngàn người, thì riêng người gốc Bắc Phi chiếm hơn sáu mươi ngàn, còn không biết bao nhiêu người gốc Italia, gốc Tây Ban Nha, gốc Thổ Nhĩ Kỳ… Trong khi đó thì người Corse lại có mặt ở khắp nơi khác trên thế giới, đông nhất là bên Anh. Tại bang Pensylvania của Hoa Kỳ không những có một thành phố mang tên vị danh nhân Paoli mà còn có mấy thị trấn nữa mang tên Corsica hoặc Corsiana. Trong buổi tiếp tôi tại Tòa thị chính, ông phó thị trưởng thành phố Bastia, thủ phủ tỉnh Corse Thượng, giới thiệu mấy người bạn của ông trong Ái hữu những người Corse bạn của Việt Nam đến dự buổi tiếp tân. Ông cho biết ở thành phố Sài Gòn thời trước có khá nhiều người Corse làm ăn sinh sống, thủy thủ, công chức, nhà kinh doanh… Ông nói thêm trong một thoáng tự hào: “Ông tổng quản lý khách sạn Continental Sài Gòn cũng là một người đồng hương của tôi đấy”.

    Chị Alia cho biết trên đảo này có một làng mang tên Việt Nam. Xã trưởng là người có mang một phần máu Việt Nam trong huyết quản, hình như gốc gác từ thành phố Hải Phòng – chị quả quyết vậy. Tôi không kịp đến thăm làng ấy. Ngược lại tôi đến được một làng của người gốc Hy Lạp, tên là Cargoese. Ở đấy có hai ngôi nhà thờ rất đẹp, đối diện nhau. Một bên là nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã, bên kia là thánh đường Hy Lạp. Thế kỷ 17, để tránh sự xâm lăng của đế chế Thổ, nhiều người Hy Lạp vượt biển đến đây lập nghiệp. Có những người đến nơi. Nhưng cũng có biết bao người khác bỏ mình trên biển. “Mùa gió chướng, mặt biển đang yên lành, đột nhiên gió mistral hun hút nổi lên, mạnh khủng khiếp, mạnh không kém gì bão. Gió mistral giật với sức mạnh hơn một trăm kilômét/giờ” – chị Alia giải thích. Thi hài nhiều người đắm tàu dạt vào bờ được chôn cất sau hai ngôi nhà thờ kia. Nghĩa trang của họ có tên là Nghĩa trang những người bỏ mình trên biển cả. Dĩ nhiên đây mới là một phần nhỏ thôi những người bất hạnh. Cho nên từ xưa, và cho đến tận bây giờ vẫn còn lệ, vào một ngày nào đó trong năm, cha xứ cùng với dân làng mang hoa ra khơi làm lễ và nguyện cầu cho những người xấu số vô danh, rồi thả hoa xuống biển.

    Ông chủ quán chắc nhận ra mình cáu bẳn vô lý, khiếm nhã với khách, lát sau lân la đến chuyện trò với vợ chồng chị Alia. Dạo này chưa hẳn vào mùa du lịch, khách ăn còn thưa thớt. Tôi nghĩ thầm: Chắc là người Corse có tình cảm “đồng hương” mặn mà với nhau lắm. Xem như hai vợ chồng bạn của tôi đây, họ là những nhà trí thức làm việc tận Paris. Thế mà hai ngày qua cùng họ về đây, tôi nhận thấy hầu như anh chị gặp ai ngoài phố cũng quen biết, cũng ôm hôn, cũng chuyện trò thắm thiết. Ông chủ quán này dĩ nhiên là người quen lâu năm của họ.

    - Lịch sử cũng trớ trêu lắm, thưa ông - Người chủ quán nói với tôi bằng tiếng Pháp. - Giá như anh chàng nhỏ bé ấy chào đời muộn hơn mấy tháng, hoặc là ngược lại, đảo Corse trở thành lãnh thổ Pháp muộn đi mấy tháng, thì chưa chắc nước Pháp đã có Hoàng đế Napoléon. Vâng, đúng như vậy, thưa ông. Xin ông hãy tin lời tôi. Hòn đảo này trở thành đất Pháp từ tháng sáu năm 1769. Đến 15 tháng tám năm ấy, Napoléon mới chào đời, cho nên mới mặc nhiên trở thành dân Pháp. Nói giả dụ, nếu như ông ta ra đời trước hai tháng, rất có thể ông ta đã là người Italia hoặc là người… - Ông chủ quán nhún vai bỏ lửng câu nói.

    Lão này chắc thuộc cánh mà báo chí Pháp gọi là “dân tộc chủ nghĩa” đây, tức là những người đòi cho đảo này được “tự trị” nhiều hơn, thậm chí “độc lập” nữa, tôi nghĩ bụng. Đương nhiên mình là khách vãng lai, ai dại gì xen vào nội tình nước khác. Thành ra tôi cứ ậm ừ, để cho ông chủ quán tha hồ muốn nói gì thì nói.

    Đúng là lịch sử – và thời sự hiện nay nữa – của hòn đảo này nhiều xáo động, đầy trắc trở, giống hệt như địa hình của nó vậy. Trước khi trở thành đất Pháp, đảo Corse suốt một trăm sáu mươi năm chịu sự cai trị của người Italia, hay đúng hơn là của chính quyền Gênes, tên một thành phố vùng tây bắc nước này. Dưới sự lãnh đạo của nhà yêu nước Antonio-Philippo-Pasquale Paoli (sinh năm 1725), nhân dân đảo nhiều lần nổi dậy chống ách cai trị của người nước ngoài. Paoli là một người có học, có tầm nhìn xa, được kính trọng. Ông có tham vọng xây dựng ở đảo một nhà nước độc lập. Đã ban hành hiến pháp, xác định quốc kỳ, cho lưu thông tiền tệ riêng… Nhưng thời gian quá ngắn ngủi. Thế kỷ XVIII lại là thời kỳ chủ nghĩa thực dân châu Âu bành trướng mạnh. Hòn đảo xinh đẹp không thể không trở thành nơi tranh chấp quyền lợi của nhiều thế lực khi thì đối chọi nhau khi thì liên kết với nhau: Pháp, Anh, Italia, Áo… Mỗi cường quốc tìm cách nắm lấy một thủ lĩnh, một phe phái trên đảo. Biến động triền miên. Biết bao máu và nước mắt đã tuôn xuống đất này. Nhà tư tưởng lớn thế kỷ Ánh sáng của Pháp, Jean-Jacques Rousseau, cực lực lên án cuộc hành quân của người Pháp để độc chiếm đảo Corse. Ông cho đấy là “một cuộc viễn chinh bất công và lố bịch, đi ngược lại mọi lẽ công bằng, mọi sự nhân đạo, mọi chính sách, mọi lý trí… một cuộc chinh phục vô ích và tốn kém”.

    Dù sao thì bánh xe định mệnh đã lăn.

    Người dân đảo Corse xưa cũng như nay hết sức tự hào về truyền thống ngang tàng, bất khuất của mình. Không ở đâu như đây, có bài hát ru con thế này: Con trai ngoan hãy ngủ đi con – Khi nào con của mẹ lớn lên – Con sẽ tự mang vũ khí vào mình – Lính tráng, mã tà, con chẳng sợ đứa nào sất – Chúng mà dám làm cho con mẹ điên tiết lên – Thì con mẹ vào maquis con làm ông tướng cướp.

    Trong chiến tranh thế giới thứ hai, hai mươi ngàn quân phát xít Đức, Ý đổ bộ lên đảo. “Cứ hai người dân thì có một tên lính chiếm đóng” – một nhà làm sử viết. Thế mà dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc do những người cộng sản đứng đầu là Arthur Giovini làm nòng cốt, nhân dân đảo đã chiến đấu quả cảm. Tranh thủ thời cơ phát xít Đức, Ý đại bại ở mặt trận phía Nam, dân Corse vùng lên tự giải phóng ngày 4 tháng 10 năm 1943 – sớm hơn hai mươi tháng so với thủ đô Paris.

    Những điều trên đây không phải ông chủ tiệm ăn Laetezia, mà chính chị Alia đã nói cho tôi nghe, trong thời gian chờ đáp chiếc máy bay của hãng Air-Inter từ Bastia trở lại Paris. Chị nói:

    - Vợ chồng chúng tôi làm ăn ở Paris. Nhưng tôi vẫn giữ lại ngôi nhà ở quê mà anh đã thấy đấy. Ngoài ngôi nhà, nơi đó tôi còn có một ít đất, một ít rừng. Nhỡ công việc làm ăn có gặp khó khăn, chúng tôi sẽ lui về quê. Tôi yêu mến, tôi tự hào về hòn đảo của chúng tôi.

    Dĩ nhiên không phải tất cả người dân đảo Corse đều giống như ông chủ nhà hàng cực đoan. Rất nhiều người quý trọng Napoléon, rất nhiều người tự hào vì hòn đảo nhỏ bé của họ sản sinh ra một vị anh hùng từng làm khuynh đảo cả châu Âu, một nhà chiến lược vô song, một chính khách đặt nền móng cho thể chế chính trị nước Pháp cận đại. Dưới thời Napoléon nước Pháp có bộ luật dân sự đầu tiên. Thượng viện Pháp, Tòa kiểm toán Pháp cùng nhiều thiết chế chính trị quan trọng khác nữa của nước Pháp ngày nay đều do Napoléon lập nên. Mặt khác cũng có một sự thật là, say đắm trong vinh quang tột bậc, mải mê theo đuổi đại sự quốc gia, vị hoàng đế ít nghĩ đến đảo quê nghèo khó của mình. Đúng là ông chưa từng làm được gì cho quê hương. “Mãi cho đến những ngày bị lưu đày ra đảo Saint Hélène, Napoléon mới có thời giờ suy ngẫm đến hòn đảo nhỏ nơi mình cất tiếng chào đời” – nhà viết sử gốc Corse Pierre Antionetti chua chát ghi nhận.

    Dù thế nào thì ở Corse hiện nay vẫn có nhiều thắng cảnh, nhiều công trình mang tên đứa con quang vinh của đảo. Tượng đài của ông không chỉ có ở thủ phủ Ajaccio. Người ta lưu giữ nhiều kỷ vật của ông. Chắc cũng chỉ là một sự ngẫu nhiên thôi, ngôi nhà tôi lưu lại mấy ngày ở đảo cũng mang tên Khách sạn Napoléon Bonaparte. Một tòa nhà đồ sộ, uy nghi làm tôi thật sự ngỡ ngàng khi mới bước vào. Nó tuyệt nhiên không có dáng dấp khách sạn mà giống hệt như cái phủ toàn quyền ở nước ta, xây dựng trên một quả đồi, mặt trước nhìn ra vườn hoa, mặt sau tựa vào một vườn cây cổ thụ. Các phòng ở, các sảnh, các hành lang, các công trình phụ, cái gì cũng rộng và to quá khổ. Nhưng khi cô tiếp tân tươi cười nói: “Ông gặp may. Nếu ông đến chậm hơn hai tuần, khi đã thật sự vào mùa du lịch thì chúng tôi không biết xoay xở thế nào, vì tất cả các phòng đều đã được đặt trước từ nay đến hết năm”, thì tôi chợt hiểu ra ngay.

    Người ta đã biết tận dụng mọi cơ sở, mọi tiện nghi có thể tận dụng để phục vụ du lịch, ngành công nghiệp sạch sẽ và lắm lợi ích. Từ những thập niên bảy, tám mươi của thế kỷ trước, Corse đã trở thành một điểm hẹn nổi tiếng của những người du lịch. Hòn đảo cạnh tranh quyết liệt với những đối thủ hàng xóm mạnh hơn mình về nhiều phương diện là Italia và Tây Ban Nha. Lượng khách du lịch hằng năm đến hòn đảo rộng chưa tới chín ngàn cây số vuông này để viếng cảnh, để nghỉ ngơi thường đông gấp sáu, bảy lần dân số toàn đảo, nhờ vậy mang lại cho nền kinh tế Pháp một khoản thu nhập khổng lồ. Ngôi nhà này hẳn là một dinh thự được cải tạo thành khách sạn đây.

    Suy đoán của tôi được xác nhận ngay sáng hôm sau, khi tôi lang thang tản bộ quanh khách sạn. Xế con đường dốc dẫn từ đường cái lên, tôi nhận ra một tấm biển đá khắc mấy dòng chữ mạ vàng lời văn cầu kỳ tạm dịch như sau: “Đằng sau những bức tường của tòa lâu đài này, từ 25-10 đến 5-2-1954, đã từng nương náu Quốc vương Mohamed V cùng gia đình trong thời gian Người buộc phải lưu đày bất công. Trong số người tháp tùng Nhà vua lưu đày, có hoàng tử Moulay Hassan, người đã lên nối ngôi Phụ vương dưới tôn hiệu Quốc vương Hassan II kể từ ngày 3 tháng 3 năm 1961, sau khi Quốc vương Mohamed V từ trần.

    Nhân dân L’Ile Rousse trân trọng bảo tồn những kỷ niệm mà hoàng gia để lại trong thành phố mình”.

    Lịch sử cũng ngoắt ngoéo lắm. Hồi ấy nước Pháp không ủng hộ cuộc chính biến ở Marốc lật đổ vua Mohamed nhưng cũng không muốn gây thù kết oán với những người đang nắm quyền hành. Người Pháp đồng ý cho nhà vua cư trú chính trị, song không muốn cho vua được sống ở thủ đô Paris. Người ta đã dành một tòa lâu đài đồ sộ tại một thị trấn xa xôi trên đảo, cách xa thành phố cảng Calvi tấp nập những hai mươi cây số, cho gia đình vua cư ngụ. Lý do: nhà vua ở đây sẽ được gần với đất nước mình hơn. Điều quan trọng về phần chủ nhà, là có thể cầm chắc ở mỗi tay một con cá.

    Con cá lớn nhất là quốc vương. Đúng vào những ngày tôi thăm Corse, tình cờ buổi tối mở tivi, thấy trên màn ảnh truyền hình lộng lẫy cảnh Điện Elysées, vị nguyên thủ quốc gia Pháp đang tiếp đón trọng thể Quốc vương Marốc nhân chuyến thăm chính thức nước Pháp của quốc vương. Quan hệ giữa hai nước trên đôi bờ Địa Trung Hải ngày nay có thể coi là chí cốt.

    Dù muốn hay không, nhà vua Marốc đã góp phần mình vào việc mở rộng du lịch của đảo Corse. Nhiều người lắm tiền từ các nơi đổ về đây viếng cảnh, nghỉ ngơi, và cũng là để có dịp được ngủ qua đêm ở nơi từng có bóng dáng một nhà vua bị lưu đày. Nghe như có chất sử thi, cũng đáng đồng tiền bỏ ra lắm chứ. Mà đâu phải chỉ có một chuyện ấy. Người ta còn biết bày ra lắm trò cho khách giải trí. Cô tiếp tân ở khách sạn lúc nào cũng niềm nở: “Tháng sau, mời quý vị trở lại đây. Đấy là dịp Liên hoan quốc tế nhạc Jazz. Quý vị không thích nhạc Jazz lắm sao? Rất tiếc. Chắc quý vị chuộng sự yên tĩnh. Vậy thì tháng tám, mời các vị đến thành phố Saint Florent xem thợ lặn hái san hô. Cả đảo này hiện nay chỉ còn có bảy người đủ sức lặn bộ* xuống đáy biển sâu mấy chục mét để lấy san hôi thôi đấy nhé. Tháng mười quý vị dự Liên hoan Gió. Liên hoan Gió là gì ư? Là hội thi quốc tế thả diều. Quý vị xem, có nơi nào lộng gió như đảo Corse của chúng tôi?” vv. và vv.

    *

    *   *

    Chị Alia và tôi ngồi ở quán giải khát ven bờ biển uống cốc bia, chờ đáp máy bay trở về Paris. Anh Paulo sẽ ở lại đi sau bằng tàu biển, vì anh phải mang theo chiếc xe hơi về. Từ đây đi đường thủy về thành phố Nice chỉ vào khoảng một trăm tám mươi hải lý. “Muốn hiểu cuộc sống thực trên đảo, phải đi bằng xe riêng của mình. Đi theo tua thì chỉ phơn phớt bên ngoài thôi, anh ạ. – Chị Alia nói – Lịch sử đảo này dày dặn lắm. Con người thì mạnh mẽ về tính cách. Jean Jacques Rousseau từng tiên đoán: “Rồi thế giới sẽ kinh ngạc vì nhân dân đảo này”. Nhưng dân đảo chúng tôi xưa kia nghèo lắm. Cho nên mới có chuyện phiêu bạt đi khắp nơi. Có vùng, lương thực chính là hạt dẻ trên rừng. Đến mùa dẻ thì đi nhặt về để dành. Có một thành phố lớn mang tên cây dẻ: La Castagniccia. Tiếng Corse, castagniccia chataignier trong tiếng Pháp ấy mà. Tuy nhiên, nói gì thì nói, đảo Corse mà tách khỏi nước Pháp là tự sát, trước hết là sụp đổ về kinh tế.

    “Một nhà văn đã viết thế này: Đảo Corse như quả dẻ. Câu chuyện bắt đầu khi ta cúi xuống nhặt quả dẻ lên. Thoạt tiên, gai nó chích vào tay ta. Nó không chấp nhận. Hãy kiên nhẫn tách cái bọc gai, sẽ thấy lộ ra hạt dẻ nhẵn, bóng và rắn. Nhưng chưa thể ăn ngay đâu nhé. Phải chờ cho hạt khô đi. Rồi bóc cái vỏ lụa, mang đun lên – đun vừa chín tới cho dễ tiêu, nhưng cũng đừng chín quá để cho hạt giữ được độ mềm. Lúc này mới được ăn. Muốn hiểu sâu con người đảo Corse, phải vậy. Muốn thành công ở đây càng phải vậy. Phải biết kiên nhẫn. Và phải có đủ thời gian”.

    2001

    MỘT VÙNG ĐẤT ĐEN THÂN THIẾT

    Con sông Đông quá đỗi êm đềm. Ít nhất là ở quãng tôi đi qua, nó khiêm nhường, giản dị như một con sông bình thường ở bất kỳ vùng quê nào, một con sông mà cứ từng khúc lại đổi tên theo tên gọi của địa danh ven bờ. Và cái cầu bắc qua nó lại cũng ngắn quá, hẹp quá so với tầm cỡ đường sá của cầu cống thường gặp trên đất nước Liên Xô. Đến nỗi khi xe đã qua gần hết cầu, ai đó thốt lên: “Sông Đông đấy” thì tất cả mọi người trên xe đều quay lại nhìn dòng nước lặng lờ chảy qua giữa cánh đồng xanh rờn mênh mông.

    - Có đúng là sông Đông thật không? – Có người hoài nghi vặn lại.

    - Thì hãy xem cái biển cắm ở đầu cầu kia!

    Đúng là cầu sông Đông. Đúng là con sông Đông đây rồi. Con sông Nga này vốn nổi tiếng thế giới là êm đềm. Nhưng hình ảnh của nó trong tôi luôn luôn sôi động, mãnh liệt, đầy mâu thuẫn như Grigôri, như Axinhia, như những chàng côdắc, những lão ataman, mặc dù Mikhain Sôlôkhôp cũng có những trang cực hay mô tả dòng sông buổi sáng bình yên. Trên thực tế, ít ra là ở đây và lúc này, sông Đông hiền hòa đến kinh ngạc.

    Thật ra, quê hương văn hào ở tỉnh bên cạnh cơ. Rôstôp. Còn chúng tôi đang thăm tỉnh Vôrônegiơ. Ấy thế mà chỉ một tên sông thôi đã đủ gợi nên một bức tranh hùng vĩ, qua không gian và thời gian.

    Vôrônegiơ nằm ở trung tâm vùng đất đen nổi tiếng của nước Nga. Tỉnh không lớn lắm, nếu tính theo số dân hai triệu rưỡi người. Và trên nền phân bố dân cư ấy, thành phố cũng lớn vừa phải: chín mươi vạn dân. Nhưng diện tích tự nhiên khá rộng, bằng một phần sáu nước Việt Nam ta. Các bạn Liên Xô thì so sánh theo cách khác: “Tỉnh chúng tôi rộng gấp ba lần rưỡi nước Bỉ và lớn hơn hai nước Đan Mạch và Hà Lan gộp lại”.

    Trong vùng đất đen phì nhiêu và tương đối bằng phẳng này, sải rộng những cánh đồng lúa mì, cải đường, cây thức ăn gia súc… xưa kia là rừng Nga, bạt ngàn rừng Nga. Thời nước Nga từ cuộc sống quê mùa bắt đầu rũ sự trì trệ nặng mùi cát cứ trung cổ mà vươn lên tầm cỡ châu Âu và thế giới, một người Nga vĩ đại: vua Piôt đệ nhất (còn được gọi là Pie đại đế) đã đến đây. Ông cho đẵn cây rừng và chỉ huy việc đóng chiến thuyền. Sau nhiều năm lao động khẩn trương, đội thuyền của Pie đệ nhất xuôi dòng sông Đông đổ vào biển Adôp, phá thế chiến lược của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ hùng mạnh lúc bấy giờ và gây nên một cơn sửng sốt cho nhiều quốc gia Âu, Á. Ngày nay, trên mặt hồ nhân tạo mênh mông trải dài cả chục cây số, bên cạnh những chiếc cầu hiện đại hai tầng tàu xe đi lại, những khu nhà ngất ngưởng mười hai, mười sáu tầng cao ở ven bờ, nổi lên mô hình một chiếc thuyền buồm đẹp không chỉ nhằm kỷ niệm kỳ công một ông vua mà còn đánh dấu sự hưng thịnh của một quốc gia. Đó là mô hình chiếc thuyền đầu tiên được Pie đại đế cho đóng tại đất Vôrônegiơ này.

     Lịch sử Vôrônegiơ, với tư cách là một tỉnh, mới chẵn ba trăm năm. Nhưng là ba trăm năm của một thời kỳ chuyển tiếp long trởi lở đất, vì vậy cực kỳ phong phú và đa dạng. Sự lớn mạnh của vùng đất này chỉ nghe qua cũng đủ làm ta một lúc lâu mới hết ngỡ ngàng. Thoạt tiên đây là pháo đài phòng ngừa kẻ địch từ phương nam tới. Sông hồi ấy là nguồn giao lưu chính vì trên mặt đất chưa có mấy đường đi. Con sông gắn với hình ảnh những người cúi rạp kéo thuyền, bàn chân đi đất giẫm lên gai góc ven bờ*. Với Cách mạng tháng Mười, vùng quê xa xôi của những nông nô, những mu-gic trở thành một vùng công – nông nghiệp hùng hậu. Hàng năm đất đen thuộc Vôrônegiơ sản xuất bốn triệu tấn ngũ cốc, bốn triệu tấn cải đường, một triệu tấn sữa, gần một phần ba triệu tấn thịt… Giá trị sản lượng công nghiệp: sáu tỷ rúp. Công nghiệp sản xuất từ những chiếc máy bay sừng sững mang ký hiệu IL lừng danh đến những hàng thông dụng như tivi màu và viđêô cátxét… Người Vôrônegiơ ngày nay có nhiều cái để hài lòng, song hình như vẫn luôn nghĩ về cái gốc gác “đất đai” của mình. Chả thế mà nhà xuất bản lớn của tỉnh mang tên Nhà xuất bản Vùng đất đen, và hàng năm tuyển tập những bài báo hay nhất được sưu tập và in thành bộ sách “Vùng đất đen quê hương”.

    Có quá lời chăng nếu nói rằng: Ở đây, dường như mọi sự khởi đầu từ đất đen?

    Ở Vôrônegiơ chúng tôi gặp những bất ngờ lý thú.

    Vừa đến nhà máy “Quốc tế cộng sản”, bí thư đảng ủy xí nghiệp A. Katuchưn, một thợ cả làm công tác đảng lâu năm, đon đả mời đoàn đi thăm cơ ngơi của anh.

    - Nhưng trước hết, - anh mỉm cười, khóe mắt nheo lên một nét hóm hỉnh - mời các đồng chí cùng chụp một tấm ảnh kỷ niệm. Nhỡ khi chúng ta quay trở lại đây thì hết nắng mất.

    Anh dẫn chúng tôi đến cạnh một tượng đài kỷ niệm. Trên bệ đá cao, là một giàn tên lửa 16 nòng, Kachiusa đấy! Tên lửa Kachiusa tiếng tăm trong chiến tranh thế giới thứ hai. So với những loại rốc-két hiện đại, hẳn Kachiusa không còn ghê gớm nữa về những tính năng chiến trận của nó. Nhưng bốn mươi lăm năm về trước, quân phát xít Đức đã từng kinh hoàng trước đòn sấm sét bất ngờ và dồn dập đổ xuống đầu vào lúc chúng đang ở thế hung hăng.

    Tôi chợt hiểu nụ cười của A. Katuchưn. Hẳn bí thư đảng ủy biết rõ Kachiusa không xa lạ với người Việt Nam ta.

    Hóa ra thứ vũ khí đã đi vào văn học, nghệ thuật ấy được sản xuất ở nhà máy này. Nhớ lại một ngày mùa đông lạnh lẽo năm 1940, khi gót giày quân đội phát xít đã giày lên một số nước châu Âu, Xtalin giao cho nhà máy “Quốc tế cộng sản” sản xuất loạt hỏa tiễn (mà hồi ấy dĩ nhiên chưa mang tên người con gái Nga rồi đây sẽ nổi tiếng toàn cầu).

    Nửa năm sau, loạt vũ khí đầu tiên được đưa ra mặt trận. Ngày 14-7-1941 nó phóng loạt đạn đầu tiên xuống đầu thù. Thời điểm 14-7-1941 đáng tự hào đối với nhà máy ấy, được khắc sâu trên bệ đá hoa cương đặt giàn tên lửa nay trở thành đài kỷ niệm, ngay cạnh cổng chính của xí nghiệp.

    Nhà máy “Quốc tế cộng sản” có lịch sử oanh liệt. Những năm quân phát xít Đức chiếm một phần Vôrônegiơ, xí nghiệp sơ tán về mạn Uran, tiếp tục sản xuất vũ khí. Trở lại thành phố thân yêu của mình, nơi nó ra đời trong chiến tranh thế giới thứ nhất, nhà máy chuyển sang sản xuất công cụ xây dựng, và trở thành một trong những nhà máy làm ra máy đào, máy xúc lớn nhất ở châu Âu.

    - Máy xúc của chúng tôi cũng có mặt trên các công trường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đấy. – A. Katuchưn đưa tay chỉ những cỗ máy lớn đủ kiểu đang ầm ĩ vận hành thử ở giữa cái sân rộng, mỉm cười giới thiệu với chúng tôi.

    Trong số những sản phẩm gửi tới Việt Nam từ các xí nghiệp của Vôrônegiơ, còn có loại khá độc đáo nữa: đó là những cấu kiện để dựng cầu lớn Thăng Long bắc qua sông Hồng, một niềm vui sau bao nhiêu năm day dứt đợi chờ của người thủ đô ta.

    Ấn tượng sâu sắc mà Vôrônegiơ để lại trong mỗi người khách đến thăm mảnh đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Phát xít Đức đã đến Vôrônegiơ, chúng đã bị chặn lại ngay giữa thành phố. Chúng ta đều hiểu chiến sự diễn ra thế nào ở những nơi bước tiến bão tố của quân xâm lược hung hãn đột nhiên bị chặn đứng. Những tượng đài kỷ niệm đặt ở nhiều nơi vừa khắc sâu vào lòng người hôm nay những gương chiến đấu, hy sinh của các thế hệ trước, vừa có tác dụng tô điểm thêm cảnh quan vốn đã đẹp. Chẳng hạn như khu kỷ niệm ở hữu ngạn con sông – nay đã trở thành mặt hồ nước mênh mông – nơi đây mười hai nghìn chiến sĩ Xô-viết đã hy sinh để chặn bước tiến quân thù. Cụm tượng đài trung tâm của khu kỷ niệm mô tả ba chiến sĩ bắn pháo hoa mừng chiến thắng trước ngôi mộ chung chôn ba nghìn năm trăm đồng đội của họ. Hoặc như khu kỷ niệm ở phía bắc thành phố có tên “Trạm gác số 1”, một chốt nữa chặn đứng bước tiến quân Đức.

    Tượng đài ở đây là hình ảnh một chiến sĩ đang chết, khẩu súng nắm chặt trong tay, để bảo vệ cuộc sống bà mẹ đang cho con bú đằng sau. Trong vườn hoa men đại lộ dẫn vào thành phố, phía sau tượng đài ấy, có mộ ba anh hùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Và đây là hai cây thông non do các cựu chiến binh mang từ rừng taiga Xi-bê-ri đến trồng, để tưởng nhớ những đồng hương của họ đã ngã xuống bảo vệ mảnh đất này. Kia là phiến đá hoa khắc chữ vàng của Quân đoàn số 6 ghi công một ngàn chiến sĩ hy sinh ở điểm nóng. Kia nữa, một ngôi mộ chung, trên mộ có những cành hoa tươi bên cạnh những cành hoa đã khô hoặc vừa héo. Và trước mộ, một bức tượng… Không! Không phải là tượng đá mà là một cụ già bằng xương bằng thịt, ngực đeo nhiều huân chương, đang ngồi bất động, vẻ mặt trầm tư như không để ý đến bất cứ gì xảy ra xung quanh…

    Anh bạn Liên Xô vội kéo chúng tôi đi nơi khác. “Hãy để yên cho người ấy. Chắc là một cứu chiến binh”, anh thì thầm bên tai tôi.

    Những tượng đài. Những khu lưu niệm. Người cựu chiến binh trầm ngâm trước mộ chung đồng đội. Lời nhắc nhở thường trực người dân Vôrônegiơ về một nhiệm vụ khẩn thiết: giữ gìn sự sống trong hòa bình.

    Bí thư thứ nhất thành ủy Vôrônegiơ, hoạt bát, đưa chúng tôi đi xem triển lãm những mẫu hàng tiêu dùng của thành phố. Máy lạnh, bếp ga, tivi màu viđêô, máy nhạc… bày ngay ở tầng một trụ sở thành ủy. Đương nhiên không thể xếp ở đây sản phẩm mà Vôrônegiơ rất tự hào như máy bay, máy xúc khổng lồ… Đồng chí nói:

    - Rất tiếc các bạn không có dịp đến thăm xí nghiệp sản xuất máy bay. Sản phẩm mới nhất của nhà máy là máy bay chở khách IL 86, có 386 ghế ngồi, đường kính khoang thân của nó lớn hơn đường kính hầm xe điện ngầm. Rất tiếc là các đồng chí chưa đến…

    Rất tiếc là chúng tôi không đi được nhiều hơn. Nhưng nếu triển lãm kinh tế kỹ thuật là nơi phản ánh cụ thể trình độ phát triển của một địa phương, thì những phương tiện thông tin – nghệ thuật còn cho phép chúng tôi lùi sâu về quá khứ. Tại một xa lông viđêô trang nhã, chúng tôi được xem bộ phim tài liệu kỷ niệm 300 năm thành lập tỉnh Vôrônegiơ. Những hình ảnh khái quát đọng lại trong lòng, bổ sung cho những gì mắt thấy tai nghe trong hơn một tuần thăm một tỉnh rất Nga. Nhờ vậy, tại cuộc tọa đàm truyền hình được tổ chức theo yêu cầu của các đồng chí địa phương, hướng về khán giả Liên Xô, với tư cách một nhà báo Việt Nam được mời phát biểu đôi lời, tôi nói:

    - Hỏa tiễn Kachiusa đã có mặt tại các chiến trường Việt Nam. Cầu Thăng Long được xây dựng có những bộ phận sản xuất tại Vôrônegiơ. Máy xúc của các bạn đang làm việc trên các công trường xây dựng ở đất nước chúng tôi. Máy thu hình đen trắng Rico và cả tivi màu Miragiơ không hề xa lạ với khán giả Việt Nam. Tôi từ Hà Nội đến Mátxcơva trên máy bay IL 86 và chắc chắn sẽ trở lại xứ sở mình cũng trên chiếc phi cơ ấy… Bởi vậy, tuy mới đến Vôrônegiơ lần đầu, chúng tôi có thể nói rằng ai cũng cảm thấy thân thiết như từ bao giờ. Màu hồng phù sa sông Cái quê hương chúng tôi rồi đây sẽ mãi gợi nhớ màu đen đất Vôrônegiơ…

    1986

    MÙA THU VÀNG NÓNG BỎNG NƯỚC NGA

    Chủ tịch liên minh Nghị viện thế giới (IPU), tổ chức bao gồm nghị viện của hơn 130 quốc gia mọi châu lục, ông A. Martinez, trong lời phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 100 của IPU tại Matscơva cuối tuần qua nói: “Xin chúc mừng ông Seleznyov, Chủ tịch Viện Đuma quốc gia Nga và là Chủ tịch Hội nghị này về sự đóng góp của ông cho thành công của Hội nghị. Suốt một tuần vừa qua, ông Seleznyov điều khiển một lúc hai con ngựa: Hội nghị của chúng ta và Viện Đuma, và cả hai ngựa này đều đã về tới đích”.

    Câu nói bóng bảy của ông Chủ tịch người Tây Ban Nha hùng biện ngụ ý một sự kiện vừa xảy ra trong ngày. Ngoại trưởng E. Primakov vừa được Tổng thống Boris Eltsin đề cử làm ứng cử viên Thủ tướng Chính phủ Nga thay ông Victor Chernomyrdine sau hai lần ông này bị Hạ viện Nga bác bỏ.

    Dư luận trong và ngoài nước Nga có vẻ thuận lợi cho ứng cử viên mới. “Ông Primakov là một người được kính trọng và có nhiều bạn bè”. Từ năm 1996 được cử làm Ngoại trưởng, ông đã lấy lại phần nào tư thế của nước Nga với tư cách là một cường quốc trên trường quốc tế. Ông chủ trương một thế giới đa cực, thân thiện với phương Tây nhưng đòi hỏi nước Nga có tiếng nói xứng đáng của mình cho dù có vì vậy mà làm phật lòng một vài ai đó. Ông cương quyết chống lại việc bành trướng khối NATO sang phía Đông. Ông ít kinh nghiệm về kinh tế song là một người có khả năng tập hợp các chuyên gia trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn này của đất nước Nga. Thủ tướng Pháp Lionel Jospin đánh giá cao Primakov. Còn Bí thư báo chí Nhà trắng Mike Mc Curry tuyên bố Chính phủ Mỹ “hiểu biết và kính trọng” ông, và nói rõ: “Chúng tôi hy vọng sẽ có quan hệ làm việc tốt và chặt chẽ với ông”.

    Một sự trùng hợp lý thú: Theo chương trình Hội nghị Liên minh nghị viện thế giới – và đó cũng là thông lệ ở tất cả các phiên họp từ trước tới nay – đúng bốn giờ chiều thứ năm, Ngoại trưởng nước chủ nhà đến trình bày trước đại diện các nghị viện thế giới chính sách đối ngoại của mình tại phiên họp toàn thể. Hội trường chính của Trung tâm hội nghị trong Điện Kremly chiều nay đầy ắp đại biểu. Khác với mọi buổi họp thông thường, đội ngũ phóng viên truyền hình Nga và quốc tế trước giờ đã trực sẵn ở lối ra vào, micro và ống kính sẵn sàng.

    Nhưng vị Ngoại trưởng phát biểu rất ngắn, chưa đầy mười lăm phút. Có lẽ với kinh nghiệm của nhà ngoại giao lão luyện, ông biết rằng trong những giờ phút tế nhị này càng nói ít càng tốt. Khi một vị Chủ tịch Quốc hội nước ngoài biết tin và chúc mừng ông trên cương vị mới, khuôn mặt đầy đặn với đôi mắt có vẻ mệt mỏi sau đôi kính cận thị dày cộp vẫn không thay đổi. Và cũng có lẽ ông quá bận rộn cho việc chuẩn bị thành lập Chính phủ nếu được Quốc hội thông qua, nhất là làm thế nào đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng, tránh khỏi một tình trạng mà – theo lời tuyên bố của lãnh tụ phái đa số trong Viện Đuma quốc gia – “tồi tệ nhất” của đất nước này kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.

    *

    *   *

    Tồi tệ nhất? Nhất hay nhì thì không biết, song tồi tệ thì quá rõ ràng. Cách đây hơn hai tuần, kể từ ngày 23 tháng 8, ngày Tổng thống Eltsin cách chức Thủ tướng Kirilyenco mà ông mới phóng lên vũ đài chính trị cách đây đúng năm tháng cùng toàn thể nội các, nước Nga vốn đang trong khủng hoảng tài chính, càng khủng hoảng hơn khi không có Chính phủ. Người được đề cử ra nhận nhiệm vụ lập Chính phủ mới không ai khác chính là Chernomyrdine, người đã cố gắng chèo chống con thuyền Nga khổng lồ suốt bốn năm qua.

    Ứng cử viên Thủ tướng bị các nghị sĩ chống đối kịch liệt. Ông bị nhiều người cho là chịu trách nhiệm trong việc dẫn dắt nước Nga tới cuộc khủng hoảng hiện nay – mặc dù nói đáng tội, không phải là không có thành tích: năm ngoái chỉ số tăng trưởng quốc dân đã bắt đầu nhích lên chút ít. Vòng bỏ phiếu đầu, ông chỉ được có 153 phiếu, và vòng hai cũng chỉ được thêm mười phiếu nữa - sau một cuộc vận động ráo riết ở hậu trường vẫn chưa đủ đa số cần thiết ở hạ viện 450 đại biểu.

    Khác với lần vừa rồi, khi Tổng thống giới thiệu Chernomyrdine – cũng như năm tháng trước đây khi ông Eltsin đề cử ông Kirilyenco, Viện Đuma vừa bác bỏ thì một giờ đồng hồ sau, Tổng thống đã gửi thư giới thiệu vẫn ứng cử viên ấy. Luật chơi hạn định trong ba vòng. Nếu đến vòng thứ ba, ứng cử viên Thủ tướng vẫn bị Viện Đuma bác bỏ, thì theo Hiếp pháp Nga, có nghĩa là Tổng thống có quyền giải tán hạ viện, cử Thủ tướng lâm thời, điều hành đất nước theo sắc luật và tổ chức tổng tuyển cử bầu hạ viện mới.

    Chính vì luật chơi này mà lần trước Hạ viện Nga đã phải nhượng bộ. Nhưng lần này chính Tổng thống Nga lại phải đi một nước cờ lùi. Theo báo chí Nga, đây là lần đầu tiên Tống thống Eltsin nhượng bộ Hạ nghị viện. Bởi vì không một chính khách bình thường nào dám nghĩ đến việc tổ chức tổng tuyển cử trên một đất nước mênh mông vào lúc kinh tế hỗn độn, đời sống khó khăn thế này.

    Hằng ngày mở tivi ra là thấy cảnh nhân dân thành phố xếp hàng mua vét hàng hóa; nhân dân nông thôn đào khoai tây chuẩn bị cho mùa đông; trước Ngân hàng trung ương phố Neglinnaya, đoàn diễu hành vác quan tài tượng trưng đưa ma đồng rúp; trước Viện Đuma, quần chúng trương biểu ngữ biểu tình, mít tinh thay đổi chính sách… Ba tuần trước đây, một đồng đôla đổi được 6,3 rúp. Do những khó khăn về tài chính, Chính phủ hạ giá xuống phải hơn chín rúp mới mua được một Mỹ kim và rồi thả nổi cho thị trường. Thế là đồng rúp tụt dốc. Thứ ba ngày 8 tháng chín, một “ngày thứ ba đen tối” nữa, tỷ giá chính thức là 20,8 rúp/một đôla, giảm 70% so với ngày 17 tháng tám khi Chính phủ công bố quyết định nói trên. Giá ở thị trường thực tế còn thấp hơn, xuống tới 22-23 rúp. Thế là nhân dân đổ xô vào các cửa hàng mua vét thực phẩm, kem đánh răng, gạo, tivi, đồng hồ… tất cả những gì có thể mua được mặc dù chưa cần đến. Trên đường phố, chúng tôi nhìn thấy tận mắt cảnh những người dân thuộc tầng lớp nghèo lặc lè xách những túi hàng: mấy bịch gạo, mấy bịch trứng, mấy tảng bơ… Trước các hiệu vàng, dân có tiền xếp hàng mua vàng. Trước cửa hàng may mặc, dân mua quần áo. Tâm lý xã hội thật ghê gớm: người ta vừa lo thiếu hàng, vừa ham hàng rẻ bởi vì các cửa hiệu bất ngờ chưa kịp điều chỉnh giá; và so với tỷ giá đôla – rúp, hàng hóa tự nhiên rẻ chỉ còn một nửa.

    Quang cảnh ấy chỉ diễn ra trong một hai ngày. Vì các cửa hàng bán lẻ hết hàng, những gì còn lại đã được nâng giá lên tương ứng, các công ty bán buôn thì găm hàng lại. Riêng giá xăng dầu chính thức tăng từ 15 đến 40,7% tùy chủng loại. Thống đốc Kaliningrad ban bố tình trạng khẩn cấp. Ở thành phố ấy hầu như mọi thứ hàng hóa (85%) đều nhập từ nơi khác đến. “Chúng tôi chỉ còn nguyên liệu để sưởi trong vòng một tháng nữa thôi”. Hạm đội Baltic (đóng căn cứ ở đây) không có tiền trả cho thủy thủ vì Chính phủ còn nợ 174,8 triệu rúp, trong đó gần 26 triệu là nợ lưu cữu từ năm ngoái. Tiền không có, khoảng 50% thương vụ về công nghiệp được thực hiện theo phương thức hàng đổi hàng, 40% thuế ở Nga cũng thu bằng hiện vật.

    Tờ Thời báo Moscow nêu lên tít lớn: “Phương Tây mất 100 tỷ đôla ở Nga trong cuộc khủng hoảng này, trong đó riêng Tây Âu và Bắc Mỹ mất 50 tỷ. Người ta lo sợ khủng hoảng tài chính ở Nga có thể lan ra toàn thế giới ».

    Trước tình hình ấy, làm sao có thể tổ chức tổng tuyển cử?

    Bởi vậy Tổng thống Eltsin đành lùi một bước. Ứng cử viên Chernomyrdine xin rút lui và tiến cử Primakov. Quyết định của Tổng thống đề cử quyền Ngoại trưởng của mình lên cầm đầu Chính phủ được các phái trong Viện Đuma hoan nghênh, trừ nhóm cực hữu Yabloko. Đồng rúp lên giá, sau ba ngày, tỷ giá trở lại là 11,4 rúp/một đôla.

    Cuộc tranh luận bắt đầu vào năm giờ chiều ngày thứ sáu ở Hạ viện Nga diễn ra gay gắt. Trên hàng ghế Chính phủ Primakov chống cằm lắng nghe. Thậm chí khi lên phát biểu trước Quốc hội, ông không có một bài diễn văn chuẩn bị sẵn như thường lệ. Ông chỉ nói vo ngắn gọn: “Nếu các ngài không dứt khoát ủng hộ tôi thì xin đừng bầu cho tôi”. Và “… tình hình sẽ không thể cải thiện nhanh chóng, vì tôi không phải là thầy phù thủy”.

    Chỉ qua một vòng bỏ phiếu với 315 phiếu thuận và 63 phiếu chống, Hạ viện Nga đồng ý chấp nhận Victor Primakov lập Chính phủ. Ngay lập tức ông mời một nhà kinh tế sáu mươi tuổi, từng là Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước trong một Chính phủ Xô viết trước đây, làm Phó Thủ tướng. Ông giới thiệu với Quốc hội bổ nhiệm ông Victor Gerashchenko, cũng sáu mươi tuổi, làm Thống đốc Ngân hàng trung ương, chức vụ mà ông này từng giữ năm 1991. Và nghe nói chuyến xuất ngoại đầu tiên dự kiến của Thủ tướng mới là bay sang bên kia Đại Tây Dương gặp Tổng thống Bill Clinton trong một chuyến viếng thăm hai ngày… Mặc dù vậy, chính trị gia thuộc các phái gọi là cải cách như Nemtsov, Gaidar đã vội kêu lên: Chính phủ này lại trở thành cộng sản mất rồi.

    Dù sao thì tỷ giá đôla chính thức ở Nga ngày chủ nhật 13 tháng chín đã đứng ở mức 11,4 rúp – tuy có thể đó chỉ là tạm thời.

    Nắng thu ở Matxcơva về cuối tuần càng đẹp, trời càng mát mẻ. Bầu không khí xã hội – chính trị phải chăng nhờ vậy mà đỡ nóng bỏng hơn những ngày đầu tuần?

    1998

    VỊ NGỌT GRUZIA

    Giám đốc nhà máy chè Cáclô Cahađơdê đưa tay:

    - Mời đồng chí nếm thử. Đây là loại chè ngon nhất của nhà máy chúng tôi.

    Tôi bỏ viên đường vào tách chè bốc khói, chờ một lát cho đường kịp tan để nhắp một ngụm, rồi nhấm nháp đầu môi vị thơm ngòn ngọt của chè Gruzia.

    Giám đốc Cáclô vẫn lặng lẽ nghiêng đầu nhìn khách, chờ đợi.

    - Ngon lắm!

    Tôi khen thật lòng. Nhưng không hiểu sao lại vô tình buột miệng:

    - Ở Việt Nam chúng tôi quen uống chè xanh hơn.

    - Chè xanh, chúng tôi cũng có.

    Cáclô đáp và đưa mắt nhìn người phục vụ. Chỉ một loáng sau tách nước chè xanh đã được đặt trước mặt tôi.

    Đã đến Gruzia, không thể không đi thăm nơi làm chè. Nước cộng hòa chỉ chiếm một phần ba trăm diện tích toàn Liên bang Xôviết này sản xuất tới chín mươi lăm phần trăm chè của Liên Xô. Riêng xí nghiệp đóng gói chè năm qua xuất xưởng gần hai vạn tấn, chủ yếu dùng trong nước, cũng có xuất khẩu chừng vài trăm tấn sang Anh.

    Người Gruzia rất tự hào về đất nước tươi đẹp và phì nhiêu của mình. Truyền thuyết xa xưa về thời dựng nước kể lại chuyện sau: Thuở thượng đế chia đất đai trần thế cho các dân tộc, người Gruzia khí chậm chân, đến nơi thì đất thế gian đã phân chia sạch. Anh ta òa ra khóc. Thượng đế thương hại, bảo: “Này, ta chỉ còn có mỗi một mảnh, định để dành riêng cho ta; nay ta ban cho ngươi, đất tuy hẹp nhưng tốt lắm, hãy nhận lấy và đừng khóc nữa”.

    Thế là dân tộc Gruzia có giang sơn của mình thật đẹp, thật giàu: tuy không rộng mà vẫn có núi cao đời đời tuyết phủ, có đồng nho, vườn chè và biển dạt dào sóng ấm. Quả vậy, ở Gruzia, đỉnh Cadơbếch là một trong những ngọn núi cao nhất châu Âu và bờ Biển Đen mà ai cũng biết là một nơi nghỉ ngơi nổi tiếng thế giới. Nho là sản vật – biểu tượng của nước Gruzia xưa. Ở cố đô Mexkhêta cách Tbilixi chừng hai mươi phút xe hơi, hiện còn một ngôi nhà thờ lớn xây từ thế kỷ XI bằng những phiến đá đẽo. Trên tường cao có phù điêu tạc chùm nho trĩu quả được cách điệu hóa tài tình. Gruzia có tới năm trăm giống nho khác nhau. Nho trồng ở các thung lũng phía đông đất nước; còn ở phía tây ở vùng Cônsít nổi danh trong thần thoại, sản vật chính là chè, là chanh, và đào, mận, lê… cả những cây xứ lạnh và những loại ưa mặt trời á nhiệt đới. Và tất nhiên, nhiều hoa. Hoa rất đẹp, trồng khắp nơi, hoa mà tôi từng thấy một vài người cho vào va li sansonite rất mực thời trang đi máy bay lên bày bán lẻ ở Matxcơva với giá cao, khi thủ đô chưa kịp vào hè.

    Tôi đến Gruzia gần như do ngẫu nhiên. Dạo cuốn tiểu thuyết Quy luật của muôn đời của N. Đumbátde mới được dịch ra tiếng Việt và in ở Hà Nội, anh Lý Hải Châu, Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, có nhã ý gửi cho tôi một cuốn với lời nhắn: “Nếu thấy hứng thú, anh viết một bài giới thiệu lên báo. Đây là một tác phẩm gợi lên nhiều suy nghĩ cả về nội dung và phong cách thể hiện”.

    Tôi rất hứng thú với Quy luật của muôn đời. Hứng thú và xúc động sâu sắc. Và cũng có một vài suy nghĩ. Song chưa có điều kiện viết ra thì trên báo chí đã có một vài bài điểm sách về cuốn này. Một tờ báo của tuổi trẻ còn trích đăng một vài đoạn khá đắt. Thêm lý do nữa để cho tôi yên tâm “đánh bài lờ” trách nhiệm đối với người bạn phụ trách nhà xuất bản đã nhiệt thành cho sách.

    Và khi được bạn hỏi, trong chuyến đi thăm Liên Xô sắp tới, tôi có nguyện vọng thăm những đâu xin cho biết để sắp xếp chương trình, không ngần ngại tôi đáp: “Gruzia”. Chao, đất nước của Lênin mênh mông một phần sáu địa cầu, biết bao nhiêu điều mới lạ, cho dù có bỏ hết cả cuộc đời chỉ để đi thôi, vị tất thăm hết những nơi mình thích. Vậy thì sao không đến Tbilixi, Tbilixi “trong cuộc sống bình thường, ồn ào la hét, xáo động, rên rỉ, cười cợt, gầm rú”, sao không đến đại lộ Plêkhanốp để hòa mình “vào hai dòng người chảy theo hai hướng như những dòng sông”, và con người thì “trôi trong hai dòng chảy ấy như những súc gỗ thả”, sao không đến bên bờ sông Kura mà nhà văn Đumbátdê đã miêu tả rất tài hoa…

    Tôi đã đến. Và hài lòng về sự lựa chọn của mình. Tbilixi quả là một thành phố đẹp, “danh bất hư truyền” – vì không tìm được cách nào diễn tả cho gọn ghẽ, thôi đành học đòi người xưa dùng chữ có sẵn vậy. Nhà cửa xây dựng trên những dải đồi trập trùng, đứng bất kỳ đâu tầm mắt cũng có thể nhìn bào quát một vùng rộng nhà cao, nhà thấp san sát giữa cây xanh. Đường phố lượn lờ theo các mé đồi. Và con sông Cura, không rộng lắm, dường như vẫn cố tình uốn éo làm duyên, mặc dù khi chảy qua thành phố hai bờ của nó đã bị cạp bằng đá hộc, chứ không còn thoải mái giữa những bãi, những ghềnh tự nhiên như ở các nơi khác.

    Thành phố hiện đại và sung túc ra mặt. Sớm sớm, tôi thích đứng chót vót trên tầng cao của khách sạn Atgiaria nhìn xuống quảng trường trước mặt. Từ đây có thể ngắm dòng vô tận những ô tô con màu trắng, màu xanh cây, màu vàng mơ, màu mận chín nườm nượp chảy qua, tản về các nẻo và khuất sau các góc phố. Đây là một ngã năm, ngã sáu gì đó. Mọi xe cộ muốn rẽ trái rẽ phải đều buộc phải lượn vòng qua “điểm tròn” men những đường vạch sẵn, đúng theo luật giao thông đô thị. Sáng nào cũng có một anh chàng cảnh sát mặc đồng phục mùa hè, quần xanh, áo trắng cộc tay, cưỡi một chiếc mô tô to và khỏe sơn vàng, đến đứng cạnh điểm tròn. Mặc dù không nghe được tiếng còi, tôi vẫn thú vị mỗi lần nhìn thấy chiếc gậy chỉ đường của anh vung lên cảnh cáo một lái xe đi tốc độ quá nhanh hoặc định vượt ẩu hay lượn lấn đường. Thỉnh thoảng, một chiếc xe bị gọi đến, bắt đỗ sát mép điểm tròn. Và tôi tủm tỉm cười một mình khi nhìn thấy người lái xe gãi đầu gãi cổ hoặc vò mái tóc xoăn như thể đang phân bua hay biết lỗi…

    Tbilixi có nhiều nhà cao hiện đại xen kẽ những tổ hợp kiến trúc cầu kỳ “kiểu những năm 50”, như người Liên Xô thường nói, và một số ít nhà xây từ các thế kỷ trước theo phong cách dân tộc. Trong số này cũng có những nhà phảng phất sắc thái Ảrập hoặc Ba Tư, với những hiên dài hun hút và hàng cột thon thả đỡ những vòm tròn giống nhau như đúc. Chả là người La Mã, người Arập, người Tata, người Mông Cổ, người Thổ Nhĩ Kỳ… đều đã đặt chân qua đây. Vó ngựa chiến binh của họ từng giày lên đồng ruộng Gruzia. Lưỡi gươm kẻ chinh phục thấm máu bao người bản địa bảo vệ quê hương. Và còn ai nhớ được trên đất này đã diễn ra bao nhiêu tàn phá, xây dựng, rồi tàn phá, xây dựng lại… Sự ổn định và phát triển mới thật sự có từ khi có chính quyền Xôviết.

    Nhà cao tầng ở đây vẫn na ná mọi nhà cao tầng ở bất kỳ nước nào, nhưng tôi có cảm tưởng như nó ít hợm hĩnh; dường như những công trình hiện đại này cũng ý thức được, bên cạnh mình, có bản lĩnh một nền kiến trúc dân tộc, hơn nữa có chiều sâu của cả một nền văn hóa truyền thống đa dạng, lâu đời, do đó trở thành khiêm tốn.

    Lịch sử Gruzia bắt nguồn từ xa xưa. Người La Mã cổ đại gọi miền đất này là Ibêria. Còn người địa phương thì xưng quốc hiệu là Xacácvêlô, có nghĩa là Xứ sở của người Cácli – tên cũ của tộc người Gruzia ngày nay. Họ thuộc một chi phía nam của chủng Ấn – Âu sinh sống trên vùng đất rộng lớn trải từ dãy núi Cápca đến miền Tiểu Á. Thật ra, đất Ibêria trong sử sách La Mã ấy mới chỉ miệt đông của nước Gruzia bây giờ, được ngăn cách với miệt tây bởi dãy núi Xurami. Phía tây, chính là miền Cônsít nổi danh trong truyền thuyết.

    Thần thoại Hy Lạp có chuyện Prômêtê đánh cắp lửa trời mà không một học sinh phổ thông nào không biết. Prômêtê con trai khổng lồ Giapét, đã đến lò rèn của thần linh lấy trộm lửa mang về cho loài người. Nhờ có lửa, người trần chống được rét, nấu thức ăn, rèn vũ khí… Dớt, chúa tể các thần linh, căm ghét Prômêtê, sai hai thần Sức mạnh và Quyền lực xích chàng vào một đỉnh trên rặng núi Cápca để cho đại bàng ngày ngày đến xé ruột ăn gan. Ngày nào đại bàng cũng moi ruột chàng nhưng chàng không chết vì sang đêm thì gan Prômêtê mọc trở lại. Cực hình kéo dài vô tận… Ngọn núi được giả định là nơi đày vị anh hùng thần thoại đã có công với loài người ấy, ở vào phía đông lãnh thổ Gruzia ngày nay.

    Lại còn truyền thuyết về con tàu Agiô do Giaxông làm thuyền trưởng đã vượt muôn vàn sóng gió, gian lao, cuối cùng cập bến miền Cônsít và chiếm được bộ lông vàng của con cừu thần diệu… Miền Cônsít ấy ở vào mạn tây nước Gruzia.

    Nằm ở điểm tiếp cận hai châu Á và Âu, nơi từng có dấu chân lạc đà những đoàn buôn thời cổ, Gruzia trong lịch sử luôn luôn là miếng mồi thèm khát của các đội quân nước ngoài, từ thảo nguyên giá rét phía bắc đến Địa Trung Hải ấm áp phương nam, chuyên đi chinh phục các miền đất lạ. Đất nước này luôn luôn bị xáo trộn. Gruzia bị Thổ Nhĩ Kỳ đô hộ nhiều thế kỷ, mãi đến năm 1802 mới hướng về bắc, xin được thống thuộc vào đế quốc Nga Sa hoàng. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa là thế. Tuy nhiên, xét về khách quan lịch sử, đây là một bước ngoặt quan trọng, vì những người tiến bộ trong nhân dân Gruzia nhờ đó có dịp để được cuốn hút vào phong trào cách mạng, và sẽ cùng với nhân dân Nga đi tới một cuộc đổi đời cơ bản.

    Về kinh tế, cho đến những năm 20, Gruzia vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu. Hai từ công nghiệp hồi này chưa nói lên gì nhiều trong suy nghĩ và nếp sống người dân. Một cuốn địa chí xuất bản năm 1925 ghi rõ, ở thủ đô Tbilixi, về công nghiệp, có một xưởng cuốn thuốc lá, một xưởng làm xà phòng và một xí nghiệp thuộc da, tất cả đều sản xuất theo lối nửa thủ công. Ngày nay, Gruzia là một nước công – nông nghiệp. Từ năm 1967, sản lượng điện tính theo đầu người của nước cộng hòa “lạc hậu” này đã bằng Italia, một trong bảy nước dẫn đầu thế giới tư bản chủ nghĩa, và gấp hơn tám lần Thổ Nhĩ Kỳ, nước láng giềng đã từng đô hộ Gruzia mấy trăm năm dưới chế độ otôman. Ấy thế mà hồi ấy Gruzia chưa triển khai hết điện năng của mình. Năm 1980, tất cả năm cụm phát của Nhà máy thủy điện Inguri lớn nhất miền Cápca với con đập cao 270 mét và công suất 1,3 triệu kilôoát, mới đưa hết vào sản xuất, hòa trong mạng lưới điện toàn Liên Xô…

    Còn miền Cônsít với bộ lông cừu vàng trong truyền thuyết? Nó vốn là đáy một cái vịnh được bồi tụ thành một đầm lầy cực kỳ bằng phẳng. Nhiều công trình tiêu nước lớn đã được thực hiện. Mười sáu vạn hécta đầm lầy, thoát nước, trở thành vườn cây á nhiệt đới khổng lồ. Ở thành phố Xukhumi, thủ đô nước cộng hòa tự trị Apkhađi, có Viện kinh tế á nhiệt đới duy nhất toàn Liên Xô chuyên nghiên cứu về các cây trồng ưa nóng. Năng suất chè của Gruzia bình quân bảy tấn lá một hécta, vào loại cao nhất thế giới. Hằng năm nước này sản xuất chừng nửa triệu tấn nho.

    Gruzia là một hay hai nước cộng hòa đi đầu trong việc tổ chức liên hiệp nông – công nghiệp ở nông thôn và Liên hiệp công nghiệp – khoa học ở thành phố. Những kinh nghiệm thành công của Gruzia về cải tiến tổ chức quản lý kinh tế được áp dụng rộng rãi ra nhiều nơi khác toàn liên bang.

    Người Gruzia rất tự hào với nền văn hóa truyền thống cũng như với những tác phẩm mới sáng tạo gần đây. Đương nhiên do chế độ xã hội chủ nghĩa tạo nên những điều kiện ưu việt, nhờ đó một dân tộc trước cách mạng chưa có chữ viết như Kiếcghidi có được văn tài Chinghi Aimatốp và nhiều nhà văn, nhiều nghệ sĩ lỗi lạc của mình. Gruzia có điểm khác họ là từ thế kỷ thứ V đã có những tên tuổi lẫy lừng. Tám trăm năm về trước, thi hào Ruxtavêli từng nổi tiếng cả một vùng Trung Cận Đông. Cách đây hai mươi năm, người ta phát hiện được, trong một tu viện cổ ở thành phố Giêrudalem, một bức họa chân dung nhà thơ lớn ấy. Kỷ niệm tám trăm năm ngày sinh của ông, rất đông nhà thơ, nhà văn từ nhiều nước trên thế giới đổ về Tbilixi bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Nhà thơ Việt Nam Chế Lan Viên đã phát biểu một bài súc tích và trí tuệ.

    Mà trong lịch sử Gruzia, không chỉ có mỗi một Ruxtavêli.

    Dễ hiểu tại sao ngày nay, nước cộng hòa có đầy đủ một “dàn” những tài năng thuộc mọi bộ môn: văn học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, múa…

    Trên máy bay từ Matxcơva đến Tbilixi, tôi hỏi người bạn đường về Đumbátdê. Đó không chỉ là ý định từ nhà. Tại sân bay, trong khi chờ làm thủ tục, tôi cầm mà không lựa chọn ở giá sách báo dành cho hành khách một cuốn sách nhỏ. Đó là cuốn giới thiệu sơ lược nền văn hóa Liên Xô. Cùng với V. Súcsin và Y. Triphônốp – cuốn sách ấy viết – N. Đumbátdê là một trong những nhà văn lớn nhất của Liên Xô. Ông thành công ở việc đưa vào văn học hiện đại những hiện tượng tiêu cực tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Tiểu thuyết Quy luật của muôn đời của ông(*) được giải thưởng Lênin năm 1980, không chỉ viết về những con người rất đẹp mà còn không nề hà gợi lên những chuyện đáng phiền lòng trong xã hội.

    Tiếc thay, Nôđa Đumbátdê không còn nữa. – Bạn tôi cho biết.

    Thật vậy ư? Tôi không tin. Ông sinh năm 1928, còn khá trẻ so với tuổi thọ trung bình của người dân Xôviết. Nhưng biết làm sao giải thích định mệnh, nếu quả có một nữ thần mang tên ấy. Ở Nga, Pusơkin chẳng đã mất lúc chưa tới bốn mươi, và gần đây Vămpilốp, “hiện tượng Vămpilốp” trong sân khấu Xôviết chẳng qua đời ở tuổi ba mươi đó sao? Tôi tự an ủi.

    Không được may mắn phỏng vấn Đumbátdê, bù lại, tôi gặp một niềm vui bất chợt khác.

    *

    *   *

    … Nhà điêu khắc Givi Midanđiri trân trọng và từ tốn kéo tấm vải đen phủ kín pho tượng cao gần ba mét, đặt ở phía chính giữa căn phòng khá rộng - xưởng nặn tượng của anh. Đó là tượng toàn thân của Bác Hồ, mình mặc bộ quần áo nâu hở cổ, chân đi dép cao su, một bàn tay đặt lên ngực trái, mặt đăm đắm nhìn về phía xa.

    - “Miền Nam luôn ở trong trái tim người” – bất giác tôi thốt lên, xúc động sững sờ. Nhà điêu khắc quay lại, mỉm cười:

    - Đó chính là điều tôi mong muốn thể hiện. – Anh nói tiếp – Tôi cố gắng thể hiện tính cách của Bác Hồ ở ba nét: phong cách giản dị có tính dân tộc, tình cảm thắm thiết đối với miền Nam, và tâm hồn nghệ sĩ. Đồng chí hãy chú ý dáng điệu các ngón tay trái của Người: tôi muốn miêu tả một bàn tay nghệ sĩ.

    - Và cái đầu của người cộng sản nữa chứ.

    - Đúng như vậy. Tôi đã mất rất nhiều công phu nặn đi nặn lại phần này. Như mọi người đều biết, trong tượng chân dung, khó nhất là mô tả gương mặt. Mà thể hiện cho được gương mặt cao cả của Bác Hồ đang suy tư là điều khó trong những điều khó.

    Dù sao thì bây giờ coi như tác phẩm đã hoàn thành - anh nói tiếp. - Đương nhiên còn nhiều việc phải làm, vì đây mới là bản mẫu bằng thạch cao. Còn phải đổ khuôn làm cốt rồi làm đồng. Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh của tôi là một tác phẩm bằng đồng đỏ. Tôi cố gắng hoàn thành trước ngày Hai tháng Chín để tặng nhân dân Việt Nam nhân kỷ niệm lần thứ 40 ngày lập nước của các bạn.

    Những phút trang nghiêm đã qua. Bây giờ mọi người ngồi quanh chiếc bàn thấp, nó vốn là nơi làm việc của nhà điêu khắc. Mặt bàn cũng như những chiếc ghế dài phủ những tấm tranh cổ động. “Có lẽ đây là những bức giới thiệu các cuộc triển lãm của anh”, tôi nghĩ thầm, vì trên tường thấy dán tấm áp phích mời dự buổi mở cửa Triển lãm điêu khắc của Givi Midanđiri ở phòng trưng bày phố Sancum, thành phố Phnôm Pênh, tháng 12 năm 1969. Tôi chỉ có thể ước đoán thôi bởi các tấm tranh đã được lật úp phô mặt trắng lên trên; và trên mặt bàn vẽ phủ giấy trắng tinh, bày các loại trái cây đủ màu: đào, táo, dưa chuột, cà chua… cùng một loại quả gì đấy hái trong rừng ăn như hạt dẻ, mà tôi không thể nhớ tên gọi theo tiếng Gruzia. Đương nhiên, có bạn phương xa, làm sao thiếu được vài chai rượu nho và nước ngọt, sản phẩm địa phương. Mặt bàn bày khéo, màu sắc hài hòa cũng trở thành một bức tranh tĩnh vật nốt.

    Để đón khách Việt Nam tối nay, Givi mời mấy người bạn thân nhất của mình: một kiến trúc sư, hai nhà điện ảnh, hai phụ nữ trong đó có Nina, biên tập viên vô tuyến truyền hình, người trẻ nhất trong buổi gặp mặt. Cách đây mấy năm, hồi còn là sinh viên, Nina cùng một bạn gái, do thành tích học tập xuất sắc, đã có cái vui thay mặt học sinh đại học Gruzia tham gia một đoàn du lịch thanh niên. Nina đã đến Hải Phòng, thăm Hà Nội, ghé Đà Nẵng… trước khi cùng đoàn sang Triều Tiên.

    Tôi quan sát xưởng họa của Givi. La liệt những tượng lớn nhỏ bày sát chân tường, trong số có chân dung một vài nghệ sĩ Việt Nam tên tuổi. Có lẽ tác giả cố tình gỡ tất cả xếp xuống đất, để làm tôn bức tượng của Bác Hồ, tác phẩm chính mà hôm nay là “lễ khai trương nhỏ”, như chính lời anh gọi. Ở một nơi trang trọng trên tường, treo một bức ảnh lớn, giấy ảnh đã bắt đầu ngả vàng, chụp cảnh của Bác Hồ cắm cúi làm việc bên chiếc bàn mây đặt trong vườn Phủ Chủ tịch, và Givi đang nặn tượng Bác. Đó là vào năm 1961, lần đầu tiên Givi sang Việt Nam và được Bác cho phép làm tượng trong khi Bác làm việc.

    Một bức ảnh khác chụp một em bé chừng ba, bốn tuổi đứng tần ngần bên bụi chuối.

    - Con trai tôi đấy. Hồi ấy nó bằng ấy nhưng bây giờ cao lớn như tôi, đã tốt nghiệp đại học và đi làm.

    - Anh đã đến Việt Nam bao nhiêu lần? – Tôi hỏi.

    Givi lúng túng có lẽ vì không nhớ ra. Anh cười:

    - Nhiều. Lần cuối cùng vào cuối năm ngoái, đầu năm nay.

    - Anh đã thăm những nơi nào ở đất nước chúng tôi?

    - Không thể nhớ hết các địa danh Việt Nam. Tôi đã sống với nông dân Thanh Hóa, tôi đã nặn tượng thợ mỏ và dân đánh cá Quảng Ninh… Cuối năm 1961, tôi vừa từ Việt Nam trở về Liên Xô, thì được tin Mỹ ném bom miền Bắc. Gửi thư cho bạn bè, không thấy ai trả lời. Chiến tranh ngày càng ác liệt. Sốt ruôt quá, tôi làm đơn tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu. (Anh ngừng lại và mỉm cười). Bây giờ nói chuyện ấy thì tưởng như đùa, nhưng hồi ấy tôi mới ngoài ba mươi tuổi, rất khỏe mạnh, và muốn chiến đấu thật sự. Sau này mới biết các bạn chưa cần đến quân tình nguyện quốc tế…

    Anh cười to.

    Givi Midanđiri sinh năm 1932 ở Cutaisi. Tốt nghiệp khoa điêu khắc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Tbilixi dưới sự hướng dẫn của các nghệ sĩ nhân dân Micatátdê và Mêrabisivi. Từ năm 1959, Givi đã có tượng bày ở nhiều cuộc triển lãm toàn Liên Xô và quốc tế.

    Buổi gặp gỡ hôm nay là cả một bất ngờ vô cùng thú vị cho tôi trong chuyến đi thăm Gruzia vội vàng và bận rộn. Theo chương trình, tối nay tôi được nghỉ để sáng mai trở về Matxcơva sớm. Khoảng bảy giờ tối, anh bạn nhà báo Liên Xô thường trú ở Tbilixi đánh xe riêng đến khách sạn, bảo: “Có một người bạn đã từng sống ở Việt Nam, thiết tha muốn mời anh đến chơi nhà”. Tôi nhận lời song trong lòng thật tình ít nhiều miễn cưỡng…

    Hóa ra buổi trò chuyện ở nhà riêng của Givi đầm ấm kéo dài. Givi gợi lại những kỷ niệm của anh ở Việt Nam, đặc biệt là lần được gặp Bác Hồ. Anh nhắc tên và hỏi thăm nhiều bạn nghệ sĩ quen biết. Nếu không nghĩ đến chuyến bay sáng sớm mai của chúng tôi thì có lẽ chưa ai muốn chia tay.

    Đôi bàn tay rắn, khỏe và nóng hổi, tay của nhà nặn tượng, cứ siết chặt hai vai tôi:

    - Xin cho gửi lời chào Trần Văn Cẩn, Diệp Minh Châu và các bạn bè. Nhất định tôi sẽ lại sang Việt Nam.

    Tôi nghe ngòn ngọt trong họng. Không rõ đấy là dư vị của trái cây, rượu nho hay một cái gì khác nữa.

    1985

    PQ.

    Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.

    www.trieuxuan.info

     

    * Không mang theo bình thở?

    * Nhng người kéo thuyn trên sông Volga là ch đề mt bài dân ca và mt tác phm hi ha rt ni tiếng châu Au.

    (*) Đã dch ra tiếng Vit và tái bn nhiu ln.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,817,254

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/