Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập39,919,754

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tư liệu sáng tác

Ghi chép về Mỹ Sơn - Trà Kiệu

Nhiều tác giả

  • Thứ ba, 10:59 Ngày 08/06/2021
  • Tản Mạn Linh Địa Trà Kiệu {nguyên văn, chưa biên tập}

    Tôi được vinh dự sinh ra và lớn lên trên đất thiêng Trà Kiệu, ngoài tình quê hương ra trong lòng tôi luôn dạt dào một mối tình, mối tình mà không chỉ tôi là người đã sinh ra và lớn lên tại đây mới có, nhưng cả những khách tứ phương cũng hằng ưu ái dành cho Trà Kiệu; đó chính là mối tình dành cho Mẹ Trà Kiệu. Từ khi còn nhỏ tôi không hiểu tại sao người ta cứ tuôn đổ về Trà Kiệu, đặc biệt vào dịp Đại Hội Cung Nghinh Đức Mẹ 31 tháng 5 hằng năm. Lớn lên, tôi ao ước được biết vì sao người người bất kể lương hay giáo cũng đến với Mẹ Trà Kiệu, hướng về Mẹ Trà Kiệu trong tâm tình yêu mến, tri ân, cảm tạ, cầu xin Mẹ…

    Vì muốn được xác tín hơn những gì Mẹ Trà Kiệu đã thương tuôn đổ xuống cho con cái Mẹ khắp nơi từ đất Mẹ Trà Kiệu nhỏ bé và muốn được luôn yêu mến, tin tưởng, cậy trông chạy đến cùng Mẹ Trà Kiệu, luôn tri ân, cảm tạ muôn ơn lành hồn xác mà Mẹ Trà Kiệu đã thương ban, cầu bầu cùng Chúa cho con cái Mẹ, với suy nghĩ đó, tôi đã cố gắng tìm hiểu về Mẹ Trà Kiệu và tôi xin ghi chép những gì mình tìm hiểu được mang tính sử liệu hẳn hoi ra đây để chúng ta hết thảy mọi người cùng suy nghĩ, cảm nghiệm hầu tôn vinh ngợi khen Mẹ Trà Kiệu mỗi ngày một hơn để “nhờ Mẹ Trà Kiệu chúng ta đến với Chúa“, qua đó càng sống nên chứng nhân Tin Mừng cho Thiên Chúa hơn.

    Vì vậy, những gì được sưu tầm góp nhặt ở đây chỉ mang tính biên soạn chứ không phải là một tập sách về đất Trà Kiệu và Mẹ Trà Kiệu linh thiêng.

    Cuối cùng vì Mẹ Trà Kiệu tôi xin các sư huynh tiền bối lượng thứ cho tôi vì đã sử dụng tài liệu của quý vị mà không xin phép.

    Một người con

    Đà Nẵng 1999

    *

    1. Ngược dòng thời gian

    “Cây có cội, suối có nguồn”, Trà Kiệu cũng có “cội nguồn” của nó. Nói về Trà Kiệu, không gì bằng ta hãy ngược dòng thời gian đến tận cuối thế kỷ thứ II, khi Trà Kiệu lúc bấy giờ được biết đến như một vùng đất thuộc nước Lin Yi (Lâm Ấp).

    Quả thật, theo sử liệu thì đến cuối thế kỉ II nước Lâm Ấp mới được thiết lập trải dài từ Đèo Hải Vân đến Đèo Cù Mông, và Sri Mara (Khu Liên hay Kiu Liên) là vị vua đầu tiên của nước Lin Yi. Còn trước đó vùng đất này do Trung Quốc cai quản và nó cũng chưa thuộc chủ quyền Việt Nam.

    Ngày nay người ta biết đến khu vực này thường là qua cái tên Champa. Thế mà đến thế kỉ VI thì tên Champa (Chiêm Thành) mới xuất hiện trên các bia đá của vương quốc này. Champa có nghĩa là hoa đại và là tên của một miền đất ở Ấn độ do vua Indravarman II dưới triều Đồng Dượng đặt. Lúc này vương quốc Champa phân chia làm hai vương quốc nhỏ.

    Dưới thời vua Bhadravarman I thuộc triều đại Gangaraja (VI-VIII) nước Champa có kinh đô là Sinhapura[1], đây chính là Trà Kiệu ngày nay.

    2. Danh xưng “Trà Kiệu”

    Không biết danh xưng “Trà Kiệu” có từ khi nào. Theo như Cha Phạm Châu Diên cho là tổ tiên ta gọi người Chiêm Thành là Chùm Chà[2]. Chữ Chà sau đọc trại ra Trà, Cha đưa ra bằng chứng là tại Trung Việt có nhiều vùng có tên bắt đầu là Trà như Trà Câu, Trà Khê, Trà Bàn, Trà Khúc. Còn chữ Kiệu có lẽ do chữ Kiều đọc trại đi, vì Kiều có nghĩa là người ở xa, tức là Đàng Ngoài, di cư lập nghiệp tại đây. Nếu vậy thì danh xưng “Trà Kiệu” có từ những năm đầu của thời kì định cư. Ngoài ra còn có giả thuyết khác về danh xưng “Trà Kiệu”.

    3. Trà Kiệu đất kinh thành

    Trà Kiệu là vùng đất từng được chọn làm kinh đô của người Chiêm Thành. Điều này có lịch sử chứng minh và qua các cuộc khảo cổ đã kiểm chứng. Kinh thành Sinhapura được Lịch Đạo Nguyên người Bắc nguỵ mô tả trong Thuỷ Kinh Chú như sau: “… Về phía Tây Nam giáp núi, phía Đông Bắc trông ra sông. Nhiều lớp hào bao quanh chân thành, và bên ngoài các hào về phía Đông Nam sông chảy men bờ thành. Bề Đông Tây của thành thì dài, bề Nam Bắc thì hẹp. Phía Bắc, sông uốn khúc chảy từ Đông Tây vào thành. Chu vi thành 8 lý 120 bộ. Thành xây gạch, cao hai trượng, trên thành có tường gạch cao 1 trượng, trổ lỗ vuông, trên dựng ván, trên ván có gác cất lên, trên gác có mái, trên mái có lầu; lầu cao thì sáu, bảy trượng; lầu thấp thì bốn, năm trượng… Cách kiến trúc mạnh nhưng vụng… Trong thành lại có thành nhỏ chu vi 230 bộ. Nhà họp và điện ngồi đều không  trổ cửa về phương nam…”[3]. Về địa dư quả hợp với sử cũ thời Gia Long chép về Trà Kiệu:

    Nam khoá Tào Sơn

    (Nam trùm núi Hòn Tàu).

    Bắc cự Sài Thuỷ

    (Bắc đạp sông Chợ Củi - Câu Lâu).

    Đông Lâm Quế Hạt

    (Đông giáp khu Đông  Quế Sơn).

    Tây chấm Tùng Sơn

    (Tây gối núi Dương Thông).

    Và ngày nay những nét vẻ đó vẫn còn như vậy. Mặc dầu con sông phía Bắc không còn như xưa nữa. Đến nay chỉ là một con suối, mùa nắng thì khô cạn, mùa mưa thì ngập nước, có khi nước dâng rất cao.

    Về cách mô tả thành Sinhapura của Lịch Đạo Nguyên đã được kiểm chứng là hoàn toàn phù hợp qua cuộc khảo cổ năm 1927-1928 dưới sự chỉ đạo của nhà khảo cổ học J. Y Claeys, thuộc Học Viện Viễn Đông Pháp ở Hà nội.

    Đến giữa thế kỉ VIII (749) người Champa không sử dụng kinh thành Sinhapura nữa mà dời vào Panduranga (Ninh Thuận-Ninh Bình). Không hiểu sao đến cuối thế kỉ VIII đầu thế kỉ IX kinh đô lại được dời đến Amaravati (Quảng Nam ngày nay), cách Sinhapura (Trà Kiệu) chừng 15km, với tên là Indrapura (kinh thành Thần Sấm), Đồng Dương ngày nay. Do chiến tranh, năm 1000 họ đưa kinh đô vào Vijaya (Chà Bàn-Bình Định) và từ đó về sau họ không bao giờ trở lại Amaravati. Điều này không có nghĩa là Trà Kiệu từ đó đã là nơi định cư của người Việt rồi.

    4. Cuộc Nam tiến - Trà Kiệu có chủ mới

    Vào cuối thế kỉ XIV đã có người từ Thanh-Nghệ-Tĩnh vào Quảng Nam lập nghiệp. Nhưng đến thế kỷ XV Quảng Nam mới thực sự thuộc về người Việt.

    Dưới thời nhà Hồ (1400-1407), khi tướng nhà Hồ là Đỗ Mãn đem quân sang đánh Chiêm Thành, thì vua Chiêm Thành dâng đất Chiêm Động (Phủ Thăng Bình-Tỉnh Quảng Nam) để xin bãi binh. Sau khi được cả Cổ Luỹ (Quảng Ngãi) thì vua nhà Hồ lệnh cho dân giàu có ở Nghệ An, Thuận Hoá vào định cư ở Chiêm Động và Cổ Luỹ. Từ đó người Chiêm Thành cũng dần dần bỏ hẳn đất này mà đi.

    Năm 1471 (đời Hồng Đức thứ 2) Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam ra đời. Danh xưng “Quảng Nam” cũng có từ đây. Lúc này (1471) ta có Hi Giang huyện-Thăng Hoa phủ-Thừa Tuyên Quảng Nam đạo. Hi Giang chính là huyện Duy Xuyên ngày này. Vậy tất nhiên trong đó bao gồm có Trà Kiệu, tức là;

    Trà Kiệu xã-Hy Giang huyện-Thăng Hoa phủ-Thừa Tuyên Quảng Nam đạo-Đại Việt quốc.

    Năm 1578 đời Lê Thế Tông niên hiệu Quang Hưng, Trà Kiệu được mở rộng thành một vùng rộng lớn, nên có tục truyền rằng: nhứt Trà Kiệu, nhì La Qua, thứ ba Tú Tràng. Đến đời Thành Thái (1905) năm thứ hai, cương giới Trà Kiệu thu hẹp lại trong ngũ xã: Trà Kiệu Trung, Trà Kiệu Đông, Trà Kiệu Tây, Trà Kiệu Nam và Trà Kiệu Thượng.

    Trà Kiệu Thượng chính là Giáo Xứ Trà Kiệu ngày nay thuộc Xã Duy Sơn (có thời Trà Kiệu Thượng được đổi thành xã Xuyên Kiệu), còn các xã kia theo thời gian và thế cuộc đã thay đổi tên mới.

    5. Trà Kiệu làng Công giáo

    Trong các cuộc Nam tiến của người Việt đến Hi Giang (Duy Xuyên) có lẽ toàn là đồng bào lương dân, họ e dè không dám ở trong khu vực thành trì của người Chiêm Thành.

    Đến năm 1628, hai tộc Lê Văn và Nguyễn Viết tòng Công Giáo, không tin kiêng gì thấy đất tốt cảnh đẹp thì ngang nhiên lập làng ở đó. Có thể nói mà không sợ lầm rằng làng Công Giáo Trà Kiệu được thành lập phải từ mốc thời gian này trở về sau.

    Nếu như tính về trước, khi đất Trà Kiệu còn là của người Chăm, thì Trà Kiệu chưa phải là làng Công Giáo được. Mặc dù lịch sử có đề cập đến việc đã có nhà truyền giáo Phương Tây đến rao giảng Tin Mừng ở Amaravati nói chung. Song chúng ta biết dân Chiêm Thành vốn có Phật giáo làm quốc giáo đồng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc của Bà la môn (Brahman) thờ thần Shiva (năng lực sáng tạo)… Kèm với việc bất đồng ngôn ngữ cũng như trước một tôn giáo quá xa lạ, “ngược đời” như Công Giáo thì việc có được kết quả ở đây quả là không có được, và lịch sử cũng nhìn nhận như vậy. Vậy thì từ khi người Việt vào định cư đến 1628 thì sao ? Lịch sử cho hay năm 1580 hai Cha Đaminh là Grégoire de la Motte (Pháp) và Luis de Fonséca (Bồ Đào Nha) đến giảng đạo cho dân Chiêm và dân Việt ở Quảng Nam nhưng không có kết quả gì mấy. Ngoài ra còn có nhiều nhà truyền giáo khác đặt chân lên xứ Nam trước 18-1-1615 (đây là mốc thời gian được chính sử nhìn nhận là có nhà truyền giáo đầu tiên đến giảng đạo tại Việt nam, ít ra là ở Đàng Trong), nhưng không có gì chắc chắn để khẳng định là đã có làng Công Giáo được thiết lập và Trà Kiệu cũng thế thôi.

    6. Tin Mừng phát triển trên đất Trà Kiệu

    Từ khi hai Cha Francesco Buzomi (Ý), Diego Carvallo (Bồ) và hai thầy trợ sĩ José, Paolo (Nhật) đến truyền giáo tại cửa Hàn (Hải Phố) vào ngày 18-1-1615 thì hạt giống Tin Mừng bắt đầu trổ sinh từ đây trên nước Nam. Để rồi khoảng năm 1628 đời Lê Thần Tông niên hiệu Vĩnh Tộ có người Công Giáo đến lập nghiệp tậu làng tại Trà Kiệu.

    Ngày 2-4-1722 Cha Felipe de la Conepción từ Manila đến Trà Kiệu. Cùng năm (1722) Cha Felipe đã dựng một ngôi Thánh đường, lấy Thánh hiệu là Philliphê, có người cho rằng đây là ngôi Thánh đường đầu tiên trên đất Trà Kiệu. Nếu vậy thì ngôi Thánh đường này phải nằm trên đất vườn của ông trùm Long. Vì có tài liệu ghi lại việc này và qua tiếp xúc với các cụ tiền bối tại Trà Kiệu, các cụ cũng nhìn nhận cổ truyền như vậy.

    Trong thời gian này Giáo Xứ Trà Kiệu do các Cha dòng Phansinh coi quản.

    Năm 1749 Cha Fedro García được phân chia đến Trà Kiệu.

    Sang năm 1863 Cha Lê Văn Triết được đổi đến Trà Kiệu và hai năm sau (1865) Cha di chuyển Thánh đường đến địa điểm như hiện nay.

    Theo Cha Galibert mô tả thì trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX nơi đây (Trà Kiệu) có Nhà Thờ đẹp đẽ và công cuộc rao giảng cũng rất tốt đẹp. Nhưng kể từ khi Pháp tấn công Đà Nẵng (1-9-1858) thì trong mấy thập niên liên tiếp không có nhà truyền giáo Châu Âu nào đến Trà Kiệu được cả. Đến năm 1869 khi tình hình lắng dịu thì Giám Mục Charbonnier đến thăm Trà Kiệu, nhưng bị đón bắt và buộc phải rời khỏi Quảng Nam.

    Năm 1870 Cha Louis Marie Galibert được phân công đến Trà Kiệu trong điều kiện rất hạn chế. Năm 1872 Cha Galibert xây cất một Nhà Thờ, tổn phí hết 75 Francs.

    Trong một bức thư viết tại Quảng Nam gởi về gia đình ở Pháp đề ngày 1-3-1870, Cha Galibert ước tính diện tích Trà Kiệu lúc đó gần 9.000 ha và có khoảng 700 giáo dân hết thảy. Cha Galibert làm quản xứ Trà Kiệu từ 1870 đến 1877.

    Cha Jean Bruyère (Cố Nhơn) sinh ngày 24-6-1852 tại Bloye nước Pháp. Đến Việt Nam ngày 29-1-1877, sau 6 tháng học tiếng Việt tại Quảng Ngãi, Cha Jean Bruyère được cử đến Trà Kiệu thay Cha Galibert Lợi, để rồi trải sự can qua ở đây.

    7. Biến cố Văn Thân Trà Kiệu trở thành linh địa từ đây

      Biến cố Văn Thân

    “Cho tới năm 1888 Địa Phận Đông (nhấn mạnh của người trích)phải chứng kiến những cuộc bách hại dữ dội nhất của Văn Thân: 8 thừa sai Pháp, 5 linh mục Việt, 60 thầy giảng, 270 nữ tu, trên 25.000 giáo dân bị giết, 225 Thánh đường, 17 cô nhi viện, 10 tu viện bị thiêu huỷ. Số giáo dân 41.000 người năm 1884, chỉ còn 15.000 năm 1886”[4]. “Bình Tây” đâu chưa thấy (chỉ có 8 thừa sai Pháp bị giết) còn “sát Tả” thì quả là cực kì triệt để “máu con nhà đạo” chảy ra quá lai láng. Điều này hoàn toàn phú hợp với lời bình của Yoshiharu Tsuboð về “Hịch Văn Thân”: “Như bài hịch trên đã nói, những người nổi dậy chỉ có một mục tiêu: tiêu diệt giáo dân”[5]. Và chủ trương này đã được thực hiện đúng không sai một ly. Vậy hãy lấy khẩu hiệu “Sát Tả” đúng hơn. Qua đây, một cách nào đó chúng ta thấy được tình hình chung mà trong đó Trà Kiệu cùng cam một số phận; bị bách hại và chịu gian khổ. Có lẽ chúng ta cần bình tâm đôi chút khi bàn về sự kiện này. Công tội cần phải để cho lịch sử trả lại như nó là công tội. Chúng ta cũng cần phải thẳng thắn thừa nhận sự kiện lịch sử này không phải vì nó là lịch sử, nhưng nó là một bài học cho hiện tại và tương lai trong nỗ lực chung xây dựng xã hội công bằng và vì mưu cầu lợi ích chung.

    Lời thưa: Để thực hiện phần này người soạn chủ yếu dựa vào tài liệu của Linh mục GEFFROY thuộc Hội thừa sai Paris, truyền giáo tại Việt Nam, đã trực tiếp đến Trà Kiệu và ghi lại rất tỉ mỉ đăng trên tuần báo “Missions Cathothiques” ở Paris vào các ngày 3, 10, và 17 tháng 9 năm 1886 (bản tiếng Việt). Tài liệu này rất phù hợp với nguồn tài liệu của H. Ravier. Sử ký Hội thánh. (Historiae Ecclesiasticae). Q. III và E. Teysseyre. Monseigner Galibert, mà Trần Thạnh Đàm[6] công nhận là đúng nhưng thần thánh các cuộc chiến, duy tâm. Và Nguyễn Sinh Duy dựa theo khi soạn phần; trận Trà Kiệu[7] theo tinh thần lịch sử. Và trong bộ “Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam” của Một Giáo Sư Sử Học cũng dựa vào đây để viết về công cuộc tự vệ của Trà Kiệu. (Chúng tôi cũng còn đối chiếu với bài viết của Cha Phạm Châu Diên nữa).

      Tình hình Giáo Xứ Trà Kiệu

    Địa lý: Trà Kiệu mặt Đông có Non Trọc (Bửu Châu) cao 60m, mặt Tây bên kia suối có đồi Kim Sơn (Hòn Bằng) thấp hơn đồi Bửu Châu, cách đồi Bửu Châu chừng 1km, cách Nhà Thờ xứ chừng 120m. Về phía Nam cách cánh đồng khoảng hơn nửa cây số là dãy thành luỹ Chàm, (hiện nay có người ở trên thành này và được gọi là xóm Thành). Còn mạn Bắc có bãi cát rộng giáp ranh với tuyến phòng thủ của Giáo Xứ.

    Nhân lực: Lúc bấy giờ, Trà Kiệu có khoảng 370 nam nhân có thể cầm vũ khí được, tuổi từ 16 đến 60 được chia làm 7 đội, và độ 500 phụ nữ được xếp vào đội dự bị (đội 8).

    Khí giới:  Chỉ có 4 khẩu nạp hậu, mỗi cây có 10 viên đạn, cộng với 5 khẩu bắn đá và 1 khẩu súng hoả mai cùng một số vũ khí tự đúc được.

    Nhìn chung Trà Kiệu không hề chuẩn bị phòng vệ, một phần vì chủ quan, một phần cũng vì Cha Bruyère tin vào lời hứa của đại uý Ducres là sẽ lập tức tiếp cứu nếu như Trà Kiệu bị bao vây.

    Với tình hình bất lợi mọi mặt như vậy, khi Trà Kiệu bị tấn công Cha Bruyère (Cố Nhơn) chỉ còn biết “hoàn toàn phó thác và trông cậy vào Chúa và Mẹ”. Cha đặt một bàn thờ Đức Mẹ giữa nhà và thắp nến hai bên, quyết cùng Mẹ chiến đấu. Thật thế, chúng ta hãy theo dõi cuộc chiến thì sẽ rõ.

      Trà kiệu - Ất Dậu kí sự

    Sau khi tàn sát, bách hại khắp nơi, xế trưa ngày 1-9-1885 quân Văn Thân ùn ùn kéo đến bao vây Giáo Xứ Trà Kiệu. Ban đầu họ lo củng cố vị trí chiến đấu, phần giáo dân cũng lập tức kéo lên giữ đồi Kim Sơn. Nhưng mới chỉ sang ngày thứ hai (2-9) giáo dân quá sợ đến độ bỏ đồi Kim Sơn, trong khi rút lui bị té chết mất 4 người. Và không khí ảm đảm bởi thất đởm bao trùm toàn Giáo Xứ. Đã vậy khi Cố Nhơn (Bruyère) cho người đi báo cho đội hai hãy lui về để dễ phòng thủ thì người báo tin lại bảo rằng Cha lệnh tập trung về Nhà Thờ để lãnh nhận các bí tích sau hết và chờ chết. May thay đội trưởng đội hai không tin, cùng lúc đó quân Văn Thân đến tấn công. Thay vì rút lui thì đội hai lại chống trả và đã dành chiến thắng, thu được một khẩu đại bác. Nhưng không vì vậy mà tinh thần giáo dân trở nên hăng hái lên được.

    Đêm về giáo dân lại phải cứ 5 phút là nghe hô: “Ớ các đội, các vệ, phải canh giữ cho nghiêm ngặt, đừng cho đứa nào thoát nghe”. Về sau đêm nào cũng vậy khiến giáo dân càng khiếp đảm hơn. Cố Nhơn buồn khôn tả, Cha đặt mọi nương tựa nơi Mẹ Maria. Nhờ vậy, Cha lấy lại được tinh thần, ngay đêm đó Cha gọi các vị chỉ huy đến và khẳng định với họ là phải chiến đấu tự vệ. Và giáo dân quyết tâm chiến đấu đến cùng. Ngày 3-9 giáo dân đã anh dũng chiến đấu từ sáng sớm đến chiều tối.

    Tuy chiến thắng, nhưng quân Văn Thân vẫn còn đó quá đông nên giáo dân lại đâm ra chán nản, có viên chức đưa ra ý kiến “đầu hàng”. Quá bi đát và tuyệt vọng nhưng nhờ có ông Trương Phổ[8] gan dạ đầy chí khí đã khơi dậy được tinh thần của giáo dân. Đồng thời cũng nhờ thầy Phận khi nghe lời mỉa mai của quân Văn Thân: “Cố Thiên (Maillard) đến cứu bay đó” thì thầy Phận đã hô hào phải đánh để mở đường cho Cố Thiên ở Phú Thượng đem binh đến giải vây. Lời nói hùng hồn của hai người đã làm bừng lên lửa chiến đấu tự vệ trong lòng giáo dân. Và họ đã quyết chiến đấu trong niềm tin tưởng phó thác cho Chúa và Mẹ Maria.

    Phần Cha Bruyère, Cha rất buồn, mất ăn mất ngủ, phải cạo râu và cải trang để tránh bị phát hiện, vì quân Văn Thân đóng quá gần. Từ hai ngọn đồi họ bắn xuống, đặc biệt khi thấy “Tây dương đạo trưởng” (Cha Bruyère). Cha Bruyère bảo với Cha Geffroy[9] rằng trong những đêm dài vô tận đó, Cha khóc rất nhiều, nhưng thường khóc vì vui mừng trước sự chở che của Đức Mẹ.

    Nhờ tinh thần đã lên nên sang ngày 4-9 giáo dân đẩy lui được hai đợt tấn công của quân Văn Thân, một vào buổi sáng, một vào buổi chiều. Cứ mỗi lần ra trận họ hô: “Hè, hè, Giêsu, Maria, Giuse, xin thương chúng con, xin chở che chúng con”.Và liền sau khi chiến thắng họ lại đến quỳ trước ảnh Mẹ cầu nguyện tạ ơn. Có lúc còn đang cầu nguyện họ lại phải ra trận. Và cứ vậy giáo dân không bao giờ quên trở lại cảm tạ Đức Mẹ.

    Ngày 5 và 6 tháng 9 quân Văn Thân quyết định làm luỹ vây chặt Giáo Xứ; “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”.

    Ngày 7 tháng 9 giáo dân đến xin Đức Mẹ cầu bầu, chở che đồng thời được Cha xứ khích lệ, họ đã ra trận cách dũng mãnh và phá được luỹ vây của quân Văn Thân. Đội dự bị nữ (đội 8) được nổi tiếng trong ngày chiến thắng vẻ vang này.

    Cuộc chiến diễn ra phía Bắc của Giáo Xứ. Quân Văn Thân trong trận này do Ông Ích Thiện, con trai của tiểu phủ sứ Ông Ích Khiêm, chỉ huy.

    Sang ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ (8 tháng 9) là một ngày khủng khiếp. Thánh lễ vừa xong là giáo dân phải ra trận ngay và liên tục bị đẩy lui đến Phước Viện, vì quân Văn Thân quá đông lại được đạn từ hai đồi Bửu Châu và Kim Sơn bắn xối xả xuống yểm trợ. Cuối cùng đội nữ dự bị phải ra trận, họ đã chiến đấu rất dũng mãnh, nhờ vậy giáo dân Trà Kiệu lại dành được chiến thắng.

    Vì quyết tâm tấn công “sào huyệt” của Giáo Xứ nên ngày 9-9 quân Văn Thân kéo thần công đến đặt trên đồi Kim Sơn và Bửu Châu.

    Thật tàn khốc! bước sang ngày 10-9 quân Văn Thân nã thần công rất khủng khiếp, vang dội cả tỉnh, đến độ cách cảng Đà Nẵng 25km về phía Nam các sĩ quan Pháp trên một tàu chiến đã nghe và đếm được khoảng 500 quả đại bác bắn vào Giáo Xứ Trà Kiệu chỉ trong một ngày (Nécrologe du P. Bruyère p. 455, 1.37-39). Ở Phú Thượng, cách Trà Kiệu khoảng 40km, giáo dân nghe súng nổ phát kinh hoàng, chính Cố Thiên (Maillard) cũng xao xuyến lo cho số phận của Trà Kiệu cũng như số phận của Cha Bruyère.

    Quân Văn Thân cứ nhắm bắn Nhà Thờ và nhà Cha Bruyère vì Cha là linh hồn của Giáo Xứ, và nếu Thánh đường đổ thì giáo dân Trà Kiệu sẽ mất hết tinh thần. Vậy mà lạ thay, Nhà Thờ không hề hấn gì ngoại trừ trúng một quả ở phía sau. Còn nhà Cha xứ bị trúng 5 phát. Nhưng Cha Bruyère vẫn bình an vô sự.

    Xin cũng nói thêm rằng trong các loại súng được dùng trong cuộc tấn công Trà Kiệu của quân Văn Thân, thì có một khẩu rất lớn được đặt cách Nhà Thờ khoảng 100m và do một cựu võ quan thiện xạ sử dụng, nhưng chỉ bắn trúng Thánh đường mỗi có 1 quả và nhà xứ 5 quả, há không phải chuyện lạ lắm ru!

    Quân Văn Thân ra giá từ 20 đến 50 nén bạc (khoảng 1.800 đến 2.000 quan Pháp) thưởng cho ai bắt được Cha. Có ba lần Văn Thân lọt được vào làng, song cả 3 lần nhờ ơn Đức Mẹ, Cha thoát được khỏi sự nguy hiểm.

    Suốt ngày 10-9 và ngày 11-9, quân Văn Thân không ngừng kêu lên: “Thật lạ lùng, có một người ĐÀN BÀ rất đẹp luôn đứng trên nóc Nhà Thờ mà chúng ta không sao bắn trúng”. Phần mình, giáo dân Trà Kiệu, cả Cha xứ nữa, khi nghe như vậy cố nhìn lên nóc Nhà Thờ nhưng không ai được thấy. Rồi còn có cả 1 “đạo quân trẻ em” nữa. Trong một số trận đánh nhất định quân Văn Thân kêu lên họ không chỉ đánh với giáo dân mà còn có “đạo quân trẻ em” từ trời xuống tiếp ứng. Có vậy họ mới không thể bình địa được làng Trà Kiệu.

    Đây quả là “dấu chỉ lòng xót thương của Thiên Chúa đối với họ (giáo dân Trà Kiệu). Và chính Mẹ Maria bằng cách này hay cách khác, cũng thể hiện lòng từ ái chở che của Mẹ”.

    Ngày 11-9 lại còn khủng khiếp hơn vì giáo dân Trà Kiệu phải giao chiến với hoả lực đại pháo bắn trực xạ vào Giáo Xứ. Trong trận này các Sœur Phước Viện đã dũng cảm tham chiến và cùng với toàn Giáo Xứ dành chiến thắng. Và có một Sœur bị tử thương.

    Cha Bruyère thấy quân Văn Thân trên đồi Kim Sơn quá nguy hiểm. Cha quyết định bằng mọi cách lấy lại đồi này. Và mọi người nhất tâm rạng sáng sớm ngày 12-9 sẽ cử một đội cảm tử lên lấy đồi Kim Sơn.

    Tâm hồn Cha nặng trĩu âu lo cho giờ đã định. Khi trời sáng Cha Bruyère ra chỗ trống nhằm gây sự chú ý của quân Văn Thân để cho các cảm tử quân hành quân động. Trong khi quân Văn Thân vừa mới ngủ dậy đang búi tóc và nhìn Cha Bruyère thì đội quân cảm tử tiến gần đến đỉnh đồi. Cùng lúc quân Văn Thân phát hiện có giáo dân đột kích cũng là lúc đội cảm tử lên đến đỉnh đồi và họ lập tức hô xung phong tấn công. Quân Văn Thân hoảng sợ bỏ chạy. Đội cảm tử hoàn toàn chiếm lại được đồi Kim Sơn. Họ thu được 9 khẩu súng các loại. Sau đó đốt doanh trại của Văn Thân.

    Thấy không chiến thắng bằng vũ lực được, quân Văn Thân, một mặt mời cựu Đô Đốc Chưởng Thuỷ Tý đến để quyết hạ Trà Kiệu, một mặt siết chặt vòng vây nhằm làm cho giáo dân chết vì tuyệt lương. Có vậy thì ít ra họ cũng sẽ chiến thắng. Quả vậy, không chuẩn bị nên trong Giáo Xứ bắt đầu cạn nguồn lương thực.

    Sang 14 tháng 9 là một ngày đầy căng thẳng, ở mạn Nam quân Văn Thân đông vô kể đã chiếm thành Chiêm và áp sát Giáo Xứ. Trong ngày 14 này quân Văn Thân còn có cả voi chiến nữa. Nguy tử đến nơi, nên ngay từ đầu đội dự bị nữ (đội 8) được triển khai chuẩn bị chiến đấu. Lạ thay, giáo dân vừa mới ra trận chưa đánh thì quân Văn Thân đã tháo lui bỏ chạy, mặc cho Chưởng Thuỷ Tý ngăn cản hô hào tiến lên. Cuối cùng chính Đô Đốc Chưởng Thuỷ Tý cũng bỏ mạng trong trận này. Còn đối với voi trận, chỉ với bó đuối giáo dân làm cho chúng tan tác.

    Không tưởng ra được. Qua đây một cách nào đó cho thấy ắt hẳn phải có bàn tay thiêng liêng từ trời cao can thiệp giúp giáo dân Trà Kiệu thắng trận.

    Sang ngày 15-9 một mặt lo củng cố, một mặt quân Văn Thân cho bắn đạn ria xuống Giáo Xứ, mỗi phát có từ 80 đến 100 viên. Có lần chính Cố Nhơn hưởng trọn một quả như vậy khi đang núp sau bụi tre. Cha cứ nghĩ thế là xong đời mình, theo bản năng tự nhiên, Cha sờ khắp mình và không thể tin được là mình vẫn còn sống mà lại chẳng hề hấn gì.

    Mười lăm ngày trôi qua, mỗi ngày cuộc chiến càng khốc liệt, với điều kiện chênh lệch giữa hai bên như vậy mà Giáo Xứ Trà Kiệu vẫn còn đó, “chắc chắn là họ được Đức Mẹ Đồng Trinh che chở cách riêng”. Chúng ta hãy xem rồi sẽ kết thúc ra sao ?

    Trong ngày 16-9-1885 quân Văn Thân mở ba cuộc hoả công, hai ở phía Bắc, một ở mạn Đông Giáo Xứ. Ở mạn Đông lại gặp đội 1 là đội quân cột trụ của Giáo Xứ từng làm quân Văn Thân phải khiếp sợ, do ông Trương Phổ chỉ huy. Cuộc chiến không kéo dài, chỉ chốc lát là quân Văn Thân bỏ mọi sự lo chạy giữ lấy thân. Trà Kiệu lại có thêm một chiến thắng nữa.

    Ngày 17-9 quân Văn Thân án binh.

    Ngày 18-9 quân Văn Thân dùng sào dài với một đầu được bó đầy gai dùng để “bổ xuống tóc người Công giáo”. Nhưng rồi họ cũng thất bại.

    Bại trận liên miên, quân Văn Thân mệt mỏi, mất tinh thần, có kẻ đào ngũ nên họ án binh bất động suốt hai ngày 19 và 20 tháng 9. Còn phía giáo dân, mặc dù chiến thắng nhưng quân Văn Thân vẫn còn đó, lương thực lại thiếu đã gây nên khủng hoảng hơn cả phía quân Văn Thân nữa. Vì vậy giáo dân Trà Kiệu quyết định tấn công đẩy quân thù ra thật xa. Để được vậy trước tiên phải lấy lại đồi Non Trọc (Bửu Châu) đã.

    Ngày 21-9 trước khi khai màn trận chiến, giáo dân Trà Kiệu cầu xin sự trợ giúp và che chở của Mẹ Maria Đồng Trinh. Đây là cuộc tấn công có tính quyết định nên mọi việc triển khai rất chu đáo. Khi phát hiện giáo dân chủ động tấn công, quân Văn Thân thúc voi ra trận và kìa lạ chưa, voi chiến không những không tiến mà còn lùi nữa mặc cho những tay nài không ngừng thúc búa lên đầu chúng. Lúc đó, giáo dân Trà Kiệu nghe rất rõ tiếng quân Văn Thân kêu la: “Hãy nhìn kìa, đạo quân trẻ nhỏ xuống từ trên các luỹ tre, chạy là tốt nhất. Người Công Giáo đông quá”. Còn phía giáo dân thì chẳng thấy gì cả.

    Sau phát súng hạ gục tên Văn Thân đầu tiên trên đỉnh đồi Bửu Châu thì quân Văn Thân một sức tháo chạy. Vì sợ người Công Giáo đuổi theo, quân Văn Thân chạy liên tục không nghỉ ra xa khỏi Trà Kiệu khoảng từ 15 đến 20km.

    Chính ngày hôm nay 21-9 vòng vây bị phá tan. Toàn thể giáo dân Trà Kiệu kéo về tạ ơn Chúa, Đức Mẹ và các Thiên Thần.

    Đến ngày 23-9-1885 quân Văn Thân trở lại tấn công Trà Kiệu nhưng khi còn cách Trà Kiệu chừng 5km thì họ chạy trốn. Vì lúc đến cầu Câu Lâu họ nghe một tiếng nổ khủng khiếp và biết rằng thủ phủ Quảng Nam đã bị Pháp chiếm cứ.

    Lần cuối cùng quân Văn Thân đến bao vây Trà Kiệu là ngày 20-4-1886, nhưng sớm tan rã để rồi không bao giờ trở lại Trà Kiệu nữa.

    Sau khi theo dõi 21 ngày đêm cuộc can qua, chắc chắn người đọc đã nhận ra rằng: Giáo dân Trà Kiệu hoàn toàn không tự mình thoát khỏi sự bách-diệt. Mà rõ ràng có nguồn trợ lực thiêng liêng nào đó; chính là Thiên Chúa và Mẹ Maria vậy.

    Từ đó về sau, Trà Kiệu luôn hưởng được sự an bình cách lạ lùng, điều mà không riêng chi giáo hữu Trà Kiệu mà ngay cả bà con lương dân cũng như những người hiểu thời cuộc đều nhận thấy Trà Kiệu khó lòng mà có được sự bình an như vậy.

    8. Ngàn đời tri ân Mẹ

    “Đức Bà phù hộ các giáo hữu”, đây là tước hiệu của Đức Mẹ mà giáo dân Trà Kiệu khi xây ngôi Thánh đường trên đồi Bửu Châu lộng gió năm 1898 đã dâng kính Mẹ. Điều này nói lên tâm tình ngàn đời mãi tri ân Mẹ và nhắc nhở con cháu muôn thế hệ về sau nhớ đến Hồng Ân cao cả này của Mẹ. Ngôi Thánh đường này ban đầu được làm bằng gỗ, đến năm 1927 Cha Tardieu cho xây lại bằng gạch, mái lợp ngói đất nung.

    Đến năm 1966, Cha Lê Như Hảo cho xây lại kiên cố nguy nga hơn dựa theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Và được tu bổ khang trang như ngày nay sau một trận lở là do Cha Nguyễn Trường Thăng.

    Bên cạnh đó ngay năm 1889 giáo dân Trà Kiệu và Cha xứ đã trùng tu lại Nhà Thờ chính để bày tỏ lòng tri ân Thiên Chúa và Mẹ Maria. Đến năm 1970 Cha Lê Như Hảo cho xây ngôi Thánh đường hai tầng như hiện nay và đã được tu bổ, trang hoàng lại do Cha Phaolô Mai Văn Tôn.

    9. Trà Kiệu, Trung Tâm Thánh Mẫu

    Sau khi giáo phận Đà Nẵng được thành lập (18-1-1963), trong Thánh lễ bế mạc Đại Hội Thánh Mẫu tại Trà Kiệu ngày 31-5-1971, Đức cố Giám Mục P.M Phạm Ngọc Chi long trọng tuyên bố: Trà Kiệu là TRUNG TÂM THÁNH MẪU của Giáo Phận Đà Nẵng. Tuy nhiên trước đó Trà Kiệu đã là Trung Tâm Thánh Mẫu của giáo phận Quy Nhơn và vào năm 1959 đã có tổ chức trọng thể Đại Hội Thánh Mẫu tại đây.

    Kể từ đó, hằng năm cứ đến Đại Hội Thánh Mẫu 31-5 thì con cái của Mẹ không chỉ trong Giáo Phận Đà Nẵng mà trên toàn quốc lại tụ họp quây quần bên Mẹ để cung nghinh, cảm tạ, khấn xin Mẹ.

    Và trên đất Mẹ Trà Kiệu, từ biến cố Ất Dậu (1885) năm ấy ơn Mẹ không ngừng tuân đổ trên con cái Mẹ. Vì Mẹ là Đấng “PHÙ HỘ CÁC GIÁO HỮU”.

    10. Đôi nét về Trà Kiệu ngày nay[10]

    Ngày nay Trà Kiệu là một làng toàn tòng Công Giáo thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cách Thành phố Đà Nẵng về hướng Tay Nam khoảng 40km, Trà Kiệu không chỉ là Trung Tâm Thánh Mẫu thu hút khách hành hương từ khắp nơi nhưng cũng còn là nơi cố đô của Champa nên có nhiều khách du lịch đến tham quan. Hành khách theo Quốc Lộ 1A đến ngã ba Nam Phước rẽ vào tỉnh lộ 610 đi thêm chừng 7km là đặt ngay chân lên Linh Địa Trà Kiệu.

    Trà Kiệu là một trong các Giáo Xứ cổ xưa nhất giữa lòng lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Cho đến nay (1999) Giáo Xứ Trà Kiệu đã trải qua 23 đời Cha sở và 17 Cha phó.

    Ngày 21-1-1988 Trà Kiệu được vinh hạnh là nơi yên nghỉ ngàn thu của Đức Giám Mục P.M Phạm Ngọc Chi, là Giám Mục tiên khởi của Giáo Phận Đà Nẵng. Ngôi mộ của Đức Cha nằm sát bên hông Nhà Thờ chính của Giáo Xứ và được chăm sóc cẩn thận. Ngoài ra mộ phần của Cha Tổng đại diện đầu tiên của Giáo Phận Đà Nẵng, Cha Gioan Nguyễn Quang Xuyên cũng nằm cạnh đó.

    Hiện nay Giáo Xứ Trà Kiệu có 4 giáo khóm; khóm Đông, khóm Tây, khóm Bắc và khóm Nam, có 8 giáo họ; Hoà Lâm-bổn mạng Đức Mẹ lên trời, Phú Nham-Đức Mẹ Lộ Đức, La Tháp-Thánh Tâm Chúa, Lộc Động-Thánh Gia, Cẩm Thành-Antôn, Chiêm Sơn Lộc-Giuse, Chà Là-Phanxicô Xaviê, Phú Nhuận-Đức Mẹ Fatima. Số giáo dân là 3907 người trong 817 hộ gia đình.

    Bên cạnh Cha Sở Giáo Xứ Trà Kiệu còn được sự giúp đỡ tận tình của hai cộng đoàn; một là Mến Thánh Giá Quy Nhơn đến Trà Kiệu xây dựng cơ sở từ năm 1865, hai là Phaolô Thành Chartres Đà Nẵng có mặt tại Trà Kiệu ngày 15 tháng 8 năm 1975.

    11. Kết

    Lạy Mẹ Trà Kiệu, theo dòng lịch sử chúng con nhận ra được rằng Mẹ luôn yêu thương chúng con. Qua Mẹ, Thiên Chúa tuôn đổ muôn vàn hồng ân xuống cho chúng con. Mẹ không ngừng gian rộng đôi tay trên chúng con, ban ơn, che chở, phù hộ, cầu bầu cho chúng con trên từng bước gian trần chúng con đi. Lạy Mẹ Trà Kiệu, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ chúng con, chúng con xin đặt tin tưởng nơi Mẹ. Với Mẹ con đến với trần gian hôm nay như một chứng tá của Phúc Âm. Vì “Có Mẹ con đâu còn sợ chi”.

    Đến đây người biên soạn xin khắp lại bằng mấy câu thơ:

    Đất Trà vọng mãi tiếng linh thiêng

    Kinh đô một thuở, thêm Mẹ hiền.

    Muôn ơn Mẹ đổ triền miên

    Qua bao thế hệ, khắp miền muôn phương.

    Bất luận là giáo hay là lương

    Tình Mẹ thương vẫn mãi miên trường.

    Sáng ngời danh Chúa tình thương

    Đây đoàn con cái nương nhờ mãi liên

    Giáo nạn Trà Kiệu, Mẹ linh thiêng

    Rành rành lịch sử đã ghi liền

    Xin soạn lại, chút hàn huyên

    Để ai tâm thẳng thấy liền ơn Thiên.

    Giáo ư: Tin - Cậy - Mến thêm kiên

    Lương: nhận ra Thiên Chúa nhãn tiền

    Đôi lời tâm ước xin nguyền:

    Đêm chút việc hèn loan truyền Thiên ân.

    12. Phụ lục

     Đất Mẹ - một vài sử liệu đáng nhớ

    Thế kỷ II            Nước Lin Yi được thành lập, vua đầu tiên là Sri Mara

    Thế kỷ VI-VII      Kinh đô là Sinhapura, Trà Kiệu ngày nay

    1402     Nhà Hồ bắt đầu mở đất vào Quảng Nam, Quảng Ngãi

    1471     Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam chính thức ra đời, đời Hồng Đức thứ II

    1533     Nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam là Inikhu tại làng Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ, Nam Định, Bắc Việt (Dã Sử mà thôi)

    1580     Hai thừa sai Louis de Fonséca (Bồ Đào Nha) và Grégoire de la Motte (Pháp) thuộc dòng Đa Minh truyền giáo tại Quảng Nam

    18-1-1615          François Buzomi (Ý) và Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) cùng 2 thầy giảng (Nhật) đến Hội An, Quảng Nam

    Khoảng 1628     Đời Lê Thánh Tông có người Công Giáo đến lập nghiệp tậu làng tại Trà Kiệu

    2-4-1722            Cha Felipe de la Concepción đến Trà Kiệu và cùng năm Cha đã xây dựng ngôi Thánh đường đầu tiên

    1749     Cha Fedro García đến Trà Kiệu

    1865     Dòng Mến Thánh Giá đến đặt cơ sở tại Trà Kiệu

    1870     Cha Louis Marie Galibert được bổ nhiệm đến Trà Kiệu và hai năm sau (1872) Cha cho xây cất một Nhà Thờ hết 75 Francs, lúc này diện tích Giáo Xứ Trà Kệu khoảng 9.000ha

    29-1-1877          Cha Jean Bruyère đến Trà Kiệu thay Cha Galibert

    1868-1888         Văn Thân bách hại

    01-9-1885          Văn Thân bao vây Trà Kiệu

    10-9-1885          Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà Thờ

    11-9-1885          Đức Mẹ tiếp tục nhãn tiền hiện ra trên nóc Nhà Thờ

    21-9-1885          Trà Kiệu nhờ ơn Mẹ được giải vây

    1898     Xây dựng ngôi Thánh đường trên đồi Bửu Châu để dâng kính Mẹ cách riêng với tước hiệu: “ĐỨC MẸ PHÙ HỘ CÁC GIÁO HỮU“

    15-8-1975          Dòng Thánh Phaolô Thành Chartres đến đặt cơ sở tại Trà Kiệu

    1966     Cha Lê Như Hảo cho xây lại ngôi Thánh đường kiên cố, nguy nga trên đồi Bửu Châu như hiện nay

    1970     Ngôi Thánh đường hai tầng hiện nay được xây dựng do Cha Lê Như Hảo

    31-5-1971          Đức Giám Mục P.M. Phạm Ngọc Chi đã tuyên bố: Trà Kệu là TRUNG TÂM THÁNH MẪU. Kể từ đó hằng năm đều có Đại Hội Cung Nghinh Đức Mẹ vào ngày 31 tháng 5

    13. Thi sĩ Xuân Diệu đến Linh Địa Trà Kiệu kính viếng Đức Mẹ tháng 5/1988 và lưu lại mấy vần thơ sau:

    Trưa hôm nay con ngồi như trẻ nhỏ,

    Giữa đáy trưa trong lòng Mẹ vô cùng.

    Con là sáo, Mẹ là ngàn vạn gió,

    Mẹ là trời, con là hạt sương rung.

    14. Sách tham khảo:

    Một giáo sư sử học, Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, nhà in Chân lý Calgary-Canada, 1998.

    Nguyễn Q. Thắng, Quảng Nam đất nước và con người, nxb Văn Hoá, 1995.

    Hữu Ngọc (chủ biên), Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam, nxb Thế Giới, 1995.

    Yoshiharu Tsuboð, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, nxb Trẻ, 1999.

    Nguyễn Sinh Duy, Phong trào nghĩa hội Quảng Nam, nxb Đà Nẵng, 1998.

    Helen West (chủ biên), Insight Guides: Vietnam, Singapore, 1991.

    Nguyen Khac Vien, Viet Nam along history, nxb Thế Giới, 1993.

    Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, nxb Tân Việt, 1964.

    Trương Văn Tâm, Quảng Nam Đà Nẵng, nxb Đà Nẵng, 1994.

    Tạp chí Đất Quảng số 3 tháng 5-1998

    Lm. Geffroy, Đức Mẹ Trà Kiệu, 1886 (bản dịch).

    Lịch Công Giáo 1993 Giáo Phận Đà Nẵng.

    Đức Bà phù hộ các giáo hữu, 1997.

    14.  Lm. Giuse Maria Phạm Châu Diên, Chuyện kể về Đức Mẹ: Lộ Đức-La Vang-La Mã-Trà Kiệu, Tủ sách Ra Khơi, 1958.

    __

    [1]Sinhapura: Sinha: sư tử, pura: đô thành. Sinhapura là Phạn ngữ Sanskrit có nghĩa là đô thành sư tử. Sử Trung hoa âm là Tăng ha bồ la. (theo Nguyễn Sinh Duy, Phong trào nghĩa hội Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, 1998, ghi chú (2) tr. 189.)

    [2] Có lẽ chữ Chùm Chà do đọc chữ Champa mà ra, mà cũng có thể chính xác hơn chữ Trà do đọc trại ra từ chữ JAYA là một trong bốn dòng họ chính của người Chiêm Thành (Ôn, Ma, Trà, Chế).

    [3] Trương Văn Tâm, Quảng Nam Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng, tr. 51.

    [4] Một giáo sư sử học, Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, Nhà in Chân Lý Calgary-Canada, 1998, tr. 518.

    [5] Yoshiharu Tsuboð, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, nxb Trẻ, 1999, tr. 278.

    [6] Tài liệu Lịch sử (những giai đoạn chiến tranh tôn giáo toàn quốc khốc liệt nhất ở Việt Nam, Trần Thạnh Đàm, Hà Nội, 1977.

    [7] Nguyễn Sinh Duy, sđd, tr. 187-196.

    [8] Ông Trương Phổ tên thật là Trương Văn Phiến sinh năm 1811 con thứ 4 của Bà Lê Thị Trừng. Bà Trừng thuộc dòng tộc Lê (là một trong những tộc kỳ cựu nhất đến Trà Kiệu) đã lấy chồng tộc Trương sinh ra hết thảy năm người con. Ông Trương Văn Phiến (tự Phổ) sinh hạ được 4 người con, hai gái hai trai. Ông mất năm 1910, mộ phần của ông hiện nay nằm trong khu nghĩa trang tộc Trương tại Cửa Hẩn, cách Trà Kiệu chừng 4 km.

    Ngày nay hỏi thử có mấy người biết được mộ phần của ông Phổ ở đâu và sẽ không ngờ mộ phần của ông, một con người cứ công bằng mà nói thì ông hẳn phải là người đáng cho người làng Trà Kiệu ghi nhớ bằng tấm lòng mến mộ ưu ái và tự hào, lại quá đơn sơ bình dị.

    [9] Xin nhắc Cha Geffroy là tác giả của tài liệu mà người soạn lấy làm tài liệu chính để lượt thuật.

    [10] Ở mục này các dữ liệu đã khá cũ rồi, nhưng vì điều kiện không cho phép nên người biên soạn không thể cập nhật được, đành chịu vậy!

    https://trakieu.net/tan-man-linh-dia-tra-kieu/

    Thành Cổ Chămpa Trà Kiệu: Một nghiên cứu Lịch Sử và Khảo Cổ học

    Đây là phần trích riêng về Thành cổ Chămpa Trà Kiệu, trong bài: Thành Cổ Chămpa: Một Nghiên Cứu Lịch Sử và Khảo Cổ Học, được dịch từ nguyên bản tiếng Anh. Chúng tôi có để link bài đẩy đủ cả tiếng Anh và Việt ở cuối bài.

    Đỗ Trường Giang National University of Singapore, Singapore and Institute of Imperial Citadel Studies (IICS) giangiseas@gmail.com

    Suzuki Tomomi Archaeological Institute of Kashihara, Nara, Japan grow_b_t@hotmail.com

    Nguyễn Văn Quảng Hue University of Sciences, Vietnam quangkch@gmail.com

    Yamagata Mariko Okayama University of Science, Japan yamariko@mgt.ous.ac.jp

    Việt ngữ: Teresa Võ và Văn Thơm (dịch từ Anh ngữ)

    Toát Lược

    Từ năm 2009 đến 2012, một nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khảo cổ học người Việt Nam và người Nhật Bản dẫn đầu là cố Giáo sư Nishimura Masanari đã tiến hành khảo sát và khai quật tại 5 điểm xung quanh Thành Hoá Châu, tỉnh Thừa Thiên Huế, được xây dựng bởi người Chămpa vào thế kỷ thứ 9 và được sử dụng bởi người Việt cho đến thế kỷ thứ 15. Nghiên cứu này còn giới thiệu các phát hiện từ những cuộc khai quật khảo cổ gần đây tại 03 thành Chămpa: Thành Hoá Châu, Thành Trà Kiệu ở tỉnh Quảng Nam, và Thành Chà Bàn ở tỉnh Bình Định. Cùng với những tư liệu lịch sử và các cuộc khảo sát tại hiện trường, nghiên cứu mô tả phạm vị và cấu trúc của các thành cổ Chămpa, nó cũng còn khám phá vị trí, vai trò, và chức năng của các thành này trong bối cảnh nagaras (vương quốc nhỏ) của chính họ và tổng thể mandala Chămpa. Từ phân tích so sánh, nghiên cứu cố gắng xác định các đặc điểm riêng của các thành cổ Chămpa trên bình diện tổng quát.

    Thành Trà Kiệu tại Quảng Nam

    Trong số các thành cổ Chămpa tại miền trung Việt Nam, Trà Kiệu ở Quảng Nam nhìn chung đã được xác định là thủ đô sớm, và vì thế đã thu hút được sự quan tâm từ nhiều học giả. Trà Kiệu cách thành phố Đà Nẵng khoảng 28 km, và khoảng 18 km trong khu vực nội địa tính từ cửa Sông Thu Bồn theo đường chim bay. Nó toạ lạc giữa 2 Di Sản UNESCO: Phố Cổ Hội An, khoảng 13 km về hướng đông bắc của Trà Kiệu, và Linh Địa Mỹ Sơn, khoảng 14 km về hướng tây nam. Nằm dọc thung lũng Sông Thu Bồn, thế kiềng 3 chân tạo thành trục chính trị khu vục có tên Amaravati, trong đó Hội An đóng vai trò là một cảng, Trà Kiệu là một trung tâm chính trị và Mỹ Sơn là trung tâm tôn giáo[1]. Khu vực Trà Kiệu trải dài theo bờ phía nam của một nhánh sông nhỏ của Sông Thu Bồn, thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (Fig. 1). Nó được bao bọc bởi các thành luỹ rất vuông vức. Dãy thành phía nam trải dài liên tục khoảng 1.500 m từ tây sang đông; chiều rộng của thành khoảng chừng 550m từ nam ra bắc[2]. Thành luỹ phía đông và phía bắc còn lại khá rõ, khoảng 2-3 m cao hơn cánh đồng lúa hiện nay, với chiều rộng ở chân thành khoảng 33 m. Các dãy thành phía tây và phía bắc được vẽ lại trên bản đồ Trà Kiệu bởi nhà khảo cổ học người Pháp Claeys vào thập niên 1920, nhưng các thành luỹ này có mà có thể nhận ra trên mặt đất ngày nay[3].

    Figure 1 Sơ đồ các điểm khai quật sau 1990 tại Trà Kiệu: (1) Đông bắc Bửu Châu (1990, 1993); (2) Đông Bửu Châu (1996); (3) Hoàn Châu (1997-2000); (4) Gò Dủ Dẻ (1996); (5) Thành Nam (1990, 2003); (6) Thành Đông.

    Nguồn: Claeys, “Fouilles de Tra-Kieu,” fig. 3, được bổ sung bởi Yamagata Mariko.

    Claeys đã cho khai quật mở rộng tại Trà Kiệu vào những năm 1927-28[4]. Ông đã khám phá ra các nền móng cấu trúc tỉ lệ lớn, các đế thờ, đá lingam và yoni, số lượng lợn các điêu khắc bằng đá và các hiện vật khác. Ông dường như bị thuyết phục rằng Trà Kiệu chính là thủ đô của Lâm ấp (Linyi, một cách chung chung được xác định là Chămpa). Tuy nhiên, hiện nay người ta cho rằng hầu hết các tượng và công trình xây dựng còn lại mà ông đã khai quật có thể được xác định niên đại từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 11 mà thôi[5].

    Sau một thời gian dài chiến tranh, các nhà khảo cổ học Việt Nam tại Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tiến hành khai quật mới lại Trà Kiệu vào năm 1990. Họ tiến hành khai quật sườn dốc phía đông bắc Đồi Bửu Châu, toạ lạc ở giữa làng và kéo dài cho đến nửa phía bắc của thành[6]. Vào năm 1990 và 2003, học đã tiến hành khai quật dãy thành phía nam của Trà Kiệu.

    Năm 1993, một nhóm các nhà khảo cổ Việt Nam, Nhật Bản và Anh đã bắt đầu làm việc tại Trà Kiệu. Nhóm (bao gồm 1 trong những tác giả, Yamagata) đã khai quật 03 vị trí: sườn dốc phía đông bắc Đồi Bửu Châu vào năm 1993, một địa điểm có tên Gò Dủ Dẻ nằm ở giữa cánh đồng lúa vào năm 1996, và một địa điểm có tên gọi là Hoàn Châu, nằm trong 1 ngôn làng, từ 1997 đến 2000[7]. Các kết quả của những đợt khai quật này bên trong thành đã cho phép chúng tôi nhận ra một sự chuyển tiếp rõ ràng nơi nhóm ráp ghép đồ tạo tác dưới lòng đất từ các lớp thấp nhất cho đến lớp cao hơn, có niên đại khoảng từ thế kỷ thứ 2 cho đến thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên[8].

    Năm 2013, Yamagata và Viện Khoa Học Xã Hội Miền Nam ở Thành phố Hồ Chính Minh đã triển khai một dự án khảo cổ nhằm nghiên cứu dãy thành luỹ phía đông của Trà Kiệu. Nhó đã tiến hành 02 mùa khai quật trên dãy thành đó, nhằm để xác minh niên đại và cấu trúc của nó. Một trong những mục đích tối hậu là xác định các đặc tính và các vật tạo tác mang tính khảo cổ học từ thế kỷ thứ 4 và trước đó mà chưa được khám phá trong các đợt khai quật từ năm 1990 bên trong thành. Trong báo cáo sơ bộ cuộc khai quật thành phía năm của Đại Học Hà Nội, cho rằng công trình xây dựng thành luỹ đó hầu chắc được bắt đầu vào thế kỷ thứ 4.

    Công trình xây dựng các thành luỹ của thủ đô Lâm ấp (Linyi) có thể được đề cập đến trong quyển 97 sách Tấn thư và quyển 36 sách Thuỷ kinh chú. Vua của nước Lâm ấp, Phạm Dật mất năm 336 sau Công Nguyên và ngai vàng của ông bị cướp đoạt bởi 1 gia nô cũ gốc Trung Quốc có tên Phạm Văn (trị vì 336-349). Ông này được cho là sinh ra ở hạ lưu Sông Dương Tử và cuối cùng tham gia phục vụ cho vua Lâm ấp. Phạm Văn đã xây dựng một cung điện cho Phạm Dật, và có mưu đồ cũng còn xây dựng cả chengyi (城邑 = thành ấp), điều đó có thể là những chiến luỹ[9]. Nếu Phạm Văn đã xây dựng các thành luỹ của kinh đô, công trình đó ắt phải có niên đại vào thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên. Quyển 36 của sách Thuỷ kinh chú cũng còn thuật lại rằng “tường thành của Lâm ấp có 4 cửa. Cửa chính hướng ở phía đông, ở chỗ đường quanh có tấm bia cổ tán tụng đức của đức vua Phạm Hồ Đạt”[10]. Phạm Hồ Đạt trị vì từ năm 380 đến năm 413 sau Công Nguyên.

    Xét về biên niên xử của Trà Kiểu thuở ban đầu, Yamagata, một người trong nhóm tác giả, trước đây đã xác định ba giai đoạn tại Hoàn Châu, một vị trí trong nội vi thành Trà Kiệu, các gia đoạn Hoàn Châu có tên như sau: Lớp dưới cùng, Lớp dưới và Lớp trên[11]. Sau đó giai đoạn Lớp dưới cùng và Lớp dưới được gọp chung lại, khi chúng biểu thị một tương phản mạnh với giai đoạn Lớp trên về phương diện ngói mái[12]. Như thế, các giai đoaọn này đã được đổi tên lại thành Giai đoạn Trà Kiệu I (được chia nhỏ thành Ia và Ib) và Gia đoạn Trà Kiệu II.

    Xét về đặc tính của các giai đoạn này, Giai đoạn Trà Kiệu I có một loại gốm xứ có thớ thô, bao gồm hủ hình trứng, hủ có khắc hình dây thừng, nắp, đĩa, bát, chén và lò gốm có đến, và ngói mái có dấu vải trên bề mặt lõm. Đặt biệt trong Giai đoạn Ia sớm nhất, các hủ hình trứng và ngoái mái có dấu vải chiếm ưu thế, hầu hết có liên hệ với những người dân cự ngụ ngay từ đầu tại Trà Kiệu. Các tác giả đã không tìm thấy bất kỳ lớp văn hoá nào đi trước giai đoạn này trong nội vi thành.

    Giai đoạn Trà Kiệu II thì khác biệt với Giai đoạn Trà Kiệu I, nhất là ngói mái. Ngói mái của Giai đoạn II không bao giờ có dấu vải trên bề mặt lõm, điều này cho thấy đã có một phương pháp sản xuất khác được các thợ thủ công áp dụng trong giai đoạn này. Các ngói mái hấp dẫn (đầu ngói) có trang trí mặt người ở Trà Kiệu thuộc vào Giai đoạn Trà Kiệu II này (Fig. 2) và có liên hệ với ngói không có dấu vải[13]. Đi sâu vào sự giống nhau giữa ngói có trang trí mặt người tại Trà Kiệu với ngói được phát hiện ở Nam Kinh, kinh đô của sáu Triều đại Trung Hoa[14], ngói tìm thấy ở Trà Kiệu có thể có niên đại từ thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên, có lẽ từ hai phần tư thế kỷ về sau.

    Figure 2 Đầu ngói có trang trí mặt người, được khai quật tại Hoàn Châu, Trà Kiệu.

    Hình: Yamagata Mariko.

    Các loại ngói, bao gồm các ngói mái có hình mặt người, cũng đã được phát hiện trong các hố khai quật trên các bờ thành phía đông của Trà Kiệu. Các quan sát ban đầu đã hướng chúng tôi đến việc nghĩ rằng các loại ngói này đã xuất hiện sau so với các loại được khai quật trước đó tại vài nơi trong nội thành, như Hoàn Châu và khu vực Đông bắc Bửu Châu. Sáu cuộc xác định niên đại bằng phương pháp quang phổ gia tốc tập trung (AMS= Accelerator Mass Spectrometry) đã mang lại kết quả như vậy, đối với các dãy thành ở phía đông thì có niên đại từ nửa sau thế kỷ thứ 3 cho đến nửa đầu thế kỷ thứ 5[15]. Hợp đề sơ bộ của nhóm khai quật cho rằng con trình đầu tiên của dãy thành đó hầu như được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ thứ 4.

    Bên cạnh Trà Kiệu, các loại ngói mái có trang trí mặt người đã được tìm thấy tại một vài nơi khác, như Lũng Khê (Luy Lâu) ở Bắc Ninh, Tam Thọ ở Thanh Hoá, Mỹ Sơn ở Quảng Nam, Cổ Luỹ ở Quảng Ngãi, Thành Cha và Bình Lâm ở Bình Định, Thành Hồ ở Phú Yên và Bang Kheng ở Gia Lai. Cũng vậy, một mảnh của loại ngói như thế cũng đã xuất hiện trong một bức tranh tạo tác được tìm thấy ở Po Nagar, Nha Trang[16]. Sự hiện diện của các loại ngoái lợp thì là quan trọng vì chúng cho thấy sự tồn tại những rui mè bằng gỗ nâng các ngói lợp khá nặng đó, chúng thông thường được sự dụng với những trung tâm hành chính, các cung điện hoàng gia, các đền đài tôn giáo và vâng vâng. Trong trường hợp của miền trung Việt Nam, các loại ngói lợp sớm nhất xuất hiện tại Trà Kiệu và Gò Cấm[17], cả hai đều toạ lạc trên một nhánh sông của dòng Sông Thu Bồn, vào nửa đầu thế kỷ thứ 2 sau CN[18]. Quan trọng hơn vẻ bên ngoài của ngói, thì các khu vực khảo cổ Thời Kỳ Đồ Sắt của Văn Hoá Sa Huỳnh trải dài miền trung Việt Nam, không có khu vực nào xây dựng với mái lợp ngói. Văn Hoá Sa Huỳnh đã suy tàn vào cuối thế kỷ thứ 1 sau CN, vì thế sự suy tàn của nó và sự xuất hiện những khu dân cư sớm nhất tại Trà Kiệu và Gò Cấm là khá gần nhau về mặt thời gian[19].

    Những gì cần phải được nhấn mạnh ở đây là các loại ngói đầu tiên tại miền trung Việt Nam rõ ràng là thuộc phong cách Á Đông có nguồn gốc từ Trung Quốc. Việc phân tích kết cấu và kỹ thuật sản xuất các loại ngói trên đã gợi lên rằng chúng được sản xuất tại địa phương. Trong khi các loại ngói lợp theo phong cách Á Đông được tìm thấy tại miền trung Việt Nam, thì các loại ngói lợp theo phong cách Ấn Độ dường như xuất hiện đầu tiên tại Văn Hoá Óc Eo, một nền văn hoá khảo cổ học một cách chung chung được cho là thuộc về vương quốc Phù Nam đầu tiên[20]. Ngói lợp được khai quật ở Cát Tiên, một khu phức hợp tôn giáo cổ toạ lạc giữa miền trung và miền nam Việt Nam, là rất duy nhất[21]. Chúng thuộc không thuộc về phong cách Á Đông và cũng không thuộc phong cách Ấn Độ.

    Ở miền trung Việt Nam, các loại ngói phong cách Á Đông xuất hiện sớm hơn tại Cổ Loa, một thành cổ có quy mô rộng lớn toạ lạc phía bắc cách Hà Nội khoảng 14 km. Các loại ngói mái ở Cổ Loa có một khuôn mẫu may cuộn thịnh hành trong các Triều đại Tần và Hán ở Trung Quốc. Các loại ngói ở Cổ Loa được tìm thấy trong các lớp đất cọc trụ của các dãy luỹ giữa[22], và cũng còn được tìm thấy trong lòng dãy luỹ nội thành gọi là Đền Thượng (Upper Temple), tại đây một lò luyện đồng cũng đã được phát hiện[23], như thế chúng ắt phải có liên hệ chặt chẽ với công trình Cổ Loa ban đầu. Nishimura chia sẻ gợi ý của ông về niên đại của Cổ Loa với các đồng nghiệp Việt Nam rằng công trình và tập quán của thành có thể có niên đại từ cuối thế kỷ thứ 3 Trước CN cho đến nửa đầu thế kỷ thứ 2 Trước CN. Nishimura cũng còn cho rằng kỹ thuật sản xuất các loại ngói được tìm thấy ở một nơi được gọi là Bãi Mèn, chỉ bên ngoài của luỹ ngoài[24]. So sánh giữa ngói Cổ Loa với ngói Nam Việt, ông kết luận rằng ngói Cổ Loa có thể có niên đại sớm hơn ngói được tìm thấy ở khu vực Cung điện Vương quốc Nam Việt ở Quảng Châu.

    Bận tâm về các loại ngói mái có trang trí hình mặt người, các nhà khảo cổ Trung Quốc tại Nam Kinh đã xếp các loại ngói này thuộc vào thời Tam Quốc (222-280 Sau CN). Dựa trên cơ sở so sánh giữa Trà Kiệu và Nam Kinh, kết luận của Yamagata cho rằng cư dân xưa của Trà Kiệu đã thừa kế mô típ (motiff) hình mặt người để trang trí cho các mái nhà của riêng họ, và rằng cũng cùng mô típ đó dần dần được đưa vào các thành khác của Lâm Ấp, bao gồm Cổ Luỹ và Thành Hồ. Việc sử dụng một mô típ đơn lẻ trên các loại ngói mái có trang trí được sản xuất dành cho cung điện, đền đài và các toà nhà quan trọng khác trong thành có thể phản ánh một kiểu liên minh giữa các trung tâm theo khu vực của Lâm Ấp, điều đó có thể được so sánh với tổ chức chính trị của các mandala[25].

    Các nhà khảo cổ đào xới tại Nam Kinh đã gợi ý rằng mô típ hình mặt người có thể có liên hệ đến niềm tin dân gian của người Trung Quốc về trừ lửa[26]. Nishimura thì bị thuyết phục nghiêng về ý kiến của các nhà khảo cổ Việt Nam cho rằng các mặt người trên các loại ngói mái ở Trà Kiệu thể hiện Makala/Kala, một sinh vật tưởng tượng trong thần thoại Hindu[27]. Nếu như giả thuyết rằng mô típ mặt người thời Ngô được áp dụng cho các loại ngói mái ở Trà Kiệu là đúng, thì sự giải thích của người Trung Quốc có vẻ hợp lý. Trong số rất nhiều mặt người khác nhau tại Trà Kiệu, tuy nhiên, một số có khuôn mặt biểu trưng cho người đến từ phía tây. Sự khác nhau về độ rộng của mặt người trên các loại ngói mái được tìm thấy ở miền trung Việt Nam hàm ý rằng chúng có thể tiếp tục được sản xuất sau khi chúng không còn được sản xuất tại Nam Kinh, và vì thế ý nghĩa các khuôn mặt cũng có thể đã được thay thế. Theo các nhà khảo cổ Nam Kinh, các loại ngói mái trang trí mặt người được thay thế bởi các loại ngói có mặt động vật vào đầu thế kỷ 4.

    Nishimura đưa ra ý kiến khác về sự phát triển của các loại ngói mái có trang trí theo mô típ hình mặt người. Ông đã quan sát thấy rằng các loại ngói này có trong các lớp đáy ở Lũng Khê, được cho rằng có niên đại vào ¼ thế kỷ thứ 2 Sau CN[28]. Như thế Lũng Khê là nơi mà các loại ngói có trang trí hình mặt người cổ nhất đã được tạo nên, và sự phát tán các loại ngói này có thể diễn ra từ Lũng Khê đến Nam Kinh, cũng như từ Lũng Khê đến Trà Kiệu. Cũng vậy, các loại ngói có hình hoa văn hoa sen cũng có thể xuất hiện tại Lũng Khê trước rồi đến các nơi khác tại Việt Nam và khu vực nam Trung Hoa. Nishimura đã gán sự sáng tạo này cho việc truyền bá Đạo Phật vào Quận Giao Chỉ của Đông Hán dưới thời trị vì của Sĩ Nhiếp, quận công có quyền lực của Giao Chỉ được cho là đã có ở tại Lũng Khê. Đạo Phật rồi được giới thiệu từ Giao Chỉ đến nhà Ngô, theo đó các loại ngói mái có hình mặt người và có hình hoa sen cũng được giới thiệu đến. Tuy nhiên, cũng khó để mà thông qua luận đề lớn này bởi vì các thông tin chi tiết địa tầng học của các kênh đào khai quật tại Lũng Khê đã chưa cho thấy điều đó, và vì thế bối cảnh khảo cổ học về các loại ngói đã được phát hiện vẫn chưa giải mã được. Việc nghiên cứu thêm về các loại ngói lợp của Lũng Khê là rất cần thiết để làm rõ ý nghĩa lịch sử của thành này.

    Nishimura cũng còn thảo luận thêm về tôn giáo được thực hành tại Trà Kiệu.Cứ cho rằng mô típ hình mặt có thể là đại diện cho Makala/Kala, và khi so sánh các bình có vòi được gọi là kendis, được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ, đã được khai quật tại Trà Kiệu với những các bình như thế tại Óc Eo ở phí nam Việt Nam, thì ông phỏng đoán rằng tôn giáo Ấn Độ đã được thực hành tại Trà Kiệu. Liên quan đến vấn đề được gọi là Ấn Độ hoá, thì các tư liệu khảo cổ thuộc giai đoạn Trà Kiệu I và II của thế kỷ thứ 2 và 3 Sau CN cho thấy sự ảnh hưởng của Ấn Độ ít có bằng chứng hơn Trung Quốc. Quá trình Ấn Độ hoá tại thủ đô của Lâm Ấp cần phải được nghiên cứu và tranh luận một cách có hệ thống, dựa trên một khung biên niên kỷ chắc chắn. Đây là một trong những lý do mà Yamagata và các cộng sự của bà đã quyết định tiến hành các cuộc khai quật tại thành phía đông của Trà Kiệu. Như đã có đề cập ở trên, công trình các thành luỹ này có thể có niên đại từ thế kỷ thứ 4 Sau CN, được xem một cách chung chung về thời kỳ đầu của quá trình Ấn Độ hoá.

    Tại Việt Nam, các thành luỹ bao bọc các thành cổ đã được khai quật ở vài nơi, bao gồm Cổ Loa, Lũng Khê, Trà Kiệu và Thành Hồ. Các quan sát từng phần, các niên đại AMS cùng với địa tầng học, đã loé lên ánh sáng về kết cấu và niên đại công trình của chúng, cho dù các thông tin được xuất bản hiện có còn khan hiếm.

    So sánh các thành luỹ của Trà Kiệu với thành luỹ phía bắc của Lũng Khê, thì địa tầng học của chúng được quan sát và mô tả gần với Nishimura[29], có vài sự tương đồng về kết cấu có thể được chỉ ra. Khai quật thành nam và thành đông tại Trà Kiệu đã phát lộ hai bức tường gạch được đắp xen kẽ bằng những lớp đất sắt có vai trò cấu trúc làm lõi chính của dãy thành (Hình 3). Lõi đó rộng khoảng 3m, được gia cố bởi một cấu trúc bên ngoài có những lớp đất xét một phần bao gồm những mảnh gạch vỡ lớn. Toàn bộ thành rộng khoảng 33m đo tại chân thành.

    Nishimura lưu ý rằng có những bức tường gạch, có lẽ đó là một phần của một cấu trúc lõi, được xác định tại Lũng Khê. Các cấu trúc này có thể có đặc tính tương tự như ở Trà Kiệu. Theo Nishimura, công trình thành luỹ ở Lũng Khê có niên đại từ giữa thế kỷ thứ 2 Sau CN. Nếu quả thật như vậy thì các thành luỹ ở Lũng Khê đã được xây dựng sớm hơn hàng trăm năm so với Trà Kiệu. Phương pháp xây dựng thành luỹ ở Trà Kiệu có thể được hình thành bởi ảnh hưởng từ phương bắc.

    Figure 3 Khai quật thành đông, Trà Kiệu, góc nhìn từ hướng nam.

    Ảnh: Nguyễn Hoàng Bách Linh.

    Lưu ý Kết luận

    Nishimura đã chỉ ra một số đặc điểm đặc trưng của các thành trì Champa. Ông mô tả vị trí địa lý từng địa điểm của các khu vực thành Champa khi khảo sát từng thành và so sánh nó với các vị trí khác về cấu trúc không gian và cách xây dựng. Dựa vào các nghiên cứu so sánh của mình, Nishimura gợi ý rằng những thành trì này thường nằm gần sông. Trà Kiệu, Thành Lồi, Hoá Châu, Chà Bàn, và Thành Hồ đều có diện tích mở rộng ở các góc hoặc bên ngoài tường thành. Do đó, Nishimura lập luận rằng tất cả họ đều có chức năng phòng thủ. Đặc biệt, thành Chà Bàn có các khu vực mở rộng lớn hơn gần các thành lũy và có thể thiên về bảo vệ hơn các thành trì khác. Về niên đại của các thành lũy Champa, Nishimura giải thích rằng trung tâm chính trị của vùng Quảng Nam - Thu Bồn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 10 đã được đặt tại Chiêm Sơn, không có bức tường phòng thủ. Thành Trà Kiệu, Hồ, và Cổ Lũy có thể hoạt động như các đồn lũy trong một thời kỳ đầu của lịch sử Champa. Tuy nhiên, từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 8, dường như không có thành trì nào trong lưu vực sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam, nơi mà các văn bản đã đề cập, là một trong những trung tâm chính trị của đế chế Mandala nằm trong thời kỳ này. Những tiến bộ khảo cổ học gần đây ở khu vực này cho thấy địa điểm Chiêm Sơn ở huyện Duy Xuyên hoạt động như một trung tâm chính trị trong thời kỳ này. Tại đây, một thành trì mà không có đồn lũy phòng thủ đã tồn tại. Đây là một thực tế đáng chú ý để cân nhắc khi suy nghĩ về cơ cấu quyền lực của đế chế Mandala. Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 15, chỉ có hai thành trì trong toàn Vương quốc Champa: Chà Bàn và An Thành. Tiến sĩ Nishimura lập luận rằng Vương quốc Champa cuối cùng đã trở thành một “xã hội hội nhập” trong giai đoạn này. Điều này có thể được xác nhận theo quy mô của Thành Chà Bàn và sự biến mất của các khu vực mở rộng bên ngoài thành lũy của nó.

    Ngoài nghiên cứu thực địa tại Hoá Châu ở Huế, Nishimura đã thực hiện khảo sát tại Thành Lồi ở Huế, Trà Kiệu ở Quảng Nam, Thanh Hồ ở Phú Yên và An Thành (Thành Cha) và Chà Bàn (Thành Hoàng Đế) ở Bình Định[30]. Dường như ông đặc biệt quan tâm đến sơ đồ không gian của những thành trì đó. Các nghiên cứu so sánh và những hiểu biết sâu sắc của ông về các thành trì và pháo đài của miền trung Việt Nam[31] hy vọng sẽ gây hứng khởi cho các nhà khảo cổ đương đại để tiếp tục công trình này.

    ___

    [1] Trần Quốc Vượng, “Miền Trung Việt Nam và văn hóa Champa” (Central Vietnam and Champa Culture), Nghiên cứu Đông Nam Á (Southeast Asian Studies) 4 (1995): 8-24.

    [2] Nishimura reported that the length of the southern rampart measured 1,420 meters and the north-south width of the citadel about 510 meters. Nishimura Masanari, ed., Basic Study on the Citadel and Fort Sites of Dai Viet and Champa: The Second Southeast Asian Archaeology Data Monograph [Japanese] (Yamaguchi: Foundation to Safeguard the Underground Cultural Heritage in Southeast Asia, 2013), 102.

    [3] Jean-Yves Claeys, “Fouilles de Tra-Kieu,” Bulletin de l’Ecole française d’Extrême Orient 27 (1928): 468-482.

    [4] Ibid.; Jean-Yves Claeys, “Fouilles de Tra-Kieu,” Bulletin de l’Ecole française d’Extrême Orient 29 (1929): 578-596; idem, “Simhapura. La grande capitale chame (site de Tra Kieu, Quang Nam, Annam),” Revue des Arts Asiatiques 7 (1931): 93-104.

    [5] Ian C. Glover, “The Excavations of J.-Y. Claeys at Tra Kieu, Central Vietnam, 1927-1928: From the unpublished archives of the EFEO, Paris and records in the possession of the Claeys family,” Journal of the Siam Society 85, parts 1-2 (1997): 177, 183.

    [6] Nguyễn Chiề u et al., “Khai quật di chỉ Chăm cổ ở Trà Kiệu (Quảng Nam—Đà Nẵng)” (Excavation of the Ancient Cham Site at Tra Kieu, Quang Nam, Da Nang Province), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1990 (New Discoveries of Archaeology in 1990) (Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1991), 237-239.

    [7] Yamagata Mariko, ed., The Ancient Citadel of Tra Kieu in Central Vietnam: The Site and the Pottery, Kanazawa Cultural Resource Studies 14 (Kanazawa: Center for Cultural Resource Studies, Kanazawa University, 2014)

    [8] Yamagata Mariko, “The Early History of Lin-i viewed from Archeology,” Acta Asiatica 92 (2007): 1-30; idem, “Tra Kieu during the Second and Third Centuries CE: The Formation of Linyi from an Archaeological Perspective,” in The Cham of Vietnam: History, Society, and Art, ed. Tran Ky Phuong and Bruce M. Lockhart (Singapore: National University of Singapore Press, 2011), 81-101.

    [9] Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), 106-107

    [10] Fukami Sumio, “ ‘Indianization’ and the Establishment of Monsoon Voyaging in Maritime Southeast Asia: An Examination of Faxian’s Three Homeward Voyages,” Intercultural Studies 49 (2014): 33-34.

    [11] Yamagata, “The Early History of Lin-i.”

    [12] Yamagata, The Ancient Citadel of Tra Kieu in Central Vietnam, 14

    [13] Yamagata Mariko and Nguyen Kim Dung, “Ancient Roof Tiles Found in Central Vietnam,” in 50 Years of Archaeology in Southeast Asia: Essays in Honour of Ian Glover, ed. B. Bellina, E. A. Bacus, T. O. Pryce, and J. W. Christie (Bangkok: River Books, 2010), 194-205.

    [14] He Yunao, “Tile Ends with Human and Animal Faces of the Six Dynasties unearthed in Nanjing” [Chinese], Wenwu 2003, no. 7 (2003): 37-44; Eaves Tiles of the Six Dynasties and Capital Cities of the Six Dynasties [Chinese] (Beijing: Cultural Relics Press, 2005); Culture of the Six Dynasties: Archaeology and Discoveries [Chinese] (Beijing: SDX Joint Publishing Company, 2013)

    [15] Bui Chi Hoang et al., “Excavation at the Eastern Rampart of Tra Kieu in Central Vietnam: A Preliminary View on Its Structure and Date,” paper presented at the 20th Indo-Pacific Prehistory Association Congress, Siem Reap, Cambodia, January 12-18, 2014.

    [16] Henri Parmentier, Inventaire decriptif des monuments cams de l’Annam, vol. 2 (Paris: Ernest Leroux, 1918).

    [17] Nguyễn Kim Dung, “Di chỉ Gò Cấm và con đường tiếp biến văn hóa sau Sa Huỳnh khu vực Trà Kiệu” (Go Cam Site and Acculturation after Sa Huynh Culture in the Tra Kieu Region), Khảo cổ học (Archaeology) 2005, no. 6 (2005): 17-50; Nguyen Kim Dung et al., “Excavations at Tra Kieu and Go Cam, Quang Nam Province, Central Viet Nam,” in Uncovering Southeast Asia’s Past, ed. E. Bacus, I. C. Glover, and V. Piggot (Singapore: National University of Singapore Press, 2006), 216-231.

    [18] Yamagata and Nguyen Kim Dung, “Ancient Roof Tiles Found in Central Vietnam”; Yamagata, “The Early History of Lin-i”; Yamagata, “Tra Kieu during the Second and Third Centuries CE.”

    [19] Yamagata, “The Early History of Lin-i.”

    [20] Hirano Yuko, “Roof Tiles found in the Mekong Delta: With special reference to tiles of the Go Tu Tram site in Oc Eo Site Complex” [Japanese], Research Report of the Japan Society for Southeast Asian Archaeology 6 (2008): 59-66.

    [21] Lê Đình Phụng, Di tích Cát Tiên Lâm Đồng - Lịch sử và văn hoá (Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2007); Bùi Chí Hoàng, “Diện Mạo khu di tích Cát Tiên qua tài liệu khảo cổ học” (The Physiognomy of the Complex of Cat Tien Sites through Archaeological Data), Khảo cổ học (Archaeology) 2008, no. 6 (2008): 47-57; Ota Chikako, Bui Chi Hoang and Yamagata Mariko, “Features and Artifacts of the Cat Tien site, Lam Dong province of Southeastern part of Vietnam” [Japanese], Buddhism Art 319 (2011): 85-118.

    [22] Nam C. Kim et al., “Co Loa: An Investigation of Vietnam’s Ancient Capital,” Antiquity 84 (2010): 1011-1027.

    [23] Lại Văn Tới, “Khảo Cổ Học Cổ Loa vấn đề và thảo luận” (Archaeology of Co Loa: Data and Discussion), Khảo cổ học (Archaeology) 2008, no. 4 (2008): 73-82; Lại Văn Tới et al., “Kết qủa khai quật di tích đúc mũi tên đồng tại Đền Thượng, Cổ Loa (Hà Nội), năm 2007” (Excavation Results from a Bronze Arrow Head Casting Site at Den Thuong in Co Loa, Ha Noi), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2007 (New Discoveries of Archaeology in 2007) (Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2008), 105-109.

    [24] Nishimura Masanari and Trần Thị Kim Quý, “Những mảnh ngói của di chỉ Bãi Mèn (Khai quật 2003): phân loại và kỹ thuật chế tạo” (Roof tiles of the Bai Man Site, excavated in 2003: Classification and Manufacturing Technique), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2005 (New Discoveries of Archaeology in 2005) (Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2006), 192-193.

    [25] Charles Higham, The Archaeology of Mainland Southeast Asia (Cambridge: Cambridge University Press, 1989), 302-304; Yamagata Mariko and Momoki Shiro, “Linyi and Huanwang” [Japanese], in Iwanami Lectures on Southeast Asian History 1: The World of Protohistoric Southeast Asia, ed. Yamamoto Tatsuro (Tokyo: Iwanami Shoten Publishers, 2001), 250-251.

    [26] Wang Zhigao and Ma Tao, “Discussion on Eaves Tiles with Clouds and Those with Human Faces unearthed at Nanjing Daxinggong” [Chinese], Wenwu 2007, no. 1 (2007): 92.

    [27] Nishimura Masanari, Archaeology and Ancient History of Vietnam (Betonamu no KokoKodaigaku) (Tokyo: Doseisha, 2011), 170.

    [28] Ibid., 169.

    [29] Ibid., 158-160.

    [30] Nishimura, Basic Study on the Citadel and Fort Sites of Dai Viet and Champa.

    [31] Ibid., 115-116.

    Nguồn: trakieu.net

    Mẹ Trà Kiệu Quê Tôi

            Tôi ấp ủ trong lòng bấy lâu, nay muốn viết đôi giòng về lịch sử và ý nghĩa tượng Đức Mẹ Trà Kiệu nhân kỷ niệm “Sinh Nhật” lần thứ 20 năm Tượng Đức Mẹ Trà Kiệu (1996 - 2016). Tôi không dám “Múa rìu qua mắt thợ” chỉ mạo muội được chia sẻ tâm tình của tôi với con cái Mẹ Trà Kiệu xa gần, để tất cả chúng ta thêm lòng yêu mến, tin tưởng, phó thác nơi Mẹ nhiều hơn.

             Đại Hội Hành Hương Đức Mẹ Trà Kiệu năm 1995 kỷ niệm 110 năm Đức Mẹ hiện ra (1885-1995). Để chuẩn bị trang trí cho ngày lễ trọng đại này, Cha Cố Phao lô Mai Văn Tôn (U5/11/2005) nhờ Cha Giuse Châu Ngọc Tri  Giáo xứ Hà Lam (nay là Giám mục) phác họa một Panô về ý nghĩa lễ kỷ niệm này, Cha vẽ hình Đức Mẹ bán thân, tóc Mẹ như thể “bị” gió thổi xuôi về bên vai phải, hai màu chủ đạo Đỏ & Trắng với giòng chữ: “Kỷ niệm 110 năm Đức Mẹ Trà Kiệu hiện ra 1885- 1995” trên mẫu giấy nhỏ. Và được anh Gioan Baotixita Phan Ty (U2015) vẽ phóng lớn trên tấm ván 6x4m đặt trước tiền đường Nhà Thờ chính. Dựa theo hình vẽ của Cha Tri, anh Ty đã sáng kiến cùng với anh em Ban Trang Trí, trang trí Lễ Đài chính tại chân đồi Nhà Thờ Núi với 2 tháp Nhà Thờ Chính, ở giữa cây Thánh Giá gắn liền với con số 110 tất cả đều màu Đỏ và Trắng.

           Mọi sự chuẩn bị cho Đại Hội Mẹ được diễn tiến tốt đẹp. Chiều 30/5/1995, con cái gần xa tề tựu đông đủ cùng cung nghinh Mẹ từ Nhà Thờ chính về Nhà Thờ Núi. Bàn Kiệu Mẹ vừa đến khuôn viên Nhà Thờ Núi, trời dịu mát và vài phút sau mây đen kéo đến vần vũ trên bầu trời Trà Kiệu, gió bắt đầu thổi mỗi lúc càng mạnh hơn, cờ xí tung bay phần phật. cây Thánh Giá và con số 110 trên lễ Đài gió phất lên quật xuống liên hồi, tưởng chừng sẽ bị gãy, mọi người ai nấy đầy âu lo nhủ thầm: “Mẹ ơi! Sao mà hiện tượng thiên nhiên giống cách đây 110 năm quá hả Mẹ”. Cách đây 110 năm do chính con người gây ra, còn nay nói lên quyền năng Thiên Chúa thể hiện qua thiên nhiên, con người cảm thấy mình nhỏ bé, sợ hãi trước uy quyền của Thiên Chúa. Và 15 phút sau, gió ngừng thổi trời quang mây sáng, dâng Hoa tôn vinh Mẹ tiếp tục; Thánh Lễ Đức Mẹ đi thăm bà thánh Isave và mừng kỷ niệm 110 năm được diễn ra trang nghiêm sốt sắng. Tạ ơn Chúa, Tri ân Mẹ, mọi người tạm biệt Mẹ ra về bình an vui vẻ, hẹn tái ngộ đại hội tôn vinh Mẹ năm sau.

           Đại hội mừng kỷ niệm 110 năm Mẹ hiện ra, khép lại với biến cố lạ lùng đầy quyền năng của Thiên Chúa đã làm trong ngày tôn vinh Mẹ, đã mở ra nỗi lòng thao thức nơi con tim của Cha Cố Phaolô “Phải có một tượng Đức Mẹ Trà Kiệu, gắn liền với bối cảnh lịch sử năm xưa”. Ngài đã cầu nguyện, trao đổi với những anh em thân tín, góp ý cho Cha nên làm tượng Mẹ như thế nào? Việc đầu tiên cha mời một anh chuyên đắp tượng ở Đà Nẵng, làm cho Cha tượng mẫu cao 60cm. Theo ý của Cha: tượng Mẹ Trà Kiệu đầu trần, tóc xõa về mép bên phải, tay trái bồng Chúa Giêsu Hài Đồng, tay mặt cầm Phủ Việt, áo Mẹ xếp về đằng sau, dáng đứng của Mẹ trong tư thế của người lái thuyền, chân trái đưa tới trước, chân phải đứng sau đầy mạnh mẽ và vững chắc, đế chân Mẹ là phù điêu hình giáo dân Trà Kiệu, Cha cho sơn tượng Mẹ màu nhụ vàng, đặt tượng Mẹ trong nhà xứ, để mọi người góp ý, sau này làm tượng Mẹ chính thức đẹp hơn.

         Cha Cố Phao lô tiến hành làm tượng Mẹ Trà Kiệu, Cha gởi mẫu tượng này vô Sài Gòn làm tượng Mẹ cao 1m2, để kịp ra mắt cung nghinh Mẹ vào dịp đại hội 31/5/1996. Việc làm tượng Mẹ Trà Kiệu diễn tiến tốt đẹp, đầy ý nghĩa như nguyện ước của Cha Cố Phao lô. Tối ngày 30/5/1996 tượng Mẹ Trà Kiệu được đưa về, Cha Cố Phao lô cùng anh em trong Ban trang trí vui mừng rước Mẹ vào nhà thờ Hầm, đặt Mẹ lên bàn kiệu đã làm chuẩn bị trước, niềm vui trào dâng trên từng người có mặt tối hôm đó, nhất là Cha Cố Phaolô niềm mơ ước của Cha nay thành sự thật.

           Khi tôi chiêm ngắm tượng Mẹ Trà Kiệu, tự nơi tượng Mẹ ngập tràn tình Mẫu Tử đối với đoàn con ở xứ Trà. Tượng Mẹ Trà Kiệu không giống như bao tượng Đức Mẹ khác như: Lộ Đức, Phatima, La Vang v.v… Tượng Me Trà Kiệu đầu trần, chân không mang giày dép, từ nơi Thiên Cung Mẹ nghe tiếng kêu xin cầu cứu của đoàn con tín hữu Trà Kiệu đang chìm trong cơn bách hại, Mẹ vội vàng đến, ra tay cứu giúp “quên” khăn trùm đầu “quên” cả mang giày dép, tóc Mẹ “bị” gió thổi xuôi về mép vai phải, tay trái bồng Chúa Hài Đồng ngiêng mình vào Mẹ với ánh mắt đầy trìu mến pha chút sợ hãi, nhìn lên Mẹ như muốn nói: “Mẹ ơi! con sợ quá” Ánh mắt Mẹ nói lên: “Con chớ lo, này Mẹ con đây!”, tay phải Mẹ cầm chắc Phủ Việt biểu lộ uy quyền và quyền năng mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ, khi Ngài tuyên án với con rắn xưa là Ma quỷ đã đưa nhân loại gánh lấy hậu quả của tội Nguyên Tổ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa giòng giống mi và giòng giống người ấy, giòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15) Và quyền năng đó được rõ nét hơn, khi Sứ thần Gabriel nói với Mẹ trong ngày Truyền Tin: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao, sẽ tỏa bóng trên bà” (Lc 1,35), hoặc trong kinh cầu Đức Bà có câu: “Đức Nữ có tài có phép”. Tất cả nói lên tình thương và quyền năng Thiên Chúa ưu ái tặng ban cho Mẹ, vì Mẹ là “Đấng Đầy Ân Sủng” có “Thiên Chúa ở cùng”.

         Mẹ hiện đến cứu giúp con cái Mẹ, với vóc dáng người “mẹ quê” giản dị, nhưng đầy Tình Mẫu Tử, đầy quyền năng, trong tà áo trắng mà những người lính Văn Thân đã gọi: “MỘT BÀ ÁO TRẮNG ĐỨNG TRÊN NÓC NHÀ THỜ”.Mẹ che chở đoàn con thoát khỏi phong ba bão táp thuở nào năm xưa cũng như ngày nay và còn mãi mãi.

           Tượng, ảnh Mẹ Trà Kiệu có mặt khắp mọi nơi. Nơi nào có con cái Mẹ Trà Kiệu, Mẹ hiện diện ở đấy. Đặc biệt trước tiền Đường Nhà Thờ Chính hay trên Đồi Bửu Châu, Mẹ đứng đó với ánh mắt hiền mẫu dõi theo bước chân từng đứa con của Mẹ, khắp mọi miền Tổ Quốc, cả những nơi hải ngoại xa xôi, đang sống giữa biển đời đầy phong ba bão táp, đầy thử thách gian nguy, để nâng đỡ, phù hộ chở che, cùng với con chung nhịp mái chèo lái “con thuyền đời” về bến Thiên Đường bình an. Và đoàn con dù sống nơi đâu, vẫn luôn hướng về Mẹ.

    Bởi vì: “Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ

          Trong con hồn lặng lẽ an vui”

                                            (T130,2)

                         Và: “Còn tin có Mẹ là còn

              Một trời hy vọng cứu con thấp hèn”

                                                           BVT

        Nhìn lại 20 năm “Sinh Nhật” tượng Mẹ Trà Kiệu và kỷ niệm 131 năm Mẹ hiện ra tại Trà Kiệu 1885 10,11-9 2016, tôi xin gói ghém tất cả tâm tình biết ơn của người con đất mẹ xứ Trà, đối với Cha Cố PhaoLô, người đã có công làm nên lịch sử tượng Mẹ Trà Kiệu, Cha đã để lại một gia sản vô cùng cao quí lưu truyền mãi cho hậu thế.

          Nhờ lời cầu bầu của Mẹ Trà Kiệu mến yêu, xin Chúa đón nhận Linh hồn Cha Cố Phao lô vào hưởng hạnh phúc sự sống đời đời trong vòng tay Từ Mẫu của Mẹ và xin Mẹ Trà Kiệu - Mẹ phù hộ các giáo hữu chở che, nâng đỡ, đồng hành cùng con cái Mẹ khắp nơi trên mỗi bước đường thăng trầm.

    Xưa 1885            Nay 2016

    Tay                      Tấm

    Mẹ                       Lòng

    Từ                        Con

     Ái                        Thảo

    Hộ                        Nỡ

    Phù                       Nào

    Đoàn                    Lãng

    Con                      Quên

                         Lạy Đức Mẹ Trà Kiệu -  Cầu cho chúng con.

                  Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu - Cầu cho chúng con.

     Con Mẹ:  Ambrôsiô Nguyễn Văn Nam

    https://trakieu.net/me-tra-kieu-que-toi/

    Mục lục: 1 2 3

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập39,919,755

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/