Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập33,763,539

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tác giả

​Ernest Hemingway

(21-7- 1899/ 02-7 1961)

Giải Pulitzer năm 1953 với tiểu thuyết Ông già và biển cả, và Giải Nobel Văn học năm 1954.

Sinh ngày 21/7/1899 tại thị trấn Oak Park gần Chicago, Hoa Kỳ, trong một gia đình trí thức khả kính. Tự vẫn ngày 2/7/1961 bằng phát súng tự bắn từ khẩu súng yêu thích nhất của mình ở Ketchum, bang Idaho. Họ ngoại là những người sùng đạo, thuộc giới tinh hoa địa phương. Mẹ ông yêu âm nhạc nhưng biết an phận làm vợ. Cha ông tốt nghiệp trường y và hành nghề bác sĩ, đồng thời cũng muốn làm công việc từ thiện.

Nhà văn tương lai là một trong số 6 người con. Chị cả hơn ông một tuổi, còn người em trai út kém ông tới 16 tuổi. Thời thơ ấu, Hemingway sống trong nhung lụa. Khi cậu bé Ernest lên 5, ông ngoại qua đời để lại cho con cháu một gia tài lớn. Nhờ thế, gia đình Hemingway đã xây được một ngôi nhà khang trang 15 phòng, có cả một salon âm nhạc.

Tháng 6/1917, nhà văn tương lai tốt nghiệp trung học ở một ngôi trường có chất lượng giảng dạy rất tốt. Tương lai học vấn rộng mở nhưng vì sao Ernest lại chỉ thích đi lính ra chiến trường (lúc đó ở châu Âu đang là chiến tranh thế giới lần thứ nhất), có lẽ máu phiêu lưu và mạo hiểm đã ngấm vào huyết quản của chàng trai đã quá đủ độ rồi. Thế nhưng, do người cha cương quyết ngăn cản nên Ernest đành phải bấm bụng ở nhà.

Đúng lúc đó, ông chú ruột, một nhà công nghiệp khai thác gỗ cỡ bự, biết cháu mình có khiếu văn chương, muốn "vẽ đường cho hươu chạy" nên gọi tới Kansas City làm việc ở tờ báo địa phương. Công việc của một phóng viên ở tờ "Kansas City Star" làm Hemingway thích thú nhưng chàng trai trẻ vẫn không nguôi ý định lao mình vào đạn lửa.

Tới cuối tháng 4/1918, Hemingway cùng một nhóm thanh niên lên tàu Chicago rời cảng New York sang châu Âu, cập bến Bordeau, Pháp. Từ đó, họ lên Paris và Hemingway với tư cách tài xế xe cấp cứu của Tổ chức Chữ thập đỏ đã đi sang Italia công tác.

Tại Milano, nhà văn tương lai đã được trải qua trận thử lửa đầu tiên. Một vụ nổ đã xảy ra tại nhà máy quân sự và Hemingway phải lái xe chở nhiều người thương vong. Từ lúc đó, những cảnh tượng máu me chết chóc đã trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống và sau này, trong các tác phẩm văn học của Hemingway.

Cũng tại Milano, Hemingway đã gặp tình yêu lớn lao và đau đớn đầu tiên của cuộc đời mình. Mỹ nhân Agnes von Kurowsky rất quyến luyến chàng trai kém mình vài tuổi, rất dũng cảm, đồng bóng, có khiếu hài hước, không bao giờ tự cho mình là anh hùng và luôn ngượng ngùng vì "tiểu sử quân nhân" của mình hãy còn quá ít dòng.

Thích thì thích nhưng Agnes ngay từ lúc đó đã đủ tỉnh táo để không nhất nhất làm theo các ham muốn của Hemingway và từ chối trở thành vợ anh. Tình chưa có nên tình không thể mất và mãi tới sau này, đôi khi Hemingway vẫn tưởng nhớ lại người yêu đầu đời.

Không mãn nguyện yêu đương, Hemingway càng lao vào cuộc chiến tranh đầy nguy hiểm. Ngày 8/7/1918, anh đã bị thương vì 28 mảnh đạn găm vào phần chân thấp hơn đầu gối. Trên mình anh cũng bị găm tới gần hai trăm mảnh đạn. Chỉ thiếu chút nữa thì nhà văn tương lai bị cưa chân. Vốn nhạy cảm, thoạt đầu Hemingway cũng rất bứt rứt bởi triển vọng đen tối nhưng anh đã tìm được trong mình đủ nghị lực để thoát hiểm và sau gần ba tháng, đã lành bệnh và ra viện.

Những gì đã trải nghiệm ở chiến trường khi còn trẻ đã lưu lại trong tâm trí Hemingway những dấu ấn không thể mờ phai. Số phận đã sớm đẩy chàng trai trẻ tới quá gần cái chết và vì thế, sau này, Hemingway đã viết rất nhiều về cái chết. Quan niệm về cái chết ở Hemingway rất phức tạp. Với tư cách nhà văn, Hemingway rất để ý tới việc con người hành xử khi cái chết cận kề và cách họ tiếp nhận cái chết không thể nào cưỡng nổi…

Tháng 1/1919, Hemingway trở về nhà. Rất nhiều tờ báo ở Mỹ đã viết về Hemingway như một người Mỹ đầu tiên bị thương trên mặt trận Italia… Và một thời gian sau lại gặp một mối tình lớn: đó là với Elizabeth Hadley Richadson, một nữ nghệ sĩ piano mới vào nghề, nhưng lớn hơn nhà văn tương lai tới 7 tuổi (thời trẻ, Hemingway rất hay phải lòng những người phụ nữ nhiều tuổi hơn mình!). Hadley lúc đó mới mai táng mẹ mình và đang ở trong một tâm trạng cực kỳ cô đơn. Cao ráo, cân đối, dễ thương, Hadley lại rất có khiếu âm nhạc, đọc nhiều, tính tình lại điềm đạm. Còn có ý trung nhân nào hơn thế nữa? Và tới tháng 9/1921, hai người làm lễ cưới.

Có gia đình riêng rồi nhưng Hemingway vẫn không chịu ngồi yên một chỗ. Cặp vợ chồng trẻ rời nước Mỹ sang châu Âu vì Hemingway nhận lời làm phóng viên thường trú ở đó cho tờ Toronto Star. Cuối năm 1922, khi đang công tác ở Paris, Hemingway nhận nhiệm vụ của tòa soạn khẩn cấp tới Konstinopol để viết tin bài về cuộc xung đột Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ. Đó là cuộc chiến tranh thứ hai trong đời Hemingway. Và ông đã thoát về từ đấy một cách yên lành…

Theo đánh giá của những người gần gụi, Hemingway không phải là một người dễ chịu trong giao tiếp. Quan hệ giữa ông với xung quanh thường khá phức tạp và rắc rối. Ông có bản năng tự tôn rất lớn, lúc nào cũng muốn đi đầu trong mọi việc, không chỉ trên trang văn mà trong các việc đi săn, câu cá, trên cả võ đài quyền Anh… Ông rất say sưa đọc sách và thu thập một thư viện có tới hơn 7.400 cuốn… Đặc biệt, Hemingway dường như có thiên hướng muốn thuần phục tất cả những người đàn bà đẹp và tai quái mà ông đã gặp trong đời. Ông không chịu được cảnh sống êm đềm đến tẻ nhạt.

Năm 1926, mặc dù vẫn rất trân trọng Hadley, nhưng nhà văn lại bước vào một cuộc phiêu lưu tình cảm mới. Đối tượng mới của ông là Pauline Pfaiffer, một phụ nữ Mỹ, trẻ trung, giàu có, con gái một nhà công nghiệp, chủ tịch hãng bia ở Arkasas. Pauline cùng một người em gái sống ở Paris: cô làm biên tập viên tạp chí thời trang ở đó. Hai chị em Pfaiffer hay tới nhà Hemingway chơi và trở nên nổi bật trước một Hadley khiêm nhường luôn bận bịu những mối lo tề gia.

Là một trang nam nhi đích thực, Hemingway không thể cầm lòng trước lực quyến rũ của một mỹ nhân như Pauline. Rốt cuộc là năm 1927, nhà văn đã li dị Hadley nhưng cố gắng trợ cấp cho người vợ cũ và cậu con trai (Jack, sinh năm 1923) về vật chất một cách tối đa: ông để lại cho hai người toàn bộ thu nhập nhờ cuốn tiểu thuyết "Mặt trời mọc". Pauline đã trở thành người vợ thứ hai của Hemingway… Năm 1928, cậu con trai chung của họ là Patrick cất tiếng khóc chào đời…

Đầu năm 1930, Hemingway trở về Mỹ và định cư tại Key West, bang Florida. Tháng 12/1931, sau nhiều lần thay đổi các căn hộ khác nhau, gia đình Hemingway (lúc này đã có thêm cậu con trai Gregory, sinh trước đó một tháng) đã mua được một biệt thự khang trang ở Key West. Pauline đã cố gắng để tạo nên một tổ ấm cho ông chồng đào hoa và danh tiếng. Bà đã bỏ ra nhiều tiền của và tâm huyết để trình bày nội thất thật đỉnh cao và không nhàm chán. Năm 1938, chính Pauline đã có sáng kiến xây dựng một bể bơi chứa nước biển ở biệt thự này.

Tuy nhiên, trái tim Hemingway lại luôn khát thèm sự cố. Tháng 9/1931, trong chuyến đi tới New York, Hemingway đã làm quen với cặp vợ chồng Jeane và Grant Mayson. Đó là những người trẻ trung giàu có. Khi ông gặp họ, Jeane mới 22 tuổi và đang rực rỡ với một nhan sắc mang đầy nét cổ điển. Tổng thống Mỹ lúc đó là ông Calvin Coolidge đã gọi nàng là người phụ nữ hấp dẫn nhất trong số mỹ nhân từng đặt chân thăm Nhà Trắng.

Jeane, cũng như không ít người phụ nữ khác, đã ngay lập tức mê Hemingway. Pauline không khỏi lo lắng theo dõi sự phát triển của mối tình oái oăm đó. Tuy nhiên, người làm chị phải li dị với Hemingway năm 1940 không phải là Jeane mà là Martha Gellhorn. Tuy nhiên, người vợ thứ ba này cũng chỉ sống được với nhà văn trong 5 năm, từ năm 1940 tới năm 1945.

Người vợ cuối cùng của Hemingway mà ông dù quen biết đã lâu nhưng chỉ tới năm 1945, sau khi ông chuyển sang sinh sống ở Cuba mới chính thức đăng ký kết hôn là Mery Wels. Người đàn bà này đã ở lại với nhà văn cho tới phút cuối cùng của đời ông, khi ông tự vẫn ngày 2/7/1961 bằng phát súng tự bắn từ khẩu súng yêu thích nhất của mình ở Ketchum, bang Idaho (ông rời Cuba về đây từ năm 1960).

Đó là một ngày chủ nhật bình thường như mọi ngày chủ nhật khác. Hôm đó, Hemingway dậy sớm, vào phòng làm việc khóa kín cửa và tự vẫn… Ông tìm thấy trong cái chết tình nguyện đó sự bất tử đáng khao khát nhất của kiếp nhân sinh.

Tới ngày 6/7/1961, xác ông mới được mai táng vào giữa trưa tại Cánh đồng Mặt trời, nơi ông thích đi săn trên sườn đồi xanh biếc, hướng tới những dãy núi xa xăm…

Không chỉ chiến tranh mà từng người phụ nữ đã bước vào cuộc đời của Hemingway đều gợi lên những cảm hứng sáng tạo cho ông viết những tác phẩm hay nhất của mình. Agnes von Kurowsky đã giúp ông có niềm say mê sáng tạo để viết tiểu thuyết "Vĩnh biệt vũ khí". Martha Gellhorn, người vợ thứ ba, đã là cảm hứng để ông viết nên tiểu thuyết "Chuông nguyện hồn ai". Cô tình nhân trẻ trung người Italia Andriana Ivancich đã được ông đề tặng truyện vừa "Ông già và biển cả" về sau mang lại cho ông giải thưởng Nobel văn học năm 1953.

*

Ernest Miller Hemingway sinh ngày 21 tháng 7, 1899 tại Oak Park, Illinois, một vùng ngoại ô của Chicago. Hemingway là người con trai đầu tiên và là người con thứ hai mà ông Clarence Edmonds "Doc Ed" Hemingway - một bác sĩ làng và bà Grace Hall đã sinh ra. Cha của Hemingway rất chú ý tới sự ra đời của Ernest và đã thổi tù và ngay tại hành lang trước nhà để thông báo cho những người hàng xóm rằng vợ ông vừa sinh ra một cậu con trai. Gia đình Hemingway sống trong một ngôi nhà sáu phòng ngủ theo lối Victoria được xây dựng bởi người ông ngoại góa vợ của Ernest, Ernest Miller Hall, một người Anh nhập cư,từng là quân nhân trong cuộc Nội chiến Mỹ (American Civil War) và đã chung sống với gia đình khi còn sống. Hemingway có tên trùng với người ông ngoại này của mình.

Mẹ của Hemingway trước kia mong muốn được trở thành nghệ sĩ opera và đã kiếm tiền để đi học thanh nhạc. Bà là người độc đoán và rất sùng đạo (domineering and narrowly religious), phản ánh cho quan niệm đạo đức mang tính nghiêm ngặt của người theo đạo Tin lành tại Oak Park, mà Hemingway sau này đã nhận định rằng có "những bãi cỏ(?) rộng và những tư tưởng hẹp hòi" ("wide lawns and narrow minds").Lấy từ Childhood Hemingway sau đó đi đến kết luận rằng mẹ ông đã chi phối bố ông tồi tệ đến mức bà đã hủy hoại ông. Những người khác cho rằng bà bị rối loạn thần kinh chức năng. Nhà thơ nổi tiếng Wallace Stevens đã đề cập đến trong một bức thư rằng Hemingway là người duy nhất mà ông từng gặp "thực sự ghét mẹ của mình" ("truly hated his own mother").Tại The Hemingway Resource Center (Trung tâm Tài nguyên Hemingway) Trong khi mẹ ông hi vọng rằng con trai của bà sẽ bộc lộ sự hứng thú đối với âm nhạc, Hemingway lại thừa hưởng từ cha mình những sở thích (outdoorsman hobbies) như đi săn, câu cá và cắm trại trong những khu rừng và hồ vùng Bắc Michigan. Gia đình ông sở hữu một ngôi nhà có tên Windemere trên Walloon Lake, gần Petoskey, Michigan và thường nghỉ hè tại đó. Những trải nghiệm đầu đời khi sống gần gũi với thiên nhiên này đã truyền cho Hemingway một niềm đam mê suốt đời đối với những cuộc phiêu lưu ngoài trời và với cuộc sống trong những khu vực xa xôi, hẻo lánh.

Hemingway học tại trường trung học Oak Park and River Forest từ tháng 9 năm 1913 cho đến khi ông tốt nghiệp vào tháng 6 năm 1917. Ông nổi trội cả về học lý thuyết lẫn chơi thể thao; ông đấm bốc, chơi bóng bầu dục, và là một tài năng hiếm thấy trong các lớp học tiếng Anh. Kinh nghiệm viết đầu tiên của ông là viết cho "Trapeze" và "Tabula" (tờ báo và cuốn niên giám của trường) trong năm học trung học cơ sở (tiếng Anh-Mỹ: junior year), sau đó giữ chức vụ biên tập trong năm học phổ thông (tiếng Anh-Mỹ: senior year). Thỉnh thoảng, ông cũng viết dưới bút danh Ring Lardner, Jr., thể hiện sự kính trọng đối với thần tượng văn chương của ông - Ring Lardner.“"Lardner Connections"”. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2007.

Sau khi học trung học, Hemingway không muốn theo học đại học. Thay vào đó, ở tuổi mười tám, ông bắt đầu sự nghiệp viết của mình với tư cách là một phóng viên cho The Kansas City Star. Mặc dù ông làm việc cho tờ báo này chỉ trong sáu tháng (17 tháng 10, 1917 - 30 tháng 4, 1918), nhưng trong suốt cuộc đời mình, ông đã sử dụng tôn chỉ viết của tờ báo này để tạo nên phong cách viết cho riêng mình: "Sử dụng những câu văn ngắn. Sử dụng những đoạn mở đầu ngắn. Sử dụng thứ tiếng Anh hùng hồn. Phải khẳng định, không phủ nhận" ("Use short sentences. Use short first paragraphs. Use vigorous English. Be positive, not negative.") Nhiều giai thoại tương tự được đăng tải tại the centennial commemoration page of the Kansas City Star. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ernest Hemingway (1899), The Star ghi danh Hemingway là phóng viên hàng đầu của báo trong một trăm năm qua.

Chiến tranh thế giới I

Hemingway ngừng làm phóng viên sau đó chỉ một vài tháng và, đi ngược lại mong muốn của cha mình, ông tình nguyện tham gia vào Quân đội Mỹ để chứng kiến những hoạt động trong Chiến tranh thế giới I. Ông không vượt qua được bài kiểm tra sức khỏe vì thị lực kém, vì thế ông chuyển sang gia nhập vào hàng ngũ quân y (Red Cross Ambulance Corps). Trên chặng đường tới mặt trận Italia, ông dừng lại ở Paris, nơi đang chịu những đợt ném bom liên tiếp từ phía không quân Đức. Thay vì ở một nơi tương đối an toàn tại khách sạn Florida, Hemingway cố gắng tiếp cận trận đánh nhất có thể.

Tiếp đó, sau khi tới Mặt trận Italia, Hemingway đã chứng kiến tận mắt sự tàn bạo của chiến tranh. Trong ngày đầu tiên ông làm nhiệm vụ, một xưởng đúc đạn dược gần Milan đã nổ tung. Hemingway phải thu nhặt thi hài của những người phụ nữ còn sót lại (human—primarily female—remains). Hemingway đã viết về trải nghiệm này trong một truyện ngắn của ông mang tên "A Natural History of the Dead"(tạm dịch: Một Câu Chuyện Có Thật về Cái Chết). Lần đầu tiên chạm trán với cái chết khiến cho ông run sợ.

Những người lính mà ông gặp sau đó cũng không làm dịu bớt nỗi kinh hoàng. Một người trong số họ, Eric Dorman-Smith, tiếp chuyện Hemingway với một câu lấy từ Hồi II, Cảnh III trong Phần 2 của vở kịch Henry IV của Shakespeare: "Bằng lòng trung thành của tôi, tôi không lo sợ gì cả; người ta có thể chết nhưng chỉ một lần duy nhất; chúng ta nợ Thượng đế một cái chết... và cứ để cho nó đến theo cách của nó, cái chết của anh chính là sự giải thoát cho kiếp sau." ("By my troth, I care not; a man can die but once; we owe God a death... and let it go which way it will, he that dies this year is quit for the next.") Burgess, 1978, p. 24. (Hemingway đã trích những dòng này cho riêng mình trong "Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber" (tựa gốc: The Short Happy Life of Francis Macomber), một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông được viết tại châu Phi.) Với một người một người lính khác, Hemingway có lần nói, "Ông thật troppo vecchio (Tiếng Italia: quá già) để tham chiến" (gốc: "You are troppo vecchio for this war, pop."). Người lính 50 tuổi đã đáp lại, "Tôi có thể chết giống như bất kỳ người đàn ông nào." ("I can die as well as any man").

Vào ngày 8 tháng 7, 1918, Hemingway bị thương trong khi vận chuyển quân nhu, và nó đã khiến ông phải dừng công việc lái xe cứu thương của mình. Mặc dù sự việc ông bị thương từng có nhiều nghi vấn, nhưng hiện tại có thể khẳng định rằng ông đã bị trúng đạn súng cối của quân Áo, làm cho ông bị thương nặng ở chân, và ông cũng bị trúng cả đạn súng máy nữa. Tình trạng đầu gối của ông rất tồi tệ, và, nằm trong số những điều đặc biệt khác thường của biến cố này, ông đã tự cầm máu bằng cách đặt thuốc nhồi và giấy cuốn từ những mẩu thuốc lá vào những vết thương. Sau đó ông được trao tặng Silver Medal of Military Valor (tạm dịch: Huân chương Bạc cho Lòng dũng cảm trong Chiến đấu) (Tiếng Italia: medaglia d'argento) từ chính phủ Italia vì đã đưa người lính Ý bị thương tới vùng an toàn bất chấp những vết thương của mình. Ông được báo chí thời bấy giờ công nhận là người Mỹ đầu tiên bị thương tại Italia trong Thế chiến I nhưng có tranh cãi xung quanh tính chính xác của khẳng định này.“John F. Kennedy Presidential Library Online Resources: Ernest Hemingway: A Storyteller's Legacy”.

Hemingway được điều trị trong một bệnh viện tại Milan được tài trợ bởi Hội Chữ Thập Đỏ Hoa Kỳ. Bởi thiếu những trò tiêu khiển, ông thường xuyên uống rượu mạnh và đọc báo để giết thời gian. Ở đây ông đã gặp Agnes von Kurowsky tới từ Washington, D.C., một trong số mười tám y tá (mỗi người chăm sóc một nhóm bốn bệnh nhân), nhiều hơn ông sáu tuổi. Hemingway đã yêu cô, nhưng quan hệ của họ chẳng thể tiếp tục do ông đã trở lại Mỹ; thay vì quay trở về cùng ông như dự định ban đầu, cô này đã có cảm tình với một sĩ quan Italia. Điều này trở thành một dấu ấn không thể phai nhòa trong tâm trí ông và tạo cho ông những cảm hứng. Câu chuyện này đã được hư cấu trong một trong những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, Giã từ vũ khí. Truyện ngắn đầu tiên của Hemingway dựa theo mối quan hệ này là "A Very Short Story," (tạm dịch: Một Truyện Cực Ngắn) ra mắt năm 1925.

Những tiểu thuyết đầu tiên

Sau chiến tranh, Hemingway quay trở lại Oak Park,Putnam, Thomas. “Hemingway on War and Its Aftermath”. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2008. và trong năm 1920, ông chuyển đến một căn hộ tại 1599 Phố Bathurst, mà bây giờ được biết đến với cái tên The Hemingway, trong vùng Humewood-Cedarvale tại Toronto, Ontario.“A National Post article on Toronto's Humewood-Cedarvale neighborhood”. Trong khi sống tại đây, ông kiếm được một công việc tại tòa báo Toronto Star. Ông làm việc với tư cách phóng viên tự do, chủ bút, và thông tín viên nước ngoài. Hemingway đối xử rất tốt với người đồng chí Star - phóng viên Morley Callaghan. Callaghan đang bắt đầu viết những truyện ngắn vào thời điểm đó; ông đem chúng tới cho Hemingway xem, và Hemingway khen ngợi chúng là những tác phẩm hay. Sau này họ gặp lại nhau ở Paris.

Trong vòng một thời gian ngắn từ cuối năm 1920 tới gần hết năm 1921, Hemingway sống gần mạn bắc Chicago, trong khi vẫn sắp chữ (filing stories) cho The Toronto Star. Ông cũng là trợ lý biên tập của Co-operative Commonwealth, một tờ báo tháng. Ngày 3 tháng 9, 1921, Hemingway cưới người vợ đầu tiên, Hadley Richardson. Sau tuần trăng mật, họ chuyển tới một căn hộ chật hẹp ở tầng trên cùng tại lô 1300 Phố Clark.Brown, Alan, "Literary Landmarks of Chicago," 2004, Starhill Press, ISBN 0-913515-50-7. Trong tháng 9, họ chuyển đến căn hộ trên tầng 4 (tầng thứ 3 theo tiêu chuẩn công trình của Chicago) tại 1239 North Dearborn ở một khu vực trong tình trạng đổ nát gần mạn bắc Chicago. Tòa nhà này hiện vẫn còn và trước cửa có một tấm biển đề "The Hemingway Apartment" ("Căn hộ nhà Hemingway"). Hadley thấy nó có vẻ tối và tạo cảm giác buồn nên vào tháng 12 năm 1921, gia đình Hemingway rời khỏi Chicago và Oak Park, không bao giờ sống ở đó nữa, chuyển sang sống ở nước ngoài.

Theo lời khuyên của Sherwood Anderson, họ định cư tại Paris, Pháp, và chính tại nơi đây Hemingway gửi tin về Chiến tranh Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ cho tờ Toronto Star. Hemingway đã chứng kiến một trong những sự kiện nổi tiếng nhất của cuộc chiến có tầm quan trọng nhưng bị coi là vô nghĩa này, đó là cảnh Smyrna bị hỏa thiêu thảm khốc, một sự kiện mà ông đã đề cập trong nhiều mẩu truyện ngắn của mình. Anderson đã gửi cho ông một lá thư giới thiệu tới Gertrude Stein. Bà trở thành cố vấn của ông và giới thiệu ông với "Parisian Modern Movement" (tạm dịch: Phong trào Đổi mới Paris) đang tiến triển tại Khu Montparnasse; đây chính là sự khởi đầu của nhóm những người Mỹ xa xứ được biết đến với tên gọi "Thế hệ vứt đi" (Lost Generation), một thuật ngữ được truyền bá bởi Hemingway trong lời đề từ của một cuốn tiểu thuyết, Mặt trời vẫn mọc (tựa gốc: The Sun Also Rises), và cuốn tự truyện A Moveable Feast (tạm dịch: Hội hè miên man) của ông. Tính ngữ (epithet) "Thế hệ vứt đi" được cô Stein sử dụng lại từ một thợ sửa chữa ô tô người Pháp của cô khi người này vui vẻ đưa ra nhận xét về cô là "une génération perdue". (Cô Stein nói: "'Các bạn là thứ đó. Tất cả các bạn là thứ đó. Tất cả các bạn, những người trẻ phục vụ trong chiến tranh. Các bạn là một thế hệ vứt đi.'" ("That's what you are. That's what you all are,' Miss Stein said. 'All of you young people who served in the war. You are a lost generation." - lấy từ cuốn tự truyện của Hemingway được xuất bản sau khi ông qua đời, A Moveable Feast.) Một người cố vấn có ảnh hưởng tới ông là Ezra Pound,Vào ngày 10 tháng 8, 1943, Hemingway viết thư cho Archibald MacLeish để bàn luận về sức mạnh tinh thần của Pound và các vấn đề văn chương khác. người sáng lập ra chủ nghĩa hình tượng. Hemingway sau đó đã nói về nhóm chiết trung này, "Ezra đã đúng trong phân nửa thời gian, và khi ông ấy sai, ông ấy sai đến mức bạn không bao giờ phải nghi ngờ về điều đó. Gertrude thì luôn luôn đúng." ("Ezra was right half the time, and when he was wrong, he was so wrong you were never in any doubt about it. Gertrude was always right.")Trong một cuộc trò chuyện với John Peale Bishop, được trích từ Hemingway, Cowley, ed, 1944, p. xiii. Nhóm thường tới cửa hàng sách của Sylvia Beach, Shakespeare & Co., tại 12 Phố Odéon (Rue de l'Odéon). Sau lần xuất bản năm 1922 và lệnh cấm của Mỹ đối với cuốn tiểu thuyết Ulysses của người đồng sự James Joyce, Hemingway đã nhờ những người bạn tại Toronto mang lén những bản sao của cuốn tiểu thuyết về Mỹ (Hemingway viết về cuộc gặp mặt và trò chuyện với Joyce tại Paris trong A Movable Feast). Cuốn sách đầu tiên của ông, có tên Three Stories and Ten Poems (tạm dịch: Ba câu chuyện và mười bài thơ) (1923), được xuất bản tại Paris bởi Robert McAlmon.

Sau nhiều thành công với tư cách là thông tín viên nước ngoài, Hemingway trở lại Toronto, Canada năm 1923 và viết dưới bút danh Peter Jackson.Jackson, Peter; better known as Ernest Hemingway (ngày 31 tháng 7 năm 2008). “Hemingway feared for High Park's great trees”. Toronto Star. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2008. Trong lần thứ hai sinh sống (stint living) tại Toronto, ông có người con trai đầu tiên. Cậu bé được đặt tên là John Hadley Nicanor Hemingway, nhưng sau đó được quen gọi là Jack. Hemingway đã đề nghị Gertrude Stein làm cha đỡ đầu của cậu.

Cũng vào thời điểm đó, có những bất hòa gay gắt xảy ra giữa Hemingway và người biên tập của ông - Harry Hindmarsh, người tin rằng Hemingway đã trở nên tồi tệ trong thời gian ông sống ở nước ngoài.Dateline: Toronto, Foreword, pp xxv-xxvii, Charles Scribner Jr. Hindmarsh giao cho Hemingway những nhiệm vụ tầm thường (mundane assignments), khiến Hemingway thất vọng và ông quyết định viết đơn xin thôi việc vào tháng 12 năm 1923. Tuy nhiên, việc này không được chấp thuận, và Hemingway vẫn tiếp tục viết cho The Toronto Star nhưng không thường xuyên cho đến hết năm 1924.“Hem and The Star: Parting was inevitable”. The Toronto Star. Ngày 2 tháng 2 năm 1986. Hầu hết những bài mà Hemingway viết cho Star sau này được xuất bản trong tuyển tập Dateline: Toronto vào năm 1985.

Sự nghiệp văn chương tại Mỹ của Hemingway bắt đầu với việc tập truyện ngắn Trong thời đại của chúng ta (tựa gốc: In Our Time) của ông được xuất bản (1925). Những đoản văn tạo nên các chương của phiên bản tại Mỹ (that now constitute the interchapters of the American version) ban đầu được xuất bản ở châu Âu với tựa in our time (1924). Tác phẩm này rất quan trọng đối với Hemingway, vì nó tái khẳng định với ông rằng văn phong cực kì đơn giản của ông vẫn có thể được chấp nhận bởi giới văn học. "Big Two-Hearted River"(tạm dịch: Dòng Sông Rộng Có Hai Tâm Hồn) là truyện nổi tiếng nhất của tuyển tập này.

Vào tháng 4 năm 1925, hai tuần sau khi The Great Gatsby (tạm dịch: Gatsby Vĩ đại) được xuất bản, Hemingway đã gặp F. Scott Fitzgerald tại quán bar Dingo. Fitzgerald và Hemingway đã trở thành bạn thân ngay lần đầu gặp mặt, và từ đó họ thường xuyên uống rượu và trò chuyện cùng nhau. Thỉnh thoảng họ trao đổi cho nhau những bản thảo, cùng với đó Fitzgerald đã cố gắng rất nhiều để giúp công việc Hemingway tiến triển và đưa tuyển tập truyện đầu tiên của ông ra công chúng. Hemingway và vợ của Fitzgerald - Zelda tỏ ra không hề ưa nhau khi Zelda gọi Hemingway là một kẻ "đểu giả" (gốc: "phony"). Quan hệ vợ chồng Fitzgerald và Zelda xuất hiện những bất hòa trong thời gian này, và Zelda đã nói với Scott rằng đời sống tình dục của họ đã xuống dốc bởi vì ông là một kẻ đồng tính (gốc: "a fairy") và có quan hệ luyến ái với Hemingway. Chưa có bắng chứng rằng hai người là đồng tính, nhưng dù sao Scott đã quyết định ngủ với một người gái điếm để chứng minh mình là đàn ông thực sự.Bruccoli 2002, tr. 275

Nhà hàng La Closerie des Lilas (ảnh năm 1909), nơi Hemingway viết một phần của Mặt trời vẫn mọc

Những mối liên hệ của Hemingway ở Pháp tạo cảm hứng cho sự ra đời của cuốn tiểu thuyết dài đầu tiên, Mặt trời vẫn mọc (tựa gốc: The Sun Also Rises) (1926) (được xuất bản tại Vương Quốc Anh với tựa đề "Fiesta").Đây là một tiểu thuyết có tính chất nửa tự truyện, kể về một nhóm những người Mỹ xa xứ quanh Paris và Tây Ban Nha. Bối cảnh của truyện được đặt tại Pamplona, trong kì lễ hội. Tiểu thuyết trở nên nổi tiếng khắp châu Âu và Mỹ và nhận được nhiều lời khen trong giới phê bình.

Hemingway ly dị với Hadley Richardson năm 1927 và cưới Pauline Pfeiffer, một người sùng đạo Thiên Chúa đến từ Piggott, Arkansas. Pfeiffer là một phóng viên thời trang không thường xuyên, làm xuất bản trong các tạp chí như Vanity Fair và Vogue.“Hemingway Resource Center”. Hemingway cũng trở thành một tín đồ Thiên chúa giáo vào thời gian này. Đây là năm mà tuyển tập truyện ngắn Men Without Women] (tạm dịch: Đàn Ông Không Đàn Bà) được xuất bản, trong đó The Killers(tạm dịch: Những Kẻ Sát Nhân) là một trong những truyện ngắn nổi bật nhất và được chọn in nhiều lần nhất của ông. Năm 1928, Hemingway và Pfeiffer chuyển đến Key West, Florida, để bắt đầu một cuộc sống mới. Tuy nhiên, cuộc sống mới của họ sớm rạn nứt bởi bi kịch khác lại đến với cuộc đời ông.

Năm 1928, cha Hemingway, Clarence, gặp rắc rối với bệnh tiểu đường (gốc: Diabetes mellitus) và tình trạng mất ổn định về tài chính, nên đã tự vẫn bằng một khẩu súng lục cũ từ thời Nội Chiến. Điều này khiến Hemingway đau đớn tột cùng và có vẻ đã được ông tái hiện qua chuyện cha của Robert Jordan tự tử trong cuốn tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai. Ông ngay lập tức tới Oak Park để làm lễ mai táng và gây ra tranh cãi khi nói rằng theo quan điểm Thiên chúa giáo, ông nghĩ cha ông sẽ phải xuống địa ngục. Cũng trong khoảng thời gian đó, Harry Crosby, người sáng lập Black Sun Press và một người bạn của Hemingway khi ông ở Paris, cũng quyết định tự tử.

Nhà Hemingway-Pfeiffer, được xây dựng năm 1927

Cùng năm đó, người con trai thứ hai của Hemingway, Patrick, sinh ra ở Kansas City (người con trai thứ ba của ông, Gregory, ra đời vài năm sau đó). Cậu bé được sinh ra nhờ cách phẫu thuật (gốc: Caesarean section) do vợ ông bị khó sinh. Chi tiết của sự việc này đã xuất hiện trong phần cuối củaGiã từ vũ khí. Hemingway sống và viết phần lớn tiểu thuyết Giã từ vũ khí và vài ba truyện ngắn ở nhà của cha mẹ Pauline tại Piggott, Arkansas. Nhà của Pfeiffer và Nhà của Carriage nay đã trở thành viện bảo tàng thuộc sở hữu của Đại học bang Arkansas.

Được xuất bản năm 1929, Giã từ vũ khí (tựa gốc: A Farewell to Arms) kể lại chuyện tình lãng mạn giữa Frederic Henry,một sĩ quan Mỹ, và Catherine Barkley, một y tá Anh. Tiểu thuyết mang nặng tính tự truyện: cốt truyện lấy cảm hứng trực tiếp từ mối quan hệ của ông với Agnes von Kurowsky ở Milan; quá trình sinh con của Catherine lấy cảm hứng từ những cảm giác rất đau đớn của Pauline khi sinh ra Patrick; cuộc đời thực của Kitty Cannell là cảm hứng cho nhân vật Helen Ferguson; người linh mục dựa theo Don Giuseppe Bianchi, một linh mục trong trung đoàn thứ 69 và 70 của Brigata Ancona. Trong khi đó, cảm hứng về nhân vật Rinaldi khá mơ hồ, nhân vật này đã từng xuất hiện trong Trong thời đại của chúng ta. Giã từ vũ khí đã được xuất bản trong thời điểm mà những cuốn sách viết về Chiến tranh thế giới I khá nhiều, như Her Privates We của Frederic Manning, All Quiet on the Western Front của Erich Maria Remarque, Death of a Hero của Richard Aldington, và Goodbye to All That của Robert Graves. Sự thành công của Giã từ vũ khí giúp cho Hemingway ổn định hơn về tài chính.

Key West

Theo lời khuyên của John Dos Passos, Hemingway quay về Key West, Florida năm 1931, nơi ông tạo dựng [Ernest Hemingway House|cơ ngơi đầu tiên của ông tại Mỹ], mà nay đã được chuyển đổi thành một viện bảo tàng. Đây là một ngôi nhà bằng đá vôi khá vững chãi được xây năm 1851, là một món quà cưới từ người bác của Pauline. Từ khi sống ở đây, Hemingway thường câu cá tại vùng hồ Dry Tortugas cùng người bạn lâu năm của ông Waldo Pierce, tới quán bar nổi tiếng [Sloppy Joe's (quán bar)|Sloppy Joe's], và có dịp du lịch sang Tây Ban Nha, thu thập tài liệu cho cuốn Chết vào lúc xế trưa và Winner Take Nothing(tạm dịch: Kẻ Thẳng Chẳng Được Gì). Hơn 9 năm sau đó, đến tận khi cuộc hôn nhân của ông chấm dứt năm 1940, và tiếp đó, trong suốt những năm 50 của thế kỷ XX, cũng là những năm cuối cuộc đời, Hemingway đã thực hiện ước chừng 70% việc viết văn trong đời trong một phòng viết nhỏ tại tầng trên của một ga-ra ô tô được cải tạo, phía sau ngôi nhà này.

Nhà của Ernest Hemingway tại Key West

Chết vào lúc xế trưa, một cuốn sách về đấu bò tót, được xuất bản năm 1932. Hemingway đã trở thành một "aficionado" của môn thể thao này sau khi chứng kiến lễ hội Pamplona năm 1925, đã được hư cấu trong Mặt trời vẫn mọc. Trong Chết vào lúc xế trưa, Hemingway luận bàn một cách bao quát về sự siêu hình của việc đấu bò: sự nghi thức hóa, gần như là hoạt động tôn giáo. Hemingway đã có ý định trở thành một người đấu bò và tỏ ra có thiên hướng qua nhiều novieros (?) trước khi quyết định rằng nghiệp viết là cuộc sống của ông và là nghề nghiệp duy nhất phù hợp với ông. Trong thời kì viết văn của ông tại Tây Ban Nha, ông đã bị ảnh hưởng bởi bậc thầy người Tây Ban Nha Pío Baroja. Khi Hemingway được trao Giải Nobel, ông tới thăm Baroja. Bên giường bệnh, ông bảo với Baroja rằng ông nghĩ Baroja xứng đáng đạt giải thưởng này hơn mình. Baroja đã đồng ý và dường như một mối bất hòa giữa Hemingway với nhà văn này đã nảy sinh cho dù mục đích của ông cơ bản là tốt.

Vào một cuộc đi săn trong mùa thu năm 1933, ông đã đến Mombasa, Nairobi, và Machakos ở Kenya, tiếp đó là Tanganyika. Ở đây, ông đã săn bắn trong Serengeti, quanh Hồ Manyara và vùng phía tây và đông nam của Công viên Quốc gia Tarangire ngày nay. Hemingway đã bị bệnh trong chuyến đi này (suffering a prolapsed intestine: đau sa ruột (?)). Vì thế, ông đã được chuyển tới Nairobi bằng máy bay, và trải nghiệm này đã được hư cấu trong tập truyện "The Snows of Kilimanjaro" (tạm dịch: Tuyết vùng Kilimanjaro) của ông. Năm 1935 đánh dấu sự xuất bản của Những ngọn đồi xanh châu Phi, miêu tả lại cuộc đi săn của ông. Các tác phẩm The Snows of Kilimanjaro và Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber chính là những thành quả từ những trải nghiệm của nhà văn tại châu Phi. Trong chuyến đi này, người hướng dẫn cho Hemingway là Philip Hope Percival, người đã từng làm hướng dẫn cho Theodore Roosevelt vào chuyến đi săn năm 1909. Percival cũng hướng dẫn cho Hemingway vào cuộc đi săn tàn khốc năm 1954.http://www.ntz.info/gen/n00808.html Truy cập ngày 7 tháng 2, 2009http://www.huntingmag.com/big_game/africaph_061107/ Truy cập ngày 7 tháng 2, 2009

Bimini

Hemingway sống ở Bimini, Bahamas từ 1935 tới 1937, tại Khách sạn Compleat Angler. Ông làm việc cho To Have and Have Not và viết một số bài báo, nhưng phần lớn thời gian ông sống trên con thuyền Pilar của mình, để đánh bắt cá cờ, cá thu và cá kiếm ở vùng nước ngoài khơi xanh thẳm. Bimini đã gây ấn tượng với Hemingway qua những câu chuyện kể về những cuộc đánh bắt cá phi thường vốn có tại Gulf Stream, "dòng sông" huyền thoại vùng nước ấm chảy qua mạn bắc Bahamas.“Frommers Guides: Bimini-Fire Guts Hemingway's Favorite Bar”.

Nội chiến Tây Ban Nha

Năm 1936, Hemingway tới Tây Ban Nha làm phóng viên về Nội chiến Tây Ban Nha cho tờ North American Newspaper Alliance (Liên Minh Báo chí Bắc Mỹ). Trong khi ở đó, tình bạn giữa Hemingway và John Dos Passos đã đổ vỡ, bởi bất chấp những sự cảnh báo, Dos Passos tiếp tục đưa tin về những hành động tàn bạo không chỉ của những người chủ nghĩa dân tộc phát-xít mà Hemingway căm thù, mà cả của những nhà cầm quyền cánh tả Đảng Cộng Hòa mà Hemingway ủng hộ; thậm chí, Hemingway còn phổ biến một câu chuyện về Dos Passos, rằng ông này đã trốn sang Tây Ban Nha vì hèn nhát.The Breaking Point: Hemingway, Dos Passos, and the Murder of Jose Robles của Stephen Koch, xuất bản năm 2005 ISBNThe Spanish Civil War (1961) của Hugh Thomas Trong bối cảnh này, một người đồng nghiệp và cộng tác với Hemingway là Herbert Matthews, người sau này đã trở nên nổi tiếng qua những phóng sự về Fidel Castro, đã bày tỏ sự ủng hộ của mình đối với phe Cộng Hòa giống như Hemingway. Hemingway đã chuyển sang theo đạo Thiên Chúa khi chung sống với người vợ Pauline và tôn giáo trở thành một vấn đề đối với ông trong thời gian này, đến mức ông muốn rời bỏ Giáo hội (tuy nhiên những người bạn của ông nhận thấy rằng ông có những ràng buộc khá buồn cười ("funny ties") với Thiên Chúa giáo trong phần còn lại của cuộc đời). Chiến tranh cũng đã gây ra căng thẳng với cuộc sống hôn nhân của ông. Pauline Pfieffer là một tín đồ Công giáo và vì thế bà đứng về phe phát-xít, chính quyền thân Công giáo của Franco, trong khi thông qua những lời bình phẩm của Hemingway, ông lại tỏ ra ủng hộ chính phủ Cộng hòa. Suốt thời kì này, Hemingway đã viết một bài luận ít được biết đến mang tên The Denunciation (tạm dịch: Sự Tố cáo), mà tới tận năm 1969 mới được xuất bản, trong một tuyển tập là Fifth Column and Four Stories of the Spanish Civil War.Câu chuyện dường như mang tính tự truyện, chỉ ra rằng Hemingway từng là người đưa tin cho Đảng Cộng hòa cũng như một người đào tạo về vũ khí (weapons instructor) trong chiến tranh.

Cuộc sống của Hemingway thời kì này còn bị ảnh hưởng bởi một số vấn đề về sức khỏe: nhiễm bệnh thán thư (anthrax), phải đi phẫu thuật mắt, bị thương ở trán, bị cúm, đau răng, trĩ, gặp rắc rối về thận lúc đi đánh cá, rách cơ vùng bẹn, gãy ngón tay khi tập đấm bốc, cùng các vết rách trên tay, chân và mặt trong khi phi ngựa qua vùng rừng Wyoming, và bị gãy tay trong một tai nạn ô tô.

First Forty-Nine Stories

Con đường đi bộ mang tên Ernest Hemingway, Ronda, Tây Ban Nha

Vào năm 1938—cùng với vở kịch dài duy nhất của ông, mang tựa đề The Fifth Column—49 tựa truyện đã được xuất bản trong tuyển tập The Fifth Column and the First Forty-Nine Stories. Trong lời đề tựa, Hemingway đã dự định viết nhiều hơn thế nữa. Nhiều truyện trong tuyển tập có thể tìm thấy trong các tuyển tập khác, bao gồm Trong thời đại của chúng ta, Men Without Women, Winner Take Nothing, và The Snows of Kilimanjaro.

Một số truyện đặc sắc của tuyển tập này là Old Man at the Bridge (tạm dịch: Ông Già Trên Cây Cầu), On The Quai at Smyrna, Hills Like White Elephants (tạm dịch: Những Ngọn Đồi Như Những Con Voi Trắng), One Reader Writes (tạm dịch: Một Độc Giả Viết), The Killers và A Clean, Well-Lighted Place (tạm dịch: Một Nơi Sạch Sẽ, Sáng Sủa). Bên cạnh những truyện ngắn này, cuốn sách cũng bao gồm một số truyện dài hơn, trong số đó có The Snows of Kilimanjaro và Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber.

Chuô

Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập33,763,539

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/