Search

Access times

  • Total visits33,728,732

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Novel

Phế đô

Giả Bình Ao

  • Sunday, 17:01 Day 05/10/2008
  • Phế đô

    Tình tiết hoàn toàn bịa đặt

    Xin chớ suy bụng ta ra bụng người

    Chỉ có tâm linh chân thực

    Cười chửi khen chê xin tuỳ

    Tuyên bố của tác giả năm 1993

     

    Năm một ngàn chín trăm tám mươi, ở thành Tây Kinh xảy ra một chuyện lạ. Có hai anh bạn chí thân, một hôm buồn quá đã đi tưởng niệm Đường Quý Phi Dương Ngọc Hoàn. Thấy nhiều khách du lịch ai cũng bốc một gói đất mộ xách theo người, thắc mắc lắm, hỏi ra mới biết, Quý Phi là người đẹp tuyệt thế, lấy đất này về rắc vào chậu hoa, hoa sẽ tươi đẹp vô cùng. Hai anh bạn cũng bới khá nhiều, gói vào áo mang về, đựng vào một chậu sành đen cất giữ đã lâu năm, chờ có giống hoa tốt sẽ gieo hạt. Nào ngờ, mấy ngày sau tự nhiên trong chậu hoa mọc lên một chồi xanh, chỉ trong một tháng đã biến thành một khóm cây tươi tốt. Nhưng cây này đặc biệt lắm, không ai biết là loài gì. Bê đến chùa Dựng Hoàng trong thành hỏi người thợ già trồng hoa, người thợ trồng hoa cũng không biết. Vừa may có đại sư Trí Tường đi qua, liền xin ý kiến đại sư. Đại sư cũng lắc đầu. Một trong hai anh bạn lại hỏi: “Thường nghe đại sư biết xem bói đoán số. Xin đại sư bói xem cây hoa này về sau nở mấy nhánh?”. Đại sư bảo một anh khác nói ra một chữ, anh ấy đang cầm cái kéo của người trồng hoa trong tay, buột mồm nói ra chữ “Nhĩ”. Đại sư bảo “Hoa là hoa lạ sẽ nở bốn nhánh, nhưng chẳng được bao lâu sẽ bị các anh làm hại”. Về sau quả nhiên hoa nở bốn nhánh, nhưng hình dạng vừa tương tự mẫu đơn, lại tương tự hoa hồng. Hơn nữa có một nhánh nhụy màu đỏ, một nhánh nhụy màu vàng, một nhánh nhụy màu trắng, một nhánh nhụy màu tím, đẹp vô cùng. Bỗng chốc tin đồn loan đi. Ngày nào cũng nườm nượp người đến xem, không ai là không thốt lên khen ngợi. Hai anh bạn tự nhiên đắc ý, đặc biệt có một anh yêu quý hoa hơn, bưng để trên bàn, đích thân chăm nom, bón phân tưới nước. Nào ngờ một hôm say rượu, nửa đêm tỉnh dậy, chợt thấy nên đi tưới hoa, loắng quắng thế nào xuống nhà bếp xách nhầm ấm nước sôi, kết quả cây hoa chết yểu. Anh bạn cứ hối hận mãi, tức mình đập vỡ chậu sành, lăn ra ốm một tháng không gượng dậy nổi.

    Chuyện này tuy lạ xét cho cùng chỉ là một chậu hoa mà thôi số người biết cũng không đông, sau đấy không ai nhắc đến nữa. Nào ngờ sau mùa hè, thành Tây Kinh lại xảy ra một chuyện lạ lớn hơn ai ai cũng được chứng kiến. Vào giữa trưa ngày mồng bảy tháng sáu âm lịch, đầu tiên mặt trời vẫn đang tỏa ánh nắng rực rỡ, cái hay của mặt trời là mặt trời đang chiếu sáng, mà con người thì quên mặt trời đang tỏa sáng, cho nên người Tây Kinh không ai nhìn lên trời. Hình thế của đường phố vẫn là hình thế trước đây. Người có chức sắc ngồi xe con thì ngồi xe con, người không có chức sắc, nhưng hái ra tiền, thì không muốn chen xe ca, liền giơ tiền lên vẫy đi xe taxi. Giữa lúc ấy có nhân vật nào đó quan trọng thân chinh đến nơi này, mấy xe công an hộ tống mở đường, bóp còi inh ỏi, tất cả xe con, xe taxi và xe ca chở khách đành phải tránh sang một bên đi chậm lại, còn dòng sông dài xe đạp thì rối loạn đội hình. Chỉ có người đi bộ thì chỉ biết sải bước, anh nọ giẫm vào bóng anh kia, cái bóng đâu có đau có ngứa. Đột nhiên màu sắc cái bóng từ đậm chuyển sang nhạt, càng nhạt càng ngắn, rồi chợt mất hết. Con người không có cái bóng kéo theo thì hình như con người không là con người nữa, đưa tay sờ vào mông, sờ đến nỗi đực mặt ra nghi hoặc. Có người chợt nhìn lên trời liền reo to: “Ô kìa, trên trời có bốn ông mặt trời!”. Mọi người ngẩng hết đầu lên nhìn trời, quả nhiên trên đó có bốn ông mặt trời. Bốn mặt trời kích thước như nhau, không phân biệt rõ cũ mới, đực cái, cụm lại làm một, thành hình chữ Đinh. Trong kinh nghiệm trước kia, trên trời đã từng có trăng khuyết và nhật thực, song cùng một lúc có bốn mặt trời thì chưa thấy bao giờ, cứ tưởng mắt nhìn nhầm lại ngước mắt nhìn trời, mặt trời không còn đỏ nữa, mà trắng bợt, trắng như màu trắng của tia hàn điện. Trắng giống cái gì nhỉ? Cũng chẳng nhìn thấy cái gì hết. Hoàn toàn một màu đen. Con người không nhìn thấy cái gì. Con người sáng mắt hoàn toàn mà cũng không nhìn thấy gì ư? Xe to xe nhỏ không còn dám nổ máy nữa, chỉ bóp còi suông, còn con người thì bước giẫm lung tung, lơ mơ cảm thấy mình không ở trên đường phố, đang xem phim thì phải? Máy chiếu đột nhiên bị hỏng, hình trên màn bạc biến mất, mà tiếng nhạc còn đang vang. Một người cảm thấy như thế, mọi người gần như cũng cảm thấy như thế. Vậy là yên tĩnh hẳn xuống, yên tĩnh tới mức chết lặng đi, chỉ có tiếng huyên một nhạc khí cổ xưa bằng đất hình quả trứng có sáu lỗ ai đó thổi trên tường thành còn muốn cất lên tiếng cuối cùng, song không cất nổi vì đã đứt hơi, giống như gió đập vào tường, tạt ngang biến mất. Dường như mọi người coi khinh kẻ thổi huyên kia, cười khẩy một cái, chợt giật mình trở về với hiện thực đang sống, đồng thời bị sự yên tĩnh làm khiếp sợ, đã kêu ầm ĩ, đâu đâu cũng nháo nhào, lộn tùng phèo cả lên.

    Hiện tượng quái dị này đã kéo dài gần nửa tiếng đồng hồ, thì mặt trời trên không trung lại khôi phục chỉ còn một ông. Khi mắt người ta đã nhìn rõ dần bóng mình trên mặt đất thì ai cũng trơ mắt nhìn nhau, sau đó đã xấu hổ bởi sự nhếch nhác, liền hốt hoảng chạy tán loạn. Bỗng chốc loài người rối tinh rối mù như kiến vỡ tổ song chẳng thấy bóng cảnh sát giao thông đâu cả. Trên hòn đảo an toàn có ông già ngồi nhởn nhơ một mình. Ông già đầu bù tóc rối, mặt nhọ nhem song đôi mày thì rất dài, đang lạnh lùng nhìn mọi người hối hả qua lại. Ánh mắt của ông khiến ai nấy có phần nào không chịu nổi, cuối cùng điên tiết lên quát gọi: “Cảnh sát đâu nhỉ? Cảnh sát đâu rồi?”. Người cảnh sát họ Tô, vừa chạy vừa đội mũ két bi lên đầu cứ mắng ông già là kẻ ăn xin bằng tiếng “Pi”. Pi là tiếng địa phương thô tục nhất trong thành Tây Kinh chửi “cút đi”. Ông già nghe chửi đưa ngón tay viết lên đảo An toàn một từ thời cổ xưa lại rất nho nhã, âm đọc là “pỉ” song chữ là “ty”, có nghĩa tránh. Ông thư thả mỉm cười. Tiếp theo ai nấy cười rộ hẳn lên. Bởi vì khi ông già bước xuống khỏi hòn đảo An toàn đã để lộ bộ quần áo mặc trên người vốn được may bằng những bức gấm của khách hành hương tặng chùa Dựng Hoàng. Trước ngực in hai chữ “Có cầu”, hai chân dạng ra, chỗ đũng quần là những đường mũi kim thô sù sì kéo dài cho đến tận lưng. Trên mông bên trái là chữ “tất”, bên phải là chữ “ứng”. Ông già không tỏ ra xấu hổ, mà xuất khẩu thành chương, đọc vanh vách một bài vè. Bài vè này sau đó lan truyền cả thành phố. Lời vè như sau:

    Công dân loại một làm đầy tớ

    Gác tía lầu son sướng như tiên.

    Công dân loại hai làm quan phe

    Đầu cơ buôn lậu có ô che.

    Công dân loại ba làm thầu khoán

    Chơi bời cờ bạc ăn uống đã có nơi thanh toán.

    Công dân loại bốn chuyên cho thuê

    Ngồi nhà rung đùi thu bạc tỉ.

    Công dân loại năm đội mũ kê bi

    Ăn cả bên nguyên lẫn bên bị cáo.

    Công dân loại sáu thầy thuốc cầm dao

    Phong bì quà biếu đầy hầu bao.

    Công dân loại bảy làm diễn viên

    Ngoáy mông dướn eo cũng ra tiền.

    Công dân loại tám làm tuyên truyền

    Dăm ba hôm một bữa giải cơn thèm.

    Công dân loại chín làm giáo viên

    Sơn hào hải vị nào có biết hết tên.

    Công dân loại mười chủ nhân ông

    Chân chì hạt bột học Lôi Phong.

    Bài vè này sau khi lan truyền đi, có người phân tích ông già không phải là kẻ ăn mày, hay nói cách khác, ít nhất ông cũng làm giáo viên. Bởi chỉ có thầy giáo mới soạn được lời vè như vậy. Hơn nữa, lời vè đều tỏ ra chỉ trích đối với mấy loại người trước, chỉ có loại người làm giáo viên là được kêu khổ kêu oan. Nhưng xét cho cùng ông già là người gì thì không ai hỏi cho ra nhẽ. Trong năm ấy, thành Tây Kinh vừa bổ nhiệm một thị trưởng mới, vị thị trưởng này quê gốc ở Thượng Hải, phu nhân lại là người địa phương Tây Kinh. Mười mấy năm qua, mỗi nhiệm kỳ thị trưởng Tây Kinh, ông nào cũng có lòng lập công lập nghiệp ở thành cổ này. Nhưng hầu hết đều làm đi làm lại, quanh quẩn như con kiến leo ra leo vào trên cành đào, không sao nhúc nhích khởi sắc lên được, liền rời khỏi dinh lũy thép ra đi một cách êm ru. Ông thị trưởng mới tuy không vui vẻ nhận chức trước cổng nhà bố vợ, khổ một nỗi, đã dấn thân vào con đường làm quan, hoàn toàn do người ta sắp đặt, sau khi nhận nhiệm vụ, lúng ta lúng túng không biết xoay sở thế nào, bắt đầu hành động từ đâu. Phu nhân thuộc diện nội trợ giỏi giang, liền triệu tập nhiều bạn bè thân thích tham mưu cố vấn cho chồng, thế là có một người trẻ tuổi tên là Hoàng Đức Phúc, nêu ra một đề nghị: Tây Kinh là cố đô của mười hai triều đại, văn hóa lắng đọng sâu dầy, vừa là vốn liếng vừa là gánh nặng, tư duy của dân chúng và cán bộ các tầng lớp có xu hướng bảo thủ, cho nên lâu nay kinh tế phát triển thua xa so với các tỉnh thành ven biển, nếu cứ như thị trưởng các nhiệm kỳ trước mặt nào cũng nắm, thì thường bởi xí nghiệp già cỗi, xây dựng thành phố nợ nần chồng chất, bỏ ra mười phần công sức mà hiệu quả chỉ thu được ba phần, hơn nữa nhiệm kỳ bây giờ thường là ba năm hoặc năm năm sẽ điều đi, qui hoạch lâu dài khó hoàn thành mà nhân sự lại thay đổi. Đã như vậy thì thà rằng cứ nắm những nghề mà người khác không ham, ví dụ phát triển văn hóa và du lịch. Chỉ trong thời gian ngắn là đã có thành tích chính trị. Thị trưởng được gợi mở lớn, không ngại hỏi tiếp, đã mời người trẻ tuổi ấy đến nói chuyện ba ngày ba đêm, lại điều anh ta khỏi trường học cũ về trụ sở ủy ban thị làm thư ký riêng. Ngay tức khắc lên kinh đô xin kinh phí, xuống cơ sở kêu gọi góp vốn ở khắp nơi, dóng dựng một sự nghiệp to lớn ngàn năm bất hủ, tức là sửa sang lại thành Tây Kinh, khai thông con sông trong thành, xây sân vui chơi giàu màu sắc địa phương dọc theo bờ sông. Còn xây lại ba đường phố lớn: một đường phố xây theo kiến trúc đời Đường, chuyên bán tranh vẽ, chữ viết và đồ gốm; một đường phố xây theo kiến trúc đời Tống, chuyên kinh doanh các món ăn vặt dân gian của cả thành phố cho đến cả tỉnh; một đường phố xây theo kiến trúc đời Minh, đời Thanh, tập trung tất cả công nghệ phẩm dân gian và đặc sản địa phương. Nhưng ra sức phát triển nghề văn hóa du lịch ở thành thị, đã làm cho số người lưu động ở thành phố tăng vọt, đã xuất hiện nhiều tệ nạn trên lĩnh vực trật tự trị an. Trong chốc lát thành Tây Kinh bị người nơi khác gọi là thành trộm cắp, thành nghiện hút, thành ở lậu… Dân thành phố cũng bắt đầu nẩy sinh tư tưởng bất mãn. Khi ông già đầu bù tóc rối mặt mũi nhọ nhem lại đọc bài vè của ông trên đường phố, thì lúc nào cũng có một tốp những kẻ ăn không ngồi rồi nhũng nhẵng bám theo sau, hò hét “Đọc lại đi, đọc nữa đi!”. Ông già liền nói hai câu:

    - Bảo anh được, anh sẽ được, không được cũng được. Bảo không được sẽ không được, có được cũng không được.

    Bọn vô công rồi nghề nghe xong, đồng loạt vỗ tay. Ông già không nói câu vè này ám chỉ người nào, xong bọn vô công rồi nghề lại suy bụng ta ra bụng người, loan truyền bài vè nhanh như gió. Chẳng bao lâu cũng tự nhiên đến tai Hoàng Đức Phúc, liền gọi điện thoại cho Cục công an, nói ông già gieo rắc tin đồn nhảm về thị trưởng, cần phải ngăn chặn. Cục công an đã bắt giữ ông già, tra hỏi ra mới biết, thì ra là một tên lưu manh đi kiện đã hơn mười năm nay.

    Thế nào là lưu manh đi kiện?

    Bởi vì hơn mười năm trước, người này là giáo viên dân lập, khi xét chuyển thành giáo viên nhà nước bị cấp trên trù dập không chuyển được, liền lên Ủy ban tỉnh kêu oan, vẫn không thành công. Thế là ở hẳn Tây Kinh, cứ dăm ba ngày lại đến cổng Ủy ban thưa kiện, đưa đơn biểu tình ngồi, lâu dần muốn vào không có lối, muốn rút không bậc thang, đâm ra tâm thần. Sau đó thôi thì chẳng kiện tụng nữa, cũng không về làng, liền lang thang trên hè phố. Cục công an đã bắt hỏi mười ngày, tra xét không có tội to lại thả ra, lấy ô tô chở ra khỏi thành phố ba trăm dặm rồi thả. Nào ngờ, được vài hôm lại thấy ông già trên đường phố. Song ông già đã kéo chiếc xe cải tiến cọc cạch len lỏi trong các ngõ phố bới nhặt đồng nát. Đám người vô công rồi nghề tự nhiên cứ bám theo, sai bảo ông lại đọc ca dao hò vè. Ông già bây giờ đã ki bo miệng lưỡi, chỉ rao rất cao rất dài: “Đồng nát nào! Nhận khoán đồng nát nào!”. Tiếng rao này vang trong ngõ phố vào hai buổi sớm tối hàng ngày, cũng thường có người thổi huyên trên tường thành. Một người kêu như như sói gầm, một kẻ rên như ma khóc, hai bên đối đáp nhau, hàng ngàn con chim trên lầu chuông gác trong cứ huyên náo ỏm tỏi cả lên.

    Hôm nay, ông già kéo cái xe cải tiến bánh sắt không có săm lốp, đi loanh quanh mãi không thu nhặt được đồng nát, liền đứng ở vạt đất ngoài tường chùa Dựng Hoàng, thèm thuồng nhìn mấy đại sư  khí công dạy người học phép dẫn dắt nhổ ra lấy vào, còn thấy từng tốp từng tốp tụ tập ở dưới tường thành thấp lè tè bốc quẻ xem bói, liền rẽ vào cũng tính xin thầy tướng số bói cho một quẻ. Người xung quanh liền bảo:

    - Ông già ơi, ở đây không xem bói mạng sống nhỏ nhoi đâu. Đại sư là người cao thủ ở núi Nga Mi, chỉ dự đoán những sự việc lớn dưới gầm trời.

    Tự ý đẩy ông già ra mãi xa. Ông già vô cớ bị trêu trọc, liền đỏ mặt tía tai. Giữa lúc đó trời đổ mưa rào rào, những giọt mưa to bằng đồng xèng đập xuống, trên mặt đất lập tức giăng giăng bụi mù, loáng một cái nước nổi lênh láng, vô vàn bong bóng nước cứ thế thay nhau cái nọ nổi lên trên cái kia tan ngấm. Người nào người ấy bỏ đi cả, ông già nói một câu: “Mưa đúng lúc” cũng bỏ xe đấy chạy vào cổng chùa Dựng Hoàng trú mưa dưới cột cờ. Bởi đứng không chán ngán, cũng có thể ngứa họng, ông già lại cao giọng đọc một đoạn ca dao.

    Nào ngờ đại sư Trí Tường đang ngồi héo hon trong cổng chùa Dựng Hoàng đã nghe được đoạn ca dao ấy. Trong cổng chùa Dựng Hoàng có một hòn đá lạ, bình thường chẳng hề có màu sắc, hễ gặp mưa trời âm u, trên hòn đá liền nổi lên đường vằn hình con rồng rất nét, đẹp vô cùng. Đại sư Trí Tường thấy mưa liền ra cổng chùa xem đá rồng nghe bên ngoài có tiếng hát: Giàu sang thì làm quan, phát tài thì buôn bán, nghèo khốn thì ra rìa.

    Dường như đang nghĩ đến chuyện gì đó, chợt có một tiếng kêu chát chúa như sét đánh ngang tai đập tan trên mái ngói cổng chùa. Ngẩng đầu nhìn lên, đã thấy bảy cái cầu vồng đan xen vào nhau lơ lửng trên nền trời đằng tây, liền liên tưởng đến hôm có bốn mặt trời xuất hiện trên không trung, biết rằng Tây Kinh sắp có chuyện lạ. Quả nhiên hôm sau đài đưa tin, đã phát hiện ra Sarira của Thích Ca Mâu Ni cách chùa cửa Phật hai trăm dặm. Xương Phật xuất hiện ở Tây Kinh đã gây chấn động thiên hạ. Đại sư Trí Tường đêm đó ngồi im trong phòng thiền, chợt hiểu ra, nói một mình. Hiện giờ trên đời hiếm có sói, hổ báo vì chó sói hổ báo đều hóa thành người ra đời cả rồi, cho nên có nhiều kẻ gian ác xấu xa. Đồng thời trong thành Tây Kinh những năm gần đây tụ tập biết cơ man nào thầy khí công, nào người có công năng đặc biệt, phải chăng ông trời đã cử loại người này xuống để cứu vớt nhân loại? Chùa Dựng Hoàng tự có phép công cường thịnh. Đã có bao nhiêu thầy khí công thông thường và người có công năng đặc biệt đua nhau xuống núi, thì sao mình không gắng hết công đức cơ chứ? Thế là dán truyền đơn áp phích quảng cáo khắp nơi, mở lớp huấn luyện sơ cấp ở trong chùa thu nhận học viên truyền thụ công pháp thông hiểu trời đất. Lớp học khí công mở được ba khóa, khóa nào cũng có một học sinh tên là Mạnh Vân Phòng. Mạnh Vân Phòng là nghiên cứu viên quán văn sử, song anh đều hăng hái đối với bất cứ việc gì. Bảy năm trước cả thành phố đang háo hức một loại nấm trà đỏ, chữa được bệnh, làm khỏe mạnh cơ thể, anh đã nuôi trồng tại nhà đến mức trong nhà chỗ nào cũng lỉnh kỉnh chai lọ đựng nấm trà, lại còn đem cho bà con khối phố khá nhiều. Vậy là quen biết một bạn trà dẫn đến chỗ cưới bạn trà này làm vợ. Sau đó hai vợ chồng lại bắt đầu vung tay, nói liệu pháp vung tay hơn hẳn nấm trà đỏ. Đương nhiên việc ấy chỉ được nửa năm. Ngoài xã hội lại dấy lên cơn sốt ăn trứng chua, lại uống tiết gà, hai người đều nhất nhất làm theo. Nào ngờ uống tiết gà vào liền sinh bệnh. Bao nhiêu lông… vợ rụng cho bằng sạch. Đi nhiều bệnh viện khám chữa không khỏi, vô tình nghe người hàng xóm kề bên có liều thuốc bí mật gia truyền, bà vợ liền sang xin chữa. Quả nhiên đã mọc lông mới. Người hàng xóm hơn Mạnh Vân Phòng một tuổi, trước đây cũng đã cùng nhau chơi mạt chược, sau đó ra khỏi cửa gặp nhau, gật đầu chào, người hàng xóm cười hề hề. Mạnh Vân Phòng liền mua quà biếu rất sang về bảo vợ:

    - Người ta đã chữa bệnh cho em, em nên sang cảm ơn người ta mới phải chứ!

    Bà xã mang quà sang biếu, rồi hớn hở về nhà, song Mạnh Vân Phòng lại đặt đơn ly hôn đã viết sẵn lên bàn bảo vợ ký vào. Anh bảo phen này thì thôi nhé chúng mình sẽ ly hôn, vợ là vợ của anh, mặc áo nhìn bố, cởi áo nhìn chồng, tại sao cái thứ của vợ anh lại để người ngoài nhìn thấy? Cắt đứt được sáu tháng thì cưới vợ mới là Hạ Tiệp, cũng theo họ Hạ tìm nơi ở mới. Nhà mái thường mới, vừa vặn cách chùa Dựng Hoàng một bức tường, tường ngăn không cao. Sau khi cưới vợ mới, Mạnh Vân Phòng ở nhà, thường ngày chẳng có việc gì, thường hay ghé đầu vào tường nghe âm nhạc, nhìn sư sãi đi lại. Từ sau khi tham gia học khí công, hàng ngày cứ nghe thấy tiếng thanh la đồng gõ xủng xoảng là tay chân ngứa ngáy như khỉ, muốn vượt tường lao sang. Một lần bị đại sư Trí Tường bắt gặp, hối hả định chạy trốn thì đại sư liền bảo:

    - Chúng mình chỗ quen biết cũ mà?

    Mạnh Vân Phòng vội gật đầu công nhận và nói:

    - Đại sư có trí nhớ tốt thế, vẫn còn nhớ tôi sao?

    Đại sư đáp:

    - Sao lại không nhớ kia chứ, cây hoa lạ của các anh chết rồi phải không?

    Mạnh Vân Phòng nói:

    - Vâng chết rồi, đại sư đoán chữ quả là linh nghiệm.

    Đại sư lại hỏi:

    - Thế bạn anh thì sao, khỏi ốm rồi chứ ?

    Mạnh Vân Phòng đáp:

    - Khỏi lâu rồi ạ. Đại sư còn biết cả chuyện bạn tôi ốm ư? Đúng là người thần thánh!

    Đại sư nói:

    - Đâu có, nếu là thần thánh, thì lúc ấy tôi nên giữ danh nhân ấy lại để tiện nói chuyện!

    Mạnh Vân Phòng liền vội nói:

    - Để dịp khác nhất định tôi sẽ dẫn anh ấy đến thăm đại sư?

    Lớp học khí công khóa đầu khai giảng Mạnh Vân Phòng đã mê ngay khí công, lại còn khoe khoang khắp nơi, trên người có khí cảm. Mỗi khi có người quen họp mặt, Mạnh Vân Phòng liền xuống tấn trong trạng thái gây tác dụng, sẵn sàng phát công cho người khác, lại còn hỏi đi hỏi lại có cảm giác gì không? Không có cảm giác gì. Lại đọc lời chú, đọc đến nỗi sùi cả bọt mép, trán đẫm mồ hôi vẫn không ăn thua. Mọi người liền cười ồ lên. Hạ Tiệp nói:

    - Anh ấy có khí thật đấy. Tối hôm qua em chướng bụng, anh ấy phát công một cái, quả nhiên bụng em sôi ùng ục. Một lát sau em đã chạy ra chuồng tiêu. Bây giờ anh ấy không đụng tới rượu thịt, không hút thuốc lá, cũng không ăn hành.

    Mạnh Văn Phòng nói:

    - Thật đấy!

    Anh em bảo:

    - Ồ, đi với sư thì làm sư luôn, vậy thì cai gái luôn chứ? Nếu tối không ngủ với chị Tiệp thì đúng là cai rồi.

    Hạ Tiệp cũng cười bảo:

    - Em cũng đang chờ anh Phòng cai đấy?

    Chị liếc nhìn chồng. Mặt anh Phòng đỏ ửng.

    Lời của Hạ Tiệp, chỉ có Hạ Tiệp và Mạnh Vân Phòng biết được mà thôi. Thì ra trong thời gian học khí công, Mạnh Vân Phòng đã quen biết ni cô Tuệ Minh trong chùa. Tuệ Minh mới ba mươi tám tuổi, ba năm trước tốt nghiệp Viện Phật học về chùa Dựng Hoàng. Hai người đã nói chuyện với nhau vài lần. Mạnh Vân Phòng rất khâm phục tri thức Phật học của chị. Anh cũng đã từng đọc “Ngũ đăng hội nguyên” và “Kinh kim cương” lại giỏi vận dụng nên thường được Tuệ Minh xin ý kiến khi gặp việc khó. Thế là nhiều buổi trưa, ở bên kia tường ngăn thấp lè tè, Tuệ Minh đã gọi thầy giáo Phòng. Hai người bám tường nói chuyện ríu ra ríu rít lâu lắm. Một buổi tối trăng sáng yên tĩnh, Hạ Tiệp đi đâu về nhìn thấy Mạnh Vân Phòng lại bám tường nói chuyện với ni cô Tuệ Minh . Bởi bám lâu quá, muỗi đốt hai chân, chân nọ cứ nhấc lên gãi liên tục vào chân kia. Bên này tường nói:

    - Tuệ Minh ơi, bài luận văn này viết hay lắm. Nhưng em cũng nghỉ ngơi giữ sức chứ!

    Bên kia tường đáp:

    - Em không mệt. Người mệt là tâm mệt, lặng lẽ viết luận văn này, em chỉ cảm thấy khoan khoái.

    Bên này tường bảo:

    - Khoan khoái như sen chứ? Chỉ cách một bức tường mà hai thế giới, anh hâm mộ bên các em.

    Bên kia tường cười hì hì, bảo:

    - Anh làm được mọi thứ, chỉ không làm sư được thôi. Anh ở ngoài không tìm được thanh tịnh. Tìm được nơi thanh tịnh thật, thì e rằng anh lại không chịu nổi thanh tịnh đâu mà?

    Bên này tường hỏi:

    - Thật chứ?

    Bên kia lại nói:

    - Chuyện nói với anh hôm trước, nhất định phải giữ kín đấy nhé?

    Bên này bảo:

    - Điều đấy anh hiểu, thắt chặt trái tim, giữ miệng kín như hũ nút mà!

    Bên kia nói:

    - Thầy giáo Phòng tốt thật đấy. Vậy thì em còn viết một lá đơn kiện, nhờ thầy đưa tận tay thị trưởng.

    Bên này cố sức rướn người, thò tay sang nhận, bảo:

    - Em đứng trên hòn đá thì anh mới nhận được. Ái chà, trẹo chân rồi phải không?

    Bên kia đáp:

    - Không!

    Một tập giấy thò lên khỏi mặt tường. Mạnh Vân Phòng đã cầm được, cùng lúc đó cây gỗ bên này giẫm lên bị gẫy uỵch một tiếng, người lăn xuống, cằm va vào ngói trên tường, một hòn ngói lăn xuống vỡ tan. Hạ Tiệp nhìn lớp kịch hay đó, nói:

    - E hèm, Mạnh Vân Phòng ơi, anh cẩn thận đấy, “Tây sương ký” em mới xem một phần đấy nhé!

    Cũng chẳng chú ý xem Mạnh Vân Phòng có đau hay không, Hạ Tiệp cầm cái ghế đứng lên nhìn qua tường. Ni cô Tuệ Minh đã chạy xa khỏi khóm hoa như một bóng ma. Lúc này Hạ Tiệp ám chỉ Mạnh Vân Phòng trước đám đông. Mạnh Vân Phòng đã đỏ mặt, song lại nói:

    - Em khỏi cần nói nữa, đấy cũng là làm việc Phật, công đức vô lường. Mọi người càng khó mà hiểu được chuyện ấy. Hắn bảo sắp ăn cơm trưa đi thôi, một anh bảo:

    - Chị Phòng cứ thong thả, chỉ cần chị bỏ sức, không cần chị bỏ tiền đâu.

    Thế là mỗi vị móc ra năm đồng, đương nhiên là Triệu Kinh Ngũ nhanh tay nhanh chân, xách liền ra chợ mua thịt rượu.

    *     *

    *

    Ở Đồng Quan phía đông Tây Kinh bốn trăm dặm, những năm này xuất hiện một băng những kẻ nhàn rỗi lang thang. Bọn họ thường bất mãn cái này, không vừa lòng cái kia, nôn nóng tới mức chẳng khác gì một đàn nhặng. Trong đó có một người tên là Chu Mẫn. Thấy bên cạnh kẻ muốn làm quan đã tìm được bậc thang thăng tiến, người muốn phát tài đã có mười mấy vạn đồng gửi vào ngân hàng. Riêng mình vẫn chưa tìm được cái mình cần tìm. Gần chạng vạng tối, buồn chán vô cùng, ngồi trong nhà uể oải đọc được mấy trang sách, liền đi quán cà phê tiêu xài, xả láng một chầu, lại đi dạo tiệm nhảy. Trong tiệm nhảy đã quen biết một người đàn bà xinh đẹp. Sau đó đêm nào cũng đi, thấy chị ta bữa nào cũng đến. Chu Mẫn liền nẩy ra ý định lạ lùng: “Có lẽ người đàn bà này có thể gửi gắm cho mình đấy”. Xong cuộc nhảy, Mẫn đề nghị được tiễn chị ta về nhà. Chị ta từ chối một lúc, song không kiên quyết. Mẫn liền bạo phổi, dùng xe đạp lai đến một ngõ vắng. Chị ta nhẩy xuống tạm biệt, bảo anh đi đi, song cứ đứng tại chỗ. Mẫn liền bước đến hôn một cái, chị ta liền khóc hu hu, bảo:

    - Em hận anh.

    Chu Mẫn nói:

    - Anh xúc động quá, anh không bao giờ thế nữa.

    Chị ta bảo:

    - Em hận lúc này mới gặp anh. Ba năm trước anh ở đâu?

    Chu Mẫn liền ôm chầm chị ta đặt lên gác ba ga, phóng vù vù ra bờ sông ngoài thành, khi chiếc xe đạp đỗ xuống, thì hai người ngã vật ra bãi cát cuốn chặt lấy nhau. Lúc này người đàn bà nói:

    - Em đã có chồng, con em đã hai tuổi rồi đấy!

    Chu Mẫn nghe nói giật mình, nhưng không sao kìm giữ được, bảo:

    - Mặc kệ, anh chỉ cần em. Em lấy anh nhé!

    Người đàn bà ấy là Đường Uyển Nhi, từ đó không quên được Chu Mẫn. Về nhà đòi ly hôn, anh chồng không nghe, lại còn lột hết quần áo ra đánh. Bị chồng đánh, Chu Mẫn không gặp được Đường Uyển Nhi ở tiệm nhảy, đã bố trí tay chân theo dõi động tĩnh ở đằng trước đằng sau nhà Đường Uyển Nhi.

    Tin tức đưa về, nhân lúc anh chồng kia bước ra khỏi cửa, liền lẻn vào dẫn Đường Uyển Nhi đi , rồi giấu ở một buồng kín. Huyện lỵ Đồng Quan cũng to rộng thế, mỗi con ruồi còn có chỗ ra vào, huống hồ là một người sống? Ngày thứ tư Chu Mẫn đến thăm Uyển Nhi, Uyển Nhi chỉ nói, vừa mới nhìn thấy một người bạn của chồng, rình mò rình mò, nhất định sẽ tra hỏi. Nghe vậy, Chu Mẫn cũng cảm thấy mình từ lâu đã không tiện ở nơi nhỏ bé này, lập tức thuê một chuyến xe chở Uyển Nhi về thành Tây Kinh, thuê hẳn một phòng để ở. Lúc mới đến Tây Kinh, hai người như cá gặp nước, mua sắm một vài vật dụng trong nhà và đồ dùng sinh hoạt. Đầu tiên đi chơi ao Hoa Thanh và tháp Đại Yên, sau đó mấy lần đi công viên Thiên Mã và khách sạn Đường Hoa. Người đàn bà này là con người tuyệt diệu, háo ăn chơi, thích khách sạn hào hoa và thời trang đẹp, thích cả xem truyện, có tư tưởng mới lạ kỳ diệu. Hai người đi qua ngôi nhà lầu cao ngất báo giờ trong thành. Khi chiếc đồng hồ khổng lồ đang nổi nhạc báo giờ thì Uyển Nhi nói:

    - Người ta muốn chết, cứ nhảy từ trên chiếc đồng hồ này xuống, chết thế mới là chết oanh liệt!

    Chu Mẫn nói:

    - Anh muốn chết, anh không nhảy thế đâu. Anh lấy một sợi dây chão treo cổ tự tử ở trên đồng hồ báo thức, vừa được chết trong tiếng nhạc, lại được cả thành phố nhìn thấy chết.

    Uyển Nhi bảo thế rồi sà vào lòng Chu Mẫn làm nũng, kể chuyện dạo trước hai vợ chồng cãi nhau, chị liền mở dàn loa cho hát Tiểu dạ khúc, có thứ nhạc nhẹ ấy, tư tưởng hai bên sẽ dần ôn hòa, nào ngờ anh chồng giơ chân đạp đổ dàn loa.

    Chu Mẫn bảo:

    - Anh ta không biết thưởng thức.

    Người đàn bà nói:

    - Anh ta chỉ biết hùng hục, là một con lừa.

    Một tháng sau, máu hăng cuồng nhiệt của hai người nguội dần, xẹp đi, tiền của mang theo cũng không còn mấy, Chu Mẫn mới biết đối với đàn ông, đàn bà chẳng qua là thế. Quả tình, Đường Uyển Nhi xinh đẹp, mà thành phố Tây Kinh to lớn thế, cũng không thể thực hiện được nguyện vọng của anh. Ở thành phố này, được những thứ mà anh muốn, như phim mới, quần áo mới, đồ trang sức mới, không thiếu thứ gì. Song vẫn thiếu tư tưởng mới và chủ đề mới. Mỗi buổi sáng ánh nắng gặm nhấm bờ tường vẫn là ánh nắng ấy, hoa nở trong bồn vẫn là loài hoa ấy. Mặc dù oai phong của người phụ nữ đã vượt chồng, thì một năm cũng vẫn chỉ có một ngày “Mồng tám tháng ba”. Tuy lão già tám mươi lấy vợ làm chú rể mới, thì vẫn là ông già. Chu Mẫn chìm đắm trong buồn khổ không thể nói toạc ra với Uyển Nhi những điều đó. Duy chỉ có một việc leo lên tường thành thổi huyên vào hai buổi sớm tối. Thổi huyên xong vẫn phải sống. Vậy là phải tìm việc kiếm ăn. Chu Mẫn đã phát hiện ở cách nhà không xa có một cái am ni cô. Trong am đang sửa lại mấy gian buồng, anh đã đến đó tìm được việc làm, may mà làm ngày nào trả công ngày đó. Nên mỗi ngày cũng mua được một con trắm cỏ, nửa cân nấm tươi về nhà hầm cho vợ hờ xơi. Chu Mẫn mặt mũi sáng sủa, trông nổi hẳn giữa đám thợ. Cai đầu dài đã giao cho anh quản thêm việc đi thu mua vật liệu. Mua vật liệu lại phải qua ni cô kiểm tra nghiệm thu thế là quen biết thêm thầy Tuệ Minh. Qua chuyện trò vài lần biết thầy Tuệ Minh về chùa Dựng Hoàng cách đây không lâu. Bởi còn trẻ lại có học vấn, tuy không chủ am, nhưng chỗ nào cũng có mặt, tự đề xuất ý kiến, chị em ni cô ai cũng phục Tuệ Minh. Chu Mẫn thấy Tuệ Minh xinh đẹp, có ý gần gũi, có việc hay không cũng thường đến hỏi. Một hôm, đang cầm một quyển sách đọc, chợt ngẩng lên, thấy Tuệ Minh ở dưới giàn Tử đằng vẫy gọi mình, Chu Mẫn bỏ quyển sách xuống đến gần. Tuệ Minh bảo:

    - Anh xuất chúng lắm, đọc sách gì vậy?

    Chu Mẫn đáp:

    - “Tây sương ký”, trong chùa Phổ Đà này… song không nói nữa.

    Tuệ Minh hỏi:

    - Anh cảm thấy Am ni cô này không tốt bằng chùa Phổ Đà ư?

    Chu Mẫn ngoái đầu nhìn chung quanh, đang định nói điều gì, thì khuân mặt trắng trẻo của Tuệ Minh khe khẽ cười, trông trang trọng lắm, Tuệ Minh nói:

    - Anh vừa đến, em đã nhận biết anh không phải là dân làm thuê vất vả, quả nhiên thích đọc sách. Nếu xem cho vui thì thôi, còn nếu xem để nhận ra một điều gì đó, biết ý tứ sâu hơn trong sách, thì có thể đi gặp một người.

    Chu Mẫn nói:

    - Đương nhiên hay lắm. Không biết người đó là ai? Có chịu gặp tôi không, còn phải nhờ thầy giới thiệu.

    Tuệ Minh nói:

    - Có cái mồm ngọt xớt như anh, trong thành Tây Kinh, ai cũng có thể gặp được.

    Thế là viết luôn số ngõ phố, tên họ người cần gặp, lại viết một lá thư nhỏ. Chu Mẫn mừng rơn định đi luôn, Tuệ Minh bảo:

    - Chờ một chút, tôi còn một lá thư nữa, anh đem tới cho anh ấy.

    Chu mẫn cầm lá thư theo số ngõ phố, thì tìm được Mạnh Vân Phòng ở đằng sau tường bên trái chùa Dựng Hoàng. Mạnh Vân Phòng rất nhiệt tình, mời ngồi, rót nước, hỏi nhiều tình hình, chẳng hạn đã đọc sách gì? Đã từng viết văn chưa? Còn quen biết ai ở thành Tây Kinh? Chu Mẫn dẻo mỏ, trả lời từng câu, Mạnh Vân Phòng liền dẫn Chu Mẫn vào phòng sách trò chuyện, say sưa lắm. Đêm về Chu Mẫn nói chuyện với Đường Uyển Nhi. Đường Uyển Nhi bảo:

    - Xưa nay được ở Tây Kinh không dễ đâu. Chúng mình ở đây không thân quen ai, được gặp nghiên cứu viên Mạnh Vân Phòng, cũng là phúc to bằng trời, anh không được chỉ đi một lần do Tuệ Minh giới thiệu rồi bỏ, mà nên đến nhiều lần mới đúng.

    Nghe lời Uyển Nhi cứ dăm ba hôm, Chu Mẫn lại đến thăm một lần. Thời gian đầu đến thăm thường lấy danh nghĩa Tuệ Minh, về sau mỗi lần đến lại không tránh khỏi mang theo một con cá hoặc bó rau. Hạ Tiệp cũng có cảm tình tốt với Chu Mẫn, thường hay khen anh ăn mặc gọn gàng trước mặt chồng, chê chồng lôi thôi bẩn thỉu. Hơn một tháng, đã trở thành khách đến nhà thường xuyên, Chu Mẫn liền bắt đầu đưa bài văn ngắn mới viết đến nhờ sửa chữa. Mạnh Vân Phòng thích làm thầy người khác, tự nhiên giảng giải từ mỹ học cổ điển Trung Quốc đến nghệ thuật hiện đại phương Tây. Nói tới mức Chu Mẫn gật đầu lia lịa, quyết tâm phải chịu khó viết cho văn hay dưới sự chỉ đạo của thầy giáo, liền than phiền đi làm mướn bỏ sức ra chưa kể, ngay đến thời gian cũng không có, thầy giáo Phòng là danh nhân văn hóa trong thành, chắc chắn quen biết nhiều người, liệu có thể giới thiệu đến tòa soạn một tờ tạp chí nào đó làm tạp vụ một là có thời gian đọc sách, hai nữa cho dù không có thời gian, nhưng được tiếp xúc toàn người làm văn hóa. Riêng bầu không khí đó cũng giúp nâng cao trình độ cho mình nhanh hơn. Mạnh Vân Phòng nói một câu: “Đồng Quan đa chung tú, nhân tự hữu linh khí” (Đất Đồng Quan có nhiều bậc hiền tài, con người tự khắc có khí thiêng), rồi mỉm cười một mình. Chu Mẫn không biết ý của anh, liền thanh minh luôn, nếu thầy giáo thấy khó thì thôi. Hiện giờ tìm được một việc làm khó lắm, huống hồ tòa soạn báo chí là nơi dành cho những người nào.

    Mạnh Vân Phòng liền cười bảo:

    - Mình dự đoán cậu chẳng phải là tay vừa! Không nói bốc đâu, tất cả các tòa soạn báo chí trong toàn thành mình đều quen biết, hiện giờ tuy tòa soạn nào cũng ăm ắp người rồi, nhưng mình nói một câu cũng chẳng phải nước hất đi đâu. Thôi quay lại chuyện cũ nhé, muốn kiếm được việc trong cái làng văn nghệ ở Tây Kinh, phải hiểu hiện trạng của làng văn nghệ đó. Cậu đã hiểu đến đâu hả?

    Chu Mẫn đáp:

    - Em đâu có hiểu gì, ra khỏi cửa là đêm đen, mù tịt.

    Mạnh Vân Phòng nói:

    - Trong thành Tây Kinh có hàng đống những kẻ ăn không ngồi rồi. Kẻ ăn không ngồi rồi lại chia ra hai loại, một kẻ là ăn không ngồi rồi, về mặt xã hội có thể có địa vị, có thể không có địa vị, có thể có nghề nghiệp, có thể không có nghề nghiệp, đều là những người có nghĩa khí, có sức lực, có tinh lực, có tài năng, coi trọng và yêu thích làm việc. Bọn họ buôn chuyến, làm thuyết khách, ăn uống chơi bời cờ bạc, chỉ không hút thuốc phiện, hãm hại, che giấu, lừa gạt, chỉ không trộm cắp của cải tiền bạc, gây sự rồi lại dẹp sự. Bọn họ lãnh đạo trào lưu ăn uống, may mặc ở Tây Kinh, bọn họ kích thích phát triển kinh tế ở Tây Kinh. Đường đỏ họ chèo lái, lối đen họ cũng khống chế. Nhân vật đại diện trong số này cũng là lãnh tụ trong bóng tối, có bốn tên người ta gọi là “bốn cậu ác lớn”. Loại người này đã đối xử tốt với cậu thì xẻo thịt trên người cho cậu ăn, đã nói không tốt, thì lập tức quay ngoắt không chơi nữa. Cậu đừng có dính vào cái vòng này. Nói thế nào về những người này nhỉ? Cậu hãy thử nghe ngôn ngữ của họ là đoán biết được phần nào: Họ không gọi tiền là tiền, mà gọi là “bả nhi” (cái chuôi), nói anh tốt không gọi là anh tốt, mà gọi là “cương ca nhi” (ảnh thép), chơi gái thì gọi là “đả động” (đào lỗ), con gái đẹp thì gọi là “tạc đạn” (quả bom).

    Mạnh Vân Phòng còn định nói nữa, thì trên mặt khiêm tốn của Chu Mẫn lại nở một nụ cười. Mạnh Vân Phòng hỏi:

    - Cậu không tin hả?

    Chu Mẫn đáp:

    - Tin ạ!

    Trong bụng thì lại nghĩ đến việc mình đã làm ở Đồng Quan, biết rằng thành phố lớn có kẻ vô công rồi nghề của thành phố lớn, huyện lỵ nhỏ có kẻ vô công rồi nghề của huyện lỵ nhỏ, mức độ có khác nhau, song ít nhất ngôn ngữ cũng tương tự. Chu Mẫn liền bảo một câu:

    - Ngoài xã hội bây giờ, ta có thể ngồi nhà tưởng ra cái gì thì trong đời sống hiện thực có thể xảy ra cái đó. Những điều thầy nói em đều tin!

    Mạnh Vân Phòng nói:

    - Không nói đến loại người ấy nữa, mình muốn nói với cậu một loại người ăn không ngồi rồi khác: Người ăn không ngồi rồi văn hóa. Trong thành Tây Kinh, nhắc tới “bốn cậu ác lớn” không ai mà không biết, nhắc đến tứ đại danh nhân, thì người lớn trẻ con càng biết rõ. Muốn bám vào giới văn nghệ ở Tây Kinh, cậu phải quen biết bốn danh nhân lớn này. Người đầu tiên trong bốn danh nhân lớn là họa sĩ Uông Hy Miên. Năm nay bốn mươi lăm tuổi, vốn là thợ chạm của nhà máy đồ ngọc, ngoài giờ làm việc vẽ tranh, trong vài năm tranh vẽ nổi lên như cồn. Viện tranh Trung Quốc ở Tây Kinh vốn có ý định điều anh đi, nhưng anh lại đi tháp Đại Yên, được mời làm họa sĩ chuyên nghiệp ở đó. Người nước ngoài đến Tây Kinh phải đến tháp Đại Yên, anh sẽ bán tranh, nhất là loại tranh tờ, một tranh tờ nho nhỏ bán những mấy trăm đồng. Một ngày anh có thể vẽ được bốn năm tranh tờ, số tranh bán được thì Sở quản lý tháp Đại Yên được một nửa, anh được một nửa. Vậy là anh có nhiều tiền hơn họa sĩ thông thường. Điều lạ lùng hơn là anh học cái gì giống cái đó, có thể phỏng chế tất cả tranh vẽ của họa sĩ có tên tuổi, trên có Thạch Đào, Bát Đại Sơn Nhân, dưới có Trương Đại Thiên, Tề Bạch Thạch. Hai năm trước tranh của Thạch Lỗ bán có giá, anh đã vẽ mấy bức, ngay đến gia đình Thạch Lỗ cũng không phân biệt được thật giả. Anh lắm tiền, vợ lại đẹp, nói công khai, khi vẽ tranh không có người đẹp ở bên cạnh mài mực trải giấy thì không có đam mê. Mùa hè năm ngoái, mời bạn bè đi chơi núi Ngũ Đài ở phía nam thành phố, mình cũng được mời, anh ấy oách lắm, thuê hẳn bốn xe tắc xi, một xe toàn đàn bà. Người tình trẻ của anh bơi trong đầm, đánh rơi chiếc nhẫn vàng, ai nấy rối tinh rối mù lên, lội xuống mò, anh bảo: “Rơi rồi thì thôi có sao đâu”. Nghe cái giọng, dường như chiếc nhẫn vàng một vạn hai ngàn đồng là hạt cáu trên người kỳ ra? Ngay lập tức rút trong túi một xấp tiền đưa cho cô gái, hừ xấp tiền ấy dày thế này này. Một vị nữa, cậu đi khắp phố to ngõ nhỏ ở Tây Kinh, thử nhìn chữ trên tất cả các biển, cậu sẽ biết cái tên lớn Cung Tịnh Nguyên. Thời Quốc dân đảng, tất cả chữ hiệu đều do Vu Hữu Nhậm viết. Vu Hữu Nhậm cũng không phất bằng Cung Tịnh Nguyên bây giờ. Giống như Uông Hy Miên, ông này cũng có một đống đàn bà đuổi không đi, song ông không si tình như Uông Hy Miên, chỉ gặp đâu chơi đấy cho vui, tốt thì tốt, tốt xong thì quên luôn, cho nên khá nhiều đàn bà đều tự xưng là bồ của họ Cung. Còn Cung Tịnh Nguyên thì không nói được tên cụ thể. Hiện nay khó tìm được chữ của ông. Thông thường người xin chữ, ông không đóng dấu, không đóng dấu coi như bằng không. Muốn đóng dấu đều phải do phu nhân của ông đóng, vậy thì phải tiền trao cháo múc. Một tranh chữ đóng khung dài một ngàn đồng, một tấm biển ba ngàn đồng. Tiền do phu nhân quản lý hết, Cung Tịnh Nguyên không có tiền tiêu vặt, nhưng ông mê đánh mạt chược, một đêm thường thua từ tám trăm đến một ngàn đồng, không có tiền thì viết chữ thay thế. Cho nên ông đến bất cứ khách sạn nào, muốn ăn cứ ăn, muốn ở cứ ở. Giám đốc khách sạn tiếp ông như tiếp Phật. Hội nấu nướng trong thành phố kiểm tra sát hạch các đầu bếp, quan giám khảo đã hỏi trước: Cung Tịnh Nguyên đã ăn món anh nấu chưa? Nếu trả lời đã ăn, thì đầu bếp ấy đã qua cửa ải thứ nhất; Nếu trả lời chưa, thì coi như chưa đủ bậc. Danh nhân thứ ba là Nguyễn Tri Phi đoàn trưởng đoàn ca nhạc miền Tây. Anh vốn là diễn viên Tần Xoang, học từ đời bố được mấy ngón tuyệt vời “Thổi lửa”, “Vung roi”, “Nhe răng”. Tần Xoang sa sút, kịch trường tiêu điều, anh đã từ chức, lập đoàn ca múa dân sự, diễn viên đều tuyển dụng hợp đồng, anh dùng những người mà đoàn kịch nghiêm chỉnh không dám dùng, anh hát những bài không dám hát, anh mặc những bộ quần áo không dám mặc, cho nên năm năm trước, đi hết đông tây nam bắc, buổi diễn nào cũng đông nghìn nghịt, tiền thu về như tuyết bay tơi tới. Những năm này ca múa lưu hành không được như trước đây, đoàn ca múa chia làm hai, một nhóm từ thành thị chuyển về nông thôn, một nhóm khác mở bốn tiệm ca múa trong thành Tây Kinh. Vé vào lên tới ba mươi đồng, mà người xem cứ lao vào như điên. Ba vị danh nhân này đều có đi lại với những người vô công rồi nghề xã hội, chỉ có điều khi hợp thì hợp, khi tan thì tan, cái chính là bên trong thì dựa vào bọn quan lại, bên ngoài thì dựa vào người nước ngoài. Riêng vị danh nhân thứ tư thì sống thanh tịnh. Phu nhân của anh tuy cũng thuê người mở hiệu sách Thái Bạch ở đường Nhà bảo tàng Rừng Bia, song anh là ông chủ không thiếu tiền lắm, lại không mê tiền lắm, chỉ ở nhà viết văn làm vui. Nhưng sự đời lại éo le kỳ quặc, anh càng không cần gì cả, thì cái gì anh cũng có hết. Trong bốn danh nhân này, coi như anh ấy cao cấp hơn, thành tựu lớn tên tuổi vang xa nhất. Đó là đồng hương của Đồng Quan các cậu!

    (Còn tiếp)

     

     

     

     

    Nguồn: Phế đô. Tiểu thuyết của Giả Bình Ao. Vũ Công Hoan dịch. Hai tập, 1000 trang. Biên tập: Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương. NXB Văn học, 2003. Tái bản: 2005.

     

     

     

     

     

    Table of contents: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55

    Search

    Access times

    • Total visits33,728,732

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...