Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,814,949

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện ngắn

Dương đảo

Vũ Hạnh

  • Thứ ba, 18:11 Ngày 18/11/2008
  • Từ năm thứ ba của triều Mân Vương, xã hội kể như có sự lật ngược. Đó là đàn bà lấn sân, uy hiếp đàn ông một cách trầm trọng.

    Ngay trong cung cách sinh hoạt, các bà cũng chiếm đoạt dần những gì mà bọn đàn ông xưa nay lầm nghĩ là của riêng mình, và bắt đàn ông học đòi trở lại những gì chị em đã chán chê rồi. Chẳng hạn, từ thời cổ đại phụ nữ vốn để tóc dài, cột lại rồi thả lúc lắc theo kiểu đuôi ngựa, còn đàn ông thì độc quyền “húi cua”, tức cắt tóc ngắn. Nhưng nay thì đã có sự đảo lộn: tóc của các bà hớt cao vổng lên trên ót, còn nhiều đực rựa lại để tóc dài và cũng cột chùm, thả đuôi leo ngheo, tỏ ra hí hửng như mới phát minh được cái mốt lạ. Dễ thấy hơn nữa, là cách ăn mặc. Ngày nào, các bà mặc phủ kín đùi, lỡ để lộ ra một chút da non là thấy xấu hổ sượng-sần cả mặt, và dành quần cụt - còn gọi là quần xà-lỏn- cho giới mày râu. Nay thì đàn ông bám chặt lấy thứ quần dài để cho các bà chiếm dụng quần cụt, thậm chí rất cụt đến nỗi không thể cụt hơn, lại đi nghênh ngang giữa chốn phố phường theo đúng kiểu cách chào hàng hiện đại. Còn về chuyện ngồi, thì xin miễn bàn. Các bà ngày nay không khép đôi chân, cũng không chịu khó tréo mảy cho nó yên ổn, lại dang cả hai chân ra, kể cả khi ngồi thu hết cặp cẳng lên trên ghế đá, giữa chốn công viên, có vẻ thách thức bàn dân thiên hạ.

    Nhưng điều đáng nói là chuyện trong nhà. Các bà luôn cho là mình có lý, có quyền, nói năng hơi lớn, lên lớp hơi nhiều, thường tuyên bố rằng đối với đàn ông chị em luôn phải đề cao cảnh giác để khỏi nếm lấy quả lừa. Vì vậy, những thứ đàn ông kiêu-hãnh, nghênh ngang, ra vẻ ta-đây, giờ kể như đã tuyệt chủng. Chỉ còn một hạng lấm lét, e-dè, luôn luôn ở trong tư thế đối phó mà mình cầm chắc lấy phần thất bại.

    Trong hoàn cảnh ấy, có một ngư dân tên là Trần Thân, hiền lành, nhẫn nhục, vì không chịu nổi vợ nhà nên đã nhiều phen có ý quyên sinh, song vào phút chót lại thấy tiếc rẻ cuộc sống còn nhiều cá mắm, bèn muốn tìm phương cách khác. Hối ấy, chưa có cánh cửa ly dị như một lối thoát an toàn, và thật gọn nhẹ, nên Trần Thân bèn nghĩ cách trốn khỏi tay vợ, theo như sách xưa đã dạy: “Ba mươi sáu kế chỉ có cách chạy là cách xịn nhất”. Nhưng chạy đi đâu? Đó là vấn đề. Bởi khắp trên mặt đất liền, dầu anh trốn chui trốn nhủi nơi đâu thì bà xã cũng kịp thời phát hiện và lôi cổ về. Bấy giờ, nỗi khổ sẽ càng mười phần bi thảm.

    Cuối cùng, Trần Thân chợt nhớ một lần đánh cá ngoài khơi anh bị bão lớn, giạt vào một hòn đảo nhỏ. Hòn đảo xanh tươi, phong cảnh kỳ thú đặc biệt và rất hoang vu như chưa có ai từng đặt chân đến. Chỉ có ra được ngoài ấy, mới có cơ may thoát được vợ nhà.

    Thế là nửa đêm Trần Thân lén dậy, đặt một tờ giấy viết sẵn mấy chữ: “Vĩnh biệt từ đây” rồi nhẹ nhàng ra khỏi nhà, đến ngay bờ biển có giấu cất sẵn các thứ nhu dụng, lên chiếc ghe con, giong buồm ra đảo.

    Đặt chân lên đảo, Trần Thân thấy mình như lên được miền Cực Lạc. Thôi thì từ đây không còn bị ai làm tội, làm tình. Được sống, mà khỏi đối phó với người gần gũi, là thần tiên rồi. Anh ta chạy từ đầu đảo xuống dưới cuối đảo la hét huyên thiên, hết cười lại nói, hết nói lại chửi, vung tay múa chân, tuyên bố đủ điều kỳ lạ mà nếu có ai nghe thấy cũng nổi da gà. Nhưng ở nơi đây, chỉ mỗi mình anh, chẳng phải sợ gì. Cá, ốc có đầy quanh đảo, cây trái rậm rạp, trĩu cành, đất tốt trồng gì cũng dễ sinh sôi, và điều tuyệt vời là không còn nghe vợ tố, vợ tụng, ca-kệ, nhì-nhằng. Buổi sáng, Trần Thân ra một mỏm đá nói to tất cả những gì bấy lâu ẩn chứa trong lòng nhưng vì sợ vợ nên không dám nói. Buổi trưa, anh vào nằm trong hang đá lảm nhảm một mình bao nhiêu ý nghĩ của anh đối với vợ nhà. Buổi tối, bên ngọn lửa hồng, anh lại một mình thổ lộ tất cả ý nghĩ của anh về giới phụ nữ.

    Ba ngày sau đó, Trần Thân rơi vào trạng thái im lặng. Nói, là để cho người ta nghe, và anh đã nói cho chính anh nghe chán chê cả ba ngày rồi. Nay thì còn có ai đâu để mà nói nữa? Trần Thân bắt đầu cảm thấy một nỗi cô đơn. Và anh chợt hiểu: cô đơn lớn nhất của nhân loại này là không được nói.

    Thế thì phải làm sao đây? Gấp rút tìm người đồng điệu để mà chia xẻ tâm tình. Trần Thân lấy mấy chai mắm, chai dầu đã cạn, rửa sạch rồi viết tờ thư nhắn gởi đàn ông khắp xứ- những ai sợ vợ, giận vợ, chán vợ- hãy theo bản đồ chỉ dẫn mà đến đảo này. Xong, anh nhét nút kỹ, ném chai xuống biển, để nhờ sóng gió đưa đi.

    Và điều kỳ diệu xảy ra. Chỉ một thời gian rất ngắn, đã có vô số đàn ông tấp nập kéo tới. Con số lên đến gần một ngàn người. Không khéo đảo sẽ bị nạn nhân mãn đàn ông. Bây giờ có một tập thể đông đúc như vậy, cần phải tổ chức, sắp xếp đội ngũ không thì sẽ gây hỗn loạn, bởi lẽ nhiều anh bị vợ đàn áp lâu năm đã có triệu chứng tâm thần phân liệt, một số nửa khùng nửa điên cười khóc thất thường, một số bị trầm cảm nặng, suốt ngày chỉ ngồi im lặng như đá, cạy răng cũng không nói được một lời. Dĩ nhiên, về chuyện ăn uống thì vẫn còn nhiều nhiệt tình.

    Trần Thân được toàn thể bầu lên làm đảo trưởng. Anh chọn ba chục đảo phó để làm phụ tá, vì có nhiều phó thì cái người chánh xem như là có quyền hơn. Rồi chia đủ thứ ban bệ để khai thác đảo, phần lo săn bắt thủy sản, phần lo trồng trọt, phần lo chăn nuôi. Về mặt duy trì trật tự, trị an thì có đội ngũ đề phòng các tay điên khùng gây rối, mặt khác cũng phải canh chừng quanh đảo đề phòng phụ nữ tấn công. Dầu ở cách xa giữa chốn biển khơi, song kẻ sợ vợ vẫn không vì vậy mà hết sợ được.

    Đồng thời đảo cũng khuyến khích các môn giải trí để cho cơ thể cũng như tinh thần được sự giải tỏa, bởi sống xa vợ các anh đàn ông dễ bị ức chế gây ra manh động mà cứ tưởng lầm là cái bản lĩnh của kẻ yên-hùng. Hai môn được khuyến khích nhất là môn bóng đá và môn đô-vật mà giới đàn ông nhiều năm ngộ nhận là môn thể thao riêng của giới mình. Không có quả bóng đích thực, người ta lấy các giẻ rách quấn tròn và đá với nhau xem cũng ra trò. Đồng thời đảo cũng mở một cửa hàng để các dân nhậu có thể đến uống rượu đế thả cửa, miễn là có cá, có củi để mà trao đổi. Rượu này do một ban bệ gồm nhiều chuyên viên chế cất trong một hang đá, song dầu họ có nhiệm vụ chở rượu ra quán vẫn không mấy khi thực hiện đúng kỳ, bởi lẽ sau khi nấu xong họ thường nốc say bí tỉ và lăn ra ngủ như chết. Đó cũng là điều mà khi phải sống với vợ, họ thường bị chuyện cằn nhằn, tiến đến chửi rủa- từ sự chửi ngắn lấn sang chửi dài- dẫn đến chén bát bể sạch. Cùng sống trên đảo với những đồng loại toàn là đực rựa, người ta khám phá ra rằng áo quần cùng với các mốt thời trang chỉ là sản phẩm phát sinh do sự đối phó với người khác giới. Bởi thế, ở đây ăn mặc là chuyện không cần bàn đến. Có gì mặc nấy, và nếu không có cũng chẳng sao cả. Lại càng mát mẻ!

    Nói chung, ở một quần thể chỉ toàn nam giới, lại mang tâm lý sợ vợ, có biết bao nhiêu là chuyện quái đản, buồn cười không thể kể hết trong một truyện ngắn. Để củng cố sự ra đi của mình, mỗi tối thứ bảy thường có cuộc tập họp lớn để cùng nói xấu phụ nữ, cụ thể là nói xấu vợ, cho hả cơn tức bấy lâu. Nói riết, hết chuyện, người ta lại đặt điều ra, khiến ông đảo trưởng lấy làm kinh ngạc vì nhận thấy rằng đàn ông cũng có bộ óc hư-cấu hết sức dồi dào. Và khi cần phải nói xấu người khác, họ tỏ ra có năng lực phi thường.

    Sinh hoạt ở đảo cứ thế tiếp diễn, cho đến ngày nọ có một sự cố. Câu chuyện khá dài, song xin tóm lược như sau:

     Thời ấy, một trong những nghề hốt được bộn bạc, đó là buôn lậu, làm các hàng giả và ra làm quan. Điều này khiến cho khá nhiều kẻ sĩ hăm hở đi học, thậm chí đút lót quan trên để mua đề thi với một giá cao đặng có cơ may chiếm được bảng vàng. Trên tinh thần ấy có gã Mai Trầm, người huyện Thanh-Nê, mặc dù học dốt cũng xách khăn gói hăm hở ra chốn kinh kỳ. Đến bến Bạch Phố gã thuê chiếc thuyền để đi đường sông cho được thanh nhàn. Đi được năm ngày, chủ thuyền hết gạo, cạn nước, ghé lại gần chợ Liên Châu lên bờ mua đồ tiếp tế. Mai Trầm ngồi trong thuyền, nghe ở trên bến có tiếng người nữ hát rất não-nuột, giọng thánh thót, tiếng dịu ngọt đến mê lòng người. Khi chủ thuyền về, gã hỏi:

    - Người nào hát hay vậy kìa?

    - Xin thưa, đó là cô gái hát dạo, nghe đâu chồng bị giam trong ngục tối, nàng phải làm nghề xướng ca kiếm tiền độ nhật để đến kinh kỳ kêu oan cho chồng.

    - Hãy gọi nó đến cho ta.

    Chủ thuyền ra đi, chốc lát đã dẫn người ca nữ về. Mai Trầm thoạt nhìn, đã thấy mê mẩn. Thế ra ngoài cái giọng ca diễm lệ nàng có nhan sắc mặn mà khác thường. Gã bảo:

    - Hãy ngồi xuống đây, nói cho ta rõ sự tình.

    Cô gái cho biết tên là Từ-Ly, họ Đào, lấy chồng là một nông dân tên Bái, họ Vương. Vì thấy quan trên tham nhũng, lộng hành, chồng nàng đã cùng bè bạn lên tiếng chống đối, lập tức đã bị bắt giam vào ngục. Nàng đã tìm kiếm khắp nơi không gặp mặt chồng, nay lên kinh đô kêu oan. Ngặt vì đường xa, tiền ít, phải hát để kiếm đồng tiền độ nhật. Mai Trầm gật gù:

    - Cũng may cho nàng là ta đang trên con đường về chốn kinh kỳ ứng thí. Vậy cho nàng đi theo ta.

    Từ-Ly cúi đầu cảm tạ, lui về sau ghe.

    Đêm ấy, Mai Trầm cho gọi Từ-Ly và bắt nàng phải cùng gã vui vầy chăn gối. Từ-Ly cự tuyệt. Mai Trầm đưa một nén vàng. Từ-Ly lắc đầu. Y đưa hai nén, Từ-Ly nghiêm mặt:

    - Ông tưởng tôi có thể bán danh dự và thân xác tôi để lấy vàng sao? Cho dầu ngàn lượng vàng ròng cũng không mua được danh-tiết tôi đâu.

    Mai Trầm cả giận, đáp lại:

    - Ca nữ mà còn làm bộ chê tiền!

    Từ-Ly trả lời:

    - Dầu là ca nữ phải sống xó chợ đầu đường nhưng tôi, cũng được giáo dục tôn trọng đồng tiền chính đáng do công sức mình làm ra, chứ không đem bán thân mình. Chỉ bọn tham quan lại những, thấy tiền tối mắt, mới làm những chuyện ô-danh.

    Mai Trầm quát to:

    - Đừng có nhiều lời. Mai đây thi đỗ, làm quan ta có vô số tì thiếp xinh đẹp gấp mười, gấp trăm nhà ngươi. Sá gì một gái có chồng tha phương cầu thực!

    Qua ngày hôm sau, thấy ở đằng xa có một đảo nhỏ, gã hỏi chủ thuyền:

    - Hòn đảo gì vậy?

    - Thưa là đảo hoang. Xưa nay, trái đường ít ghe lui tới nên không đặt thành tên gọi. Gần đây nghe có một số đàn ông chán đời đến đó tu hành.

    - Vậy hãy ghé lại.

    Chủ thuyền tuân lời, cho thuyền cập vào một bờ đá hẹp. Mai Trầm đưa hai đồng tiền và cái chai nhỏ, bảo người chủ thuyền:

    - Hãy sai cái con mất dạy lên tìm mua rượu cho ta.

    Đợi Từ-Ly vừa đi khuất sau một lùm cây, Mai Trầm ra lệnh:

    - Cho thuyền đi thôi.

    - Nhưng còn cô gái…

    - Mặc kệ xác nó. Đó quả là đồ vô dụng, đem theo chỉ thêm gai mắt. Để nó sống chung với bọn tu hành trên đảo, thử có an-toàn danh tiết hay không.

    Chủ thuyền không nỡ bỏ rơi một người phụ nữ cô đơn ở giữa bể khơi, có vẻ chần chừ thì Mai Trầm quát:

    - Ta đã thuê trọn thuyền này thì ta là chủ, muốn cho ai đi là tùy ở ta. Hãy lên đường ngay!

    Và thuyền lướt sóng ra khơi.

    Từ-Ly lặng lẽ men theo triền đảo đi tìm quán rượu. Khi đến đầu dốc, quay lại, thấy thuyền chạy xa biết mình đã bị bỏ lại nơi đảo hoang này. Không còn cách nào khác hơn, nàng lại tiếp tục tìm vào bên trong, hy vọng gặp được nhà của ngư dân. Đang cúi đầu bước vừa nghĩ thân phận lưu lạc của mình, bỗng nghe một tiếng rú lên:

    - Trời ơi!

    Nàng dừng bước lại. Sau một mỏm đá có người đàn ông đang đứng nhìn nàng lom lom, mắt mở trừng trừng trong một dáng vẻ kinh ngạc tột cùng. Cuối cùng, anh ta lắp bắp:

    - Đàn… bà phải không?

    Từ-Ly gật đầu, thầm nghĩ: “Có lẽ đây là một gã điên khùng”.

    Nhưng gã đã hốt hoảng bảo:

    - Ấy chết! Nàng đừng bước tới kẻo mà mang hoạ vào thân. Ở đây đã có nghiêm luật: hễ gặp phụ nữ thì phải quăng ngay xuống biển để tránh đại-nạn.

    Từ-Ly nói qua cảnh ngộ của mình, rồi than:

    - Thế tôi phải làm sao đây? Chẳng lẽ ở đâu tôi cũng phải gặp những bọn đàn ông ích kỷ, hồ đồ vậy sao? Ở trên mặt biển là phường dâm loạn ác-nhân, còn trên mặt đất là lớp cuồng điên tàn bạo. Nếu không vì cảnh chồng tôi tù tội hàm oan chưa được giải tỏ, thì tôi sẵn sàng làm mồi cho cá ở chốn biển khơi chứ nào thiết sống giữa chốn trần gian đầy ô-nhục này!

    Người đàn ông lộ vẻ xúc dộng, đáp lại:

    - Ta chưa gặp ai xinh đẹp lại có tấm lòng chung thủy kiên cường như nàng. Vậy để ta tìm cách gì giúp nàng thoát cảnh hiểm nguy. Bây giờ hãy nghe lời ta tạm núp vào trong hang đá trước mặt. Đến tối, ta sẽ mang quần áo đến để nàng cải trang mà về ẩn trú nơi cái hàng quán mà ta đã được phân công điều hành.

    Từ-Ly không cách nào khác là phải nghe theo. Đến gần nửa đêm, Lý Hải- tên người chủ quán- đem đến cho nàng quần áo đàn ông, một khăn vấn đầu và chút lọ nồi để mà bôi lên mặt mũi cho ra con người lam lũ. Họ cùng đi con đường tắt về quán. Tới đây, Lý Hải đưa nàng vào một buồng nhỏ phía sau và đem cơm nước cho nàng. Gã bảo:

    - Hãy cứ suốt ngày nằm yên trong đó, đừng có thấp thoáng ra ngoài.

    Gã còn cẩn thận đặt vào bên trong hai cái chậu nhỏ, để người đàn bà giải quyết đầu ra cho bản thân mình.

    Từ đó, mỗi ngày hai lần gã đem cơm nước vào cho Từ-Ly. Ban đầu nàng còn lo sợ nhưng sau thấy gã luôn tỏ thái độ nghiêm cẩn và kính trọng nàng nên mới yên lòng. Song phải giam cầm như thế cho đến bao giờ? Một hôm, Từ-Ly nói lên nguyện vọng của mình:

    - Kính thưa ân nhân, tôi được sống yên nơi đây là một điều may mắn lớn song cứ nghĩ đến nỗi oan chồng tôi chưa được giải tỏ thì không làm sao có thể an lòng. Mong ngài giúp tôi rời khỏi chốn đảo hoang này thì tôi xin nguyện suốt đời không quên ơn ngài.

    Lý Hải đáp lời:

    - Ta đã nghĩ đến điều này từ ngày đầu tiên gặp nàng. Từ lâu ta cứ nghĩ rằng đàn bà là kẻ nhà trời sai xuống để mà dằn vặt đàn ông, nay gặp được nàng thấy quả là mình lầm lớn. Xinh đẹp, lại không con cái, nàng rất có thể làm lại cuộc đời một cách an lành, đâu phải đem thân lặn lội chịu nhiều gió bụi, đọa đày để mà vì chồng giải nỗi hàm oan. Song nàng không ỷ tài, sắc của mình để làm hoen ố cái đức của người phụ nữ trung trinh, ta xin bái phục. Nay ta đang đóng chiếc bè để giúp đưa nàng về chốn đất liền, hãy gắng chờ đợi rồi sẽ ra đi. Và ta sẽ đi với nàng, giúp nàng tìm gặp được chồng.

    Từ-Ly ôn tồn:

    - Ngài quá lời khen, song tôi chỉ là một kẻ tầm thường cố gắng giữ trọn đạo người đó thôi. Nếu có chiếc bè, tôi liệu có thể một mình chèo chống, khỏi phiền lụy ngài rời đảo.

    Lý Hải bèn nói:

    - Gặp một phụ nữ như nàng, ta không thấy còn có lý do nào để ở lại đây. Chỉ mong giúp nàng đoàn tụ, là ta vui rồi. Ngoài ra cũng phải thú thật điều này: nếu lỡ chồng nàng không còn ở trên thế gian thì ta xin được chung sống với nàng.

    Từ-Ly đáp lại:

    - Đa tạ lòng ngài đã chiếu cố đến con người bèo bọt như tôi. Nếu rủi ro tôi trở thành góa phụ thì xin được ở ba năm phục tang cho chồng, mới dám nghĩ đến đền ơn cứu mạng của ngài.

    Lý Hải không giấu được sự cảm động:

    - Cho dầu đợi nàng năm năm, mười năm ta cũng vui lòng.

    Từ-Ly mỉm cười:

    - Ngài không sợ thiếp già sao?

    - Một người cao quí không bao giờ già.

    Từ-Ly im lặng, rồi nói:

    - Nhưng ngài đã phạm cái lỗi mà đa số kẻ đàn ông vẫn thường mắc vào.

    - Cái lỗi gì vậy?

    - Là trong những phút xúc động, hứng khởi, đàn ông thường quên mất vợ ở nhà. Ngài nên nghĩ đến người đang chờ đợi mỏi mòn ngày ngài về lại quê xưa.

    Lý Hải im lặng, cảm thấy bối rối, thẹn thùng. Lát sau, mới nói:

    - Cái chính là ta phải giúp đỡ nàng. Mọi việc, về sau, xin để cuộc đời sắp xếp.

    Hôm sau, một bạn thân của Lý Hải là Trọng Thìn nhân ra vườn sau hái mấy cọng ngò vào thêm gia vị cho bữa ăn nhậu, lại đi tắt qua ngôi buồng phía sau. Bỗng gã khịt mũi, kêu lên:

    - Lạ kìa! Có mùi đàn bà!

    Lý Hải kịp nghe, chạy đến:

    - Thôi đừng nói nhảm! Làm gì mà có đàn bà ở đây?

    Trọng Thìn vẫn cứ khìn khịt, rồi bảo:

    - Ta đã sống với phụ nữ trên mấy mươi năm, đâu có lầm được? Phàm trong tạo vật cái gì cũng có mùi riêng của nó, không thể lẫn lộn vào đâu. Hễ gừng thì có mùi gừng, mà quế thì có mùi quế, con cọp có mùi khác với con trâu, đàn ông có mùi khác với đàn bà. Chỉ những lỗ mũi điếc đặc mới không nhận thấy cái hương vị riêng của từng loại một.

    Rồi gã la lên:

    - Rõ ràng gần đây hẳn có đàn bà! Có thể chị em đã lén đột nhập vào đây để mà ám hại chúng ta cũng chưa biết chừng! Để ta lục soát trong căn buồng này xem sao.

     Lý Hải hoảng quá, bấm gã kéo ra phía sau, thú thật mọi điều. Trọng Thìn đòi được gặp mặt Từ-Ly mới chịu nín thinh. Khi thấy mặt nàng gã bỗng sững sờ, chỉ nói:

    - Tội nghiệp cho nàng!

    Rồi gã bước ra. Lý Hải khẩn khoản:

    - Mong bạn thương tình, đừng có tiết lộ cho ai biết rõ điều này.

    Trọng Thìn gật đầu một cách khẳng khái, ra về trong nỗi xúc động khó tả. Nhưng suốt đêm ấy, gã không ngủ được. Gần sáng, gã bèn gọi người bạn thân tên là Huỳnh Tâm kể lại sự việc hôm qua, với lời dặn dò khẩn thiết là đừng tiết lộ cho ai biết được việc này.

    Một sự bí mật đã có đến ba con người nắm giữ, cũng giống như một con chim nhốt trong chiếc lồng có ba cửa mở. Do vậy, một thời gian ngắn, gần nửa dân đảo đã biết là có một người phụ nữ được giấu trong chiếc buồng nhỏ của quán Lý Hải. Ban đầu mọi người xem đó như là chuyện lạ, sau thấy ngờ vực, rồi sinh ghen tị. Bởi anh đàn ông nào cũng nghĩ rằng chỉ mình mới là con người lý tưởng của các cô gái xinh đẹp, còn những đực rựa nào khác đều là bất xứng. Do đó, một thời gian sau toàn đảo đều biết sự bí mật này.

    Đảo trưởng giận lắm, coi đây là biến cố lớn vì đã vi phạm kỷ luật hàng đầu của đảo, cho năm chục người cầm đủ gươm dáo đến vây nhà quán vào lúc sập tối, bắt cả Từ-Ly cùng với Lý Hải dẫn về nhà-việc của đảo có một sân rộng đốt đống lửa lớn, chung quanh dân đảo đã được tập họp đông đủ.

    Mở đầu, đảo trưởng tuyên bố lý do, kết tội Lý Hải đáng bị bắt giam nhịn đói mười ngày dưới một hầm đất sau khi chịu đánh đúng ba trăm gậy vì tội đồng lõa với kẻ gieo họa, còn nàng Từ-Ly thì phải bị trói và ném xuống biển. Trước khi thi hành bản án, để cho có vẻ dân chủ đảo trưởng cho cả hai người được tự biện hộ. Lý Hải cho rằng cô gái không phải là vợ của bất cứ ai trên đảo, nên không thể xem cô như kẻ thù, hơn nữa cô là nạn nhân của một đàn ông, nên cô đáng thương hơn là đáng tội. Ngoài ra Lý Hải cũng đã đóng bè để cô ra khỏi nơi này- hiện bè vừa mới đóng xong- là cốt để giữ vững sự bình yên của đảo. Nếu Lý Hải bị xử phạt, thì hầu hết người trên đảo cũng phải xử phạt như vậy, vì họ đều cùng giữ chung sự bí mật này trước khi bị một vài kẻ tiết lộ.

    Những lời nói của Lý Hải khiến cho mọi người bối rối và cùng ngồi im, không biết phải nên phản ứng thế nào. Lý Hải nói tiếp:

    - Hơn nữa, xin mời quí vị nghe người đàn bà nói rõ về mình. Quí vị sẽ thấy người đó đáng thương, hay là đáng tội.

    Đảo trưởng ra lệnh cho nàng Từ-Ly trình bày sự tình. Nàng tỏ thái độ cung kính và rất điềm nhiên ra giữa đám đông, cúi đầu chắp tay thi lễ trước các chức sắc của đảo, rồi với một giọng dịu dàng, truyền cảm, kể lại sự việc của mình. Chồng bị bắt oan khi đã đứng lên bênh vực lẽ phải, sai nha nhũng lạm vét sạch bạc tiền khiến cha mẹ chồng buồn khổ nên lâm bệnh nặng, qua đời, nàng bồng con nhỏ đi gõ cửa quan, ngày tháng dãi dầu sương nắng, đứa con đã bị tử-thần cướp đi. Lang thang đây đó, nàng phải hát dạo kiếm tiền để ra kinh đô kêu oan cho chồng. Vì không chiều theo thú tính của một kẻ sĩ ác-ôn, nàng bị bỏ rơi trên đảo…

    Khi nàng Từ-Ly dứt lời, tất cả đều chìm trong sự yên lặng kỳ lạ. Có vài tiếng khóc sụt sùi đâu đó vẳng lên. Họ không ngờ được gặp gỡ một người đàn bà chẳng những xinh đẹp ở phần hình thức mà còn cao đẹp về mặt tinh thần. Đồng thời họ nhận thấy rằng, hóa ra tất cả nỗi khổ đa dạng mà người đàn bà chịu đựng đều do chính bọn đàn ông gây ra. Một tay diễn viên sân khấu vì quá sợ vợ mà chạy ra đây, nghe Từ-Ly nói đã phải làm nghề hát xướng kiếm ăn qua ngày bèn tìm cách để phá tan không khí bi thương và trầm uất ấy, nên đã phát biểu:

    - Để chứng thực cho lời nàng vừa kể, nàng hãy hát lại một đoạn nào đó cho chúng ta nghe xem nào!

    Từ-Ly cúi đầu, tỏ ý tuân lệnh, rồi cất tiếng hát rất là não nuột:

    Vượt trăm ngàn ngục nhân gian

    Tìm đâu cho thấy mặt chàng thì thôi

    Con thơ như ngọc tan rồi

    Mẹ cha khuất bóng, còn đôi đứa mình

    Đưa tay vuốt tóc còn xanh

    Bạc đầu riêng vẫn để dành cho nhau.

    Nàng vừa dứt lời, tiếng khóc bỗng nổi vang lên ở trong đám người chung quanh. Đảo trưởng cố nén mình lại để giữ thể diện, cuối cùng bật khóc to hơn mọi người. Phần vì thương cảm cho cảnh ngộ nàng, phần vì từ lâu vốn bị ức chế do sống xa vợ nên đây là dịp để cho các đấng mày râu giải tỏa nỗi lòng.

    Cuối cùng, đảo trưởng phán rằng:

    - Cảnh ngộ người đàn bà này thật là đáng thương, thay vì trừng trị phạt theo luật ta cho hưởng sự khoan hồng. Ngay trong đêm nay, phải rời khỏi đảo. Chỉ cần một người áp tải đi về đất liền.

    Lố nhố hàng chục, rồi đến hàng trăm và gần như khắp người ngồi chung quanh đều đưa tay lên xin đi với người đàn bà. Đảo trưởng lại phán:

    - Kẻ nào nhìn thấy người đàn bà trước, kẻ ấy phải có nhiệm vụ dẫn độ.

    Như thế, Lý Hải được chọn vào nhiệm vụ này. Anh ta bước ra, xin nói vài lời:

    - Để cho đảo được an lành, tôi sẽ đưa ngay Từ-Ly vượt biển sau khi quí vị ra về. Song tôi thưa thiệt đôi điều: chính sự gặp gỡ người đàn bà này giúp tôi suy nghĩ để nhận thấy rằng xưa nay đàn ông đã gây quá nhiều nỗi khổ cho giới đàn bà. Nếu họ có phản ứng lại, cũng vì chúng ta quá quắt, chứ không phải họ có một ác tâm. Nay người đàn bà như nàng Từ-Ly bị chính bao nhiêu đàn ông gây hại, thế mà đàn ông chúng ta lại đi tìm chỗ lẩn tránh, thật là quá đỗi phũ phàng. Nghĩ cho tận cùng thì dốc toàn lực ra để bênh vực, chăm sóc chị em đến trọn cuộc đời chúng ta, vẫn chưa là đủ. Chính vì lẽ ấy, tôi xin được phép vĩnh viễn ra đi khỏi đảo để trở về với đất liền, trở về với những trách nhiệm đang réo gọi mình.

     Lý Hải nhìn thấy mọi người gục đầu có vẻ như đang suy nghĩ. Đảo trưởng cũng không nói một lời nào. Lý Hải đến dắt Từ-Ly rời khỏi đám đông, vội quay về quán gom góp một ít vật dụng cần thiết, rồi cùng xuống bè, chèo gấp ra khơi vì sợ các vị trên đảo bất thần đổi ý.

    Câu chuyện về sau thế nào thì không được nghe kể lại một cách rõ ràng. Chỉ biết, vài ngày sau đó, trên đảo người ta dần dần biến mất, còn ông đảo trưởng là kẻ ở lại cuối cùng. Nhưng rồi ông cũng ra đi vì cả dân đảo cùng ba chục vị đảo phó đã không còn nữa.

    Các sách ghi lại chuyện này, căn cứ vào các đàn ông tập trung ở đảo, nên gọi tên là Dương-Đảo, bởi dương là tiếng dành riêng cho lớp đực rựa, song trong dân gian người ta vẫn hiểu dương còn có nghĩa là dê, nên quen gọi là đảo-dê.

    1990

     

    Nguồn: Bút máu. NXB Văn học, 2007.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,814,949

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/