Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,818,987

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Đọc lại Truyện Kiều

Vũ Hạnh

  • Thứ ba, 18:30 Ngày 11/08/2015
  • Ba đường link để đọc toàn bộ tác phẩm “Đọc lại Truyện Kiều”:

    Đọc lại Truyện Kiều phần 1

    Đọc lại Truyện Kiều phần 2   

    Đọc lại Truyện Kiều phần 3

     

    Nhân lần in thứ tư, 2015.

    Thời chống Mỹ, tôi được giao nhiệm vụ hoạt động đơn tuyến chống văn hóa địch giữa lòng Sài Gòn, bấy giờ là thủ đô ngụy quyền. Ngoài việc phê phán các biểu hiện suy đồi trong văn hóa, văn nghệ, tôi luôn tìm cách đề cao các giá trị của văn hóa dân tộc. Đến ngày sinh nhật của thi hào Nguyễn Du, Bộ Văn hóa của chế độ cũ vẫn tổ chức lễ tưởng niệm, đặc biệt là ca ngợi tác phẩm Đoạn trường tân thanh. Hầu hết các vị được mời đến thuyết giảng là những người có học vị cao, có những công trình nghiên cứu văn hóa cổ, nhưng đa số các vị không thoát khỏi những cái nhìn đã quá cũ. Do vậy, nếu không bị ngồi trong tù, vì thời ấy tôi phải bị giam giữ đến 5 lần, tôi luôn có bài đăng báo viết về Truyện Kiều để chào mừng sinh nhật cụ Nguyễn Du và tôi cố gắng đề cao giá trị của tài phẩm thiên tài bằng cách khai thác những sự kiện mà chưa ai đề cập đến.

    Bài đầu tiên tôi viết là “Đôi mắt nàng Vân, nàng Kiều” gởi đăng trên một tuần báo văn hóa được vài hôm thì một buổi sáng sớm tôi thấy có chú tiểu đồng ăn mặc lối xưa, hai tay bưng một cái khay phủ lớp nhiễu điều tiến vào nhà tôi, bấy giờ ở trong ngõ hẻm của đường Nguyễn Thông nối dài. Đó là người nhà của cụ Đông Hồ đem bài tôi viết trên báo được ông cắt ra, bọc giấy kim tuyến, kết bằng chỉ hồng để tặng lại tôi, kèm những dòng chữ “trân trọng cám ơn vì chưa bao giờ được đọc một bài lý thú như thế viết về Truyện Kiều”.

    Sau bài “Từ Hải, sự lỡ tay của thiên tài” đăng trên Tạp chí Bách Khoa, thì một ngày nọ ông Lê Ngộ Châu, chủ của tờ báo, đã trao cho tôi gói quà của nữ sĩ Mộng Trung – mà tôi chưa hề được gặp – từ Pháp gởi về tặng tôi và nhờ ông chủ báo thay mặt bà để nói với tôi một tiếng “cám ơn” về bài viết ấy.

    Nhưng điều tôi thật không ngờ là bài “Trường hợp hai Nguyễn Du trong Đoạn trường tân thanh” đăng trên Tạp chí Bách Khoa được khoảng chừng vài mươi hôm thì tôi gặp đồng chí Hai Vũ, bấy giờ là cán bộ của Khu ủy vùng Giải phóng hoạt động bán công khai tại Sài Gòn, trao cho tôi tờ Bách Khoa có ghi hai chữ “Rất hay” trên bài tôi viết với một tên tắt mà đồng chí Hai Vũ cho biết là của ông Trần Bạch Đằng gởi vào. Sự khích lệ ấy, của cấp lãnh đạo là nguồn trợ lực rất lớn cho sự sáng tác của tôi.

    Vào năm 1970, khi tôi được rời nhà lao Tân Hiệp để về Sài Gòn, tôi có ghé lại Trung tâm Văn bút Quốc tế (PEN CLUB) mà tôi là hội viên để thăm linh mục Thanh Lãng, chủ tịch Trung tâm, và cám ơn ông đã từng yêu cầu chính quyền trao trả tự do cho vài nghệ sĩ. Linh mục cho biết gần đến ngày lễ tưởng niệm sinh nhật thi hào Nguyễn Du và Bộ Văn hóa đã nhờ Trung tâm giới thiệu một nhà văn thuyết giảng trong ngày lễ ấy, nay tôi đã được tự do, ông đề nghị tôi làm nhiệm vụ này. Một tuần sau, tôi được tin là Bộ Văn hóa đã không đồng ý với sự giới thiệu của linh mục Thanh Lãng vì “Vũ Hạnh hoạt động cho Cộng sản” và nhờ linh mục đề cử một người khác. Với tôi, đăng đàn hay không cũng chẳng có gì bận tâm vì tôi đã có bài để đăng báo tôn vinh thi hào. Nhưng điều bất ngờ là trước ngày lễ một hôm tôi được thư mời của Bộ Văn hóa và tôi đã đến, nói về chủ đề: “Tính chất phi thường trong con người bình thường Thúy Kiều”. Bài này, sau đó, đã đăng trên Bách Khoa.

    Và linh mục Thanh Lãng đã cho tôi biết sự việc như sau: Ông không trả lời đề nghị thay người của Bộ Văn hóa, cho đến cận kề ngày lễ, Bộ đã cấp tốc gọi xuống cho ông, thì được ông trả lời rằng: “Theo chúng tôi, không ai xứng đáng hơn nhà văn Vũ Hạnh để làm công việc này”. Do không còn thời gian để chọn lựa, Bộ phải đành mời tôi vậy.

    Thiện cảm của bạn đọc ngày ấy đối với các bài tôi viết về Truyện Kiều khá nhiều, song chỉ xin nêu một số sự việc còn ghi ấn tượng sâu đậm nơi tôi. Còn nhớ vào năm 1965, được biết miền Bắc tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh của thi hào Nguyễn Du, tôi đã hưởng ứng ngày lễ lớn ấy bằng cách gom lại các bài đã viết để in thành tập Đọc lại Truyện Kiều. Nhưng tác phẩm chưa đến vài trăm trang giấy đem in từ 1965 cho đến 1966 mới xong vì bấy giờ Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam, đa số những thợ in trẻ đều bị bắt lính để bổ sung cho quân đội Sài Gòn. Do vậy, sách được bày bán ở trên thị trường với một vòng băng bọc ngoài, in đậm dòng chữ: “Kỷ niệm 201 năm sinh thi hào Nguyễn Du”.

    Điều khiến tôi thật xúc động là sau Giải phóng, trong bộ Từ điển Văn học của Trung ương ấn hành vào năm 1984 đã có nhận xét như sau: “Đọc lại Truyện Kiều thể hiện một cách cảm thụ tài hoa và một sự đánh giá đúng đắn tác phẩm cổ điển này của dân tộc”. Có lẽ, nhờ sự đánh giá ấy mà vào năm 1987, Nhà xuất bản Tổng hợp Nghĩa Bình đã cho in lại tác phẩm với một số lượng khá lớn.

    Năm nay, tác phẩm lại được tái bản để chào mừng 250 năm ngày sinh của thi hào Nguyễn Du, do NXB Văn học &Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học ấn hành, quý II, 2015.

    Tp. Hồ Chí Minh, 22/01/2015

    VH.

    *

    ĐÔI MẮT NÀNG VÂN, NÀNG KIỀU

    Đi thăm người đàn bà để tính việc trăm năm, ngày xưa ta thường quen bảo là “coi mắt vợ”. Đáng lẽ gọi là coi mặt. Không những coi mặt, người ta còn coi cả mũi, mình mẩy, tứ chi. Ấy thế mà tiếng “coi mắt” vẫn còn giá trị thông dụng cho đến bây giờ. Điều đó cho thấy con mắt quan trọng chừng nào. Tưởng chỉ nhìn vào bấy nhiêu mà trông thấy hết người.

    Kể ra con mắt cũng đáng sợ thực. Cái miệng đôi khi gầm thét tưng bừng mà hai con mắt không chịu can thiệp ít nhiều nộ khí thì chẳng có đứa trẻ nào khôn ngoan tỏ ra khiếp hãi vài phân. Cổ tích Việt Nam có chuyện một người phù thủy đại tài bị vua trị tội buộc thắt cổ chết, ông ta cầm dây lụa ấy thắt một con rồng. Khi lính ập đến, ông vội cầm bút vẽ vào đôi mắt, thế là rồng vụt bay lên. Tất nhiên bay luôn cả ông phù thủy. Qua câu chuyện ấy, người ta có thể ghi nhận điều này: sự bay không phụ thuộc vào khả năng quyết định của cánh, của lông, mà thuộc về phần đôi mắt. Cho đến sự trôi cũng vậy: những người sống bằng đường nước, mỗi khi đóng xong một chiếc ghe thuyền, sơn phết kỹ càng, thế mà vẫn chưa hạ thủy nếu chưa điểm nhãn. Vẽ xong đôi mắt cho ghe là ghe bắt đầu lướt sóng, cố nhiên vẫn có người chèo.

    Con mắt ông thầy, con mắt chủ nhân, con mắt lương tâm, những mắt là mắt. Nghĩ mà thương cho chiếc mũi, đôi tai, những nón kềnh càng lồ lộ ở trên đầu sỏ mà xem uy tín không nhiều. Con mắt là tấm gương soi phản chiếu tâm hồn, con mắt thực sự biểu hiện cuộc sống nội tâm nhân vật.

    Nhưng thoạt nhìn vào Thúy Vân:

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    ta không thấy mắt, chỉ thấy lông mày và cái khuôn mặt no đầy, tròn trịa.

    Còn Kiều, Nguyễn Du nắn nót tả rằng:

    Làn thu thủy, nét xuân sơn,

    thì mắt và mày đủ bộ.

    Thúy vân cũng đẹp là thế, mà không có mắt là nhgĩa làm sao? Nàng vẫn du xuân, tảo mộ, vẫn thấy chàng Kim và nép dưới hoa, vẫn đi lấy chồng và đi theo chồng ngàn dặm, đâu cần dắt tay chống gậy bao giờ? Nguyễn Du lại là một bậc thiên tài quán xuyến, đã từng nghĩ đến cạo râu nhẵn nhụi cho Mã Giám Sinh, vuốt nếp áo khăn dịu dàng cho một Sở Khanh, lẽ nào lại quên điểm nhãn cho một cô nàng xinh tươi, phúc hậu, đã vì món nợ của Kiều mà chịu đại thọ chàng Kim trọn kiếp?

     Không, chúng ta đều biết Thúy Vân chẳng phải là một cô gái mù lòa. Và Nguyễn Tố Như chẳng phải là một thiên tài vô ý.

    Thúy Vân có mắt, điều thực hiển nhiên rồi. Mắt nàng chắc hẳn là đôi mắt đẹp, đôi mắt bồ câu, là đôi mắt phượng, hay bình dân hơn, đôi mắt lá răm. Mắt nàng chắc sáng, chắc đen, long lanh, tình tứ. Nhưng đôi mắt nàng chỉ là đôi mắt nằm trên khuôn mặt để làm đầy đủ lệ bộ của một khung diện mà thôi. Nàng có nhìn thực và có thấy thực, nhưng nàng chỉ nhìn, chỉ thấy bằng con mắt khác của người. Nấm mộ bên đường hoang lạnh, nàng cũng nhìn thấy như cậu Vương Quan, như nhiều kẻ khác hững hờ. Kim Trọng phong nhã, hào hoa, nàng cũng nhìn thấy như bao cô gái thùy mị, hiền lành ở trong khung cửa. Cho đến gia biến của nàng, tơi bời tan tác, nàng cũng nhìn thấy như khá nhiều kẻ vô tư êm đềm say một giấc xuân. Nàng thấy, hay nàng không thấy, điều đó vẫn không có gì đổi khác. Nàng thấy hay người khác thấy, vẫn không đổi khác gì đâu.

    Chính vì thấy như không thấy mà nàng nực cười khi nhìn Thúy Kiều:

    Khéo dư trước mắt khóc người đời xưa!

    thấy như người khác, mà nàng lấy chồng do chị chọn nên. Cố nhiên, đó là những thể cách nói để tránh một tiếng tĩnh từ đơn giản gán định quá dễ cho nàng. Nhưng một cô gái sau cơn gia biến thảm thương, ngủ vùi một giấc, rồi choàng tỉnh dậy thấy chị ngồi khóc bên đèn lụn bấc một mình, buột miệng hỏi rằng:

    Cớ sao ngồi nhẫn tàn canh?

    thì thực giản dị, vô tình nhiều quá. Ngày sau, khi lấy chàng Kim, sống mười lăm năm duyên nợ, mà buổi tái ngộ với Kiều, nàng đã nói về tấm lòng yêu Kiều của kẻ chung chăn chung gối với mình trong bấy nhiêu lâu:

    Những là rày ước mai ao,

    Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình

    thì thật hết sức thản nhiên, lạnh lẽo, tưởng như không còn giữ riêng cho mình một chút tự ái, một tí nhiệt tình.

    Cái nhìn Thúy Vân hiền lành, có một vẻ gì cam chịu đáng thương nhưng không tránh được một sự dễ dàng đáng ghét. Đôi con mắt ấy phóng ra tia nhìn là để rập theo ý tình kẻ khác, miễn ý tình ấy thuộc về lẽ phải hiển nhiên, thuộc về trật tự đã được cuộc đời chấp nhận. Sự rập theo ấy hoàn toàn thụ động, như đúc theo khuôn, khiến ta lầm tưởng tâm hồn của nàng vốn là một chất bột nếp đã được rây lọc mịn màng. Như thế, phỏng nàng có mắt hay không, điều ấy thực chẳng lấy gì can hệ. Nàng đâu cần nhìn, nàng đây cần thấy? Xã hội, gia đình, luân lý, trật tự đã nhìn thay thế cho nàng một cách bình yên như không hề biết có nàng, có sự phản ứng của nàng. Và sự tuân phục chính đáng của nàng có thể làm ta cảm động nhưng chưa đủ làm cho ta kính yêu, tuy có làm ta yên lòng nhưng không làm ta gần gũi. Bởi vậy, suốt trong tác phẩm, không hề thấy Thúy Vân cười, không hề thấy Thúy Vân khóc. Chúng ta ao ước chừng một giọt lệ, chừng nửa nụ cười và cái khuôn trăng sẽ bớt đầy đặn, mày ngài sẽ kém nở nang để chia xẻ bớt chúng ta những nỗi ưu tư, phiền muộn, cùng những cố gắng, hy sinh.

    Có lẽ Vân đã nhường mắt cho Kiều. Vì chỉ mỗi một mình Kiều ở trong tác phẩm có đôi mắt sáng, mắt đẹp lạ lùng. Cặp mắt ấy có nhãn lực tuyệt vời, nhìn được chiều sâu thăm thẳm, tưởng chùng vạch được màu xuân tươi tốt mà soi thấu vào tận đáy hồ hoang để thấy nỗi niềm cô độc xót xa của một kiếp người. Cặp mắt ấy nhìn thấy được liên hệ giữa người và ta, giữa cái đã qua và cái sẽ đến:

    Thấy người nằm đó, biết sau thế nào?

    Cặp mắt khám phá tình yêu, chọn lấy con đường, không chịu hướng những tia nhìn về các lối cũ, đường mòn. Cặp mắt đã khiến cho Kiều gọi hồm ma dậy kết làm chị em, đã khiến cho Kiều đi tắt về khuya, bắt vầng trăng bạc chứng giám lời thề. Cặp mắt biết khóc, biết cười, biết nhìn, biết liếc, biết nhắm, biết mở, trèo tường mà đi, lao đầu xuống nước, cặp mắt ân tình không quên kẻ đã giúp mình trong cơn hoạn nạn, cặp mắt tự trọng không muốn chia niềm chăn gối với kẻ mà mình kính yêu.

    Thúy Kiều quả có đôi mắt, và đôi mắt nàng không chỉ để thấy mà còn để biết, không chỉ ngắm nhìn mà còn khám phá, không chỉ tiếp thu mà còn phản ứng. Đôi mắt ấy biết lựa chọn, biết vâng lời và biết chối từ. Không chỉ có cái chiều sâu thăm thẳm soi thấu đáy hồ, soi thấu đáy lòng, đôi mắt nàng Kiều còn có chiều rộng bao la gói hết những người đau khổ, có cả chiều cao vòi vọi của những hy sinh chua xót lạ lùng.

    Thúy Kiều đã sống, dám sống, đã yêu, dám yêu. Thúy Kiều đã biết đòi hỏi và biết hy sinh. Tuy nhiên, nàng đã cho nhiều và nàng nhận ít, nàng đã xác định được mình, tố cáo được đời.

    Đôi mắt Thúy Kiều, đó là hai viên ngọc quý. Đôi mắt đẹp hơn dáng núi mùa xuân, trong hơn sóng nước mùa thu. Nguyễn Du có lẽ muốn tả nhiều hơn như thế, nhưng ý muốn xưa nay vốn thật vô cùng mà chữ nghĩa xưa nay vẫn là hữu hạn.

    ĐỨA CON CỦA NÀNG KIỀU

    Đứa con nàng Kiều! Đó thực là một đề tài thuộc loại giựt gân, thích hợp cho một tờ báo hàng ngày! Nhiều người tự hỏi: “Nàng Kiều nào có con đâu? Làm sao mà nàng có con cho được?”

    Trước đây, cũng đã có người tinh quái đem câu:

    Thất kinh nàng chửa biết là làm sao

    ở trong truyện Kiều, thêm vào hai cái dấu phết ở sau tiếng kinh, tiếng chửa, để cố giải thích rằng Kiều mang thai sau khi mất đường kinh nguyệt. Nhưng một tinh thần xuyên tạc khôn ngoan đến mức độ ấy, dù có làm cho nàng Kiều ốm… nghén, vẫn chưa đủ giúp cho Kiều có một đứa con.

    Nhưng chuyện đẻ con đâu phải là điều hết sức khó khăn đến nỗi một người như Kiều đành phải đầu hàng? Suốt cả quãng đời lưu lạc, Kiều đã gặp gỡ không biết bao người, vậy mà chẳng chịu đẻ ra một đứa con nào. Nếu nàng sinh hạ được một Thúc Sinh nho nhỏ, hay một Từ hải con con, thì vui không biết bao nhiêu. Có kẻ lại bảo: “Kiều là nhân vật tiểu thuyết, hơi đâu mà nghĩ vẩn vơ?” Xin thưa: tuy là nhân vật tiểu thuyết nhưng chính tiểu thuyết đã chọn lấy nàng ở trong cuộc đời và đem nàng vào cuộc đời, chúng ta có thể băn khoăn về nàng như một đồng loại có những vấn đề của ta, gần gũi với ta.

    Chúng ta biết Kiều không phải là kẻ giang hồ từ nguyện, nàng vẫn luôn luôn chống lại cuộc đời tủi nhục mà nàng phải sa chân vào đấy hai lần. Vậy thì không chắc gì Kiều đã tìm mọi cách để cho đời mình khỏi phải sinh nở, nàng cũng không thể áp dụng những thứ thuốc men phổ biến ngày nay để mà hạn chế sinh con! Lại xét về mặt sức khỏe, Kiều không có triệu chứng gì tỏ ra là nàng hiếm hoi về đường tử tức. Trước đây, có nhà phê bình bảo nàng mắt bệnh ủy hoàng thường chảy nước mắt trong veo, nhưng thực chưa có sách sản khoa nào minh chứng rằng sự chảy ra nước mắt ở trên lại có ảnh hưởng sâu xa ở dưới như vậy. Không chừng mấy người đa cảm lại đẻ dồi dào cũng nên.

    Chúng ta yêu mến nàng Kiều, muốn nàng có con, ít nhất cũng là một đứa. Có con để nàng cảm thấy được niềm an ủi, để nàng săn sóc, xây dựng cho nó, thấy sự sinh hóa lưu tồn của cá nhân mình trong hình thể khác. Đối với những người đàn bà hiền thục, có con là một niềm vui rất lớn.Vậy mà Kiều chẳng có con, là bởi vì đâu?

    Tất nhiên ai cũng có thể trả lời: đó là lỗi của Nguyễn Du. Nếu Kiều có con, dù có với ai, thì cái sự nghiệp văn chương của cụ Tiên Điền kể như tàn rồi. Có con, chắc Kiều khó lòng dấn thân vào bước phiêu lưu, khó lòng nhảy xuống giữa sông Tiền Đường. Là người có một căn bản đạo đức, Kiều không thể nào phó mặc con mình cho người thiên hạ, hoặc bỏ giam nó vào trong một viện cô nhi.

    Nguyễn Du chính thực là người đã hạn chế đường sinh nở của Kiều để cho ngòi bút của mình khỏi lâm vào vòng bế tắc. Liên hệ xa hơn, chúng ta có thể nhận thấy điều này: hầu hết tác giả cổ điển đều muốn loại trừ đứa con ra khỏi tác phẩm. Họ phải làm thế để cho người lớn khỏi bị quấy rầy, tương tự nhiều người đuổi con ra chơi ngoài ngõ để cho người lớn trong nhà yên giấc nghỉ trưa. Bởi lẽ tác phẩm cổ điển giải quyết vấn đề của kẻ trưởng thành, của người tuổi tác chứ không quan tâm bàn bạc những chuyện trẻ em. Như trong truyện Kiều, Vương Quan có vẻ nhỏ nhoi hơn cả, nhưng đâu có phải là dứa trẻ thơ? Anh ta kể chuyện Đạm Tiên nghe còn rành rọt hơn một chàng trai quá lứa. Nguyệt Nga và Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng không phải là bé mọn. Lúc gặp gỡ nhau, con tim của họ đã biết nhảy điệu rum-ba rồi đó. Và chàng Lương Sinh cùng nàng Dao Tiên trong Hoa Tiên truyện, và chàng Mai Sinh cùng với Hạnh Nguyên trong Nhị Độ Mai, đều là những người có thể nhắc nhở tuổi thơ như một kỷ niệm xa vời.

    Ta có thể nói tác phẩm cổ điển không hề biết đến trẻ con, không muốn chấp nhận trẻ con, y như ngoài đời không có vấn đề con trẻ. Thế kỷ ngày nay được gọi là thế kỷ của trẻ con, bởi vì vấn đề con trẻ trở thành vấn đề trọng yếu. Muốn nghĩ ngợi đến tương lai một cách đứng đắn, chân thành, phải đặt mọi sự chú ý vào việc xây dựng những mầm non ấy. Bao nhiêu thói quen góp phần quyết định cuộc đời chúng ta, bao nhiêu mặc cảm ám ảnh số kiếp chúng ta, há chẳng đã được hình thành từ thuở ấu thơ? Đọc những tác phẩm cổ điển, chúng ta có cảm giác như nhìn vào gian chính của một tòa nhà xây bằng gạch ngói qui mô, có sập gụ, có tủ chè, hoành phi, câu đối, có cả khay trà, ống điếu và bao trùm hết là một không khí trang nghiêm của những người lớn ra vào mực thước, lên xuống khoan thai. Thỉnh thoảng ta có thể nghe một tiếng trẻ khóc, rồi lại lặng im, đôi lúc ta cũng bắt chợt được vài cái đầu trẻ con lấp ló ẩn hiện sau màn hoặc đôi mắt sáng của chúng long lanh qua một khe cửa, và thôi, và hết, chúng bị gạt lui để cho người lớn bàn bạc chuyện mình. Nàng Kiều khi lấy Từ Hải có lúc nghĩ đến Thúy Vân ở nhà bây giờ chắc đã sinh con đẻ cái với Kim Trọng rồi, cũng chỉ gợi được hình ảnh đơn sơ:

    May ra khi đã tay bồng tay mang

    Tay bồng tay mang! Trẻ con ở đây nào có khác gì vài chiếc gối thêu? Con trẻ chỉ được nhắc đến qua loa, chiếu lệ, không làm cho ai thắc mắc mảy may. Thông thường người ta còn dùng con trẻ như một hình ảnh về sau, một thứ tiếng vọng êm đềm phút cuối, khi chuyện người lớn đã được thu xếp mỹ mãn cả rồi. Câu Kiều kết thúc:

    Một cây cù mộc, một sân quế hòe,

    cũng gợi cho ta quang cảnh vui vầy con trẻ, nhưng không phải để chúng ta quan tâm đến chúng, buồn vui với chúng.

    Do những lẽ đó, tác phẩm cổ điển có một nỗi buồn mênh mông của cảnh vắng vẻ trẻ thơ. Ca dao có câu:

    Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    đã nói lên được nỗi quạnh hiu ấy, và chính tác phẩm cổ điển cũng là những loài hoa nở trên non. Ngày nay, ta nghe đến trường mẫu giáo, đến bột nhi đồng, đến báo măng non, đến những chất thuốc ký ninh có tẩm vị sô-cô-la, đến những phim ảnh hoạt họa dành cho con trẻ và ta càng thấy thế giới văn học cổ điển quá sức già nua, quá sức khắc khổ, buồn rầu. Ấy thế, chính các cụ xưa vẫn bảo “gia hữu tam thanh” - cho rằng có ba thứ tiếng đáng quý trong nhà là tiếng đọc sách, tiếng khung cửi dệt và tiếng khóc của trẻ con. Thế sao ở trong văn học không hề có tiếng trẻ thơ nào khóc? Trong một hoàn cảnh xã hội mà tiếng “con nít” đồng nghĩa với sự ngây ngô, dại dột, trong một tình trạng sinh hoạt mà các trẻ em cũng phải thi lễ như người lớn tuổi, ăn mặc như những cụ già, thì ai còn quan tâm đến trẻ con? Đến nỗi anh chàng Kim Trọng đã lớn tồng ngồng như vậy mà ngồi trên ngựa còn bắt “vài thằng con con” theo sau, không kể gì đến nhọc nhằn của chúng. Thế mà Nguyễn Du vẫn khen chàng Kim “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”! Mới biết, người ta hào nhã với người kẻ lớn, với các tiểu thư xinh đẹp, chứ không rộng lòng thương đến con trẻ lon xon chạy sau đuôi ngựa để hầu hạ mình. Cho đến cụ Nguyễn Công Trứ tài tình là vậy, đáng tôn kính là vậy mà trong giấc mơ nhàn hạ của cụ cũng thêm vào “năm ba chú tiểu đồng lếch thếch” để theo chân cụ trong bước tiêu dao hàn cốc thanh sơn. Ấy, Nguyễn Công Trứ vẫn thừa biết lũ trẻ “lếch thếch” đi theo, chứ có vui vẻ gì đâu!

    Con trẻ bị gạt ra ngoài sinh hoạt văn chương cổ điển cũng như chúng bị quên đi ở trong sinh hoạt bình thường ngày trước, đó là một thiệt thòi chung cho cả mọi người. Nhưng trong vấn đề đem ra bàn bạc hôm nay chúng ta không có tham vọng chiếm lại chỗ ngồi êm ái cho các trẻ em đã bị truất ngôi, bởi vì các sáng tác phẩm ngày xưa không chừa một mảnh đất nào để ta lập vườn nuôi trẻ, không dành một ngân sách nào để ta mở một bệnh viện nhi đồng, kể cả một khoảng rất nhỏ để kê chiếc nôi cũng không có nốt. Người lớn chiếm hết đất rồi, choán chật chỗ rồi, người lớn đã mang nhiều quá, tham lam nhiều quá.

    Vấn đề hôm nay là chuyện đứa con của Kiều, đứa con mà Kiều không thể làm sao có được. Chúng ta đành chịu nhượng bộ Nguyễn Du mà thừa nhận rằng, suốt quãng mười lăm năm dài luân lạc, thực là báo hại cho Kiều - và cho Nguyễn Du - nếu nàng có một đứa con dưới nách.

    Nhưng còn về sau? Khi nàng tái ngộ chàng Kim, rõ ràng là Kiều cũng không làm sao co một đứa con. Vào đêm động phòng, sau buổi đoàn viên, chỉ thấy nàng Kiều ngồi mãi trên giường, gẩy mãi trên những phím đàn đã cũ và kể chuyện xưa cho đến mặt trời lại mọc. Cũng theo tác phẩm, thì sau đêm ấy, Kiều đã chính thức đem tình cầm cờ thay cho cầm sắt đối với chàng Kim và chịu thừa nhận vĩnh viễn độc quyền làm vợ của cô em mình.

    Với những sự tình như thế, nhất định là Kiều không mong sinh hạ được mụn con nào. Cứ nghe chúng ta một hai đòi Kiều phải có đứa con, một số thiên hạ có thể bĩu môi, chê rằng đầu óc chúng ta thấp kém, hẹp hòi quá lắm. Họ bảo: tại sao Kiều lại không thể thương yêu chàng Kim một cách hoàn toàn “cao thượng” để sự gắn bó giữa chàng và nàng có một sắc màu lý tưởng và để Thúy Vân khỏi phải hờn ghen? Tại sao Kiều không thể yêu con của nàng Vân như chính con mình sinh đẻ? Tại sao… vân vân… thực là có nhiều cách nói, và chính Nguyễn Du cũng đã nói rồi. Nguyễn Du đã chẳng mượn lời Kim Trọng, mượn lời cha mẹ của Kiều là “thục nữ chí cao” đó sao?

    Tuy vậy, chúng ta khó lòng nghe theo những lời thu dọn ngọt ngào của chính tác giả hay nghe theo sự mong muốn cao siêu của một số người. Vấn đế ở đây là ta muốn xét đến những yêu cầu cụ thể, của một nhân vật cụ thể, trong những điều kiện cụ thể: nàng Kiều, sau muời lăm năm lưu lạc, được trở về với gia đình, gặp lại người yêu thuở trước. Sự tái ngộ này không phải là một ngẫu nhiên, mà chính là một dụng ý của Trời (?) sau khi cân nhắc kỹ lưỡng duyên nghiệp của nàng. Người thông dịch viên duy nhất của đấng tối cao, Tam Hợp đạo cô, luận xong công tội của Kiều, xác nhận ý nghĩa của sự trở về là một phần thưởng xứng đáng:

    Khi nên, trời cũng chiều người

    Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.

     Cũng như hồn ma Đạm Tiên trước đó, đã nói với Kiều:

    Còn nhiều hưởng thụ về lâu

    Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào.

     Nhưng rốt cuộc lại, cái duyên về sau của Kiều có đầy đặn chăng? Cái phúc về sau của Kiều có dồi dào chăng? Hay chỉ là nỗi xót xa tủi nhục ngấm ngầm, hay chỉ gượng gạo, bẽ bàng đã được trang điểm bằng những lớp son quí phái của những lời nói tôn nghiêm đượm màu đạo đức? Dù có biện bác tài tình đến mức độ nào, người ta cũng không chối cãi được rằng, sau buổi đoàn viên, Kiều đã bị tước cái quyền làm vợ và quyền làm mẹ.

     Suốt mười lăm năm lưu lạc, Kiều bị tước đoạt cái quyền năng ấy đã đành, nhưng nàng vẫn còn là người đàn bà, có lúc nàng đã được yêu và được ước mong như một đàn bà. Bây giờ, chính vào cái lúc mong đợi nhất của đời nàng, Kiều đã vĩnh viễn bị tước đoạt hết. Nói rằng vĩnh viễn vì nàng phải kéo lê một cuộc sống tượng trưng như thế, không chỉ năm năm, mười năm hay hai ba mươi năm nữa, mà mãi cho đến khi nàng từ giã cõi đời.

     Như vậy, cái gì đã ngăn cản nàng? Đọc qua tác phẩm, tưởng như không có một ai cấm cản nàng Kiều. Vương Ông, Vương Bà một hai bảo nàng phải lấy chàng Kim. Và chàng Kim cũng một hai ép buộc Kiều nên lấy chàng. Mối trở ngại nhất - là nàng Thúy Vân - thì chính Vân cũng cố gắng khuyến khích cả hai nên làm việc ấy. Bao nhiêu người này không thể không đứng về phía cuộc đời, không thể tìm cách che đậy lẽ phải, bởi vì họ không phải là những người gieo tai họa. Nhưng Kiều, đáng lẽ nàng phãi kêu gào mối nhân duyên ấy, đáng lẽ nàng phải đòi hỏi cái quyền làm vợ, làm mẹ của nàng, thì nàng đã viện mọi lẽ chối từ.

    Sự chối từ ấy chứng tỏ nàng có cá tính rõ rệt, nàng biết tự trọng, nàng có quan niệm tình yêu trong sạch, quan niệm vợ chồng nghiêm chỉnh, thanh cao. Nếu không đem niềm trong trắng cùng nhau chung sống, ít nhất cũng không đem cái thân tàn đã bị cuộc đời làm cho hoen nhục gán ép cho ngừời yêu dấu.

     Trong cái khung cảnh ngày xưa, với những điều kiện như thế, phản ứng của Kiều được xem như là hợp lý và được đề cao như là dấu hiệu của một con người đạo đức tuyệt vời.

    Ngày nay, chúng ta có thể cũng đồng một quan điểm ấy, nếu cái thái độ của Kiều sau khi từ chối sống đời chồng vợ với chàng Kim Trọng nhuốm đầy một vẻ xót xa, nếu cái thái độ chàng Kim và cha mẹ Kiều, sau khi thấy Kiều quyết định như vậy, chứa đầy một mối thiện cảm đau đớn phát sinh từ sự tủi nhục, bất bình đối với áp lực của đời. Bởi vì, mười lăm năm trời trôi giạt của Kiều là để báo hiếu, là để góp phần củng cố cho cái trật tự của một xã hội đầy những tội ác, và sự từ chối làm vợ về sau cũng nhằm đề cao giá trị người chồng Kim Trọng. Do đó, dù Kim có xác nhận rằng trước sau Kiều vẫn là người trong sạch khác thường:

    Như nàng lấy hiếu làm trinh

    Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

    Kiều vẫn khăng khăng là mình đã ô nhục rồi, để bảo vệ lấy cho mình một thứ giá trị thật sự có lợi cho cái uy tín chàng Kim hơn là có lợi cho những yêu cầu chính đáng của nàng. Trước sau, Kiều đã hy sinh trọn vẹn cho cái xã hội của nàng, trước sau nàng đã giữ lấy cho mình mọi sự thiệt thòi. Vì thế, ta không đồng ý với vẻ hoan hỉ, ồn ào của chàng Kim Trọng, của cha mẹ Kiều, khi thấy Kiều đã từ chối vai trò người vợ. Hơn cả sự không đồng ý, ta còn ghét họ không biết chừng nào. Trông họ xúm vào ca ngợi, tán dương thái độ của Kiều, ta thấy có một vẻ gì tàn nhẫn đến mức sượng sùng. Họ không nhìn thấy nàng Kiều đã phải đau khổ thêm một lần nữa trong sự bẽ bàng, tủi nhục đó sao?

    Vì thế, ta cũng không được vừa ý khi thấy nhiều người mỗi lần nói đến nỗi khổ của Kiều chỉ đề cập đến khoảng mười lăm năm luân lạc của nàng. Có lẽ họ vốn dễ tin, và khi tác phẩm sửa soạn chấm dứt, dùng những lời lẽ êm đềm phủ lên đầu, cổ nhân vật thì họ cũng xếp sách lại với những tình ý êm đềm như thế trong lòng. Thực ra, khi xếp sách lại, một nỗi khổ khác của Kiều - dằng dặc, mênh mông - mới lại bắt đầu. Trong cảnh ngộ làm vợ hờ thường trực của người mình yêu tha thiết, Kiều sẽ có dịp thường xuyên để thấy thân phận đàn bà chịu thiệt của nàng.

    Xã hội phong kiến thấy nàng hy sinh quá nhiều cho trật tự ấy suốt mười lăm năm, nên đã cho nàng tái ngộ như một tặng thưởng. Nhưng đấy chỉ là một huy chương giả. Bởi vì lúc nàng đã được quay về thực sự, xã hội ấy sực nhớ rằng Kiều là một người đàn bà. Và đã là người đàn bà thì cho hai chữ đoàn viên là quý lắm rồi, dù hai chữ ấy chỉ là cái vỏ danh từ. Rốt cuộc, Kiều chẳng có chồng, Kiều chẳng có con, chỉ có mỗi mớ danh từ tuyệt đẹp.

    TỪ HẢI, SỰ LỠ TAY CỦA THIÊN TÀI

    Trong các nhân vật của Đoạn Trường Tân Thanh, chỉ có Thúy Kiều và Từ Hải là hai kiếp người sống đời nổi trôi, sóng gió hơn cả. Không chỉ sóng gió ở trong tác phẩm mà còn sóng gió ở ngoài tác phẩm, sóng gió từ xưa cho đến bây giờ.

    Nhưng về nàng Kiều, dù bị các nhà đạo đức dằn lên vật xuống nhiều phen, bây giờ kể ra nàng cũng tạm sống yên ổn một bề. Chỉ có họ Từ là chưa mua được một chút thanh nhàn nào hết: cứ mỗi một thời, Từ Hải lại xuất hiện dưới một khuôn mặt khác, và sau mỗi lần hóa trang như vậy, họ Từ mang lại một số vấn đề khá lớn tưởng có thể bẻ cong vòng cả cái thân mười thước cao và bạnh thêm cái hàm én tua tủa râu hùm!

    Trước kia, Từ là anh hùng mã thượng, giang hồ quen thú vẫy vùng ngang dọc. Sau đó, Từ bỗng xuất hiện như một đại diện hợp thời cho cái cá nhân chủ nghĩa đang độ lan tràn. Rồi Từ đột ngột đi làm chính trị, biến thành một kẻ phản phong, dù sự nghiệp Từ dựng nên, cũng là:

    Triều đình riêng một góc trời,

    Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.

    Có dạo, Từ đi xa hơn, biểu hiện hẳn hòi cho một quyền sống, hoặc đi cao hơn, trở thành giấc mộng cao siêu. Gần đây, Từ suýt lâm nguy vì có người muốn đưa Từ xuống thấp, tước luôn nhãn hiệu anh hùng Từ đeo từ bấy lâu nay. Sự thay đổi ấy, dù có gian nan, ắt Từ cũng thông cảm được mà dẹp nỗi lòng phiền muộn. Bởi lẽ một người như Từ không chỉ sinh ra để làm mỗi cái gạch nối đưa Kiều từ nơi hành viện Châu Thai đến bến Tiền Đường.

    Bước đường phiêu lưu của Từ chắc là còn dài. Nhưng điều chúng ta biết chắc là dù phân thân, hóa kiếp bao nhiêu, thì một ngày kia, Từ vẫn là Từ, Từ sẽ trở về vị trí của mình, sau cuộc phiêu lưu lịch sử. Và lịch sử, kể cả lịch sử văn học, sau cuộc phiêu lưu, sẽ gặp lại Từ. Bấy giờ, có thể ngơ ngác:

    … lạ vẻ cân đai

    Nhưng sẽ dễ dàng tìm thấy:

    Vẫn còn hàm én mày ngài như xưa.

    Như xưa, vì Từ không chỉ là một ở trong tác phẩm. Từ thật là hai. Họ Từ thứ nhất, xưa nay ta chẳng quan tâm. Anh ta ở đâu, làm gì, sinh hoạt thế nào, thực chẳng có một người nào chiếu cố. Chúng ta chỉ gặp có mỗi họ Từ thứ hai, họ Từ đầy sức quyến rũ do cái cốt cách hiên ngang, tấm lòng tự tin tuyệt đối và sự khát khao phóng túng tuyệt vời. Tất cả điểm này lại được lồng vào một thứ tình yêu chung thủy, thiết tha, một thứ tình yêu hào hiệp vừa là một thứ tình yêu tìm ra lẽ sống, giữa những đe dọa của đời.

    Chúng ta đã được họ Từ thứ hai lôi vào cõi mộng phiêu lưu với những ân tình sòng phẳng. Chúng ta lại được họ Từ thứ hai nhấc lên khỏi cuộc sống tầm thường đầy những nhỏ nhen và những âu lo. Từ Hải quả là một người không biết đến sự nhỏ nhen. Tâm hồn của Từ chỉ có một chiều khoáng đạt, một mặt bao dung. Từ cao lớn quá để làm những việc thấp hèn. Ở giữa cuộc sống đầy những mưu mô bần tiện của lũ mê danh hám lợi tanh hôi, Từ hiện rõ ràng như một vệt sáng, như một chiều cao và ta dành hết cảm tình cho Từ không chút dè dặt ngại ngùng. Đến khi Từ ngã gục xuống, nạn nhân của sự bần tiện, tanh hôi, ta càng xót xa, phẫn uất cho Từ. Từ đến với ta rõ ràng không phải như một nhân vật ở trong tác phẩm. Từ là hiện thân của một khát thèm mong đợi từ lâu và Từ có được ảo ảnh của sự khát thèm vội biến thành những hào quang sáng chói. Từ càng đẹp đẽ bội phần khi mang vào giữa cuộc đời mỗi một nụ cười. Suốt trong tác phẩm, luôn luôn ta gặp Từ cười. Trong khi bao kẻ đàn ông khóc lóc - từ kẻ có tên tuổi như Kim Trọng, Thúc Sinh, cho đến kẻ không tên tuổi như khách viễn phương giong chiếc thuyền tình, thảy đều đầm đìa nước mắt - thì Từ không hề nhỏ một giọt lệ, cất một tiếng than, dù lâm vào cảnh hiểm nghèo tuyệt vọng. Nụ cười của Từ cũng không phải là thứ hoa tội lỗi che đậy ác ý, tà tâm của lòng khinh thị, của sự mỉa mai, của những thỏa mãn no đầy tư dục. Đó là niền tin ở lực năng mình, một nỗi phấn khởi phát từ cố gắng thành công, ít nhiều giao hòa thông cảm với người tri kỷ. Nụ cười của Từ rực rỡ đến nỗi ta không còn thấy hàm én, râu hùm, những thứ làm ta sợ hãi, bởi vì nụ cười dẫn dắt ta về một cõi sống khác đời này, trong đó con người không biết đến mối tự ti lại là chất tủy linh hồn vừa là chất độc của cuộc đời này.

    Nguyên nhân của sự yêu Từ - họ Từ thứ hai - đại khái xưa nay là vậy. Ta yếu, Từ mạnh, ta buồn, Từ vui, ta nuôi tấm lòng phức tạp nhiều khi đen ngòm ác ý thì Từ có sẵn con tim cởi mở một chiều bao bọc tận tình tri kỷ, ta vấp ngã luôn trên bước đường đời mà vẫn gượng gạo vói tay bắt lấy ảo ảnh thành công chấp chới mơ hồ thì Từ mạnh dạn đi thẳng một hơi đến đích, đưa tay kéo lớp hào quang gài kỹ trên đầu. Từ lập sự nghiệp lớn lao, giản dị hơn ta săn một con mồi nhỏ bé. Từ nói và làm, sao mà phù hợp dễ dàng, tưởng như giữa khoảng tri hành không có chút gì chướng ngại. Và trong tình yêu, sao ta dè dặt dường kia, bủn xỉn thế này? Ta cứ e ấp những điều muốn nói, có khi đợi đến thiên thu, ta cứ tính toán những điều chia xẻ, lắm khi sợ nỗi thiệt thòi. Còn Từ, nói không cần giấu lòng mình, cho không cần tiếc sinh mạng, Từ dám yêu thương và biết yêu thương một cách tận tình. Từ Hải, người thật là ai? Người ở xứ nào? Tại sao người lại lạc loài ở giữa khu vườn thế tục chúng ta, để khi vụt giã cõi đời, người gợi bao điều nghi vấn, bao sự tiếc thương, lôi kéo bao nhiêu giải thích trái ngang ở trong sách vở?

    Từ Hải, người đã làm khổ chúng ta và bị chúng ta làm khổ xưa nay chỉ là nhân vật thứ hai ở trong tác phẩm. Khi gặp gỡ Từ, cơ hồ ta đã quên đi nhân vật thứ nhất. Thỉnh thoảng ta vẫn lội về nguồn cỗi, tìm đến tổ tiên họ Từ là gã thư sinh lạc đệ trong sách Thanh Tâm Tài Nhân hay kẻ khoác áo cà sa trong sách Dư Hoài chứ không nghĩ ngợi xa hơn về cái con người thứ nhất, con người đáng lẽ phải có ở trong Từ Hải.

    Cái đáng lẽ ấy phát sinh từ đâu? Chỉ định bởi giới hạn nào?

    Cái đáng lẽ ấp phát sinh từ những thực tế tác phẩm, chỉ định bởi những yêu cầu tác phẩm, đối chiếu với những thực tế ngoài đời, trong những điều kiện tương đồng.

    Từ Hải thứ nhất phải là nhân vật ra đời từ cái đáng lẽ nói trên. Tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh thực sự chỉ là tác phẩm để nói về Kiều. Nhưng Kiều không thể sống một mình nàng. Vấn đề bạc mệnh của nàng lại đòi hỏi bao tình tiết éo le. Kiều phải lưu lạc đoạn trường, cuối cùng phải gặp lại người yêu cũ trong cảnh đòan viên tái ngộ. Trên đường phiêu bạt, khi nàng sa vào thanh lâu đột nhì, thì nàng đã trải mười năm đau khổ, nghĩa là đã thanh toán hai phần ba cái khoảng truân chuyên do kẻ bề trên - đây là tác giả - an bài. Trước mắt tác giả bây giờ có hai điều phải giải quyết: một là, về mặt bố cục, làm sao đưa Kiều đến bến Tiền Đường để giữ đúng lời hẹn với Đạm Tiên, đặng cho Kiều gặp gia đình sum hợp? Quãng đường xa xôi như thế, phải có một người đầy đủ khả năng để dẫn dắt nàng trong cuộc phiêu lưu. Người ấy phải là Từ Hải, “một kẻ giang hồ quen thú vẫy vùng” có đủ phương tiện lưu thông, có thừa bản lĩnh để vượt chướng ngại. Và con người ấy, thật ra phải là một người bạc mệnh, bởi vì cuộc sống của gã phải bị hy sinh khi Kiều gần đến Tiền Đường. Nếu gã không chết thì chàng Kim Trọng, chỉ có mỗi sự hào hoa phong nhã làm sao mà dám gần Kiều? Từ Hải thuộc loại vai trò có giới hạn trên sân khấu tác phẩm, một kẻ hy sinh đã được chỉ định, một người liên lạc cao sang để gíup cho nhân vật chính hoàn thành nội dung. Hoàn thành nội dung, vì khi bán mình, Kiều chỉ mới tròn chữ hiếu, cần phải có một Từ Hải để nàng khuyên nhủ ra hàng cho trọn chữ trung. Có hiếu, có trung, đó là tiêu chuẩn của một con người đạo đức lý tưởng đáng cho sống lại trên đời.

    Ngoài ra, còn điểm thứ hai là khi Kiều đến Châu Thai và gặp gỡ Từ thì cuộc đời nàng chuyển sang một giai đoạn mới, với sự việc mới, tất nhiên có nhiều nhân vật từ trước bây giờ đã thành quá hạn, trở nên những kẻ ăn không ngồi rồi báo hại nội dung tác phẩm. Những nhân vật ấy cần được đánh giá, sắp xếp, tuyển lọc đúng mức để khỏi có sự thiệt thòi đối với bố cục, đối với chủ đề của sách, đối với lẽ phải mà người đọc sách một thời nào đó chấp nhận. Sự trả ân oán của Kiều là nhằm vào mục đích ấy. Nếu không có người như Từ để tung lưới trời tóm về một mẻ, nào Hoạn Thư, Bạc Hạnh, Bạc Hà, Ưng Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà với Mã Giám Sinh, và rước Thúc Sinh, bà Quản Gia, vãi Giác Duyên đến dưới tướng hùm để Kiều tự do ban phát bạc vàng, gấm vóc cũng như gây sự máu rơi thịt nát tan tành, thì Kiều làm sao xứng đáng với lời khen tặng sau này:

    Biết điều khinh trọng, biết lời phải chăng

    phát ra từ miệng Đạo Cô là người thông ngôn tình ý của Trời?

    Tất cả công tác tên đây - dẫn Kiều đến sông Tiền Đường, cho mượn quyền lực để Kiều báo oán, đền ân, tạo thêm điều kiện để Kiều trở thành con người đạo đức gương mẫu dưới mắt của Trời - chỉ cần một gã Từ Hải tầm thường, một tên tướng cướp ưu hạng hay một thảo khấu giang hồ có chút gan liền là đủ lắm rồi. Một gã Từ Hải như vậy chỉ cao hơn cửa đầu hàng độ chừng vài tấc, khi cần sẽ khom mình xuống là có thể lọt dễ dàng, không gây cho ai một chút băn khoăn. Đó là Từ Hải thứ nhất, Từ Hải được chỉ định bởi thực tế tác phẩm, bởi cái nội dung tác phẩm. Với một gã Từ như vậy, Kiều sẽ tạm sống ấm no, đầy đủ, nhưng vẫn không thể yên vui. Với một gã Từ như vậy, Kiều chỉ là người lệ thuộc yếu hèn và sẻ đúng với nhận định sau này của một Đạo cô: “Kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi”. Và với gã Từ như vậy, “lộc trọng quyền cao, công danh ai dứt lối nào cho qua”, có thể quyến rũ dễ dàng.

    Từ Hải thứ nhất, đó là Từ Hải đã có ni tấc rõ ràng do cái khuôn khổ thứ nhất đề ra, một loai Từ Hải chỉ định mà người cầm bút cần phải luôn luôn giới hạn để cho phù hợp nội dung tác phẩm.

    Nhưng cái gã Từ đáng lẽ phải có, ở đây đã không xuất hiện. Tại nơi mảnh đất sinh hoạt của gã, có một người khác thay vào. Người ấy không biết từ đâu vụt đến, đột ngột như một hiện tượng lạ lùng. Nơi con người ấy, thâu gồm bao nhiêu sức mạnh, bao nhiêu ý sống dạt dào, bao nhiêu biểu hiện phi thường. Kiều chỉ nói lên vài lời thông cảm, là Từ cam kết gắn bó trọn đời. (Nếu là chúng ta thì dễ phải đến mười phen thử thách chưa chắc đã chịu yên tâm. Làm sao mà tin được lời đường mật của gái lầu xanh?). Ăn ở với Kiều mới được nửa năm, hương lửa đương nồng, Từ đã vội vàng rứt áo ra đi. (Nếu là chúng ta thì quyết nằm lì thêm vài năm nữa để mà tận hưởng những phút êm đềm vàng ngọc rồi sẽ uể oải lên đường. Nào có lý tưởng lớn lao cấp bách gì đâu mà phải hối hả đến thế?). Rồi một năm sau, đúng lời hẹn ước, Từ đã trở về. Và y như điều dự định, Từ đã lập nên sự nghiệp, trong tay “mười vạn tinh binh, tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường!”. Chúng ta tưởng chừng sự nghiệp lớn lao đã bị trói sẵn một nơi nào đó và Từ chỉ việc lôi về một mạch, khỏi tốn nửa giọt mồ hôi. Từ còn lập nên triều đình, đơn giản như cất một ngôi nhà gỗ, rạch đôi sơn hà, nhẹ nhàng như cắt một chiếc bánh chưng. Trước cờ ai dám tranh cường? Từ đánh bại giặc như là chẻ tre, đập ngói.

    Có thể nói rằng nhất cử, nhất động của Từ đều vượt khuôn khổ thường tình. Khi Từ ra đi, hình ảnh của Từ là cánh chim hồng lướt gió tung mây, không phải là lớp bụi hồng cuốn vó chinh an họ Thúc. Khi Từ giận dữ, đó là sấm sét đùng đùng nổi dậy, không phải là lời quát tháo ồn ào của viên tri phủ lập nghiêm. Đến khi giã từ cuộc sống, Từ lại không chịu nằm dài trên đất như kiểu thế nhân mà trồng thẳng đứng thành một trụ đá, cột đồng không lay chuyển nổi.

    Từ Hải, ở đây, không phải là một họ Từ có thể gặp gỡ bất cứ nơi nào ở trong sinh hoạt trước mắt. Từ là một kẻ phi thường, đồng thời cũng là phi thực. Sự cấu tạo Từ đã ra khỏi mọi công lệ thiên nhiên, công lệ xã hội. Từ vượt qui luật mà sống, rồi vượt qui luật mà chết. Vùng vẫy bao năm mà Từ không hề thất bại, thương yêu hết mình mà Từ không biết phân vân, đầu hàng cấp tốc mà Từ không chịu đề phòng. Từ là nhân vật một chiều, tâm lý một mặt. Đó là con người dự tưởng, con người hình bóng của một ước mơ, chỉ có chiều cao, chiều rộng và không bề dày, bề sâu.

    Từ đã thiếu hẳn một cái cội nguồn cụ thể, lại không có một sinh họat bình thường, Từ là loại chim, loại cá, Từ là sấm sét, quỷ thần, nhưng Từ nhất định không phải là người.

    Không phải là người nên Từ không sống như người, không yêu như người, không chết như người. Bàn về Từ Hải, trong một tác phẩm gọi tên là Khách Biên Đình(1) nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã từng hóm hỉnh nhận xét rất tinh tế rằng suốt cả quãng đời chung sống với Kiều, không thấy nàng Kiều đàn cho họ Từ nghe một dịp nào. Anh chàng Kim Trọng tốt số được nghe Kiều đàn đến quá một lần. Anh chàng Thúc Sinh tầm thường là vậy, cũng đã có phen thưởng thức tài nhạc của nàng. Cho đến tên Hồ Tôn Hiến quỉ quyệt, dâm ô, xử ác với nàng cũng được hân hạnh nghe nàng dạo cung “gió thảm nửa sầu”. Chỉ riêng Từ Hải là chịu thiệt thòi. Năn năm chung sống chỉ được mỗi phần tri kỷ mà mất hẳn phần tri âm. Thế mà, lúc mới gặp Từ, bên cạnh thanh gươm ta lại còn thấy cây đàn lủng lẳng!

    Kiều không đàn với Từ Hải, Từ Hải không đàn với Kiều, những khách mộ điệu có thể xem đấy là điều đáng tiếc. Nhưng Từ làm sao mà ngồi đàn được với Kiều? Từ vốn không phải là người, không thể nghe tiếng đàn của người. Kim Trọng có thể vo tròn chín khúc, Thúc Sinh có thể giọt ngắn giọt dài và Hồ Tôn Hiến có thể chau mày rơi châu ở trên bàn tiệc. Còn Từ? Từ chỉ là sự bất bình, là chí ngang dọc, là lòng tự tin, nơi Từ chỉ nghe tiếng giận đùng đùng, tiếng cười nghạo nghễ, nhưng không thể có tiếng khóc, tiếng sầu. Hình dung một Từ Hải sầu tưởng còn vô lý hơn là hình dung một nàng Thúy Vân có đôi ria mép.

    Bởi vậy, suốt trong thời gian chung sống chỉ nghe Từ nói với Kiều về chuyện anh hùng, tri kỷ, về chuyện sự nghiệp, thành công, toàn là những chuyện lý tưởng cao xa hoặc những ân tình trọng hậu. Thực khó mà nghĩ rằng Từ có lúc cũng như chàng Kim một hai nài ép nàng Kiều chung ngủ với mình, hay như chàng Thúc chui vào buồng tấm để mà chiêm ngưỡng cô Kiều ở trong tình trạng lõa lồ. Không, Từ Hải nhất định không phải là người như vậy, chẳng phải vì Từ anh hùng. Anh hùng là việc ngoài chốn chiến trường nhưng nơi buồng kín thung dung, anh hùng cũng phải làm việc bình thường của người. Ngoại trừ cái liếc đầu tiên khi mới gặp Kiều (cái liếc thật là hợp tình nhưng không hợp lý chút nào), Từ Hải không hề có cái chất người hiện thực. Từ chỉ có cái dáng người, vẻ người ở một mức độ nào thôi. Nói một cách khác, Từ mượn hình người để trà trộn vào sinh hoạt của người.

    Tác giả quyển Khách Biên Đình trước kia dã từng nói đến thái độ quá trớn của cụ Tố Như trong sự thể hiện họ Từ. Sự quá trớn đây tất nhiên không phải thuộc phạm vi của bút pháp ước lệ. Vẻ đẹp nghiên thành đổ nước của Kiều hay sự xuất hiện giữa ngày của một bóng ma Đạm Tiên là những công thức quen thuộc cổ điển. Cho đến mày ngài, hàm én, vai năm tất rộng thân mười thước cao của Từ cũng là nằm trong bút pháp ngày xưa, không ai lẩn thẩn lại đem làm điều thắc mắc. Nhưng đây, qua nhiều trường hợp trình bày hành động của Từ, Nguyễn Du đã hết hạn chế nổi mình. Đang sống trong cảnh ái ân nồng đượm với Kiều mới được nửa năm, Từ đã đột ngột ra đi. Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương, cái lòng bốn phương hiện lên như một cố tật dị thường hết sức, thế là:

    Trông vời trời bể mênh mang

    Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong.

    Đọc lại câu trên, người ta không thể nghĩ gì khác hơn là Từ lên đường và đã đi xa. Nhưng Từ thực đã đi chưa? Hãy nghe kể tiếp:

    Nàng rằng phận gái giữ tòng,

    Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi

    Thì ra “lên đường thẳng dong” mà Từ còn ở lại nhà, hoặc Từ còn đứng trong sân. Hình như nói về Từ Hải, Nguyễn Du không ngăn được một sức tràn dồn ép bên trong nên sự quá trớn luôn luôn làm cho ngòi bút tác giả mất đà, ngã chúi hẳn về phía trước, nhiều khi không có cách nào gượng nổi. Cái chết của Từ kể ra cũng đã lạ lùng rồi:

    Trơ như đá vững như đồng,

    Nhưng thêm một câu sau đấy:

    Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời

    thì cái quang cảnh xui ta nghĩ tới những người công nhân nhà đèn đang cố sức nhổ một cây trụ điện!

    Sự quá trớn ấy không riêng trong vài chi tiết nhỏ nhặt trên đây mà bàng bạc khắp con người Từ Hải, suốt quãng thời gian họ Từ xuất hiện ở trong tác phẩm, khiến cho Từ Hải mất da, mất thịt trở nên trong suốt, khiến tâm địa Từ như soi thấu được. Sự quá trớn ấy còn làm Từ Hải vụt cao, không còn dán chân trên mặt đất liền, bởi thế khi bố cục truyện lôi Từ trở về thực tại, buộc Từ chui vào chiếc cửa đầu hàng do Hồ Tôn Hiến dựng lên thì ta thấy Từ cúi khòm nhiều quá, cong vòng cả lưng, tưởng nghe được cả tiếng xương răng rắc. “Mười phân hồ đồ”, thế mà rốt cuộc không có một chút hoài nghi, “triều đình riêng một góc trời, gồm hai văn võ” thế mà lại thèm ít nhiều lộc trọng quyền cao! Từ Hải đã lỡ dựng lên không theo ni tấc đầu hàng, do đó ngang ngược đẩy Từ vào lỗ hổng ấy thì Từ trở nên lúng túng, trở nên phi lý, xa lạ, lạc loài.

    Chính sự phi lý, phi thực của Từ tạo ra phi nghĩa, bởi vì người ta có thể giải thích nhiều cách khác nhau, trái nhau về Từ mà ở cách nào cũng vẫn thấy được một phần hữu lý. Đám mây mờ ảo ở chân trời xa có thể nhận là cánh hoa hay con ngựa chạy. Sự vùng vẫy của Từ chỉ vì quen thói tự do, là gì, nếu không phải là một thứ cá nhân chủ nghĩa? Bất chấp triều đình, coi nhẹ mọi thứ trật tự sẵn có và ở trên đầu không thấy một ai, phải chăng cũng là một nét phản phong? Và hiên ngang, cao đẹp làm nên sự nghiệp lẫy lừng cho toại tấm lòng ước nguyện, phải chăng Từ là một hiện thân của một giấc mộng anh hùng? Ta còn có thể phát triển nhiều hơn và xa hơn nữa -Từ Hải có thể bước vào nhà trường để thành một thứ nghị lực sắt đá của kẻ không biết trở ngại, có thể ngồi trong tình sử để làm một gã cuồng si chết sống vì yêu. Từ Hải có thể vào ngành tâm lý để đại diện cho mặc cảm, có thể mang lon quân sự để tiêu biểu cho một lối tác chiến qui mô. Từ Hải là anh hùng chăng? Nếu hiểu quan niệm anh hùng theo những tiêu chuẩn rộng rãi thì Từ là kẻ anh hùng của hạng mã thượng gian hồ. Từ Hải không phải là anh hùng chăng? Nếu quan niệm anh hùng theo một tinh thần xây dựng thì Từ thật không xứng đáng suy tôn. Từ đáng thương chăng? Chung tủy, tin người, chết oan chết ức, đáng thương không biết chừng nào. Từ đáng ghét chăng? Ích kỷ, bạo tàn, vụng tính, kém suy, Từ thật đáng ghét không biết bao nhiêu. Đám mây mờ ảo không chỉ là hoa, là ngựa, mà còn có thể là cá, là chim, là một bàn tay quỷ sứ hay là mái tóc người yêu.

    Cuộc sống chứa đầy ảo ảnh, Từ Hải cũng là một loại ảo ảnh. Nhưng cái bóng bọt xà phòng xanh đỏ nếu cứ lơ lửng trên không thì vẫn làm vui đôi mắt, đừng cho chạm phải một chiếc que nào. Cái bọt xà phòng Từ Hải nguy thay, đã chạm khung cửa đầu hàng. Ảo ảnh đi vào thực tại trông thực vô cùng nghễnh ngãng.

    Từ Hải chung qui là sự lỡ tay của cụ Tiên Điền. Tác giả lỡ tay can thiệp quá nhiều vào trong Từ Hải và tước quyền sống chỉ định của Từ. Do đó, nảy ra va chạm giữa hai thực tế: thực tế tác phẩm và thực tế nội tâm tác giả. Sự va chạm ấy đã làm phân hóa Từ Hải thành ra hai người, một người đáng lẽ phải có ở trong bố cục và một người mà Tố Như - cũng như mọi người chúng ta - mong muốn xuất hiện ở trong cuộc sống nàng Kiều.

    Dù sao một bậc thiên tài lỡ tay cũng khác với người thường tục. Chúng ta bất tài, nếu phải lỡ tay, chỉ làm vỡ tan chén ngọc và bị đọa đày xuống cõi trần gian là hết. Thiên tài lỡ tay phóng tỏa sự sống quái đản, nhiệm màu vào cái xác phàm, diễn hành một sự sống lớn giữa những sinh hoạt bé mọn, đem cái phi thường trộn với cái tầm thường, vẽ một nét thẳng vào giữa đường cong. Vì xét về mặt tâm lý, Từ Hải là đường thẳng ấy, về mặt con người, là sống lớn ấy, về mặt sinh hoạt, là phi thường ấy.

    Nhưng sự lỡ tay bắt nguồn từ đâu? Không có cái gì ngẫu nhiên mà được tạo thành. Huống hồ đây là bàn tay kỳ diệu của một thiên tài có thể kéo một đám người xuyên qua lớp màn hủy diệt của dòng thời gian mà không một ai hao mòn sức khỏe, thì bàn tay ấy thực không phải lỡ dễ dàng.

    Sự lỡ tay ấy bắt nguồn từ một thế sống ở trong tâm hồn Nguyễn Du, từ một thực trạng sinh hoạt gây nên bao nhiêu dồn nén xót xa, do đó nung nấu bao nhiêu khát vọng giải tỏa tuyệt vời.

    Nhân vật ở trong Đoạn Trường Tân Thanh, ngoài Kiều, xưa nay chỉ có Từ Hải là được chú ý hơn hết. Người ta bị sự quyến rũ của Từ mà quên hẳn rằng sức quyến rũ ấy phát sinh từ Kiều. Bởi vì Từ Hải với Kiều thực ra là một, hay nói cách khác, đó là hai mặt của một vấn đề - vấn đề sự sống - hai cái trạng thái tâm lý của một con người - con người Nguyễn Du.

    Chúng ta nhận thấy khi thể hiện Kiều, mô phỏng theo truyện Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã gửi vào đấy khá nhiều tâm sự bi phẫn về đời. Không chỉ là nỗi hoài Lê nhưng còn bao nhiêu những đau lòng khác do cuộc bể dâu đem lại, do cảnh loạn lạc gây nên mà một tâm hồn đa cảm như Nguyễn Tố Như không thể ngăn mình xúc động sâu xa. Cuộc đời Nguyễn Du - qua những tác phẩm chữ Hán - là một cuộc đời chìm nổi, trải nhiều cay đắng, thiệt thòi, luôn luôn nói đến bệnh hoạn và mái đầu bạc vội vàng. Cái tâm sự bi đát ấy về đời phải được thể hiện nơi Kiều. Nàng Kiều là kẻ toàn tài, toàn sắc nhưng chỉ là kẻ bé mọn ở giữa cuộc đời. Cuộc sống của nàng là chuỗi dài thất bại, trước sau nàng chỉ là một nạn nhân, giày vò bởi cái xã hội phong kiến bạo tàn, dơ bẩn và giày vò bởi mặc cảm tự ti u uất trong nàng. Kể cả lúc nàng ngồi giữa ba quân, mặt hoa áo ngọc, trong vai kẻ thắng, thay quyền thiên lý để mà báo oán đền ân, cung cách của nàng cũng vẫn chứa đầy mặc cảm tự ti.

    Nhưng nếu Kiều là một người yếu đuối thì Từ là kẻ hùng mạnh, Kiều là một người tủi nhục thì Từ là kẻ vinh quang. Ở trong cuộc sống mỗi bước chân Kiều đều vấp phải một bất trắc thì trên quãng đường ngang dọc Từ không hề gặp khó khăn. Suốt đời Kiều sống chịu đựng, Từ sống bất bình, Kiều quen tiếng khóc, Từ quen tiếng cười, Kiều đội trên đầu nào trung, nào hiếu thì trên đầu Từ chỉ là một khoảng trống không, nào biết có ai? Nếu Kiều lê lết trên mặt đất liền đầy những éo le trói buộc thì Từ vùng vẫy trên cao phúng túng, tự do. Kiều là hiện thân của mối mặc cảm tự ti, còn Từ là sự nguyên hình của mối mặc cảm tự tôn.

    Từ Hải là sự bù đấp cho Kiều, Kiều chìm xuống, Từ vươn lên. Chính vì có Kiều như thế mà có Từ như kia. Kiều là cái phần hiện thực sà trên mặt đất, Từ là cái phần lãng mạn vụt thoát lên cao, hai phần gắn liền với nhau như bóng với hình. Và đó chính là hai phần tiêu biểu, không riêng cho một Nguyễn Du, mà chung cho mọi kiếp người.

    Bởi vậy người ta khó lòng hiểu được Từ Hải mà không liên hệ với Kiều. Kiều và Từ Hải của Nguyễn Du không phải là Kiều và Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân. Ở nơi ngòi bút Nguyễn Du, hai nhân vật được quan niệm trở lại theo một nhu cầu nội tâm nhất trí. Tách rời Từ Hải khỏi Kiều, cũng như ngược lại, là phá tan sự quân bình tâm lý ở trong tác phẩm, là đi ngược lại ý sống chân thực của những con người vẫn có hai tay, một tay bấu vào đất cái, một tay vươn ngoắt trời xanh.

    Dù không phân tích như thế, xưa nay ta vẫn tuân theo cái đà tâm lý bản nhiên mà liên kết cả hai người trong sự thưởng thức truyện Kiều. Cho nên thương xót nàng Kiều tất phải mến yêu Từ Hải, cũng như trong nỗi thiệt thòi ta vẫn khát thèm bù đắp không nguôi. Cả Kiều và Từ đều rất gần gũi với ta, nhưng sự gần gũi không cùng chung một bình diện.

    Điều ấy cắt nghĩa vì sao Từ Hải không phải là người mà đặt vào trong tác phẩm, Từ lại là một phần người rất thực. Chúng ta chỉ diễu cợt Từ khi đem Từ khỏi tác phẩm, tách biệt họ Từ ra khỏi Thúy Kiều. Điều ấy cũng đã cắt nghĩa vì sao mỗi thời Từ có một khuôn mặt khác. Bởi lẽ, mỗi thời có những tủi nhục và những mong mỏi vươn lên của nó.

    Có người bảo rằng sự lỡ tay ấy, để bù đắp ấy, sao không xảy ra ở một nhân vật nào khác? Điều đó thật là giản dị, bởi Từ chính là nhân vật hội đủ điều kiện hơn hết - trừ cái điều kiện đầu hàng - để thể hiện sự phản ứng tâm lý căn bản ở trong Nguyễn Du. Chính cái ý hướng bù đắp, thể hiện nơi Từ đã có ảnh hưởng khá lớn đối với nàng Kiều. Với gã Từ Hải anh hùng nhưng thô bạo của Thanh Tâm Tài Nhân tài nhân, Kiều có thể sống những ngày tạm ổn, nhưng với Từ Hải phóng khoáng, nghĩa hiệp của Nguyễn Tố Như, Kiều đã được sống năm năm sung sướng tuyệt vời. Lưng của Từ Hải ở đây không phải là lưng hùm sói, thân của nàng Kiều ở đây không phải là thân tôi đòi. Với Từ, Kiều đã trở thành một kẻ có chung, có thủy, ân oán báo đền, và chỉ có Từ, Kiều mới được yêu đầy đủ, mãnh liệt như thế. Từ là người yêu xứng đáng nhất ở trên đời, vì trong yêu đương Từ không làm khổ người yêu, không làm thấp hèn người yêu, cả về vật chất cũng như tinh thần. Chỉ có với Từ, Kiều mới lên tới tột độ vinh quang mà bao nhiêu kẻ phấn son mơ ước.

    Trong mười lăm năm đau khổ, chung qui Kiều của Nguyễn Du chỉ khổ mười năm. Năm năm với Từ thật đáng đánh đổi một đời. Chúng ta có thể căn cứ vào đó mà nhận định sự tác động trở lại của phần lãng mạn đối với hiện thực. Chính sự tủi nhục của Kiều tô đậm vinh quang của Từ và sự vinh quang của Từ giảm bớt tủi nhục của Kiều. Sự tương hỗ tác động về mặt tâm lý vẫn là hiện tượng phổ biến xưa nay trong mọi con người. Thiếu thốn sinh ra ước mơ, ước mơ vỗ về thiếu thốn, Từ Hải và Kiều là sự biểu hiện hai chiều của một nội tâm.

    Tóm lại, Từ Hải là mộng, xây trên cái thực là Kiều. Chúng ta khó lòng cảm thông Từ Hải, nếu không nhìn thấy ý hướng bù đắp nơi Từ. Từ chỉ có nghĩa trong sự bổ túc và phải nhận định qua sự bổ túc, cùng cái cơ sở để bổ túc ấy. Từ không chỉ là giấc mơ anh hùng, không chỉ là sự phóng túng cá nhân hay một ý hướng phản phong. Nói thế, chỉ là những cách nài nĩ sự việc tổng quát đi vào cụ thể, để thời đại hóa một cái hiện tượng tâm lý có nhiều đặc tính biểu trưng. Từ là hiện thân của một phản ứng, của lòng khao khát đền bù, của một đòi hỏi quân bình có thể đồng nghĩa với sự đòi hỏi quân bình có thể đồng nghĩa với sự đòi hỏi công bình, một thứ công bình lý tưởng về người, về đời, vọng lên bất cứ nơi nào còn có đày đọa tủi hờn.

    Chính nội dung ấy, phát sinh quá đậm từ một thực tế quá thấp - thực tế của một xã hội Đoạn Trường Tân Thanh - đã khiến Nguyễn Du lỡ tay để cho Từ Hải trở thành lỗi điệu về phần kỹ thuật. Lỡ tay và lỗi điệu ấy của bậc thiên tài đã góp khá nhiều cho cuộc sống này: một mặt bày tỏ khát vọng vươn lên muôn thuở của mọi con người, một mặt tố cáo thêm rõ bi kịch của những đời sống thấp thỏi, hèn mọn, trọn kiếp chỉ là một tiếng than dài.

    Nguồn: Đọc lại Truyện Kiều, in lần thứ tư. NXB Văn học &Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học ấn hành, quý II, 2015.

    www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,818,987

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/