Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,816,635

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Đọc lại Truyện Kiều (3)

Vũ Hạnh

  • Thứ tư, 10:30 Ngày 08/07/2020
  • VĂN HÓA VÀ MẠO HÓA

    Thuyết trình tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút (Pen club), 107 Đoàn Thị Điểm - Sài Gòn - hồi 10 giờ sáng CN, ngày 25/7/1971

    Vào khoảng năm năm trước đây, khi văn hóa dân tộc được phát động thành phong trào( ), số người chống đối đã nêu lên những lập luận như sau:

    1. Văn hóa dân tộc là chuyện cũ kỹ, lẩm cẩm, không có giá trị thực tế.

    2. Phát huy văn hóa dân tộc thì cứ việc làm nhưng đừng chỉ trích mạnh mẽ ai cả, cũng đừng đả kích quyết liệt văn hóa ngoại lai. Cái gì không hợp cảm quan dân tộc thì để tự nhiên sớm muộn sẽ bị đào thải.

    3. Văn hóa dân tộc là một mưu đồ chính trị của các phe nhóm, ta cần xa lánh, đề phòng. Đừng mang chính trị, luân lý vào trong văn hóa.

    Đại khái, lập luận của kẻ chống đối hay người thờ ơ đều nằm trong ba điểm ấy. Ngày nay, năm năm đã qua, những người đã có lập luận như thế hẳn có thêm nhiều thì giờ để thấy rõ hơn những chỗ sai, đúng của mình. Nếu phải đặt lại vấn đề văn hóa dân tộc lên thảm, bây giờ, là vì xét trên thực tế đất nước vấn đề ấy còn nguyên vẹn giá trị của nó, và chừng nào dân tộc ta còn bị đe dọa bởi những thế lực bên ngoài thì vấn đề ấy vẫn còn là một kêu đòi giải quyết hợp thời, khẩn trương.

    Văn hóa cũng như dân tộc đều là thực tại biến động không ngừng, là những sức sống luôn luôn được hiện đại hóa nên chẳng bao giờ là xưa cũ được. Dù có quay lại phục hồi những giá trị cổ của dân tộc ta thì đó có phải là lẩm cẩm không? Trước hết hãy xét phục hồi để làm gì, rồi mới có thể phê phán. Và đứng trên quan điểm nào phê phán? Quan điểm của kẻ coi chuyện văn hóa là đồ trang trí? Quan điểm của bọn nô lệ mọi thứ giá trị ngoại bang? Quan điểm của kẻ bảo thủ khư khư ôm mớ đồ xưa, những kẻ tự coi như mình đứng trên hết mọi sinh hoạt, ra ngoài mọi cuộc tranh chấp?

    Những kẻ ngăn chận, chỉ trích như thế hẳn là không hiểu được gì về những giá trị truyền thống của nòi giống mình, ngoài chút kiến thức vụn vặt lượm trong sách vở tây phương. Một phần, cũng không phải lỗi ở họ. Lớp người đi trước và những người hữu trách về văn hóa hiện nay không chịu bỏ công sưu tầm những giá trị văn hóa cổ phong phú của dân tộc, giúp cho họ thấy chúng ta quả có một gia sản quý và đáng tự hào. Nếu không làm được việc ấy, ít nhất cũng nên gây một niềm tin hợp lý để khuyến khích họ tìm tòi. Chỉ đọc một quyển Văn minh miệt vườn, dù ông Sơn Nam viết khá sơ lược, ta cũng thấy được bao điều kỳ thú về những nếp sống của đồng bào ta ở đồng bằng sông Cửu Long. Chỉ nghe những sưu tập trong đôi năm của ông Nguyễn Văn Xuân về các tuồng cổ, chúng ta cũng đã kinh ngạc về cái khả năng kịch nghệ của ông bà mình. Thực ra, chúng ta không rành chữ nôm làm sao biết được những giá trị văn hóa xưa còn có những gì. Cứ tưởng ngoài các Truyện Kiều, Cung oán, Chinh phụ ngâm là không còn gì nữa. Ta lại ghét khó, chuộng dễ, mà chuyện lội ngược thời gian tìm những di tích đã bị dập vùi là một công trình gian nan đòi hỏi kiến thức, phương pháp, bao nhiêu đức tính tinh thần. Người ta ca ngợi vở Oklahoma của Hoa Kỳ diễn suốt 6, 7 năm liền trong nước, ngoài nước, nhưng lại quên rằng vở tuồng San Hậu của ta ra đời trên cả trăm năm mà được trình diễn không ngừng, và đến ngày nay chỉ cần đánh một tiếng trống là đã kéo tới hàng ngàn, hàng vạn người xem. Người ta khen lối làm việc công phu của nhiều tác giả nước ngoài mà quên hẳn rằng có những công trình - chẳng hạn Vạn Bửu Trình Tường - tổ tiên chúng ta đã để ra cả thế kỷ soạn thảo, tiếp nối đời này, đời khác bổ túc không ngừng. Đâu phải chỉ ở nước ngoài mới có các công trình văn nghệ dài hơi? Ở Việt Nam ta, vở tuồng Tam Quốc muốn diễn cho trọn phải mất một trăm mấy chục đêm liền. Đó là chưa nói kỹ thuật sáng tác, diễn xuất của ta có những nét riêng sẽ làm cho nền kịch nghệ hiện thời khởi sắc bao nhiêu, nếu được nghiên cứu, phát huy đúng mức. Ông Nguyễn Văn Xuân có viết: “Khi nền kịch nghệ ngày xưa của ta bắt đầu đi xuống ở trong rực rỡ, huy hoàng thì nền kịch nghệ Hoa Kỳ mới bắt đầu lên”. Và nếu kịch nghệ của ta cứ chìm đắm mãi, là lỗi của cả chúng ta.

    Đó chỉ mơi là những sự phát triển lẻ tẻ của vài cá nhân, trong thời hạn ngắn, khi họ thừa dịp rảnh rỗi quay về dĩ vãng. Nếu sự quay về được đông đảo hơn, được dài ngày hơn, với những phương pháp, phương tiện hữu hiệu thì sự thu hoạch sẽ lớn lao biết chừng nào. Nhưng nếu những người hời hợt có thể nghĩ rằng nền văn hóa cổ của ta thật là vô nghĩa thì cũng có kẻ chủ tâm chỉ trích, phủ nhận với cái dụng ý mở đường để mà đón tiếp văn hóa ngoại lai. Người ta sẽ thấy kiêu hãnh khi biết là mình làm chủ những giá trị lớn, nhưng khi mang cái mặc cảm trống rỗng, thiếu thốn thì dễ qui phục những thế lực đến từ ngoài.

    Tưởng phải nhắc lại vấn đề văn hóa dân tộc đã được đặt ra, vì nó đang bị đe dọa bởi những thế lực văn hóa ngoại lai, điều đó ai cũng thấy rõ, trừ những kẻ nào không chịu muốn thấy. Khởi lên vấn đề văn hóa vì có nhiều những hoạt động phản lại văn hóa, nêu lên danh nghĩa dân tộc vì có nhiều những hoạt động phản lại dân tộc. Người ta dễ hiểu vì sao hiện nay nước Pháp, nước Mỹ không đặt vấn đề văn hóa dân tộc mà các nước Á-Phi, nhất là ở Phi châu lại đặt vấn đề văn hóa dân tộc, phục hồi nền văn minh cổ một cách tích cực. Dù sao đi nữa thì sự tích cực của họ không thể sánh với tích cực của ta, và sự khẩn trương của họ không sao bì được khẩn trương của ta. Vì hoàn cảnh mà dân tộc ta hiện đang lâm vào là hoàn cảnh đặc biệt, duy nhất, chưa từng được thấy từ thời nhân loại biết đến chiến tranh cho tới ngày nay. Để mặc cho các sản phẩm ngoại lai tràn ngập, với niềm tin tưởng nó được tự nhiên đào thải nếu không hợp với cảm quan dân tộc, là một ngộ nhận quái đản. Bởi các thế lực văn hóa ngoại lai đi vào xứ ta không phải trên một tương quan bình đẳng mà trên một thế cưỡng chế. Cứ ngồi yên đó mà nhìn, rốt cuộc cái gì tốt đẹp của ta sẽ bị đào thải để rước lấy những cái xấu của người. Tự nhiên chủ nghĩa là vô trách nhiệm, là sự đầu hàng, đồng lõa, khoác trên cái lốt triết học ung dung. Thực sự làm gì có chuyện tự nhiên đào thải, theo nghĩa buông xuôi như thế? Sự đào thải nào cũng được thực hiện qua các phản ứng. Phản ứng ôn hòa hay quyết liệt đều là cách thế tùy theo trường hợp, đối tượng. Không thể căn cứ ở cái mức độ phản ứng mà đòi xóa bỏ phản ứng.

    Người ta còn đi xa hơn trong sự lầm lạc khi bảo rằng “nhiều giá trị ta coi như của riêng ta thì trăm năm trước hay ngàn năm trước đã do nước ngoài đưa vào và đã từng làm nhiều người bỡ ngỡ, tức tối”, vậy khuyên đừng có “uổng công” chống đối. Nhưng ta có chống mọi thứ giá trị ngoại lai hay không? Ngày nay chẳng ai ngây ngô đến mức nghĩ rằng dân tộc là một thực thể hoàn toàn biệt lập, văn hóa là một sản phẩm thuần túy địa phương, đến một em bé cũng biết giao lưu văn hóa là điểu tất nhiên và rất cần thiết cho mọi tập thể sinh tồn. Chúng ta đâu có điên rồ chống đối văn hóa ngoại lai? Chúng ta chỉ chống cái gì đồi trụy trong các sản phẩm của văn hóa ấy, chống lại cái gì làm nguy hại đến sinh tồn dân tộc. Chúng ta phân biệt rõ ràng những thành quả của dân tộc các nước về mặt văn hóa, với những thủ đoạn nằm trong chính sách đối ngoại của những nước ngoài về mặt văn hóa đối với chúng ta. Điều đó ai cũng nhận biết, lịch sử dân tộc chúng ta cũng đã nói lên đầy đủ lắm rồi. Quyết liệt chống lại phong kiến Trung Hoa xâm lược nhưng ta học hỏi Hán văn, thuộc lòng Đường thi, tôn thờ Khổng Tử, không đội trời chung với thực dân Pháp nhưng ta tìm hiểu Descartes, ca ngợi Voltaire, mến phục Hugo, chúng ta phản đối sản phẩm sa đọa của văn hóa Mỹ, nhưng tác phẩm của London, tài năng của Hemingway, cuộc đời của Lincoln vẫn chiếm tình cảm chúng ta. Nếu quả có những giá trị từ ngoài nhập vào ban đầu đã làm cho ta bực tức, nhưng sau thành riêng của ta, thì cũng không thể vì vậy mà kết luận rằng bực tức là việc uổng công. Tại sao không nhận định rằng bực tức, phản đối từ đầu là những phản ứng hợp lý của một bản năng tự vệ trước những thế lực ngoại nhập? Tại sao không nghĩ nếu không có những phản ứng như thế, các giá trị kia chắc gì đã được sửa đổi cho hợp nhu cầu dân tộc?

    Đặt vấn đề như vậy còn không hợp lý ở điểm đã tách nó khỏi môi trường để suy luận. Trải qua lịch sử dân tộc, nhiều nền văn hóa ngoại lai đã đến xứ ta bằng một thế lực đàn áp, và trong khi bị bắt buộc lựa chọn, ta phải chống đối là lẽ dĩ nhiên. Cụ Nguyễn đình Chiểu không giặt xà phòng, không học quốc ngữ, không đi trên đường cái quan vì cho rằng những thứ ấy là của giặc Pháp bày ra, nhưng không kẻ nào có chút lương tri dám chê bai cụ là quá cố chấp. Bởi đó chính là biểu lộ của lòng căm thù cao độ, và lòng căm thù cao độ là cái lý tưởng đẹp nhất của mọi con người sống dưới nanh vuốt kẻ thù mà còn biết đến tủi nhục.

    Dù muốn hay không, văn hóa mặc nhiên bao hàm luân lý, chính trị. Nếu ta thừa nhận dân tộc nào cũng đạo đức, xét trên căn bản, thì nền văn hóa biểu thị của dân tộc ấy tất cũng dựa trên cơ sở đạo đức để tồn tại và phát triển. Và nếu ta không quan niệm danh từ chính trị theo nghĩa hẹp hòi, là hoạt động cho đảng phái, bè nhóm nào đó thì mọi sinh hoạt văn hóa đều có tính cách chính trị, đều nằm trong những qui định chính trị. Chẳng phải ngay đến cái ăn, cái mặc hằng ngày của mỗi chúng ta đều bị ràng buộc mật thiết vào các chính sách kinh tế, vào các phương lược đối ngoại, vào những biến chuyển trong và ngoài nước đó sao?

    Những người chống đối văn hóa dân tộc cho thấy tính cách mơ hồ của họ về vấn đề ấy, nếu không nói rằng họ bị đầu độc dài ngày bởi nền văn hóa trừu tượng, xảo quyệt của bọn thực dân, hoặc đã đồng hóa quyền lợi, của họ - quyền lợi tinh thần cuộc như vật chất - với các thế lực chống đối dân tộc.

    Tuy nhiên, số chống đối ấy không phải là một thành phần đáng kể, vì họ gồm nhiều những người ngộ nhận hơn là những kẻ cố tình, họ có quan điểm văn hóa sai lệch hơn là mục đích chính trị sâu độc. Hơn nữa, họ cũng là những đối tượng dễ khiến cho ta nhận biết, ta không lầm lạc về họ.

    Vấn đề chỉ trở nên phức tạp hơn về phía những người tán thành, chủ trương văn hóa dân tộc, những người làm văn hóa dưới nhãn hiệu dân tộc. Tất nhiên có những người hiểu vấn đề văn hóa dân tộc đặt ra để biểu thị một sự phản kháng và bảo vệ văn hóa chống lại các biểu hiện sa đọa từ ngoài vào là mặc nhiên bảo vệ nền độc lập của đất nước, sự tự do của xứ sở. Đồng thời họ cũng hiểu rằng văn hóa dân tộc đang bị thao túng bởi một thiểu số nhằm phục vụ một thiểu số có đặc quyền, chưa phải văn hóa của đại đa số, hướng về quyền lợi của đại đa số. Trong quyển Xây dựng Văn hóa, ông Nguyễn Hiến Lê có đoạn nói về các người cầm bút như sau:

    “Chúng ta chuyên viết cho “các thầy cô” đọc, không khi nào nghĩ đến việc viết cho đại chúng, tức 90% đồng bào của chúng ta cả. Không bao giờ ta tìm hiểu cảm xúc, nhu cầu tinh thần của hạng bình dân. Chúng ta cố tình quên họ đi. Họ lặng lẽ cày ruộng cho ta, chèo ghe cho ta, sống ngay bên cạnh mà ta với họ có vẻ như sống trong hai thời gian khác nhau. Họ có những mối tình khác xa với mối tình của cô Mai, cô Tuyết trên xa lộ, có những câu hò điệu hát khác xa những điệu cha-cha-cha và bi-bốp trong các quán trà (…) Chúng ta chỉ lo tiếp thu học thuyết của Camus, Sartre, kỹ thuật của Kafka, Joyce trong khi họ chỉ ưa luân lý trong Lục Vân Tiên, kỹ thuật trong Bạch Viên Tôn Các”.

     Khi nói đa số, không phải nhất đán người ta đòi ngay mọi người phải được chủ động sinh hoạt văn hóa và các hoạt động văn hóa trực tiếp do đa số ấy quyết định, bởi đó còn là mơ ước về một xã hội lý tưởng mà quyền lợi cộng đồng là nền tảng của chế độ. Trong những điều kiện giới hạn của xã hội ta, văn hóa đang được mong đợi hướng về đa số. Nhưng sự hướng về, nghĩ tới, như vậy, nếu thực hiện được đã là tốt đẹp lắm rồi, vì nó đã mang sắc thái dân tộc đúng đắn, tuy chưa phải là sắc thái dân tộc lý tưởng.

    Bên cạnh những người tán thành văn hóa trên quan điểm ấy, còn có những người chủ trương văn hóa dân tộc một cách khác hẳn. Từ bốn năm năm lại đây một số người này không ngớt nói chuyện văn hóa, nói chuyện dân tộc, nhưng hình như họ càng nói đến dân tộc nhiều chừng nào thì những biểu hiện văn hóa của họ càng phi dân tộc bấy nhiêu. Chúng ta hãy nêu lên đây một số biểu hiện:

    1. Trên cái danh nghĩa tiếp thu văn hóa nước ngoài, họ đã nhập cảng mọi đồ phế thải, rác rến của nền văn hóa ngoại lai mà không chọn lọc phê phán. Mọi người đều đã nhìn thấy vũ điệu sexy, phim ảnh dâm loạn, nhạc kích động, sách hiện sinh cùng tạp chí khêu gợi tình dục đã đưa xã hội chúng ta từ sự bẽn lẽn đến cảnh cảnh sỗ sàng, từ cái áo dài khoét cổ, đến mini-jupe, maxi, từ cảnh cá nhân hưởng lạc đến cảnh hưởng lạc tập thể, từ sự không không có quần áo từng người đến hội thiên nhiên khuyến khích trần truồng cả đám, từ sự cưỡng hiếp đến bề hội đồng, và còn gì nữa? Đó là một bước tiến dài trên đường sa đọa và những hoạt động văn hóa tiếp tay vào đó một cách đắc lực. Không nói gì đến sản phẩm từ ngoài vốn thập thành rồi, các món nội hóa cùng cố gắng đuổi cho kịp các mẫu mực đó. Những ban vũ chuyên khai thác các ngón lắc vú, ngoáy mông, những trò phô bày da thịt dưới cái nhãn hiệu vũ điệu mùa hè (mùa đông thì phải ăn mặc kín đáo). Mùa hè đã nóng thấy mồ mà còn nhảy nữa thì chịu sao nổi! Đôi khi họ cũng xen vào giữa các màn vũ dâm dật một vài vũ điệu gọi là quê hương, một đôi bài hát nói đến dân tộc để tỏ rằng họ đang làm văn hóa, văn nghệ chứ không phải là đánh đĩ nghệ thuật để mà kiếm tiền. Nhưng cái vỏ ngoài có che đậy được cái bên trong không? Khi các tạp chí quanh quẩn chỗ các bộ phận sinh dục mà tự gọi là gọi là nghiên cứu “tân học”, khi tác phẩm viết về chuyện kín nam nữ mà gọi là các công trình nghệ thuật độc đáo, khi các cuốn phim chuyên môn khai triển cơ thể phụ nữ mà gọi là một siêu phẩm, và các tài tử là khuôn mặt lớn (thay vì nên gọi là khuôn mặt dày) là nghĩa thế nào? Có người cho đó là sự bịp bợm, nhưng cũng không hẳn như vậy. Có gì gian ngoa đâu mà bịp bợm? Người coi cũng thừa biết trước là có gì rồi mới bỏ tiền ra chứ đâu dại ngộ cho cam? Phải chăng đó là một kiểu thỏa hiệp lừa bịp, một phương thức mới của thời đại này, do cả kẻ mua người bán âm thầm chấp thuận với nhau một cái nhãn hiệu như thế để có cái cớ tự lừa, hầu khỏi xúc phạm đến cái nốt ruồi liêm sỉ cuối cùng may thay còn dính ở chỗ nào đó trên da mặt họ? Người ta cũng đã hoài công khi xuyên tạc rằng chống đối những loại văn nghệ đồi trụy là sự bày đặt của những con người đạo đức giả hiệu. Không, chúng ta đâu có dựa vào một số tiêu chuẩn đạo đức trừu tượng để mà chống đối, chúng ta không coi con người như những siêu nhân. Trái lại, chúng ta vốn biết con người không mạnh như nó vẫn thường lầm tưởng, con người chỉ là thực thể yếu đuối đó thôi. Đồng thời chúng ta cũng không coi thường nghệ thuật mà trái lại nhìn thấy rõ tác động bền bĩ sâu xa của nó đối với tâm hồn con người. Chính vì con người yếu đuối nên nó cần được hỗ trợ, hỗ trợ với sự thành thực và lòng ân cần. Nghệ thuật đáng lẽ phải được tìm đến với mong chờ đó, nghệ thuật phải tạo một sự cậy dựa cho tâm hồn của chúng ta không bị nao núng, nghệ thuật phải lo bồi dưỡng, vun quén, hồi phục cho ta, chứ đâu có thể a-tòng một cách khốn nạn để làm cho ta xấu hổ thêm lên?

    Nhưng nếu họ cứ tiếp tục làm thế, rõ ràng là họ có một chủ đích sâu xa, họ đã có một nhiệm vụ rõ ràng. Còn nhớ cách đây năm năm trong một đại hội giáo dục, một nhà văn hóa đã nói: “Tội ác của loại văn hóa đồi trụy này thật nặng nề, nó nhằm hủy diệt ý chí kêu đòi tiến bộ nơi lớp người trẻ ở các đô thị ngày nay”. Quả vậy, những người trẻ tuổi vốn nhiều nhiệt tình nên cũng dễ bị kích động, và nếu không được hướng về những lý tưởng đẹp thì bị lôi cuốn vào những thú vui thấp kém. Làm cho họ hư hoại để dễ sai khiến, đó là phương thức cũ kỹ mà thực dân Pháp đã từng vận dụng trong biết bao năm. Bây giờ các tài liệu mật ở bên Hoa Kỳ đã được tung ra, dù thật hay giả cũng cho ta thấy rõ hơn một điều mà chúng ta đã nhìn thấy từ xưa, đó là người Mỹ muốn biến quê hương chúng ta thành thuộc địa của họ. Người Mỹ không cần giấu diếm đã cho thấy rằng những trung tâm văn hóa của họ ở các nước ngoài cũng quan trọng không kém gì những căn cứ quân sự của họ. Trong một tài liệu của Claude Julien mà ông Diễm Châu trích dịch, đăng trên tạp chí Đất Nước vào không cuối năm 69, chúng ta được biết cụ thể nhiều bản thống kê về các nguồn lợi mà cái chính sách văn hóa của họ đem về cho họ ra sao. Ngoài món lợi tiền bạc lớn lao thâu được ở trên thị trường quốc tế, nền điện ảnh còn nhiệm vụ phổ biến “một lối sống Mỹ” ra khắp mọi nơi. Người Mỹ ở trên màn bạc tất nhiên bao giờ cũng phong nhã hào hùng, cảnh Mỹ ở trên màn bạc tất nhiên tươi đẹp, sang trọng. Cái lối sống ấy nhất định phải gợi thèm muốn cho mọi con người thiếu thốn, nhất là những con người đó ở vào các nước Á châu khổ nghèo đã bị bom đạn của Mỹ làm cho nghèo hơn. Nhiều sách đã được viết ra bằng giao kèo ngầm với một số nhà xuất bản ngoại quốc được coi là khá đúng đắn - cam kết không được tiết lộ danh tính tác giả và các khoản tiền trợ cấp - để tuyên truyền cho Hoa Kỳ, chẳng hạn mô tả chiến tranh Việt Nam như một thánh chiến và lính Mỹ như các hiệp sĩ. Có một phát giác rất có ý nghĩa là những sách ấy không được đem bán ở Mỹ, hoặc chỉ bán với thông báo rõ rệt đó là sản phẩm được viết ra để tuyên truyền cho Mỹ tại các nước ngoài. Giống như bom đạn, nó chỉ được đem thả xuống các nước khác chứ không được ném xuống dân chúng họ. Người Mỹ còn tạo điều kiện cho những cuộc di cư ở nước ngoài vào xứ sở họ, theo một kế hoạch buôn óc lớn lao. Tất nhiên, không phải là thành phần nào cũng được tiếp nhận dễ dàng, mà công cuộc chỉ “tán trợ cho những kẻ nào được coi là xứng hợp hơn cả trong việc làm thêm lớn mạnh tiềm năng Hoa Kỳ”( ). Ông Bộ Trưởng Dean Rusk đã có lần tự khen về điều đó: “Nếu điều hành tốt, công cuộc di cư có thể là một trong những nguồn lợi lớn lao nhất của chúng ta”. Đúng như Claude Julien nhận xét: “Việc buôn đầu óc, dưới những hình thức quyến rũ hơn nhiều, đã thay thế việc buôn người da đen trước kia”.

    Thái độ chúng ta, đối với văn hóa Hoa Kỳ, thật là rõ rệt: chống đối lại những chủ trương văn hóa nhằm làm lũng đoạn tinh thần dân tộc chúng ta do các chính phủ Hoa Kỳ đề ra nhưng chúng ta vẫn biết rằng dân tộc Hoa Kỳ có những truyền thống văn hóa tốt đẹp và nhiều công trình văn hóa lớn lao. Chúng ta chỉ muốn giải tỏa khỏi áp lực của Hoa Kỳ, để được giao tiếp bình đẳng với văn hóa ấy. Chỉ khi nào chúng ta chủ động tiếp nhận văn hóa Hoa Kỳ, nghĩa là có quyền chọn lựa những gì xét ra ích lợi cho dân tộc ta, từ chối những gì không được phù hợp, thì người Hoa Kỳ mới có một địa vị tốt ở trong chúng ta.

    Tóm lại, nhận bừa văn hóa nước ngoài mà không được quyền phê phán, là một trạng chứng nô lệ, là xác nhận rằng chúng ta không có chút quyền tự quyết nào cả. Gần đây, chiến dịch bài trừ ma túy cũng làm chúng ta suy nghĩ. Những sản phẩm văn hóa đồi trụy kia lâu năm phá hoại xã hội chúng ta đến mức bi thảm như vậy sao không bài trừ? Nó là một loại ma túy còn độc hại hơn ma túy. Chẳng lẽ chỉ vì người Mỹ thấy ma túy là nguy hiểm, bây giờ chúng ta mới cho nó là nguy hiểm hay sao? Rồi chúng ta dùng tất cả các biện pháp để cho vừa lòng nước ngoài mà chẳng kể gì đến con dân ta. Ngày nào các tay ghiền thuốc là những ông tiên nho nhỏ, nhả khói tùm lum, và những biện pháp gay gắt, thô bạo được đem đối đãi với họ. Chúng ta biết rằng ma túy có hại, bài trừ là phải, nhưng vẫn nhớ những người ghiền là nạn nhân, cần được cảm thông cần được giúp đỡ để trở lại với cuộc sống bình thường mà không bị một mặc cảm bất lợi và những thành kiến bất công.

    Hiện nay chứng bệnh đỏ mắt độc hại đang lan tràn khắp đô thị, vùng quê, và theo nhiều nguồn tin tức thì đó là do ở thuốc khai quang tiêu diệt cần sa của người Hoa Kỳ. Khốn nỗi, có phải ai cũng hút cần sa đâu? Làm gì dân chúng Việt Nam nghèo khổ có tiền mà hút món đó? Đâu có phải ai ở xứ sở này cũng biến ruộng vườn thành bãi cần sa? Rốt lại, hoa màu kiệt quệ, kinh tế khốn cùng, chỉ có loài thuốc trụ sinh ngoại quốc được bán đắt hơn tôm tươi với giá cắt cổ.

    2. Trong khi nhập cảng bừa bãi mọi thứ sản phẩm đồi trụy thì ta lại lôi đồ cũ ra dùng mà không phê phán, chọn lựa. Cái lối khăn đen áo dài, và các điệu nhảy đồng bóng lại được xuất hiện thường xuyên ở trên sân khấu, làm như các món đó là thuần túy Việt Nam, đó là giá trị cổ truyền. Nhưng văn hóa đâu có phải là mớ hình thức cũ kỹ và lỗi thời kia? Cái khăn mỏ quạ chỉ là sản phẩm của một xứ lạnh, ở vào thời kỳ nông nghiệp nghèo nàn, cũng như bộ đồ vải nâu miền Bắc và bà ba đen miền Nam chỉ là kết quả của một sinh hoạt địa phương, ở một giai đoạn. Nếu quả các món đồ đó là vật gia bảo thì sao những tay diễn viên không nhuộm răng đen cho được hoàn toàn dân tộc? Yêu mến dân tộc mà không hy sinh luôn cả màu răng thì coi còn hà tiện quá. Nhưng cách chúng ta trên nửa thế kỷ, các cụ Nho học như Phan Chu Trinh cũng đã chỉ trích khăn đen, áo dài, cũng đã hô hào chúng ta đổi cách ăn mặc cho hợp thời hơn, cho sạch sẽ hơn, thế ai dám nói cụ không yêu nước? Hay là chúng ta ngày nay yêu nước hơn các nhà ái quốc đó, như kiểu người Pháp ngày xưa đã dạy chúng ta tồn cổ hơn cả những nhà khảo cổ của chúng ta nữa?

    Nhưng thực dân Pháp muốn cho chúng ta lạc hậu, giữ mãi chúng ta cũ mốc, cũ meo để dễ thống trị và dễ biện minh cho cái chiêu bài khai hóa của chúng, chứ còn chúng ta làm sao có thể chấp nhận một chuyện lầm lẫn kỳ quặc như thế? Chúng ta khôi phục đồ cũ với một tinh thần chọn lựa sáng suốt, cái gì không còn thích hợp phải được coi như di tích bảo tàng dùng làm tài liệu nghiên cứu sinh hoạt quá khứ, cái gì còn ích dụng được cũng phải cải tiến, canh tân sao cho thích nghi. Nếu mang những hình thức cũ ra dùng mà chẳng giới thiệu, phê phán, chỉ làm trò cười cho người thiên hạ, tạo sự ngộ nhận của họ đối với chúng ta, và gây mặc cảm tự ti cho đồng bào ta về dân tộc mình. Đó cũng là một cánh cửa có lẽ được mở cái chủ tâm đón rước ngoại lai cho dễ dàng hơn.

    Bên cạnh các hình thức cũ, những nội dung cũ cũng được phổ biến mà không lựa chọn, phê phán. Những nhạc lãng mạn tiền chiến, những thơ lãng mạn tiền chiến tràn ngập. Cho đến câu hò điệu hát với những ý tình xưa cũ được lặp lại mãi. “Thân em như tấm lụa đào, mười hai bến nước, con tạo đa đoan…” những tình tự đó đã lỗi thời rồi, đã đưa ra những quan niệm sai lạc về người con gái, về chuyện hôn nhân, về lẽ sướng, khổ ở đời. Những bài hát cũ, với nội dung cũ, chỉ nên trình diễn hạn chế trong mục khảo cổ, với lời giới thiệu thích đáng. Lại còn những hình ảnh cũ của thời thanh bình thực dân, với những cây nêu, áo dài, thổi sáo lưng trâu, cứ được tô đi vẽ lại đến sinh nhàm chán. Hễ kỷ niệm cụ Nguyễn Du thì ngâm đoạn Kiều gặp Kim Trọng, kỷ niệm cụ Nguyễn Đình Chiểu thì ngâm đoạn Nguyệt Nga gặp Lục Vân Tiên, làm như các tác phẩm đó chỉ có bấy nhiêu là hay hơn cả, và các thiên tài dân tộc của ta chỉ đáng đề cao ở điểm đó thôi. Trong một tạp chí đứng đắn mới đây có một tác giả viết về cái khăn ăn trầu. Tác giả kể lại trong một chuyến đi nào đó tình cờ gặp một cụ già còn đeo lủng lẳng cái khăn ăn trầu, thế là tác giả nhớ đến cái khăn của mẹ ngày xưa, gợi tưởng tỉ mỉ về nó với những kỷ niệm vui buồn quanh đó. Tác giả có vẻ oán hờn Cách Mạng Tháng Tám đã làm thay đổi nếp sống, tước đoạt của mẹ món đồ nhỏ bé nhưng mà đáng yêu chừng nào!

    Kể ra tác giả ưa thích cái khăn, cái áo hay bất cứ món vụn vặt nào khác là quyền tác giả, đó thuộc về cái tự do viết lách của xã hội ta. Nhưng nếu được tỏ ý kiến về điều kiện đã viết vừa rồi thì có thể nói là ta cảm thấy nặng nề. Dù có thương mẹ của mình bao nhiêu, cũng không nên tiếc cái khăn ăn trầu với những ý tình như vậy. Ngay việc ăn trầu là một phương thuốc bài trừ thấp khí giúp việc tiêu thực, có lợi hơn là có hại, mà người ta cũng bãi bỏ cho hợp với cái nếp sống hiện đại, cả đến cái việc nhuộm răng cũng thật hữu ích, thế mà không ai có thể tiếp tục duy trì, huống gì là cái khăn già tòn tèn nằm ở cạnh hông? Tác giả gián tiếp muốn kéo lùi lại sinh hoạt, và từ những mối cảm tình vụn vặt và vô bổ đó đưa đến phủ nhận giá trị lớn lao của cuộc Cách mạng mà ông bà ta phải hao xương máu súôt cả trăn năm bấy giờ mới thành công được. Cách mạng là sự đóng góp của cả toàn dân, bao nhiêu chiếc đầu uyên bác, bao nhiêu sinh mạng quý báu đã không còn tiếc, chẳng lẽ ngồi đó mà tiếc cái khăn ăn trầu.

    Thiết tưởng tác giả có thể nói đến cái khăn ăn trầu, nói nhiều về nó như một chứng tích nặng nề của thời quá khứ trong đó gói ghém cả một cuộc đời của người đàn bà cần cù. Vui cũng giở khăn ăn trầu, buồn cũng giở khăn ăn trầu, với những món đồ nhỏ nhoi, rẻ rúng đem làm tiêu khiển, làm nỗi an ủi cho suốt cuộc đời dài dặc đầy những nhẫn nhục, hy sinh, thật là thảm thương. Và Cách mạng, với cái quyền phép nhiệm màu của nó, đã đập tan được không những thành vách lớn lao của bọn phong kiến, thực dân, mà còn xóa bỏ cả những nhỏ nhoi bám víu nặng nề vào một cuộc sống phụ nữ, để thay vào đó những nếp sinh hoạt cởi mở và tốt lành hơn.

    Chuyện khăn ăn trầu khiến chúng ta nghĩ đến một đề tài quen thuộc thường được khai thác qua đủ hình thức nghệ thuật từ bấy lâu nay, đó là lòng mẹ. Đề cao người mẹ hy sinh vì con, là một việc làm tốt đẹp, nhưng tưởng nên xem xét lại ý hướng của lòng thương ấy thế nào. Chúng tôi không phải đứng trên cương vị đàn ông tỏ sự ghen ghét vì cái lòng cha không được nói đến (tuy cái nhiệm vụ người cha không phải là không nặng nề mà cứ bị các tác giả bỏ quên một cách tội nghiệp) nhưng chúng ta đều hiểu rằng tình thương cha mẹ đối với con cái chỉ thật cao quý khi nó xây dựng con cái nên người, khi hướng con cái đến một lý tưởng cao hơn, chứ không phải ở chỗ hy sinh một cách mù quáng, bảo vệ một cách thiển cận, chỉ vì đó là con mình. Ngay loài gia súc như gà, như chó còn dám liều chết vì con huống thay là người. nhưng nếu người mẹ chỉ biết thương con mà không biết đến một hướng giáo dục nào tốt đẹp thì cái “tấm lòng của biển” có gì cao trọng hơn đâu mà phải phát huy? Phát huy như thế e rằng có hại hơn là có lợi. Từ ngàn xưa rồi, bà mẹ của ông Mạnh Tử đã cho ta một tấm gương rất quý về lòng yêu đó. Và nếu với một đề tài lớn lao, phổ biến như thế ta vẫn không chịu thay đổi cái nhìn cho mới mẻ hơn và hợp lý hơn, có lẽ là vì ta quá dễ dãi với mình, hoặc muốn níu kéo cuộc đời lại cái mức cũ, bất chấp mọi sự biến chuyển chung quanh.

    Đúng ra cái cũ tự nó không có lỗi gì, chỉ do thái độ của ta mà cũ trở nên mới mẻ hay mới trở thành cũ kỹ. Cơm ăn từ ngàn xưa rồi mà vẫn không cũ, vì nay còn ăn và mai lại phải ăn. Cái gì còn thích nghi được, còn ích lợi được, là còn mới mãi, cây gậy tầm vông xưa cũ ngàn đời, dùng làm vũ khí chống Pháp vào năm 45 không còn là vật cũ nữa, vì nó đã mang một sinh lực mới, phục vụ cho lẽ sống mới. Phổ biến nội dung cũ kỹ có cái tác dụng nguy hại là làm mềm yếu chúng ta, gây cho sinh hoạt tinh thần ta thêm trì trệ và đẩy ta chạy đi tìm cái mới. Trong những điều kiện hạn chế hiện nay, cái mới đó là văn hóa ngoại lai với các sản phẩm đồi trụy của nó.

    Có một ý niệm thích đáng về dân tộc thì mới có ý niệm đúng về văn hóa cùng những biểu hiện của nó. Ông Đoàn Nhật Tấn, trong quyển Một nền giáo dục nhân bản và dân tộc đã có ý kiến như sau: “Tinh thần dân tộc đã là một thể hiện sự sống của con người thì nó phải bao hàm một ý chí tiến thủ, vì con người vốn có ý hướng vươn lên. Chính cái ý chí tiến thủ, quật khởi trong dân tộc ta đã làm nên những trang sử oai hùng của xứ sở, và khi chúng ta nói tinh thần dân tộc, phát huy sự hiện hữu con người, chính là muốn nói cái động lực vươn lên ấy của con người trong hình thức dân tộc. Tinh thần dân tộc của người Nhật không phải chỉ ở chỗ người Nhật ngày nay vẫn mặc áo Kimono mà chính là cái ý chí mạnh tiến trên con đường kỹ thuật khoa học để vươn lên kịp các dân tộc Tây phương, đưa nước họ lên hàng cường quốc kinh tế thế giới.

    Trong lịch sử nước nhà, tinh thần dân tộc không phải thể hiện trong những ông quan bo bo giữ triều nghi quốc phục nhưng là ở những vị sứ giả học nghề sơn, nghề dệt bên Tàu đem về truyền lại cho đồng bào trong nước…”

    3. Đối với các hình thức cũ, hiện nay người ta còn đi xa hơn bằng cách cho nó pha trộnnhập nhằng với những cái mới lố lăng từ ngoài. Cải lương pha vũ sexy, nói giọng hiện sinh, ngâm thơ tiền chiến, vũ điệu ông nghè vinh quy nắm tay bà nghè nhảy valse, cái màn gái quê trình diễn lại thêm kiểu lối ngoáy đít, lắc mông… Các cảnh múa rối như vậy cho thấy một sự nghèo nàn thảm hại ở trong sáng tạo nghệ thuật. Các cuộc hôn phối mới cũ rất gượng ép đó chẳng tạo nên một rung động nghệ thuật nào cả, ngoại trừ làm cho xấu thêm một số hình thức dân tộc. Nghệ thuật thực sự phải được đạt tới như một nhất trí, như một quân bình, và mọi dung hợp phải tạo ra một phong cách mới hơn, cao hơn, nếu không chỉ là chắp vá sống sượng, xuyên tạc có hại.

    4. Bởi vậy ta không ngạc nhiên khi nhiều hình thức văn nghệ quần chúng bị sự coi rẻ, bao nhiêu hình thức văn nghệ dân gian đã bị bỏ quên, bao nhiêu sản phẩm tinh thần đang bị vùi lấp, bao nhiêu di tích đang bị hủy diệt. Chỉ có một số hình thức quen thuộc, cũ mòn được lặp lại mãi qua đôi tranh vẽ, qua vài điệu hò, qua ít lối vũ, trong cái tinh thần bắt chước tồi tệ, pha trộn lố lăng mà thiếu sáng tạo. Một bất công lớn là ta không xóa bỏ được thành kiến sai lầm đối với cải lương trong nhiều lớp người hoạt động văn hoá. Cải lương là một hình thức văn nghệ tiêu biểu ở miền Nam, có một tác động rộng rãi hơn cả, sâu xa hơn cả trong các tầng lớp bình dân và các thành phần trung lưu, vậy mà vẫn bị số người tự nhận “văn minh” miệt thị, cho là “nhà quê”, “thấp kém”. Mới đây vài tờ nhật báo loan tin: “Với phim Trống Mái, kép Thanh Tú đã được coi là tài tử xi-nê” làm như anh kép vốn rẻ giá hơn anh tài tử nhiều. Nhưng theo khán giả thì cái giá trị tài tử Thanh Tú, trong phim Trống mái, thua kém Thanh Tú ở trong cải lương nhiều lắm. Giá trị người làm nghệ thuật đâu phải ở cái tên gọi đầu lưỡi, mà ở tinh thần, khả năng phụng sự quần chúng của mình. Đóng những cuốn phim lố lăng, tồi tệ, thì có gì đáng tự hào? Dù có được đôi tờ báo tôn xưng không ngượng là đại tài tử, là khuôn mặt lớn, thì cũng không sao tránh được tội lỗi đối với quần chúng, đối với nghệ thuật. Ngay ở Tây phương, nơi ngành điện ảnh tiến bộ hơn ta khá nhiều, người ta vẫn quý trọng các diễn viên sân khấu hơn là diễn viên màn bạc. Họ quan niệm rằng diễn viên sân khấu công phu đào luyện nhiều hơn, đòi hỏi có tâm hồn hơn, trong khi đa số diễn viên màn bạc chỉ nhờ phần lớn vào các tài năng của người đạo diễn, và các kỹ xảo máy móc, để thủ thành công một số vai trò nhất thời. Thiết tưởng nên gọi tất cả những người trình diễn bằng cái danh xưng duy nhất, là tiếng diễn viên - diễn viên cải lương, diễn viên màn ảnh - là hợp lý hơn. Phân biệt một cái danh xưng để chia khu vực, để định giá trị là một quan điểm hình thức phi lý, lỗi thời.

    Nếu trong ký giả có người vẫn còn coi nhẹ cải lương thì phần nào cũng do một số nghệ sĩ cải lương không biết trọng mình. Mới đây báo chí loan tin một nữ diễn viên tuyên bố là sẽ giải nghệ, vì nghề cải lương bị người ta khinh miệt, mặc dù chính cái nghề đó đã đem cho cô tên tuổi, tiện nghi. Đành rằng dư luận có phần bất công, hẹp hòi đối với giới đó, do những thành kiến lâu đời, nhưng bản thân của giới đó có thường xét lại tinh thần nghệ thuật, tác phong nghệ sĩ của mình xứng đáng cho người kính mộ hay không? Về giới soạn giả là lớp góp phần quyết định cho sân khấu ấy, ngoài một số người khiến cho chúng ta cảm phục về tài năng và ý hướng trong sáng tác, vẫn còn những kẻ tỏ ra quá đổi dễ dãi, chạy theo thị hiếu hời hợt của lớp giàu mới do thời chiến loạn tạo nên. Họ thường qui cái trách nhiệm chi phối tuồng tích cho kẻ bỏ tiền - ông bầu, bà bầu - và một số diễn viên chính muốn cảnh mùi mẫn, cụp lạc ngay trên sân khấu. Họ còn qui lỗi cho cái chính sách kiểm duyệt gắt gao, hẹp hòi, nhưng đối tượng chính mà họ than phiền là những người hữu trách về văn hóa không có sự quan tâm nào đáng kể về ngành nghiệp đó. Cải lương hiện đang lâm vào tình trạng sa sút nặng nề, và đó là một tai nạn không chỉ riêng cho giới ấy, mà còn chung cho sinh hoạt văn nghệ Miền Nam.

    Bây giờ một số diễn viên cải lương có tài đã nhảy sang ngành điện ảnh, chắc không phải cốt được gọi bằng cái danh hiệu…tài tử, mà hẳn là vì ở đây tiền bạc có dễ dàng hơn và khỏi bị nạn… kẹt rạp. Cải lương hiện nay là nguồn tiếp vận đắc lực cho điện ảnh, thế mà điện ảnh lại muốn coi mình cao hơn cải lương, cũng thật lạ đời. Kể ra điện ảnh đã có công phu nâng một số người viết truyện dài ở các trang trong nhật báo thành “nhà văn lớn” trong khi trước kia có người không muốn coi họ là những nhà văn. Và chính các tác giả đó, với tác phẩm đó, đưa lên sân khấu cải lương rất được khán giả tán thưởng, thì cũng không được suy tôn là lớn chút nào. Phải chăng vì khán giả này đa số thuộc lớp bình dân nên tác giả không làm lớn? Hay là tại các chủ phim có tiền dồi dào hơn các ông bà chủ gánh? Nhưng xét cho cùng thì để cải lương sa sút vẫn có cái lợi, là làm điện ảnh đắt hàng. Điện ảnh có được phát triển thì những kiểu lối hôn hít, hiếp dâm, mới được phổ biến mạnh hơn. Cải lương dù có sa sút đến đâu cũng không cho phép giở trò như thế. Quần chúng cải lương, dù có nhượng bộ một số thế lực văn hóa đồi trụy xâm nhập sân khấu của mình, vẫn giữ cho nó có một phong cách nào đó. Mới dây có một diễn viên điện ảnh đã kêu đòi cho “tài tử Việt Nam được hôn hít như ngoại quốc”. Tưởng là kêu đòi cái gì lớn lao, chứ chuyện kêu đòi ngón nghề đánh đĩ diễn viên để mà đánh đĩ khán giả thì chỉ cần hỏi liêm sỉ của mình là đủ quá rồi.

    5. Trong cảnh tình ấy, muốn tìm qua các thể hiện văn hóa, những quan niệm, tình tự có lợi ích cho dân tộc thật là khó khăn. Nhạc thì không đi xa hơn đề mục cô đơn và những tình cảm sướt mướt, giả tạo. Cô đơn có phải là điều đáng nên rêu rao giữa cái xã hội đang đau khổ vì chiến tranh, đang sôi sục vì hòa bình? Trong hoàn cảnh ta hiện sống, con người không sao tránh khỏi những nỗi cô độc, lạc loài, phần lớn là do tấm lòng ích kỷ của ta gây nên. Nếu đem cái tình tự ấy lấn át những tiếng kêu khác lớn lao hơn nhiều, chính đáng hơn nhiều đang chờ nghệ thuật diễn đạt, thì coi bất nhẫn quá đỗi. Chỉ khi nào những tiếng kêu lớn lao và chính đáng này vang vọng khắp nơi, tạo nên hiệu lực, thì nỗi cô đơn kia mới tan tành. Hoài công than phiền về cái hậu quả trong khi đáng phải giải quyết từ chỗ nguyên nhân.

    Khi cho chúng ta nghe, chẳng hạn bài hát Người đi trên hè phố, với cái hình ảnh của người ca sĩ áo lớn vắt vai, tay đút túi quần, rền rĩ thở than, ta bỗng ngỡ ngàng nghĩ đến hàng trăm, hàng ngàn kẻ đạp xích lô mỏi liệt cả chân hoặc gánh hàng rong mỏi chờ cả mắt với nỗi tâm tính chắc hẳn bi thảm hơn nhiều nhưng chẳng được ai nói đến. Khi người ca sĩ với giọng thanh tao hát vang “Hai mươi năm nội chiến từng giờ” đã làm nhiều người buồn phiền không ít. Người Việt chúng ta hy sinh xương máu đánh đuổi thực dân, đến cả thế giới đều thán phục, lẽ đâu người dân trong nước nỡ lòng hạ thấp sự nghiệp đánh đuổi đế quốc thành trò nội chiến tối tâm? Kể sao cho xiết bao nhiêu tình tự lạc loài vấn vương lời nhạc! Và các nhạc sĩ không phải thiếu tài, trái lại chính vì họ có tài năng mà họ càng làm chúng ta xa lạ với chúng ta hơn.

    Cùng với tiếng nhạc cô đơn, lạc loài là văn hiện hữu, hiẹn sinh, buồn nôn, khoảng trống… và còn gì nữa, khi sự no đủ đã sinh chán chường và sự hành lạc làm cho mệt mỏi? Cũng có một đôi nhà thơ xót thương dân tộc, làm nên những bài lâm ly với “Ôi! Việt Nam”, “Thân phận da vàng”, “Nỗi buồn nhược tiểu”… nhưng Việt Nam ta có gì mà phải kêu than ảo não như thế? Nhược tiểu như chúng ta đây đâu có kém hèn? Tình tự dân tộc không phải là những tình tự đượm màu sướt mướt, bi thương, bởi sự kiên cường, bất khuất mới là bản chất của giống nòi ta. Đến cái da vàng cũng chẳng có thân phận gì, cũng không có gì đáng phải xót xa. Nhật Bản, Trung Hoa chẳng bao giờ mang mặc cảm về màu da của mình, còn Việt Nam ta với cái truyền thống oai hùng chống đuổi xâm lăng, đáng được nói đến với niềm kiêu hãnh hơn là sầu muộn.

    Thường để biện hộ cho những tâm tình như vậy đôi người vẫn quen viện dẫn đến sự thành thực của người văn nghệ. Họ vẫn nhắc đi nhắc lại mấy câu: “Thương ai cứ bảo là thương, ghét ai cứ bảo là ghét” như một nguyên lý dẫn đạo. Nhưng đó là điều kỳ cục, nếu không bảo rằng phi lý. Chỉ có người điên không kiểm soát nổi ý thức và lớp con trẻ không đủ trí khôn mới nói thẳng thừng ý nghĩ của mình. Những người đã lớn, đã biết suy nghĩ, đều phải cân nhắc, đắn đo lời nói. Lắm khi thương đến mềm lòng mà nào có dám hở môi? Nói ra, nếu không mất mặt thì cũng què giò. Nhiều lúc giận đến tím ruột mà phải làm thinh. Mở miệng, dễ gây chia rẽ, hay lại vào tù lãng nhách. Cân nhắc, đắn đo như vậy mà vẫn còn mắc lỗi lầm, huống hồ là cứ nghĩ sao nói vậy thì chỉ ba ngày là đủ xe cây xúc ngay đưa vào nhà thương Chợ Quán( ).

    Thành thực là điều rất quý, nhưng vẫn chưa đủ, đối với người làm văn nghệ. Không có quan niệm đúng đắn về sự vật, không có phương pháp hợp lý khảo sát sự vật, thì dù thành thật bao nhiêu cũng chẳng khác hơn anh mù sờ voi là mấy. Quan niệm đúng đắn, phương pháp hợp lý, thiết tưởng không đâu khác hơn là cái quyền lợi của đại đa số làm nên dân tộc, và cái ý hướng của họ để bênh vực lợi quyền ấy.

    6. Cái trở ngại nhất trong việc phục vụ văn hóa dân tộc hiện nay là chúng ta bị đồng tiền chi phối quá nhiều. Với bản chất nền kinh tế này, đúng như một đại văn hào đã nói: “Mặt trời chính là đồng xu”, mọi thứ giá trị đều phải rọi chiếu qua ánh mặt trời đó, đều phải đo lường bằng ánh sáng đó. Giá trị tinh thần trở nên vô nghĩa nếu không có những giá trị tiền tài bảo đảm, và đồng tiền với vòng tròn tượng trưng của nó chính là cái vòng của quỷ đòi hỏi mọi vật chui qua để mà hóa kiếp.

    Điều đó thật xưa cũ như quả đất. Ở đâu cũng thấy những người lúng túng trong vòng trói ấy. Nhiều kẻ vùng vẫy một cách tuyệt vọng, và càng vùng vẫy càng bị nó siết chặt hơn, khiến ta nhớ đến cái dây bắt hồn - cái truy mạng thằng - trong truyện Tây Du. Phải chăng là vì đồng tiền mà ta phải cười với tất cả mọi hạng người, với tất cả mọi thế lực? Chính sách lấy lòng mà không phân biệt đối tượng làm cho sinh hoạt văn hóa có một tinh thần chiêu đãi, tinh thần của sờ-nách-ba. Phải chăng chỉ vì đồng tiền mà người ta đã ngụy tạo bao nhiêu hình thức dân tộc để bán cho người ngoại quốc muốn có kỷ niệm về nền văn hóa của đất nước này? Sơn mài phải được hạ thấp thành những tranh vẽ theo cái công thức đơn giản trong đó xã hội Việt Nam được giới thiệu với khăn đen áo dài, mỏ quạ, tứ thân, cỡi trâu thổi sáo bày bán dọc đường? Tiền xưa, kim khánh đều được ngụy tạo, và nhiều thứ khác. Nghe nói ở vùng Long Khánh, Tây Ninh người ta còn giả mạo cờ Mặt Trận Giải phóng để bán cho lính Mỹ nữa.

    Trong cái quy luật đồng tiền chủ chốt, cái gì cũng được tinh thần thương mãi thao túng, hình thức dân tộc cũng là hàng hóa có thể bán xôn để kiếm đồng lời. Năm nay tuy là được mùa sầu riêng nhưng nhiều người đã có dịp nếm thử là nhờ lính Mỹ không sao chịu được cái mùi vị đó. Cái gì của dân tộc ta mà hợp khẩu vị người ngoài, kể cả áo dài phụ nữ, là coi như xa xí phẩm. Ngay đến lá cờ Việt Nam, bản đồ Việt Nam cũng được thêu lên trên áo để bán cho lính Hoa Kỳ. Chưa có bao giờ người ta chịu khó để tâm đến dân tộc như bây giờ. Vì vậy mà các sản phẩm Việt Nam lên giá, chỉ kẻ nhiều tiền mới dám xài thôi. Có phải đó cũng là một nguyên nhân thúc đẩy phong trào hippy phát triển hay không? Bởi sau kiệm ước, đời sống khó khăn mà ăn mặc theo hippy thật là đỡ tốn. Áo quần đàn ông thì đàn bà mặc cũng được, áo quần đàn bà thì đàn ông mặc cũng xong. Lại còn đồ cũ, đồ xưa, đồ xôn, đồ bỏ, các vải may màn, may nệm, may trướng, may liễn, thứ gì cũng mặc được cả. Thêm vào y phục kiểu đó, một cái đầu tóc để lâu không hớt lại càng thích hợp. Càng lâu thì tóc càng dài, lợi được một số tiền hớt, mà còn ra vẻ hippy cỡ lớn.

    Đồng tiền chừng đã hối thúc chúng ta làm đủ mọi thứ vội vàng. Những tác phẩm nào trúng giải Nobel được dịch tức khắc, để tung ra trên thị trường. Một sự hưởng ứng kịp thời như vậy thật đáng khâm phục, nếu người dịch cho ta thấy một sự chọn lựa nào đó thích đáng với hoàn cảnh này. Trong xã hội ta, mọi thứ đều thiếu, nhưng các công trinh như của Beckett thật là quá thừa. Ở trên thế giới không biết có được mấy trăm người hiểu ông ta, và ở Việt Nam phỏng được mấy người? Về phần chúng tôi,xin thưa là không hiểu gì hết cả, dù tư tưởng ông không phải vào loại cao siêu và kỹ thật ông cũng không vào loại độc đáo.

    Kể ra, từ lâu, giải thưởng Nobel đã thành một thứ công cụ chính trị hơn là tiêu chuẩn văn hóa. Thế giới từ lúc chia làm hai phe với những ý tình quyết liệt thì mọi thế lực đều được hai bên vận dụng như là khí giới để mà chơi nhau. Khi đứa con hoang, là Steinbeck, quay về dưới mái nhà xưa, phục vụ quan điểm trưởng giả, nó đáng được cho một giải Nobel. Khi Pasternak bất mãn chính quyền Liên Xô, để lọt ra ngoài ông Bác sĩ Jivago, lập tức Nobel trao liền một phát, Dù Paternak đã phải từ chối thì nó cũng được Hoa Kỳ bỏ ra hàng tỉ đưa lên màn bạc. Trong chiến tranh lạnh, đó cũng là kiểu tấn công bằng cấp sư đoàn. Khi giải Nobel trao cho nhà văn Xô Viết thứ hai - là Cholokov - thì hẳn là để đào sâu thêm nữa sự chia rẽ giữa Trung Cộng và Liên Xô đang vào thời điểm găng nhất. Lần này, xét thấy có lợi cho mình nên Liên Xô lại chấp nhận. Vì sách của Cholokov đề cao xã hội Xô Viết, và Liên Xô muốn có diễn đàn thuận lợi để phát huy chủ nghĩa hiện thực xã hội của mình.

    Khi Nobel tìm đến Sartrre, phải chăng là để tranh thủ ông này đang muốn nghiêng về phía tả? Và Sartre từ chối, có lẽ là để có nhiều độc giả hơn nữa, ở cả hai phe. Đó còn là cách gián tiếp chứng tỏ mình cao hơn Nobel nhiều. Kawabata ở Nhật là một nhà văn có tài, nhưng giải Nobel được trao cho ông dễ khiến người ta nghĩ đến một sự liên kết đồng minh hơn là đánh giá văn học. Nhật Bản càng ngày càng tỏ ra một cường quốc đáng kể ở Đông Nam Á, có thể thay thế cho Mỹ trong nhiều lĩnh vực. Những sách của Kawabata đã được phổ biến chỉ thấy ca ngợi uống trà, chơi gái mà thôi. Đó là ý tưởng hòa bình mà giải Nobel theo đuổi hay chăng?

    Bây giờ Nobel đã đảo cái nhìn sang miền Nam của ta rồi. Kể từ bây giờ, tác phẩm ở miền Nam này được phép giới thiệu qua đó. Nhưng giải Nobel chỉ có ý nghĩa đối với chúng ta - dù là ý nghĩa hạn chế - khi nào chúng ta thật sự hòa bình, khi các thế lực ngoại nhập không còn là áp lực chính ở trong sinh hoạt chúng ta, và khi chúng ta đã được tự do phát biểu quan điểm của mình qua các công trình văn hóa.

    Đồng tiền nhiều lúc dẫn chúng ta đi quá xa trên những nẻo đường văn hóa.

    Một số tác phẩm được chọn đưa lên màn ảnh không phải vì cái giá trị tư tưởng nghệ thuật mà chỉ vì nhà làm phim biết có thể tìm trong đó nhiều đoạn cởi được quần áo đàn bà. Một số hình thức văn hóa lỗi thời được mang trình diễn ra các nước ngoài hẳn vì nó vốn lạ mắt, thu hút người xem, bán vé được nhiều. Bao nhiêu sinh hoạt lớn lao đều bị đồng tiền chi phối và đồng tiền như tạc đạn, xoi thủng tất cả. Giở một cuốn sách có vẻ công phu nói về danh nhân Việt Nam, ai cũng hớn hở. Đọc đến ông Nguyễn Trung Trực, tác giả trích dẫn bốn câu thơ bằng chữ Hán, cho đó là bài tứ tuyệt mà người anh hùng đã làm trước khi lìa đời và in luôn cả bốn câu dịch ra tiếng Việt của ông Đông Hồ. Đọc đến ông Võ Duy Dương thì ta lại thấy tác giả viết rằng trước khi từ trần cụ Võ có làm bốn câu tuyệt mệnh. Lạ thay, bốn câu tuyệt mệnh lại là bốn câu thơ dịch của ông Đông Hồ. Về Cao Bá Quát, tác giả bảo ông là thầy dạy của Lương Văn Can. Cụ Can, khi thầy mình bị chém chết, đã dám can đảm ra ôm xác thầy về chôn. Nhưng đọc đến cụ Cử Can thì ta bật ngửa vì cụ ra đời đúng vào ngày chết của Cao Bá Quát. Còn biết bao nhiêu những chuyện quái đản như thế? Chỉ cốt thu lợi, người ta chép nhặt bừa bãi đâu đó mà không chịu bỏ một chút công phu kiểm lại. Nghe đâu sách ấy bán chạy, đã được in đi in lại nhiều lần. Đó là một điều đáng mừng về phía dân tộc, vì chứng tỏ rằng đồng bào chúng ta luôn luôn yêu mến danh nhân, anh hùng của mình, nhưng đó là điều đáng buồn về phía tác giả, đã lợi dụng tình cảm cao quí của độc giả để bán những món hàng xấu, những món hàng giả.

    Mới đây báo chí lên tiếng công kích một buổi thuyết trình về nền văn hóa Việt Nam được gọi “Văn hóa… Bách… Vách” do một số người mang thêm họ Lạc trước họ tên mình xướng xuất và gọi là “Trở về nguồn”. Trở về nguồn để làm gì? Đó là điều kiện căn bản, bởi không định được mục đích chuyến đi, người ta sẽ bước phiêu lưu, sẽ phải lạc lối. Nhưng trở về nguồn bằng phương pháp nào? Bởi không phải ai cũng có thể lội ngược dòng thời gian, tra hỏi quá khứ đang nằm trong sự căm lặng, bất động miên man ở muôn nẻo đường khuất khúc. Phải biết nơi nào để mà truy tầm chứng liệu, khai quật di tích, phải có phương tiện tiến hành và phải có đủ trình độ phân tích, tổng hợp mới mong phát hiện sự thực. Nếu không, ta sẽ xuyên tạc tài liệu, hủy hoại cổ tích, lại còn nguy hại chừng nào. Hơn nữa, nguồn của chúng ta là ở ngoài Bắc, nơi mà tổ tiên chúng ta lập quốc từ xưa, nơi đã chôn giấu bao nhiêu chứng tích cổ thời liên hệ mật thiết đến văn minh của dân tộc. Miền Nam thì phiêu với những nếp sống miệt vườn tươi tốt, chỉ là một mảnh đất mới của quê hương ta. Nếu trở về nguồn, theo đúng nghĩa đó, chúng ta không còn cách nào khác hơn là đợi đến ngày hòa bình, thống nhất đất nước.

    Chỉ căn cứ vào các sách vở, lại là một số sách vở nói chuyện trên trời dưới đất, để đem ra làm luận cứ không chút dè dặt, thật là một chuyện khôi hài. Có phải tiền bạc đã là nguyên nhân cho các trò đùa tai hại ấy không?

    Chúng ta thật lòng hoan nghênh sự trở về nguồn và những nỗ lực theo chiều hướng ấy, nếu việc trở về thực sự lợi ích cho sự tồn tại, phát triển dân tộc. Trong các điều kiện thực tế của miền Nam ta, nếu không đóng góp vào được công cuộc tìm hiểu gốc nguồn dân tộc thì vẫn có thể thực hiện tinh thần về nguồn trên nhiều mức độ khác nhau, bằng nhiều phương cách khác nhau. Bảo tồn hữu hiệu di tích lịch sử, sưu tầm tất cả hình thái văn hóa cổ truyền, văn nghệ dân gian, nghiên cứu ngôn ngữ, phong tục, bao nhiêu lề lối sinh hoạt tiêu biểu, những công trình ấy nếu được thực hiện kịp thời, hữu hiệu, cũng đóng một số vốn lớn lao cho sự tìm hiểu dân tộc, làm phong phú thêm sinh hoạt đất nước và gây thêm niềm tin tưởng sâu xa ở giống nòi mình. Hiện nay bao nhiêu bia cũ, mộ xưa, chùa cổ, đang bị thời gian, bom đạn phá hoại, bao nhiêu phong tục tốt lành, nếp sống độc đáo, đang bị chiến loạn hủy diệt. Lại còn những bậc tuổi tác thật sự cao niên đã từng chứng kiến bao nhiêu thăng trầm đất nước, bao nhiêu chứng tích sinh hoạt cổ thời, đã nghe, đã hiểu bao nhiêu truyền thuyết địa phương, những con người đó đang đi dần vào im lặng thiên thu mà chưa có dịp kể lại được gì cho lớp hậu sinh ghi chép. Tất nhiên không ai sống được mà không cần đến đồng tiền, ở xã hội này. Nhưng đồng tiền đã gây cho chúng ta hai cái hậu quả nặng nề: Một là chạy theo nó, quay lưng lại nền văn hóa dân tộc để mặc cho người thao túng, coi đó là câu chuyện riêng của bọn chuyên môn, của kẻ tán dốc, hoặc của lớp người mơ mộng, ương gàn. Hai là đầu cơ văn hóa, ngụy tạo văn hóa thành những món hàng câu khách, vô tình hay là cố ý xuyên tạc dân tộc, phản lại dân tộc.

    Có lẽ, để khỏi vì tiền - vì cái thế lực hắc ám của nó - mà làm tổn thương văn hóa, chúng ta chỉ có hai cách sau đây:

    1. Tách rời hoạt động văn hóa ra khỏi hoạt động sinh kế. Gạt bỏ mọi cái nhu cầu tư kỷ, nhu cầu tiền bạc, khi bước vào trong lĩnh vực văn hóa. Chọn một nghề nghiệp nào đó tạm đủ phương tiện để sống và có tự do tối thiểu để góp phần vào sinh hoạt văn hóa.

    2. Phối hợp hoạt động văn hóa với hoạt động sinh kế. Nâng cao tính chất lý tưởng của nghề nghiệp mình trên một tinh thần phục vụ thích đáng, để sống bằng chính hoạt động văn hóa. Một nhà giáo dục có đủ tư cách, luôn luôn cải tiến phương pháp giảng dạy, thế nào cũng được yêu chuộng, một nhà soạn kịch giải đáp hợp lý được những thắc mắc cụ thể của khán giả mình, nhất định sẽ được hoan nghênh, một người viết văn biết cách nâng cao, xây dựng tâm hồn độc giả sẽ được tán thưởng… Không phải chỉ có ngụy tạo, đầu cơ văn hóa, văn nghệ, người ta mới mong sống đời sung túc, nhưng chính với những nỗ lực xứng đáng và một ý hướng cầu tiến, tất cả công trình văn hóa, văn nghệ sẽ được ủng hộ, tán thưởng. Quần chúng luôn biết đánh giá xứng đáng các giá trị tốt, và chỉ vì không có được những đồ chính hiệu mới phải dùng đồ mạo hóa.

    * * *

    Một số biểu hiện văn hóa mà chúng tôi đã nêu lên đều các tác dụng nguy hại là làm phá sản tinh thần dân tộc. Một khi tinh thần dân tộc bị phá sản rồi, văn hóa ngoại lai với những dã tâm thao túng sẽ có điều kiện tràn ngập dễ dàng và đóng vai trò chủ động.

    Như mọi người đã nhìn thấy, nền văn hóa ngoại lai ngày nay không chỉ bước vào đất nước chúng ta với mini-jupe và mũ cao bồi. Nó không muốn là những kẻ hoàn toàn xa lạ, dễ làm e ngại cho người bản xứ. Nó cũng biết đội khăn đóng, biết mặc áo dài, nó cũng nói đến dân ca, đất nước, nói đến tình tự quê hương và mẹ Việt Nam. Nó cũng ca ngợi tự do, kêu đòi hòa bình, và bao nhiêu là danh hiệu lòe loẹt khác nữa. Chúng ta đã nghe nói nhiều về chủ nghĩa thực dân mới. Mới ở chỗ nào? Ở chỗ thực dân mà vẫn đội lốt dân tộc, ở chỗ lồng cái nội dung thực dân vào các hình thức dân tộc, để một số người ngây thơ dễ bị lừa bịp và để cho kẻ lừa bịp dễ lừa những người ngây thơ. Nhưng dân Việt Nam đã có kinh nghiệm nhiều rồi. Ngày xưa, các “đại trí thức” như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh vẫn nói yêu nước, thương nòi. Nguyễn Văn Vĩnh bảo: “Dân An Nam ta sau này hay hay dở là ở chữ quốc ngữ”. Rõ ràng là lo cho văn hóa và tương lai của dân tộc chừng nào. Phạm Quỳnh nói: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn. Tiếng ta còn thì nước ta còn”. Nghe thực chan chứa tấm lòng đất nước, thấm thía tình ý văn chương. Nhưng ai cũng rõ tương lai đất nước chúng ta đâu phải ở chữ quốc ngữ hay ở truyện Kiều. Nói ra những lời đẹp đẽ không phải là một điều khó. Nói trong những trường hợp nào, với chủ đích gì, nói và hành động ra sao, cái đó mới là đáng kể.

    Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh hô hào học quốc ngữ, đề cập tới truyện Kiều, cổ võ tư tưởng Lư Thoa, Mạnh Đức Tư Cưu mà cứ đều đều thăng quan tiến chức, mang thêm hốt ngọc bài ngà. Còn như cụ Phan Châu Trinh, cụ Ngô Đức Kế cũng nói bấy nhiêu điều đó thì bị nhốt ngoài Côn Đảo, chịu bao thảm cảnh đọa đày.

    Văn hóa dân tộc không chỉ là các hình thức bên ngoài và những số câu tán dương sáo mép về xứ sở mình. Nói như một nhà văn hóa:

    “Ý niệm dân tộc không phải là một thứ xác chết của quá khứ lạc lõng mơ hồ, trái lại, nó phải biến động theo sự chuyển mình của dân tộc trước những vấn đề cụ thể của mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau. Thời đại chúng ta đang trải qua một khủng hoảng lớn với những đổ vỡ lớn lao đang đòi hỏi được nhìn thẳng để được vươn lên, để sinh tồn và phát triển. Giải quyết cho thỏa đáng những vấn đề cụ thể của thời đại để hướng đông đảo những con người trên miền đất này đến một chân trời tươi sáng hơn tức là tiếp tục sự sống của ông cha ta, những người từng đau khổ nhưng không lúc nào ngừng nỗ lực cho sự tự cường. Gắn bó với những vấn đề lớn lao của thời đại là tiếp nối hơi thở của quần chúng lành mạnh dựng xây đời sống, là đẩy cho đến tận cùng ý chí bất bình vì những chế độ hà khắc, bạo tàn, là phát huy tinh thần tranh đấu đời đời chống áp bức lầm than của tổ tiên ta”.

    (Tạp chí Bách Khoa, số 350 và 351 - 8/ 1971)

    VH.

    Nguồn: Đọc lại Truyện Kiều. NXB Văn học tái bản tác phẩm riêng; In trong Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, sắp xuất bản.

    www.trieuxuan.info

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,816,635

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/