Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,088,662

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện ngắn

Con tàu đi về miền gió bấc

Nguyễn Trọng Luân

  • Thứ năm, 11:05 Ngày 05/11/2020
  •             Đêm thật đen và lặng. Ga lưa thưa người. Sau chiến tranh chỉ thấy người ta đổ lên ngược mua sắn khoai với những bao tải và sọt tre, những anh bộ đội từ trong Nam trở về bụi đất đỏ lầm có con búp bê mắt nhắm mắt mở thò bàn chân hồng hồng như nũm khoai sọ non trên nắp ba lô.

    Lân vác ba lô lách lên tàu và chịu để cho người ta chen mình. Ba lô không có búp bê chỉ có hai bộ quân phục cũ gói vài cuốn sách. Có cái mũ cối là mới được phát trước ngày ra Bắc, anh ôm vào bụng. Mãi rồi anh cũng chen vào được trong toa. Toa tàu lờ mờ hai ngọn đèn bão lúc lắc, lổn nhổn người đứng người ngồi. Năm năm đã xa miền Bắc, xa những chuyến chen chúc cách quãng leo tàu hỏa lên trường học vậy mà bây giờ con tàu vẫn thế, khắc khổ khàn khàn còi vọng vào đêm.

    Có một cô gái tóc bím hai bên vai cựa quậy mãi mới đứng dậy khỏi ghế.

    - Anh bộ đội ngồi xuống đây. Cô nép cong người sang một bên. Trong bóng đêm lờ mờ Lân thấy cô gái dịu dàng đến lạ, mùi thơm cũng rất lạ. Thứ mùi thơm anh chưa thấy bao giờ. Anh ngượng nghịu:

    - Ấy chết cô cứ ngồi, bộ đội ai lại bắt đồng bào nhường chỗ.

    Có tiếng cười khúc khích của những người ngồi bên. Lân không hiểu sao họ lại cười. Cô gái lại ngồi xuống chỗ của mình.

    - Thế thì anh đưa ba lô em ôm cho anh đỡ mỏi. Họ cười anh gọi em là đồng bào đấy.

    Lân cũng cười, gỡ cái ba lô đưa nhờ cô đặt lên đùi. Còn mình thì lùi lại, tay vịn lên thành ghế nhà tàu. Con tàu lắc lư. Chả thể nói con tàu trườn vào đêm hay là đêm trườn vào tàu. Tất cả lơ mơ như nhung đen. Mùi khen khét của than đốt lò, mùi quang gánh, mùi tóc, mùi mồ hôi nươm vào khoảng hẹp mập mờ. Nhưng Lân vẫn nhận rõ có mùi riêng của cô tóc bím.

    - Ba lô nhẹ tênh thế này sao? Anh cũng ở chiến trường ra đấy chứ?

    - Vâng tôi vừa từ Tây Nguyên về.

    Tàu đến ga S, tiếng khàn đục ngái ngủ của người đàn bà cầm cái loa sắt tây giữa sân ga uể oải nhắc nhở hành khách xuống tàu. Tiếng loa ở sân ga mệt nhọc rồi chìm tũm vào đêm. Lân nghiêng người cố ngó ra cửa sổ, hàng cây bạch đàn nay đã cao lớn vụt qua. Anh cố tìm một nét quen vô vọng. Hơi lạnh ùa vào toa tàu. Lân kéo cái khăn dù thở dài nhớ tới một đêm mùa đông năm năm trước anh đã đi chiến đấu từ cái ga tàu hỏa này. Cô gái ngước nhìn anh trong bóng tối lờ mờ. Những thân người lắc lư trong tiếng rì rầm của người, tiếng ken két của bánh xe tàu hỏa. Họ xuống ga vào lúc gần sáng. Sương trắng trên mặt đường đá lổn nhổn lối ra đường quốc lộ. Cô gái hỏi:

    - Anh về đâu?

    - Tôi về trường đại học gần đây.

    - À... thế thì... ta lại cùng đường. Cô xuýt xoa kéo cổ áo. Lân đưa cho cô gái cái khăn dù:

    - Này cô choàng cái khăn này cho ấm, đừng chê lính hôi. Nó theo tôi nhiều đêm trinh sát bám địch đấy.

    Nếu không có câu nói này chắc chả đời nào cô gái chịu nhận tấm vải dù choàng lên ngực mình. Cô kéo cái khăn dù cảm thấy có mùi khét thuốc lá và cũng như Lân cô thấy một mùi rất khác lạ với mình. Họ đi lẫn cùng nhiều người về cái trường Đại học trên một triền đồi. Lân không hỏi cô ở lớp nào hay là nhân viên phục vụ hoặc giả là con một gia đình nào trong trường. Cứ nghe líu ríu cô kể trường đã có sân đá bóng ra gần quốc lộ, nào là trường này mấy năm nay thi vào khó lắm đấy. Nào là đói ơi là đói. Câu chuyện ríu ro như hai người đã thân quen nhau lắm. Còn Lân anh đang hít thở cái hương cỏ khô và ngai ngái lá bạch đàn mà nhiều năm nay anh xa nó. Cứ thế mải mê đến nỗi lúc chia tay anh vẫn đang mơ màng, nhìn hút về phía lớp mình sơ tán ngày xưa sau dãy đồi lờ mờ trong sáng sớm.

    Lân đi về phía cổng trường sà vào mấy quán hàng dọn sớm mua hai khúc sắn luộc rồi ra một gốc cây vừa ăn vừa hút thuốc. Sương lạnh, anh chợt nhớ cái khăn dù. Thì ra lúc chia tay cả anh và cô gái đều quên. Lân mỉm cười, nghĩ đến khuôn mặt cô gái anh cũng chưa nom rõ rồi lại nhớ cái vải dù từng nắm cơm mang lên chốt từng làm chăn đắp lên mặt những lúc ngủ rừng. Tự nghĩ cái khăn về với chủ mới chắc là ý trời.

    Lân về học năm thứ 3. Anh không kịp nghỉ ngày nào mà lên lớp luôn. Chả bù mấy đứa về năm thứ hai khối môn đã thi rồi nên được miễn tha hồ chơi rong. Trường bây giờ rất nhiều bóng áo xanh bộ đội. Những buổi lên lớp nhìn những khuôn mặt sốt rét lẫn trong bao nhiêu khuôn mặt rạng ngời của các bạn trẻ cứ như một nồi xôi đỗ.

    Vừa ra khỏi chiến trường đã ôm ngay cái bài tập lớn về Nguyên lí máy. Đêm đêm chong đèn ngồi rút thước Logarits và cắm đầu vào vẽ. Một lần có cái bóng đèn 100 oát chập nổ tưởng như lựu đạn địch ném vào. Lân chúi ngay đầu vào gầm bàn. Các bạn cùng phòng cười ré lên. Lân mang tên ”Lân bóng đèn” từ ấy. Những người bạn học đâu có hiểu cái phản xạ của người lính chiến vừa ra khỏi chiến trường. Họ cười. Kệ họ. Lân nghĩ thế.

    Vài tuần trôi qua. Một chiều thấy người con gái đi từ lớp năm thứ nhất qua cửa kí túc xá. Cô gái tóc bím? Lân ngờ ngợ nhưng không dám hỏi vì thấy cô cầm tập giáo trình lên lớp. Cô gái chợt nhìn thấy Lân, dường như cô nhận ra anh nhưng rồi lại bước đi. Cái bím tóc buông xõa bờ vai tròn lẳn trong tấm áo len. Lân quay ra hỏi bạn cùng lớp. Họ bảo đó cô giáo dạy toán năm thứ nhất. Học Tổng hợp Khác-cốp mới về. Thì ra Lân đã quen một cô giáo mà lại là cô giáo học ở Tây về. Anh đi vào phòng, xốn xang quá. Bản vẽ Nguyên lí máy nhập nhòe. Lân vỗ vỗ mấy cái vào mặt rồi cúi xuống tô những đường chì nhanh nhánh.

    *

    Nhoáng cái đã sang năm mới. Các chàng bộ đội nay đã hòa nhập với không khí ồn ào như chợ vỡ ở cái khu kí túc xá mấy ngàn sinh viên này. Họ vẫn mặc quân phục lên lớp có lẽ do nó bền và lại phiếu vải chưa làm xong cho lính xuất ngũ. Hầu như số bộ đội về học đều đến tuổi lấy vợ mà chưa có vợ. Vài tháng ăn cơm trường đại học nước da bớt đen môi bớt tái nên cái vẻ phong sương pha lẫn học trò trông anh nào cũng dễ gần. “Lân bóng đèn” được bầu làm lớp phó học tập. Mang tác phong quân đội về với sinh viên cũng không phải là dễ. Nhưng các chú học trò thấy đàn anh chăm chỉ học tập quá nên cũng bị cuốn theo. Lớp nào đông bộ đội là phong trào lên thấy rõ. Mồng tám tháng ba năm ấy ở lớp Lân chỉ có hai cô gái vì thế thủ tục thăm hỏi chỉ nhoáng cái là xong. Hàng trăm chàng trai tận tình thăm hỏi một cô gái cứ sầm sập từ chiều đến tối. Lân nhớ tới cô giáo tóc bím. Cô giáo mà Lân chưa có dịp thăm hỏi kể từ mấy tháng trước.

    Cô giáo Lương học ở Khác Cốp về mới lên lớp năm đầu tiên. Là học sinh Hà Nội đi du học năm 1969. Năm ấy cô Lương đi bằng tàu thủy từ Hải Phòng sang Liên Xô. Số cô rủi hóa may. Các bạn đi đợt đầu qua đất Trung Quốc còn cô và các bạn đi sau không được đi theo con đường ấy nữa mà lại đi tàu thủy. Nửa tháng trời trên biển thật là kì thú. Đời người chắc chỉ một lần như vậy. 5 năm học toán ở một trường đại học danh tiếng cô về nước giữa lúc cuộc chiến chống Mỹ vào hồi cuối cùng. Mang va li đến nhận việc ở một trường đại học miền núi Lương buồn rười rượi. Chiều hôm đầu tiên đến trường cô nhìn rừng cây bạch đàn trên một vùng cỏ úa, nhìn sinh viên cầm bát đi ăn cơm ở một nhà ăn lợp lá có những cái chảo nước sôi lúc nào cũng ám khói. Cô muốn bỏ về Hà Nội đi tìm một nhiệm sở khác. Từ hôm gặp chàng sinh viên đi lính về Lương lại bỗng nhớ về một người bạn mà cô chưa hề biết mặt.

    Hồi ấy có phong trào nữ sinh các trường đại học viết thư gửi ra chiến trường động viên bộ đội. Các lá thư từ hậu phương của các cô gái gửi ra tiền tuyến đều được đóng vào những bao gạo chuyển vào chiến trường. Bộ đội đi lấy gạo về tập hợp những lá thư và mỗi chiến sĩ được cấp trên phát cho một lá. Ai chưa nhận thì đợi đợt sau kiểu như cơm không ăn gạo còn đó. Bao nhiêu tâm sự của các cô gái được người lính mang theo giữ gìn như tâm tình của người thân của mình. Họ cũng gửi những dòng chữ vội vàng đầy khói súng về cho các bạn gái mà chưa hề biết mặt. Lương có một lá thư của một người lính tên Chiến quê ở Mê Linh, anh kể anh vừa ở chiến dịch đường Chín Nam Lào. Những Lá thư của anh thật hóm hỉnh và rất gọn gàng khúc triết. Lương biết anh cũng là sinh viên năm thứ 2 đi bộ đội chỉ có điều anh không bao giờ nói là anh học ở trường nào. Anh cứ bảo rồi ngày em về nước em sẽ biết về anh. Khi đơn vị anh rút ra Hà Tĩnh kết thúc chiến dịch đường Chín Nam Lào thư anh kể anh sẽ còn đi vào sâu hơn nữa vì chiến trường đang vào hồi quyết liệt. Có một lá thư Lương nhận được trong ấy có một cánh hoa sim ép khô từ Kỳ Anh Hà Tĩnh... Anh viết ...”Em thân mến, có một hôm bọn anh lấy gạo trên sông Xebanghieng. Những bao gạo trôi trên sông dạt vào bờ đơn vị nào vớt được bao nào thì mang về bao ấy. Trời run rủi cho tiểu đội anh vớt bao gạo sọc xanh trong đó có 5 lá thư. Anh may mắn có thư em. Em là học sinh Hà Nội anh ở nhà quê Vĩnh Phúc. Chuyện cứ như tiểu thuyết em nhỉ, mong rồi có ngày ta gặp nhau lúc đất nước giải phóng và em về... Vài ngày nữa anh sẽ lại đi sâu vào chiến trường gửi em bông hoa rừng nơi anh đóng quân trước ngày đi chiến đấu về nơi xứ tuyết...”.

    Chuyện tình cảm mỗi con người cứ như từ trên trời rơi xuống. Muốn cũng chả được, rẫy ra thì nó cứ vận vào thật chặt. Lính chiến trường bỗng nhiên có chỗ bấu víu thiêng liêng. Cứ lúc nào mệt mỏi lúc nào khó khăn lại mang lá thư của một cô gái nào đó ra đọc là thấy mình khỏe hơn lên. Lời động viên của người khác giới nó mạnh mẽ hơn nhiều lần lời hô hào chính trị tư tưởng. Lính ở trận tiền chỉ cần có thế, đơn giản vô cùng, đơn giản đến mức trong sáng cực đoan.

    Lân thập thò ngoài cửa phòng cô giáo toán tên Lương. Trong phòng ồn ào lời chúc mừng và rất nhiều những bông hoa hồng. Chiều nay Lân bỏ công lên đồi chọn lựa mãi được vài bông hoa sim mọc sớm. Nó không tím như lúc vào hè. Nó phơn phớt thèn thẹn như má con gái. Trên đường đi lên khu nhà giáo viên, Lân cố tự nhắc nhở mình không được gọi các thầy cô giáo là đồng chí. Cái thói quen ở bộ đội nhiều khi làm anh đỏ mặt trước các cô gái học cùng khoa. Họ cười phá lên khi anh gọi họ là các đồng chí con gái. Cả phòng các thầy cô giáo trẻ ngạc nhiên thấy anh học trò mặc áo lính bước vào với bó hoa rừng. Lân ngượng ngùng và cô giáo Lương còn ngượng ngùng hơn. Anh đứng im một lát trước sự im lặng của mọi người toàn những là giáo viên trẻ, mạch lạc nói:

    - Tôi à... là em chúc sức khỏe các thầy và chúc mừng ngày tám tháng ba cô giáo Lương. Có một thanh niên ăn vận lịch sự nhìn Lân ngạc nhiên và dò xét, đuôi mắt bỗng nhíu xuống. Các thầy giáo đều vỗ tay hoan hô sau lời chúc của anh học trò Lân. Riêng một người không vỗ tay... Cô Lương đỡ những bông hoa rừng trên tay Lân có một cảm giác thật khác lạ, cảm giác không giống những lần cô được bạn tặng hoa ở nước ngoài.

    Lân ra về ngay chỉ ít phút trong căn phòng của cô Lương. Con đường về lớp bập bềnh bóng bạch đàn và những ngôi sao rất xanh trên vùng đồi trung du.

    Nhưng chuyện xảy ra ngoài dự kiến của Lân và Lương.

    Một năm sau ngày giải phóng miền Nam, trường được nghỉ ba ngày. Cô Lương nhờ Lân đưa đi Vĩnh Phúc đến nhà người lính trong thư. Suốt dọc đường đi Lương ngồi sau xe đạp của Lân qua phà Chèm rồi theo đê sông Hồng về quê anh lính. Lân cắm cúi đạp xe không hề hỏi cô giáo là đến nhà ai ở đâu, anh thầm nghĩ người con trai nào lại may mắn đến thế. Rồi anh ước ao có một ngày anh cũng có một cô giáo, chỉ là một cô giáo miền quê thôi đến tìm anh như cô Lương đây. Nắng nhễ nhại, nắng xanh ngằn ngặt trên đồng ngô. Thấp thoáng những người chăn bò ven sông lơ đễnh nhìn đôi trai gái đèo nhau đi trên đê. Họ đang cần tìm một bóng dáng đeo ba lô hối hả trở về chứ chả cần những mái đầu phi-dê óng ả. Sau chiến tranh mọi thứ như dấm dứt bùng nổ. Sau chiến tranh mọi thứ như phơi bày ra ánh sáng một cách thô thiển. Mọi ước lệ bây giờ không còn mấy linh thiêng. Chỉ một năm trước đây thôi cũng vào ngày 30/4 năm ngoái Lân đang tiến vào Sài Gòn từ hướng Tây Bắc. Hôm ấy bao nhiêu bạn anh nằm lại trên cánh đồng cầu Bông. Bao nhiêu đứa bạn cùng trường nằm lại không về, không còn tiếp tục những mùa thi đèn sách. Chỉ một năm thôi mà xa vời vợi. Thỉnh thoảng chợt lãng quên bài vở thì những ngôi mộ đắp vội trong rừng lại hiện ra. Những lúc ấy Lân bần thần nhớ đứa cùng khóa đứa khác khóa chết trên Cao Nguyên chết trên đường tiến vào Sài Gòn... Đến một lối rẽ vào làng có cây vông cổ thụ. Lương hỏi cô gái cắt cỏ đường vào nhà anh Lê Chiến. Lân giật thót mình. Cô gái cắt cỏ ven ruộng ngô thảng thốt nhìn hai người lạ rồi chỉ vào ngôi nhà trong vườn xoan. Lương hồi hộp còn Lân cũng thấy lạnh ở sau gáy. Hai người đi lặng lẽ, cái líp xe đạp nổ tanh tách tưởng chừng như cả hai đều đếm được những vòng quay bánh xe lăn. Sao Lương lại có bạn Lê Chiến? Mà sao cũng lại là quê Vĩnh Phúc? Chả nhẽ thằng “Chiến bật lửa” bạn mình quen cô giáo trời tây này ư?

    Một người con gái chạy ra rồi sững lại nhìn cô Lương rồi nhìn sang Lân với bộ quân phục bạc màu. Người con gái nhà quê líu ríu mời khách vào nhà. Trên bàn thờ là ba tấm ảnh hai già một trẻ. Tấm ảnh anh bộ đội chính là Lê Chiến. Cô giáo Lương khuỵu xuống còn Lân thì bàng hoàng đỡ cô trong khi mình cũng thấy chân tay bải hoải. Anh ấy đây ư? Lương thốt lên. Còn Lân thì cũng buột ra lời Chiến ơi ra là nhà mày đây ư? Lương xoay mặt nhìn vào Lân rồi đột nhiên cô ôm lấy anh. Lân bỗng ôm chặt lấy cô giáo nước mắt rơi lên mái tóc uốn gọn gàng của người con gái. Tự dưng tay Lân vuốt lên mái tóc cô Lương, nghe rõ nhịp tim cô gái đập trên ngực mình. Phút chốc căn nhà như thinh không, hình ảnh người bạn chiến đấu cùng trường hiện về. Cũng lúc ấy lá thư và cánh hoa sim khô miền Trung cũng hiện về. Không gian như co hẹp lại với mùi hương trên hai bát hương vẫn thâm trầm.

    Bố Chiến mất trước ngày giải phóng một năm. Người ta báo tử Lê Chiến chỉ sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng chừng 3 tháng. Mẹ Chiến đổ bệnh và cũng chỉ sau ba tháng là qua đời. Người em gái của Chiến lấy chồng làng bên nước mắt chưa khô ngày ngày đi về thắp hương cho cha mẹ già và một người anh chết trẻ. Căn nhà lạnh lẽo, chỉ có tiếng chim ngoài vườn thì vẫn ríu ran. Sáng hôm ấy cả Lân và Lương nghe thấy tiếng Cuốc kêu ngoài bờ giậu. Lâu lắm rồi Lân mới nghe thấy tiếng chim Cuốc gọi hè. Tiếng Cuốc gọi hè nghe mà như nhìn thấy màu vải chín, nghe mà như ngửi thấy cả mùi hăng hắc bẻ cành vải đầy những kiến đen. Tiếng Cuốc kêu ở sau hàng râm bụt có những bông hoa vòi đỏ chỉ cong xuống ruộng lúa ong óng vàng. Sau chiến tranh màu hoa đột nhiên đỏ thế? Lân đứng bần thần bên hàng rào đầy những hoa râm bụt vườn nhà Chiến. Anh chợt nhớ Chiến nói với anh trong một đêm bám địch. Bố tao chỉ thích cái bật lửa Tàu. Tao để dành cái này mang về cho bố tao đi cày, đi đơm đó đêm hôm...

    Lượt trở về chiếc xe đạp nặng như chì. Con đường lúc về mới thấy nhiều ổ gà. Lân và cô giáo Lương không ai nói lời nào. Sông Hồng đang mùa nước, những bọt bồi băng đầu mùa sủi lên những tảng bọt như trái bưởi lẫn rều rác oàm oạp dưới đê. Đến gần Chèm họ nghỉ lại bên một cái điếm canh. Lân ngắt hai chót lá chuối trải trên mép cỏ. Hai người ngồi nhìn sang sông. Cái cột điện Chèm lừng lững chọc lên trời có mấy cánh tay khẳng khiu muốn gục xuống vì mớ dây điện qua sông quá tải cũ mèm. Lân đăm đăm nhìn hàng dây điện ngang sông như một dấu bằng. Bất chợt anh nghĩ vùng quê bên này và vùng thành phố bên kia đẳng trị năng lượng. Cái dấu bằng mong manh quá. Chỉ cách một con sông thôi một bên là thành phố sáng đèn một bên là nhà quê áo nâu chân đất. Lân nghe đâu đó có câu mọi đẳng trị chỉ là tạm thời còn bất đẳng trị mới là vĩnh viễn, có thế xã hội mới phát triển. Lương ngồi bên Lân, cô chợt nhớ tấm khăn dù hôm nào nhưng cô không muốn nhắc đến nó, cô sợ mất đi thứ mà mình rất áy náy, nếu không trả lại chủ nhân. Đột nhiên Lân nói như nói một mình, Chiến nó chết lúc đánh Tuy Hòa. Biển thì xanh ngời ngợi còn nó thì nằm lại ở cánh đồng lúa con gái. Chả biết cái bật lửa có gửi được về cho bố nó không? Tự lúc nào không rõ Lương đã nép vào vai Lân, cô đặt bàn tay mình lên ngực áo quân phục bạc màu của anh, bàn tay run run và môi cô áp vào môi người lính học trò. Đúng lúc ấy có một thằng bé đánh dậm đi từ ven đê lên, nó giật mình rồi trố mắt nhìn hai người lạ hôn nhau. Bỗng nhiên nó ù té chạy, cái dậm kéo lê trên cỏ khuất vào bụi tre làng.

    Chuyện cô giáo toán tên Lương đi với anh học trò Lân bỗng trở thành tin rì rầm ở khu giáo viên. Chả ai nói quả quyết điều gì, cũng chả thể có ai chứng minh trai trên gái dưới gì, nhưng người ta nói rằng con mắt cô Lương tự thú hết thẩy. Trong lớp, trong khóa học với Lân chả có ai mảy may biết chuyện Lân đã đi với cô giáo về Vĩnh Phúc tìm bạn hôm ấy. Sau chiến tranh đất nước đang hồi khốn khó, những vết thương đang mọc da non ngứa nhâm nhẩm. Cả những vết thương lòng, vết thương sọ não âm ỉ mãi rồi bộc phát ra ở mọi phía đời người, của xã hội.

    Ấy vậy mà có một hôm anh Thụ tổ chức Khoa xuống gặp Lân “bóng đèn”. Hai người ngồi chuyện trò lâu lắm ngoài phòng học. Anh Thụ cũng từng là bộ đội đánh bên Lào hồi Coong Le về học khoa Cơ khí rồi ở lại trường làm tổ chức.

    Anh Thụ:

    - Lân à, biết là yêu thì không có tuổi và càng không có đẳng cấp và trên hết yêu không có tội. Nhưng tớ nghĩ cậu cũng đủ bản lĩnh để làm cái việc không ảnh hưởng cho khoa mình. Chỗ cùng là đảng viên mình nói thật... cậu có thể hiểu mình.

    Lân ngước nhìn anh Thụ người mà Lân yêu quí từ hồi chưa đi bộ đội.

    - Anh yên tâm đi. Em biết là cô ấy yêu ai chứ anh.

    Anh Thụ nắm tay Lân ra về lúc trời chạng vạng tối. Đêm ấy Lân ngồi trước bản vẽ Máy cắt kim loại đến quá 1 giờ sáng. Những trục những ổ bi zoăng phớt nhảy múa chập chờn, những con tính xác định mô men hàng hàng lớp lớp như rào dây thép gai chồng đống. Mùi tóc cô giáo Lương thật lạ, con mắt Lương lúc nhìn Lân trên đê sông Hồng cũng thật lạ. Lân cảm giác mình là một người con trai nào đấy mà Lương đi tìm mơ hồ. Sau ngày hôm ấy Lân hiểu ra, Lê Chiến và Lương đã nhiều lần viết thư cho nhau. Cũng như Chiến, Lân từng nhận được lá thư của một cô gái nào đó. Nhưng Chiến thì sâu sắc còn Lân thì nông nổi. Chuyện thư từ như một tập phim thoáng qua với anh. Nhưng cũng nhờ những lá thư ấy mà các anh đã sống quyết liệt trước đạn bom nhưng lại thấm đẫm yêu thương với người đời. Chỉ có các anh mới hiểu lấy mình, còn người ngoài cuộc hiểu các anh thì khó.

    Khuya lắm, lúc tiếng còi tàu ngoài ga phía Gang Thép tru lên. Lân bừng tỉnh. Lương đã thấy Lân chính là Chiến. Nụ hôn với Lân là nụ hôn mà Lương trao cho Chiến đó thôi. Lân rì rầm... Chiến ơi tao đã gặp cô ấy, tao đã hôn cô ấy, tao nhân danh mày để được người con gái xinh đẹp ấy ban tặng nụ hôn đầu đời. Tao cám ơn mày “Chiến bật lửa” ạ. Người ta nói nụ hôn đầu đời thiêng liêng lắm, thế mà nụ hôn đầu đời của tao là do mày mang lại. Cô gái tên Lương kia đâu có biết mày nằm lại trên bãi biển Tuy Hòa. Tao sẽ kể về mày thế nào với Lương để cô ấy hiểu cái chết lẫm liệt của mày hôm ấy.

    *

    Ngày nhận đồ án Công nghệ chế tạo Máy cũng là học kì thứ 9 ở trường. Đây là đồ án môn học quan trọng của Lân. Lân sững người khi thấy tên giáo viên hướng dẫn mình lại là người giáo viên anh đã gặp trong ngày 8/3 ở phòng cô Lương năm trước. Hôm ấy Lân nhớ, khi anh tặng hoa cô Lương tất cả vỗ tay chỉ có người giáo viên này ngồi lặng im. Đã một năm nay anh không hề nói chuyện với Lương tuy vẫn gặp cô lên lớp dạy năm thứ nhất. Những buổi tập trung toàn trường anh vẫn tìm bóng cô giáo ngồi ở khối giáo viên. Anh vẫn biết có cặp mắt cũng nhìn về phía khóa sắp ra trường bọn anh. Anh cũng biết có một thầy giáo không thích màu áo lính bạc phơ phếch như anh. Nhưng điều bất ngờ hơn là ngay ngày hôm sau bộ môn gọi Lân lên thông báo anh chuyển thầy hướng dẫn. Thầy hướng dẫn mới này đã già, gọi anh vào phòng và nói:

    - Thầy Hồng đổi anh sang cho tôi và có nhờ tôi quan tâm giúp đỡ anh vì anh ở chiến trường về. Anh yên tâm tôi sẽ làm việc với anh để cùng hoàn thành đồ án này.

    Đêm ấy, lại lần nữa Lân nhớ tới cô Lương. Lại lần nữa nhớ tới đêm “Chiến bật lửa” hi sinh trên cửa biển Tuy Hòa. Thế mà đã hai năm rồi. Đột nhiên anh nghĩ chắc giờ xương thịt Chiến đã tan hết. Lân bước ra ngoài. Đêm trung du gió ngàn ngạt thổi trên những đồi cỏ úa và bạch đàn phờ phạc. Trời Việt Bắc đầy những ngôi sao li ti. Mà quái lạ đến bây giờ Lân mới nhận ra những ngôi sao trên trời trung du Việt Bắc xanh hơn bất kì nơi nào khác.

    *

    Khi Lân làm Đồ án tốt nghiệp đại học ấy là lúc vợ chồng cô giáo Lương chuyển công tác vào miền Nam. Anh chỉ biết tin này khi gặp một cô giáo dậy Sức bền vật liệu cũng học ở Liên Xô về báo tin và chuyển lời tạm biệt của Lương. Thế là Lân không kịp kể cho cô giáo Lương nghe chuyện vớt cái bao gạo trong đó có thư của cô từ Liên Xô gửi về. Một chiều bên bờ Xê Băng Hiêng tiểu đội đi lấy gạo dùng dây song chăng ngang chắn trên đầu thác rồi dùng móc meo kéo những bao gạo dạt vào. Các chiến sĩ đều hiểu mỗi bao gạo vào tới đây là mồ hôi và máu của người vận chuyển. Bằng mọi giá phải lấy được hết gạo trên sông. Lúc ấy máy bay địch phát hiện ra bến đón của ta lao tới ném bom. Đó là bao gạo cuối cùng được vớt lên cũng là lúc bom nổ. Tiểu đội hi sinh mất một chiến sĩ trẻ măng quê Hà Nội. Lê Chiến vác tử sĩ chạy về trước còn tiểu đội khiêng gạo về cứ trong chiều chạng vạng. Đêm ấy mở bao gạo ra có 5 lá thư. Một lá thư mang bì thư nước ngoài. Chiến nói, lẽ ra lá thư này của thằng Hùng. Nhưng nó chết rồi tớ sẽ nhận thay nó. Lân nghĩ bụng không kể chuyện này cho Lương có lẽ lại hay hơn. Chả ai muốn lá thư của mình lại có số phận dính với cả hai người lính chết trẻ.

    Từ hôm ấy, sau mỗi bữa cơm chiều, Lân lững thững đi trên đồi bạch đàn về hướng có những dãy nhà lợp ngói của giáo viên. Anh như thấy có Chiến về thủ thỉ với mình. Chiến hỏi về đồ án, về dự tính tương lai, rồi cuối cùng bao giờ Chiến cũng hỏi về Lương. Cũng từ ấy Lân lại càng thấy những ngôi sao trên trời Việt Bắc xanh hơn thấy mùi hương rừng bạch đàn quyến rũ hệt như mùi tóc cô giáo Lương lần đầu tiên anh gặp trên chuyến tàu mùa đông.

    Đời có những chuyện càng rũ ra nó càng vận vào mình. Trời thì lồng lộng thế thôi chứ nó vo tròn lại được ấy mà. Có người cực đoan thì bảo chuyện đời chuyện tình cũng giống hệt và tuân theo nguyên tắc Vật lí vậy thôi. Mọi sự vận động rồi cuối cùng nó sẽ lại trở về vị trí thế năng thấp nhất.

    Lân trở thành Phó Tổng Giám đốc phụ trách Kĩ thuật kiêm cả An toàn lao động một Tổng Công ty. Cương vị này khiến anh vào ra Nam Bắc thường xuyên. Ba mươi năm nay anh hầu như đã quên chuyện cô giáo Lương và thầy giáo Hồng thì đời lại khiến anh gặp thầy Hồng, cô Lương. Một lần có vụ tai nạn lao động chết người của công ty thành viên tại Sài Gòn. Lân thay mặt Tổng Công ty vào giải quyết vụ việc. Giám đốc công ty thành viên chính là thầy giáo Hồng. Thầy nói:

    - Tôi xin nhận khuyết điểm để xảy ra tai nạn này. Thưa đồng chí Phó Tổng Giám đốc, tôi xin từ chức và nhận đóng góp phần bồi thường cho công nhân bị nạn.

    Ở cuộc họp ra, thầy giáo Hồng nắm tay Lân và nói:

    - Tôi hiểu anh, biết là anh sẽ tìm cách chiếu cố cho tôi. Nhưng anh Lân ạ, ta hiểu nhau từ ba mươi năm trước rồi. Tôi không hối hận đâu.

    Trước khi về thầy Hồng nói với Lân:

    - Vợ tôi vẫn khỏe và cũng sắp nghỉ dạy ở Đại học Sư phạm thành phố rồi. Cô ấy vẫn thường nhắc tới các anh.

    *

    Một mùa đông bốn mươi năm sau ngày thống nhất hai miền bà Lương lại mới ra Việt Bắc. Lần này bà đi về dự lễ kỉ niệm 50 năm ngày thành lập trường đại học mà bà từng làm giáo viên những năm mới vào nghề. Con tàu không còn cót két hôi hám như ngày xưa. Nhưng bà thấy buồn. Chồng bà đã mất cách nay vài năm vì bạo bệnh, còn các con đều học giỏi và định cư ở nước ngoài. Bà đang trở lại vùng gió bấc mà bà đã từng tê tái, từng yêu cái rét thấu xương nhưng lại cứ hay làm má con gái ửng đỏ. Bà rút máy điện thoại gọi cho bà bạn từng là giáo viên “Sức bền vật liệu “ đã nghỉ hưu. Bà dặn bà bạn nhớ mang cái gói khăn dù mà trước khi vào Nam bà cẩn thận gửi bạn giữ hộ. Bà biết ngày mai Lân cũng sẽ về hội trường. Bà sẽ trao lại cái khăn dù mà bốn mươi năm trước anh đã quàng lên cổ mình vào một đêm gió bấc.

    NTL.

    Nguồn: Truyện đầu tiên của tập truyện ngắn: Bản Thánh ca vọng mãi. NXB Hội Nhà văn, quý 4-2020.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,088,663

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/