Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,065,584

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Chúc mừng bạn tôi, Nhà Thơ Nguyễn Lương Vỵ, một đời tu Thơ

Tư liệu sưu tầm

  • Thứ sáu, 11:17 Ngày 19/02/2021
  • Kính thưa Thi sỹ, bạn tôi, Nguyễn Lương Vỵ, hình như đến một tuổi nào đó ai cũng nghĩ, về-thu-xếp-lại thôi… Với hai tập thơ đánh dấu nửa thế kỷ làm thơ, thì quả là một sự thu xếp quá lộng lẫy, huy hoàng, không biết nói gì ngoài lòng cảm thán bạn một đời Tu Thơ, như bạn từng nói nhìn trong thơ thấy đạo/ nhìn trong đạo thấy thơ… Nguyễn Lương Vỵ đã sống trọn vẹn với Đạo Thơ như một bằng chứng đẹp nhất của sự tận hiến.

    NHIỆM MẦU THƠ

    Tặng Thi sỹ Nguyễn Lương Vỵ

    Một hơi thở vào thật sâu

    Đem ta cả phút ban đầu. Tới đây

    Nhân gian thực mộng hiển bày…

    Một hơi thở ra mây bay

    Phương Ý* kia. Phương mộng này. Trước sau

    Ô hay một chấm ban đầu…

    Và ta lại ở nhiệm mầu trang thơ

    9.2020

    * Tên một tập thơ của NLV.

    ĐỘC HÀNH

    Tặng Thi sỹ Nguyễn Lương Vỵ

    Nhịp một lời. Phong ba

    Nghe đất trời chĩu nặng

    Nghe trần gian nhẹ bẫng

    Cô liêu cõi Người Ma*

    Nhịp một lời. Vực sâu

    Trùng dương nghe. Dậy sóng

    Núi cao nghe. Cúi đầu

    Thâm u. Hình với bóng

    Nhịp một nhịp máu xương

    Nghe con sông nằm khóc

    Nghe trời xanh vừa mọc

    Thổ huyết một đêm trường…

    Đêm nở hạt máu mầm

    Trổ thơm hơi bụng mẹ

    Hạt máu rền huyết âm*

    Hạt máu đau huyết lệ

    Bi thương hạt tinh cha

    Trổ ngàn lời thống thiết

    Cười một tiếng. Ngu ngơ

    Động ngàn lau xanh biếc

    Nhịp một nhịp hòa âm*

    Lặng mấy cõi thinh không

    Khóc một tiếng. Dại khờ

    Đau lòng trời xanh thẳm…

    Nén ngàn hơi tinh âm*

    Òa đất trời tiếng thở

    Người đi đi về đâu

    Trăng tan. Và nước vỡ

    Vỡ

    Bảy hạt huyền âm*

    Rúng

    Sợi tơ bát âm*

    Trầm ơi

    Lục huyền cầm*

    Tan tan

    Ngũ linh âm…*

    2013

    Trích trong tập Ký ức của bóng, NXB Phố Văn & Sống, 2013)

    *Chữ thơ và tên những tập thơ của Nguyễn Lương Vỵ

    NGUYỄN LƯƠNG VỴ. NHỮNG VIÊN CUỘI THỜI GIAN

    Vâng. Tôi đã nhìn thấy chúng qua gương một dòng trong. Những viên cuội lấp lánh nắng mai. Những viên cuội lung linh trăng rằm. Phản chiếu mầu sắc tĩnh và động. Những viên cuội lắng vào thẳm sâu giấc mơ của dòng -dòng chữ long lanh- ánh lên những gửi gắm của thời gian. Ta có thể nghe được gì từ nơi không nguồn cội và lồng lộng hư vô huyền nhiệm?

    Có một ngày buồn trong khí đông phai, tôi về bên dòng ấy, nhìn những viên cuội Lục Huyền vang âm trong dòng chảy Tám Câu, tung hứng qua vần điệu, ngữ nghĩa, của Nguyễn Lương Vỵ (NLV) -nhà thơ luôn gây cho tôi bất ngờ qua mỗi thi phẩm của ông-. Tám Câu Lục Huyền Âm, ký tặng tôi vào tháng 3. 2013. Trời Calif. đã dợm sang xuân, có trong tay một tập thơ, một không gian riêng, hẳn nhiên là tôi có đủ ba lý do để hưởng cái thú vui đã thuộc cổ xưa này. Và thơ ấy kéo tôi về không khí Đường Thi. Mái nhà thơ Đường càng ngày càng ít kẻ, gần như bằng không, tìm về đụt nắng che mưa chữ nghĩa. Thế mà NLV đã ghé vào cung kính ngả nón chào, và kiểu như là, “thưa các tiền bối, giờ xin thưởng lãm một kiểu thơ Đường-Việt.” (Thật ra dùng chữ Đường-Việt ở đây chỉ là cách nói để tạm phân biệt thôi)

    Trên bước về cố xứ, NLV ra mắt các Thi Ông Thi Bá tiền bối bằng bài thơ:

    DỐC TRĂNG CỐ XỨ

    Nhớ quá dốc trăng cố xứ

    Hít một hơi ứ thiên cao

    Ruột gan tim phổi ngất ngứ

    Hồn phách trí não phập phào

    Đất trào huyết hoa bức tử

    Gió vuốt máu đá vụt trào

    Nếp trán vết hằn tâm sự

    Dốc trăng khuyết đĩa dầu hao

    Thật là một thể thơ mới lạ. 6 chữ 8 câu dưới tên văn chương lãng đãng: Tám Câu Lục Huyền Âm. Có thể nói cho đến nay chưa ai làm kiểu thơ này. Sáu Chữ, mà chẳng phải là Lục Ngôn cổ điển. Tám Câu đấy, có cả những cặp đối, nhưng lại không phải là Thất Ngôn Bát Cú của Đường Thi. Nó là Lục Ngôn Bát Cú của NLV.

    Nói về thơ Lục Ngôn, ở thế kỷ 15, có bài thơ Thủ Vỹ Ngâm, một sáng tạo, đột phá của Nguyễn Trãi, được công nhận là thể thơ rất riêng của Việt Nam, thể Lục Ngôn, nhưng không hoàn toàn là 6 chữ suốt 8 câu mà xen vào câu 7 chữ. Những cặp 3, 4 và 5, 6 tuân thủ về đối, vần thì độc vận, bắt với nhau ở những chữ cuối câu 1,2,4,6,8. Và không còn lệ thuộc về Niêm (bằng trắc) nữa. Dù khởi đi từ khí Đường mà Nguyễn Trãi đã tạo thành một thể thơ mới mẻ, nhất là nhạc thơ, khác hẳn Đường thi, chữ dùng lại thuần Việt. Sau, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có làm lục ngôn, nhưng không nhiều.

    Nói về Đường Thi, đỉnh cao của nền thi ca Trung Hoa, mãi cho đến nay vẫn còn truyền tụng những tuyệt phẩm của những thi hào lỗi lạc, Lý Bạch, Đỗ Phủ… Cá nhân tôi, tuy chỉ lõm bõm hiểu nghĩa thôi mà sao khi đọc lên bằng phiên âm của những bài Đường Thi vẫn cảm được tức thì nỗi mênh mang cùng tận của âm chữ. Đó là sức của nhạc thơ chở một thể thơ trôi được ngàn năm và vẫn còn tồn tại một cách linh động đầy thuyết phục.

    Tôi xin mở ngoặc một chút riêng tư, hồi tuổi trung học, tôi đã được học về luật tắc thơ Đường từ ba tôi, ông rất khó khi chấm những bài thơ Đường tập tành của tôi, đến nỗi sau vài ba bài, tôi trốn luôn. Ở nhà thường có những buổi họp thơ, và tôi đã được chứng kiến tài thơ của những bậc trưởng thượng, toàn là những thi sĩ cự phách, nghe tên đã xính vính, những là Vũ Hoàng Chương, Đào Vân Khanh, Hà Thượng Nhân, Mộng Tuyết, Vân Nương, Cao Tiêu, Bùi Khánh Đản và… ba mẹ tôi. Tôi đã tản thần không biết làm sao mà Họ có thể làm thơ Đường, xướng họa một cách thần tốc như vậy, dĩ nhiên với tài năng cỡ họ thì không thể nào có bài thơ thất niêm thất luật được, lại “đối nhau chan chát” nữa, và tôi cũng được biết thêm, nếu có phá niêm thì đó lại là tuyệt tác của một tài thơ đã bước qua được luật tắc. Vậy mới kinh chớ. Tôi đi ra đi vào châm nước rót trà dọn bánh trái, tai thì lóng nghe, mắt thì nhìn, mỗi thi sĩ với mỗi phong thái riêng, rất đẹp. Có thể nói lúc ấy tôi có duyên được hít thở không khí Đường Thi. Và, bài thơ Đường hoàn chỉnh đầu tiên tôi viết do mẹ tôi ép, lúc Nữ Sĩ Tuệ Mai mất, (Thi Đàn Quỳnh Dao lúc ấy qui tụ những nữ sĩ nổi tiếng chuyên trị thơ Đường, trẻ nhất là hai nữ sĩ Tuệ Mai, Tôn Nữ Hỷ Khương) Nữ sĩ Mộng Tuyết, tác giả bài thơ xướng tiễn đưa, hàng con cháu như tôi, dù không là thành viên của Thi Đàn, nhưng mẹ muốn tôi có một bài hoạ, chiều mẹ và cũng vì tình riêng với cô Tuệ Mai, tôi cố viết một bài, lại được khen, được thể, sau đó tôi cũng có lác đác, Đường Thi. Nói vậy để tự cho phép xem như mình có chút ít kinh nghiệm để thưa rằng, làm thơ Đường thật chua lắm, nhất là Đối ở hai cặp Thực (3,4) và Luận (5,6), nếu phải tuân thủ niêm luật bằng trắc nữa thì chắc tôi lọ mọ đi nhặt chữ!

    Đối, là “khúc xương” khó nhất mà NLV đã gặm từ Đường Thi để đưa vào thể thơ Lục Ngôn Bát Cú rất riêng của ông. NLV cũng đã thoát ra khỏi nghiêm ngặt của Đường là niêm, thiển nghĩ, nếu theo niêm nữa thì Lục Ngôn Bát Cú của NLV đọc lên sẽ na ná giai điệu Đường Thi, nên tôi tán thành cách của ông, nó hợp thời, nhạy bén, và thông minh. Vì nếu dựa vào một cái cũ, không có gì lạ hơn, hiện đại hơn, thì không làm. Thành ra khi đọc những bài này của ông, tôi không ngờ là nó có những cặp đối rất hoàn chỉnh theo luật Đường, vì lời thơ và hình ảnh quá tự nhiên, lại được chuyên chở bằng một tiết tấu rất lạ. Thổi vào Lục Ngôn một khí mới. Như thể cùng một bài nhạc mà bây giờ được một tay nhạc phối khác đi. Cũng bởi thế, thưởng thức những bài 6 chữ 8 câu này không dựa trên thẩm âm của Đường Thi cũ nữa.

    NLV đã tâm sự với tôi “tui ráng dùng chữ Việt hết sức có thể.” Tôi trân trọng những cố gắng của người muốn chứng tỏ rằng chữ Việt phong phú đến đâu, và biết rằng điều ấy thật khó vì rất rất nhiều từ Hán Việt đã được Việt hóa từ lâu đời, khó mà tránh nổi. Khi tôi bày tỏ ý nghĩ đó, NLV nói “Tui chỉ đi lụm những viên cuội của người xưa. Lụm lên chùi chùi phủi phủi bụi thời gian rồi lấy xài lại.” Vấn đề là nhặt ở đâu, nhặt cái gì và nhất là phủi bụi ra làm sao để nó khoe sắc lại dưới nắng trời Hôm Nay. Vậy mời các bạn tri âm, cùng tôi ôn lại những điều, không hẳn là cũ để biết cái mới mẻ của thơ hôm nay của NLV. Xem ông làm gì với những viên cuội thời gian ông lụm của tổ tiên. Để biết, người thơ để tình tự mình neo thế nào nơi bến cũ hiên xưa, Câu hát nao lòng bến cũ/ Nụ cười tươi máu hiên xưa…

    Trong suốt 9 bài ở tập Tám Câu Lục Huyền Âm, mỗi bài 7 đoạn, xem như 63 bài, đều tuân thủ chỉ với 6 chữ (đây là điều khác với lục ngôn cổ điển, có khi xen 7 chữ), và bài nào cũng nghiêm ngặt cặp đối Thực và Luận (3,4 và 5,6). Thật là rất thất kinh. Có ai đã làm chưa và không biết sau này có ai, hoặc chính ông, có tiếp tục không? Nó có phải là một quyến rũ để các nhà thơ muốn bước vào và thử nghiệm chăng?

    Trong có hạn của một bài viết, tôi chỉ xin trích dẫn những cặp đối tiêu biểu, theo tôi, trong Lục Ngôn Bát Cú của NLV,

    Phong dao mài thanh kiếm sắc

    Thuỷ cầm rưới nấm mồ thanh

    Trăng rợp mái đình vằng vặc

    Dốc nghiêng vai gió vạnh vành

    (Dốc Trăng Cố Xứ)

    Chí Linh nhương sao nhấp nháy

    Côn Sơn vung bút mãi mai

    Oan nghiệt tuyệt không nhếch mép

    Công danh đếch có rùn vai…

    (Gửi Quốc Âm)

    Về thăm vỉa hè góc phố

    Đến chào quán xá mộ bi

    Rùn vai ma khuya sóng sánh

    Rụt cổ quỉ đêm rầm rì

    Thiệt là mùi để lấy trớn

    Thiệt là hứng cho đã thèm

    Hỏi người đi đâu bụi bặm

    Nhắn ai ngồi đó lấm lem

    Cổ nhân hồ như khách lạ

    Tri âm ắt hẳn đêm sâu

    Viên sỏi cựa mình chẳng nói

    Bóng cây gù lưng biếng chào

    (Gửi Vỉa Hè Sài Gòn)

    Thiên tặc gọi thì phải dạ

    Địa phủ đón thì phải chào

    Chào cái thây về cát bụi

    Mừng cái phách hẹn trăng sao

    (Gửi Một Khi Nào)

    Bạn thử đọc và tìm thú vị riêng trong những cặp đối trên xem sao. Hẳn bạn cũng thấy được, đối ý đối chữ và đối cảnh. Theo Đường luật nếu hai câu thực (3,4) đưa ra những hình ảnh, sự vật, việc, dẫn đến cảm xúc đọng lại ở hai câu luận (5,6), thì NLV gần như cũng đã bắt mạch và lấy về thơ mình cái ưu thế ấy của Đường Thi.

    Vẫy bàn tay chào một bận

    Hất mái tóc bẩm đôi bờ

    Bờ nào cũng đều lận đận

    Bến mô cũng rặt ơ thờ

    (Gửi Vu Vơ)

    Giao hưởng thương đời mệnh bạc

    Hòa âm xót kẻ đầu xanh

    Trời chẳng nói đất chẳng nói

    Sống cũng tanh chết cũng tanh

    Bóng đi đâu dâu xanh ngất

    Hình về đâu mây trắng phau

    Chữ ứa cơn sầu cỏ mật

    Thơ ghìm tiếng nấc vực sâu

    Chép bài thơ trong trí nhớ

    Gửi niềm đau theo trăng tan

    Một nét lưng mềm tím phố

    Một trời nhạc lắng xanh đàn

    Thơ vốn không bờ không bến

    Đời đâu có tuổi có tên

    Lắng cùng ta Thượng Thanh Khí

    Nghe cùng ta Âm Lục Huyền

    (Gửi Một Người Thơ)

    Trích những cặp đối theo tôi là rất hay, dĩ nhiên chỉ để cho bạn cùng tôi thích thú một nét lạ của thơ NLV, còn hiểu cho ra cái hay của sự hòa hợp để thấy được ý sâu của chữ thì tất nhiên, phải đọc toàn bài thơ. Để vỡ, à thì ra…, những viên cuội xa xưa ấy, người thơ đã phủi bụi thời gian như thế này đây, để nó lại long lanh phút hiện tại, Hôm Nay!

    Gần như ai cũng đồng ý rằng, để cảm thụ Thơ phải nhờ con mắt trung gian là trái tim, đó là nhịp đập dẫn người ta đến cánh cửa tâm linh của Thơ.

    Bằng cách đó, bạn sẽ nhìn ra cái “Tịch Mịch như Nguyên Thủy Nguyên Sơ” (chữ của NLV) trong bước trở về cùng Thi Ca của người thơ. Điều này tôi đã cảm thấy ở ý tứ cùng hình ảnh trong những cặp kết, hoặc chỉ một câu kết của mỗi bài thơ, nó, hoặc đóng lại một cách rất cô đọng, bất ngờ, hoặc như dòng sông đang miên man chẩy đẩy người đọc liên tưởng đến những bờ bến lạ. Gần như người làm thơ nào cũng biết, phải tu luyện cho tinh, để có thể buông cái cuối cùng đặt dấu ấn cho bài thơ. Xưa Kim Thánh Thán đã nói rằng trong bài thơ bảy chữ tám câu, thường 4 câu cuối là phần tóm gọn “cái tình” của tác giả. Khi đọc sáu chữ tám câu của NLV, tôi nhận ra, những nơi tôi đánh dấu ngôi sao, thường cứ là những câu về cuối hoặc một câu kết của bài.

    … Nếp trán vết hằn tâm sự/ Dốc trăng khuyết đĩa dầu hao…

    … Một tràng kinh về đông đủ/ Chiêm bao gió lú rùng mình… (Dốc Trăng Cố Xứ)

    …Vũ trụ cùng người đối ẩm/ Thềm khuya ứng mộng cho chăng?! (Gửi Quốc Âm)

    … Nhậu một mình thấy chín cõi/ Bàn trơ khía cạnh lầm lì… (Gửi Vỉa Hè Sài Gòn)

    Tôi rất thích hình ảnh vừa gợi hình vừa tức tâm, bàn trơ cạnh lầm lì này. Cặp tĩnh từ này thiệt đắt giá. Tác giả chắc cũng như tôi, mừng reo khi nhặt được những cặp tĩnh từ rất lạ rất việt, như những viên cuội long lanh này,

    … Phỗng phao một cuộc rong chơi, đâu ngờ rằng: Muôn nẻo trùng sinh náo nhiệt/ Dè đâu ta chết lâu rồi… (Gửi Một Khi Nào)

    … Tìm nhau đỏ con mắt đá/ Âm khua gót máu lặng thinh…

    … Chờ nhau vắng chìm tâm sự/ Âm rền buốt hết xương da…

    … Chiều hôm chim kêu rát cổ/ Rừng âm thổ huyết dâng mùa… (Gửi Bóng Hình)

    … Vậy đó chữ là tri ngộ/ Xanh ngời giọt máu đỗ quyên (Gửi Một Người Thơ)

    Những khắc khoải của tìm nhau, chờ nhau kia, cuối cùng biết ra rằng hạt máu đỗ quyên gọi khan một điểm hẹn hò là Con Chữ. Vậy đó, nếu không cô đơn hằng đêm Tim ta bắt nhịp môi đèn/ Bàn phím gõ ngàn ô lửa, thì sao đi hoài được con đường gian khổ mà đầy quyến rũ ấy để Tri Ngộ Chữ -Chữ Thơ-?

    … Ừ nhỉ đời như chớp tắt

    Hẹn nhau về với Không Hư…

    Thưa Nhà thơ. Cõi Không Hư đó theo tôi, là Hiện Thực mộng ảo. Là đưa ta lần về Nguồn Cội để rồi chạm vào -Giấc Mơ!- Thực Mơ huyền dịu quá một âm bản thời gian*…

    11.2013

    *12 bài thơ Âm Bản Thời Gian, trong thi phẩm Tám Câu Lục Huyền Âm.

    VÀ, NGUYỄN LƯƠNG VỴ. PHẤT PHƠ 5 CHỮ 5 CÂU

    Cuối thu. Có một thứ rượu, chắc ngon cũng cỡ hoàng hoa tửu của thu ẩm trong thú sống vui của người xưa, rượu thơ.

    Trong lất phất mưa, lạy trời mưa xuống, mưa tầm tã đi để Calif. yên bình này không lo lắng về một cơn hạn hán. Trong buồn cơn bệnh kéo thân thể nằm nghỉ ngơi, nhớ người bạn có gửi tới một bản thảo thơ, mở máy đọc, tâm hồn nhẹ và mỏng hẳn đi theo những sợi mưa bay ngoài cửa sổ, phất phơ với trời đất thiên nhiên, nghe xa xa tiếng cười của Thánh Thán, chắc tại sáng sớm nay chợt nghĩ sẽ ăn đậu chiên với dưa muối chua theo lời ông trước khi chết “dưa muối mà ăn với đậu vàng thì có vị như là hồ đào, nếu phép này được lưu lại thì ta chẳng còn gì ân hận.” Ai nghĩ đây là lời trong thư ông gửi con trước khi bị hành hình? Những thú vui sống của ông sao mà giản dị, và phải tu luyện cái nhìn thế nào để thấu thị những điều nhỏ bé ấy?

    Lúc này, đọc thơ bạn, trong cơn bệnh, cho khí trời thu hoà âm với cảm xúc mình, là chỉ muốn bắt chước hưởng những phút vui bình thường trong cuộc sống mà thôi, chứ không dám thưa thốt chuyện văn chương. Nếu bạn thích thì đọc cùng tôi, không thì xin mời nhấm chút trà ngon rồi tiễn bạn. Còn tôi, đang dở việc đọc thơ. Không phải đọc trên giấy, mà là không gian ảo của cái cửa sổ 11 inches này, ngẫu hứng câu nào thì góp chút cười chút khóc, coi như “thu ẩm thi tửu”…

    Tập thơ của Nguyễn Lương Vỵ tên Năm Chữ Năm Câu, trong đó có 100 bài 5 chữ 5 câu.

    nhìn trong thơ thấy đạo

    nhìn trong đạo thấy thơ

    nhìn trong thơ thấy gạo

    nhìn trong gạo thấy mình

    có-không thiệt rốt ráo… (bài 1)

    Nghe như khẩu khí vô vi của Lão Tử, mà lại từ không khí tĩnh toạ của Thiền. Ngay bài đầu tiên này thấy con đường. Đạo, Con đường tu luyện Thơ ấy, thực sự đốn ngộ là rốt ráo có-không? Hãy đi theo, im lặng thôi, những cái nhìn và nghe, coi mình có thấy gì không. Đạo của Thơ.

    nhìn trong em thấy mệnh

    nhìn trong mệnh thấy đời

    nhìn trong đời thấy bệnh

    nhìn trong bệnh thấy lời

    lời lôi âm rù quếnh… (bài 2)

    Thơ là mệnh. Bao giờ cũng có dẫn dắt như thế ở những người sống chết với chữ. Và âm.

    nhìn trong mưa thấy nắng

    nhìn trong nắng thấy giông

    nhìn trong giông thấy mộng

    nhìn trong mộng thấy mồng

    mồng bông bay lồng lộng… (bài 3)

    Trời Đất uyển chuyển xoắn vào nhau hoá thân mộng. 4 câu biến hoá rồi thả câu kết như một làn gió bay… Phiêu phiêu ở cái nhìn. Tuyệt, là ở chỗ như vậy.

    nhìn trong vườn thấy ruộng

    nhìn trong ruộng thấy nương

    nhìn trong nương thấy luống

    nhìn trong luống thấy đường

    đường thương tâm đã ruổng… (bài 4)

    Nghe nát tan đến thế nỗi thương hải! Biến vi tất tật, nhưng không phải Phật đã bảo có sinh, trụ thì có hoại diệt sao?

    nhìn trong kinh thấy kệ

    nhìn trong kệ thấy sen

    nhìn trong sen thấy lệ

    nhìn trong lệ thấy đèn

    đèn nhen thơm bóng huệ… (bài 9)

    Những phút, những ngày, hay một đời “nhìn” ở bài 1- 9, như những bọt nước tung lên trên dòng sông quán niệm, ảnh hình biến thiên chập chùng, để bất chợt thấy mồng bông bay, sựng một tượng số, sợi lông phất phơ ngọn cỏ, đàn câm trước trò người ngợm, đèn soi một bóng huệ. Rồi sẽ tỏ như kệ và sen, không gì thường còn…

    nghe âm A ngất máu

    lạ chưa mưa tím than

    mưa tan trong mắt đá

    đá nở búp hoàng lan

    vàng câm trên bến lạ… (bài 10)

    A. Tiếng kêu của ngạc nhiên. Tiếng reo của vui mừng. Thường là phải bật ra thanh. Vậy mà ở đây, tiếng kêu ấy là câm ẩn sắc hoa vàng cõi lạ… Tứ và hình ảnh liên tưởng bất ngờ. Khí kỳ ảo Lý Hạ trong ngữ nghĩa rất mới.

    nghe âm E ngoe nguẩy

    ngỡ rằng em có đuôi

    nên hồn ta sập bẫy

    gờn gợn gió về xuôi

    cái em lừng hây hẩy… (bài 11)

    E, nói dài ra thì thấy nó thật có đuôi, sập bẫy cái thanh vừa thốt. E lại cũng là em. Ôi!

    nghe âm Ê kể lể

    ca dao đắng khổ qua

    đồng dao chua khổ lụy

    hớp vài hớp gọi là

    đỡ cơn ghiền thiên lý… ( bài 12)

    Ê. Kêu ai. Mà lời đắng chua. Thì có thể có một “hớp”hạnh ngộ cho người thơ không, trên bước đường thiên lý?

    nghe âm I đi mãi

    tiếng chuông lau hết chiều

    chiều lau hết con gái

    tinh khôi hương tình yêu

    ôi gái hồng ngây dại… ( bài 13)

    Ôi. I. Không còn gì, hoạ chăng ngây dại cái tình si. Hi hi là cười. Ở kia. Hi! Hi! Là chào, ở đây. Cặp kè mà đi. Cái cười chào trẻ thơ trong cái nghe già lão, chuông lau hết chiều…

    nghe âm O vành vạnh

    lửa reo ngầm khía cạnh

    ta reo ngầm dấu son

    dấu môi em thơm lạnh

    bướm gáy trên đầu non… (bài 14)

    O đi đâu reo thơm ta dấu son. O tròn. Không nơi bắt đầu không chỗ kết thúc. Bỗng bay thành cánh bướm trên đầu non, phải nơi đấy là Chung? Tiếng reo kia của Thủy? Mở Kết thật mông lung, trong vành vạnh càn khôn kia đấy. Thấy hết lẽ biến đổi tự nhiên Đất Trời Âm Dương Sinh Tử.

    nghe âm Ô trố mắt

    ố ồ đọt rau dền

    tím than nhớ tím ngát

    nhạc treo trên nẻo quên

    vớt chiều lên kẻo tắt… (bài 15)

    Ô. Giống âm thanh ngạc nhiên của A. Vội hơn, như sợ sẩy mất điều gì, ô, chỉ là vạt nắng chiều! mỏng manh quá giữa tồn tại và hư vô…

    nghe âm Ơ ú ớ

    tiếng chó ngáp buồn thiu

    tiếng chiều lèn nước lợ

    đời kĩu kịt quá nhiều

    mần thơ cho hết sợ… (bài 16)

    Sao có nhiều âm để biểu lộ sự ngạc nhiên thế ở tiếng Việt mình. Có phải tiếng nói phát triển theo kiếp đời con dân Việt kĩu kịt quá nhiều? Dùng sự ngạc nhiên để đối phó thì kể người thơ cũng có nội lực lắm, vì chỉ có âm ngạc nhiên trẻ thơ A! Ô! Ơ! mới nhìn thẳng được những ú ớ cuộc đời.

    nghe âm U bay vụt

    vút lên sợi tơ trời

    cả đời ta níu hụt

    những trận gió hoài thai

    thơ nhớ ai ngún ngút…(bài 17)

    Trong trò chơi con trẻ, có một trò gọi là u mọi, kêu u u chạy nín thở một hơi về phía đối phương đập vào tay tên tù nhân để cứu thoát. Ai u u để cứu kiếp đời? A. Ô. Ơ. -Thơ!

    nghe âm Ư rên khẽ

    hạt bụi bay khóc ré

    hạt nắng bay hát vang

    thơ mần ta nữa nhé

    kẻo mai kia lạnh tràn… (bài 18)

    Có lần, người thơ nói với tôi, làm thơ thiệt đã. A. tiếng rên khẽ từ thơ mần đó vậy. Mà nắng bụi chuyển mình. Ưmm, tôi biết tôi cũng thế, thơ đến thì không thể ứ ừ em chả, được, vì thế thì sẽ lạnh tràn…

    Những bài thơ nghe được tinh của âm này không dễ, vì NLV đã kể rằng “lì đòn chờ âm rung.” Ra thế.

    thấy và nghe ướt mộng

    đêm nhớ ngày sủi tăm

    bọt nước tan theo sóng

    sóng tung bờm hí rân

    ngựa thời gian lửng bóng… (bài 19)

    Chiêm bao ơi, đừng như bọt nước, thời gian vó câu…

    thấy và nghe khô máu

    máu lịm phiến đá ong

    đá vang ngàn ô cửa

    vì có ngàn mắt chong

    ngàn mắt đèn lệ ứa… (bài 20)

    Tôi đồ rằng người-tu-thơ ngồi đó rất lâu, đến nỗi thấy ngàn mắt đá ong mở cửa, sáng loé ánh nhìn, huyết lệ. Bi sầu uẩn khúc kỳ lạ Lý Hạ cũng đến thế này thôi.

    thấy và nghe tê lưỡi

    ngọng nghịu chẳng nên lời

    ù á ôi ừng ói

    ói ũng ừng ấy ôi

    bông khế rụng lưng đồi… (bài 21)

    Thấy, Nghe trơ vị giác rồi. Âm thanh cũng ú ớ… Lợm đời, bèn chửi thề, ói xong rồi tưởng là hận lên chất ngất, nhưng không, lại vu vơ theo bông khế tím, năm câu này tuyệt (tuyệt tận) ở một câu kết mở mênh mang, đưa ta về cố lý yên bình hay nấm mộ buồn hiu lưng đồi? Nghe cũng hào sảng lắm…

    thấy và nghe buốt óc

    róc xương mây tủy trời

    đốt thơ cho quỷ đọc

    cho ta kịp lấy hơi

    lấy trớn cho ma khóc…(bài 22)

    Gom hết tuỷ trời xương mây thành thơ. Mà một bóng đối ẩm với quỷ, chờ nghe tiếng khóc của ma, biện biệt được không, người-ma, ma-người? Một ý nghĩ theo suốt NLV từ Huyết Âm. Tiếng cười hạt máu giọt lệ hoà thanh. Nam mô Tiên Thánh Phật Quỷ Thi!

    thấy và nghe huyết tan

    từ rất lâu trong chữ

    chữ lòn trong nắng tàn

    ta lòn trong mưa lụi

    lượm lên phủi hú vang… (bài 23)

    Nước mắt của chữ là máu, thinh không mênh mang, hay một vệt nắng tàn, một hơi mưa, ta vẫn nghe được tiếng những hạt lệ ấy… Qua tiếng hú mới rền được nỗi bi thương, tiếng hú cô liêu thơ trong biên giới không gian, thời gian. Có chạm được bến bờ đất trời không để tỏ nỗi lòng, Nhà Thơ ơi…

    thấy và nghe máu vỡ

    mái đình nằm nghiến răng

    điện thờ nhang nín khói

    tổ tiên tơ nhện giăng

    một nùi không dám hỏi… (bài 24)

    Đấy, cái cuộc đời, cuộc sống, thân phận con người, con dân nước Việt, trải mấy nghìn năm một nùi tơ nhện tổ tiên câm lời. Thôi đành, một là hú dài, hai là hoá câm. Lời kinh động cõi cội rễ…

    thấy và nghe bóng rung

    bóng sân bừng bóng ngọ

    bông bụt đỏ bập bùng

    bóng mẹ gầy như gió

    gió thổi nhòe chân dung… (bài 25)

    Có lẽ cái thấy và nghe nầy ít cay, ít xót, nhất trong những nghe nhìn trong trăm bài 5 chữ 5 câu này. Ngồi tưởng nhớ thấy bóng mình in trên bóng sân nắng quê nhà, đâu đó gió thổi liêu xiêu bóng mẹ, gió theo hạt lệ con nhìn nhoà bóng mẹ. Những câu thơ quyến luyến lôi kéo hình này đến ảnh nọ, như bóng con luẩn quẩn chân mẹ.

    Như có hạt mưa trời Santa Ana rơi vào mắt, nãy giờ phất phơ cùng mưa hay thơ?

    thấy và nghe bóng hiện

    chèo bẻo hót nghiêng chiều

    nghiêng vai đời lỗi hẹn

    bông gòn bay quá nhiều

    bóng in trên thềm rêu… (bài 26)

    Xuống một câu kết đóng, tóm hết vào bóng, không biết trong đời lỗi hẹn kia, bóng rồi có hoá đá như người xưa không. Ngồi đợi. Chim tiễn chiều và bông gòn bay. Mấy thời gian đã trôi qua trên vai đời ấy mà thềm đã đầy rêu, nhớ xưa cái anh chàng khờ đợi người yêu dưới chân cầu, nước dâng cứ thế mà chết. Nỗi đợi nào cũng ngớ ngẩn, nên thơ. Bông gòn bay quá nhiều, nói như né cái đợi dài… chép miệng than vu vơ (ơ, hoá bóng chứ không hoá đá)

    đếm dấu vân trên gỗ

    câu thơ vỗ tay reo

    lóng xương rừng đã trổ

    những cụm mây lưng đèo

    đến nay còn liếc theo… (bài 29)

    Chập chùng hình ảnh, và tứ lạ. Tôi thấy những gợi mở tương phản: vẻ kiên khổ của người ngồi đếm dấu vân gỗ bên cạnh tiếng reo trẻ thơ của câu thơ vừa ráo mực. Cũng thế, lóng xương rừng vẽ ra một cảnh tang thương âm binh, mà níu được cái liếc mộng mơ của cánh mây! Đặt cạnh nhau như thế để nói vô thường chăng?

    đếm linh hồn trên vách

    thạch sùng liếm môi khuya

    ta ngồi im liếm sạch

    màu chiêm bao dị kỳ

    âm xanh câm trôi đi… (bài 30)

    Này bạn, tôi thấy người cũng hoá thành một loài bò sát và máu lạnh, như thạch sùng, và tôi thấy nỗi buồn rợn ốc trên da. Âm xanh câm trôi đi… âm, nó cũng động như người và thạch sùng trong bức tranh siêu thực này.

    đếm trời thu trong hạt

    hạt hát chào cô liêu

    ta cô độc đánh liều

    hát theo treo tóc bạc

    âm trắng câm bay đi… (bài 31)

    Âm bây giờ mang mầu trắng, hoà âm với hạt cô liêu mùa thu, sương móc treo tóc bạc, bản hoà âm câm, và trắng, cô độc… để tuyệt vời an nhiên bay đi… như nghe ngài Lão Tử: “Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, thế mà thiên hạ không ai hiểu, không ai làm.”

    đếm ngàn sông trên lá

    lá ngu ngơ thở dài

    thời gian phai nhanh quá

    lá chỉ nhớ một vài

    giọt sương tan ban mai… (bài 32)

    Chiếc lá phai, dòng sông trôi, biểu tượng của thời gian. Màu lá, bước đi qua của mùa, phút giây thoáng chốc, thế mà chở hết cái miên man miết miết của con sông thời gian. Thế rồi trên những qua đi, chỉ cái mong manh nhất là giọt sương, đọng lại. Qua quặng lọc phôi phai ấy, nổi lên long lanh vẻ trường cửu. Cảm xúc về thời gian đẹp và lạc quan. Đêm tàn rồi lại bình minh…

    đếm ngàn sông trên tay

    tay dài thêm viễn xứ

    phím nâu vĩ cầm lay

    phím trắng dương cầm nở

    tĩnh vật ướt lưng ngày… (bài 34)

    Trong bức tranh tĩnh vật này, có một điều lay động, nỗi lòng kẻ ly hương, đổi màu theo tâm chuyển.

    đếm thời gian trên trán

    trán châu thơm quê nhà

    và thơm lâu quê quán

    tình rất sâu rất xa

    rất xa ôi rất xa… (bài 35)

    Hỏi. Trán Ai thơm mầu quê cũ, mà để người nhìn thấy những vết nhăn quê nhà xa xôi chờ ngày hợp phố, không rất xa đâu tình ơi…

    đếm thời gian trên mộ

    mộ cha giữa chiều hồng

    chiều ôm trùm tấc cỏ

    cỏ ôm trùm thinh không

    chiều hồng ơi chiều hồng… (bài 36)

    Huyết cha nhuộm buổi chiều, thinh không mộ cỏ. Âm dương thê lương đến thế đối với cả người dưới mộ lẫn đứa con đứng gọi chiều, từng chiều…chiều hồng ơi chiều hồng, bạn nghe đó là tiếng gọi đầy nước mắt của đứa bé nhớ cha, hay tiếng bình thản của kẻ đã trôi qua vô tận nỗi đau?

    câu thơ xưa yểu mệnh

    chết trong vườn mưa xanh

    chim quyên về ướt cánh

    ta ôm mộng đái dầm

    rùng mình la thất thanh… (bài 37)

    Tứ đi đâu để câu thơ chết yểu, cho người thơ kêu thất thanh trong mộng vậy? Mỉm cười đọc câu 4, nghe nói rằng Tâm bất tịnh… Nhưng mà hình như ông biết hết mà giả bộ đấy ư, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ? và, la thất thanh…

    câu thơ nay kiên khổ

    lì đòn chờ âm rung

    chờ nát tan tri ngộ

    chờ ngất gió loạn bùng

    một cú nhảy sau cùng… (bài 38)

    Trước khi đi thạo, phải bước chập chững, muốn đi tới cuối đường, phải gian truân một con đường, muốn xong một bài thơ, thì đã nếm mùi khổ nhẫn, đã bao lần mấy bận lắng nghe tiếng rung của âm để mà giao hoà tâm mình với nó… Con châu chấu trong một buổi mai, bật lên cú nhẩy ngát xanh mầu cỏ sau một đêm-thiên thu-? A! Một cú nhảy sau cùng!

    câu thơ soi chín vía

    cho ý nhớ mười đời

    chữ căng âm ngóng đợi

    gần gụi với xa vời

    rồi thôi thơ đi chơi… (bài 39)

    Nghe như sinh mệnh Thơ là bản mệnh mình… Thơ hay Ta đi chơi? Như tôi, thì tôi thích, trao thân gửi phận cho Thơ xong thì ta đi chơi. Xin lỗi nhé Nhà Thơ, rượu thơ có khi quá chén…

    câu thơ tươm lửa biếc

    xanh trí não ngàn thâu

    ta ngồi xâu ly biệt

    mỗi kiếp một nếp chau

    một hai ba… xâu mau… (bài 42)

    Chuỗi ly biệt này dài tới đâu thì giáp vòng? Muôn muôn cứ chia tay mãi ư?

    câu thơ tươm muối mặn

    đời húng hắng gừng cay

    ta sớt thêm mật đắng

    hòa chung một chén đầy

    dzô dzô dzô dzỗ tay… (bài 43)

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau(cd). Thơ lại hoà thêm mầu sắc cho keo sơn hơn ly rượu đời chăng.

    câu thơ tươm lệ nến

    nến trắng gió tê nhòa

    phong cầm lòa sóng biển

    nến đỏ bóng ai qua

    huyết khô trong bao la… (bài 45)

    Từ bài 38 đến 45, và cả dòng thơ NLV nữa, làm liên tưởng đến câu của người xưa, Thi dĩ ngôn chí, và Phùng Khắc Khoan cũng đã phân tích rất rõ Chí để tìm hiểu về Thơ. “chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thì làm ra điệu thơ ai oán.” Dòng thơ NLV toát ra cái tịch mịch cô liêu, âm cười máu lệ, âm khóc hồn nhiên, tạm dựa vào quan điểm trên, tôi thấy, Chí ấy là ở đạo đức, ở rừng sâu u tịch, ở nỗi kiên khổ chịu đựng, nên lời thơ vừa u tịch vừa hoá giải những oan thù. Chữ ghìm trong tiếng nấc. Dại khờ mong gặp lại. dzô dzô dzô dzỗ tay. Rơi rơi rơi chiều tà. Huyết khô trong bao la. Chẳng phải Thơ nói Chí sao?!

    mười ba năm xa xứ

    ư hử một mình ên

    lái xe trên xa lộ

    cái nhớ khều cái quên

    cái xe như cái mộ… (bài 48)

    Nghe nói thời của ông, con người ta mở mắt ra là ở trong xe hơi, lăn hoài trên xa lộ. Ui, khổ quá cái văn minh, ngồi trên lưng hạc lưng lừa như người xưa, hay như thi sĩ đại ca Bùi Giáng bỏ thành thị về cưỡi bò khắp lũng đồi không phải thanh thơi hơn sao. Liên tưởng cái xe như cái mộ thật bất ngờ và nổi gai ốc cho văn minh cơ khí…

    mười ba năm xa xứ

    xa mãi có mong gì

    ngày về xa tắp lự

    thôi cứ niệm mâu ni

    và niệm em nữa chứ… (bài 54)

    Trong mười ba năm xa xứ, có một phùa hộ mệnh này: mẹ dặn nhìn chiếc nhẫn/ thấy chữ nhẫn rõ to/ quỳ lạy mẹ đừng lo… (bài 53) Thế thì có gì phải sợ đời hừ hư hứ hự nữa. Thôi cứ niệm mâu ni trên đường dài về cố xứ. Nguyễn Nhược Pháp chả bảo cứ cầu Quan Thế Âm Bồ Tát/ là tha hồ đi mau, đấy ư. Cũng có thể niệm gì mà riêng nhà thơ thấy linh ứng, cũng được: niệm em cho tận ý/ ý quên lời quên câu…(bài 61)

    niệm ma-ta một niệm

    tẩm liệm một âm quen

    mận cũng vừa mới chín

    thu cũng vừa mới nhen

    bén lên một ngọn đèn… (bài 62)

    Phất phất phơ phơ, tưởng niệm lắm tạp niệm, nhưng ngồi đó, một đêm, bén một ngọn đèn mà, ngàn thâu. Kết mênh mang.

    Chơi một giấc ngủ vùi/ gọn một đời mọn bé (bài 64) chơi một giấc mất tích/ đời kiếm hoài chẳng ra (65), để rồi tất cả đều tỉnh ra một cơn điên:

    đất điên theo kiểu đất

    trời điên theo kiểu trời

    phật điên theo kiểu phật

    mang cái thân con người

    nên điên theo kiểu phật… (bài 66)

    Chỉ có đó là mái che và bến đỗ thôi. Để mà quên sạch sẽ khổ đau…

    ta vẫn điên giản dị

    nhẩm thơ cất trong đầu

    lâu lâu rót một xị

    mời quí vị ngàn thâu

    sáng ra quên rất mau… (bài 71)

    Cứ mỗi năm NLV rót một xị. Từ Âm Vang và Sắc Mầu đến tập thơ mới nhất này là tập thơ thứ 8. Một xị thành một biển muôn trùng ơ hay!…

    quên rất mau để đón

    câu thơ khác trong đời

    ý thiêng ta bắt gọn

    tình sâu ta tóm rồi

    lại cất trong đầu thôi… (bài 72)

    Cảm thấy người thơ đã chứng được cho mình -Thơ- trên con đường tu thơ, mới đầu là khổ hạnh, để cho nỗi đau xé mình nghìn tiếng nghìn câu, rồi điên mà tung hứng nỗi niềm, để biết rằng trong điên thơ ấy đã thấy được lung linh ý thiêng. Chí thành thì chứng ngộ.

    rồi ra trong ly biệt

    chẳng biết phải làm gì

    đời vẫn trôi biêng biếc

    mây vẫn bay rù rì

    rằng thì đâu có chi… (bài 73)

    Vô vi!

    có chi đâu có đặng

    gặn hỏi nói không đành

    rằng thì là thinh vắng

    sống là chết long lanh

    nói thiệt đừng có hoảng… (bài 74)

    Chết là hết hay chuyển sang một kiếp sống khác. Chết là giai đoạn cuối của vòng Sinh Trụ Hoại Diệt? Nhưng người thơ này đã đồng hoá sinh-tử tếu thế, nói thiệt đừng có hoảng… Làm như tất cả đều đùa thôi. Nhớ người đàn bà quạt mộ của Trang Tử.

    chỉ có hơi tiêng tiếc

    trần gian một tỉ vui

    người-ma ngu ác liệt

    ma-người ngu sặc sùi

    ma-ta ngu điếc đui… (bài 75)

    Ha! Đây là người nằm dưới mộ mà người đàn bà đang quạt cho cỏ xanh đây, phải không. Trời ngoài kia có chút nắng lên rồi, như cuối con ngõ quanh co có người vừa nói chia tay… Để gặp nhiều bóng độc hành:

    một ba bảy cũng liều

    như cô kiều ông giáng*

    đứt ruột với lòi phèo

    thì trời kia mới ngán

    tài với mệnh cái veo… (bài 77)

    (*cô kiều: trong“truyện kiều” của nguyễn du. *thi sĩ bùi giáng)

    không chờ không mong đợi

    hàn mặc tử ca xang

    tình quê bay diệu vợi

    tung ánh biếc lừng vang

    đất trời tươm lộc mới… (bài 81)

    không ồn không kể lể

    ta khỏa nước chân cầu

    ôn như hầu nhắc khẽ*

    cổ độ trơ từ lâu

    đừng hỏi nữa vì đâu… (bài 82)

     (*Ôn Như Hầu: Nguyễn Gia Thiều, tác giả “cung oán ngâm khúc.”)

    không hỏi không cần biết

    thức đếm nhịp xưa sau

    trí lang thang náo nhiệt

    óc trắng muốt trắng phau

    hít một hơi thật sâu… (bài 83)

    Thu sẽ héo và Đông rồi cũng sẽ tàn. Bước lại khởi xanh đi… từ những tàn lụi. Lừng hương sương. Em nở bông. Tung ánh biếc. Đất trời tươm lộc mới. Bánh xe ấy lại bắt đầu lăn, ở một khởi đầu mới óc trắng muốt. hít một hơi thật sâu nhè nhẹ như vừa hớp một chén trà cúng. Nhan ơi ba năm lẻ…

    thương câu thơ kín kẽ

    thương bạn đã về trời

    nhan ơi ba năm lẻ

    ba câu lục bát phơi

    nắng chiêm bao ngời ngời… (bài 88)

    thương câu thơ bạt mạng

    chết xanh theo điêu linh

    chết xanh theo khốn nạn

    ảo hóa bóng soi hình

    bấy nay ta động kinh… (bài 90)

    Nghe trong những câu thơ này có hương của âm dương giao hoà. Một xâu hệ luỵ của kiếp người nhấp nhô ảo hoá trong cái bất tỉnh của cơn động kinh. Có phải đang xướng hoạ cùng Quỷ Thi đó không, ông Nguyễn Lương Vỵ?!

    bấy nay ta ngáp vặt

    gặp những ý tro bay

    ý chớp tắt réo rắt

    lời chưa bưa khôn khuây

    thơ bảo tu tức khắc… (bài 91)

    Ngáp vặt, ý tro. Nghĩ rằng tu cũng đã bưa rồi. tu thơ là tu chữ (bài 92) tu thơ là tu hú/ hú làm sao cho lâu (bài 93)

    buông thơ ư tội lắm

    đời mồ côi đã lâu

    đời cuồng mê đã khẳm

    gói ghém gửi sơ đầu

    hy vọng còn gặp nhau… (bài 96)

    Tôi biết người tu này không bỏ đạo đâu. Điện Thơ một trái tim đập như thế. Xuân Hạ Thu Đông rồi Xuân, còn gặp nhau mà…

    Đi suốt quãng đường tu thơ. Mỗi người tu có riêng tự chứng tự nội. Có thể là tôi không kinh nghiệm về giai điệu huyết lệ NLV, nhưng tôi tan theo cảm xúc bổng trầm của chữ thơ, tứ thơ, bởi âm vang động của một tâm hồn cô độc trên con đường thăm thẳm về với cõi có-không này.

    Tính giã từ cõi mưa bay, bỗng chợt nhớ, hỏi, sao là ngũ ngôn ngũ tuyệt? Ông bạn nhà thơ mỉm cười, ngũ hành ngũ uẩn… Nếu nói tiếp về những phạm trù ấy ắt là mùa thu sẽ qua đi, và Đông lại ngâm tuyết thi nữa chăng…

    Gượm thêm một lời, thường nói dài mà nói được, đã là đáng nể, nói dài nói hay thì bậc cao thủ, nói ít mà cô đọng, và hay nữa thì, bậc thượng thừa, không nói chỉ cần cầm cành hoa để khai thị, thì chỉ có Phật.

    Cũng giống như Hài Cú của Nhật, thường nói những chuyện như là trước mắt, tưởng là vu vơ, đơn sơ bé mọn, mà khi đọc thốt giật mình vì cái tình ý sâu kín của nó. năm câu năm chữ hiện/ năm âm gieo bốn lần/ một lần cuối chết điếng/ vì bốn lần sẩy chân/ bấn loạn hết tâm thần… (bài 99), đúng vậy, làm thể thơ này, giống như đi trên một sợi dây. Rớt nát tan hay vút bay cao là tùy cái giá đỡ của “câu tuyệt” nắm sinh mệnh bài thơ. Nên, câu kết là lợi hại nhất. Kết đóng hoặc mở (như tôi đã nói ở trên). Và, yếu tố bất ngờ. Ở chữ lẫn tứ. Chính yếu tố bất ngờ này tạo nên ấn tượng. Nếu không có, thì bài thơ coi như, nói nôm na là trớt wuốc. Và trăm bài này của NLV dường như đều làm một cú nhẩy sau cùng của tuyệt, tuyệt là tuyệt tròn trặn, hay tuyệt là cắt ngang như vết cắt quyết liệt, đều vi diệu cả…

    năm chữ năm câu gọi

    ta thức gõ phím đen

    phím quen hơi quen chữ

    chữ quen ta quen đèn

    đèn quen thơ ngất ngứ… (bài 100)

    Vậy, thơ lúc này, đi đâu, ở đâu, thế nào, bén những duyên nợ nào khác hay là, có phải sẽ trở về bước đầu, Nhìn trong thơ thấy đạo/ Nhìn trong đạo thấy thơ?

    Còn tôi, vẫn ở cõi đất mưa thu này, sẽ lay lay áo ông Lão Tử giảng cho nghe chút nghĩa xuyên suốt…

    Phố xá ngoài kia người ta đang lao xao Tết …

    Nguyễn Thị Khánh Mai

    Santa Ana, 11/2013

    Hai bài này đã in trong tập Lang thang nghìn dặm, NXB Sống, 2017

    tranthinguyetmai.wordpress.com/2020/11/04/

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,065,584

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/