Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,816,840

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Chia tay trên sông Mississippi/ Marrakech chợ đêm và nhạc Trịnh/ Dưới bóng tượng nhân sư

Phan Quang

  • Thứ ba, 14:25 Ngày 28/07/2020
  • CHIA TAY TRÊN SÔNG MISSISSIPPI

    NHẠC CHIỀU HOLLYWOOD

    ĐẦU HÈ ở Los Angeles, nắng rực rỡ nhưng không khí còn mát rượi, hơi se lạnh nữa là khác. Về chiều, gió Thái Bình Dương lồng lộng.

    Quá mệt mỏi sau một chuyến bay dài, bực bội vì sự chờ đợi quá lâu để làm thủ tục nhập cảnh quá phiền hà, về tới khách sạn tôi đã muốn đi nghỉ ngay. Lúc này là ba giờ sáng ở Hà Nội. Nhưng khi nghe một người bạn xướng lên: “Đi chơi Hollywood đi, đã thuê được một chiếc xe”, tự nhiên tôi cảm thấy hưng phấn.

    Sao lại không? Hôm nay là thứ bảy, sáng ngày kia tôi đã phải bay đi Washington D.C. sớm, rồi sẽ trở về Việt Nam bằng đường khác, biết bao giờ có dịp trở lại đây? Đại lộ Hollywood đây rồi, con đường nổi tiếng của một thị trấn nổi tiếng thế giới, nơi mà đầu thế kỷ này vẫn còn là khu rừng rặt một loại cây gai, cây holly.

    Bắt chước những người khách du lịch khác - rất đông từ mọi nơi đến, trang phục đủ kiểu - chúng tôi thả bộ trên vỉa hè khảm hình những ngôi sao năm cánh mang tên những siêu sao. Một ngôi sao là một họ tên, kèm thêm là một biểu tượng: cái micrô nếu là ca sĩ, màn ảnh nhỏ nếu là diễn viên, chiếc camera nếu là nhà quay phim hay đạo diễn… Chừng ấy thôi đủ nói lên những gì cần nói đối với những người ngưỡng mộ.

    - Lúc đầu chỉ có sao dành cho những người quá cố. Nay thì đã có đủ tên những người đang còn sống. Đã có đến hai nghìn năm trăm ngôi sao, nhưng con đường này vẫn còn đủ chỗ cho nhiều nhiều sao nữa sẽ xuất hiện - anh bạn cùng đi giới thiệu.

    - Chắc là có một ngôi sao đang chờ anh - tôi nói vui.

    Cũng giống như mọi điểm du lịch lừng danh khác trên thế giới, hầu hết những người kia đều từ những nơi khác đến, kẻ ngược người xuôi, mọi thứ đối với mọi người đều lạ lẫm. Không ai hỏi ai, có hỏi cũng vô ích thôi, vì chẳng ai biết nhiều hơn ai. Nếu cần thì mở bản đồ hoặc sách hướng dẫn du lịch ra tra cứu, để biết chỗ ta đang đứng đây là đâu, và cái kia là cái gì.

    Bắt chước mọi người, chúng tôi đi ngược đi xuôi, ngó nghiêng, chụp vài tấm ảnh. Anh bạn gợi ý: “Ta sang bên kia đường giải khát đi”.

    Tôi nhìn lên. Một ngôi nhà không có vẻ gì là đồ sộ kiểu Mỹ, kiến trúc lối cổ (hoặc giả cổ), vắt ngang trên cổng là tấm bảng gỗ hình cánh cung với dòng chữ chân phương: Hollywood Roosevelt Hotel. Cái tên cũng gợi cảm đấy chứ.

    Người đầu tiên đón chúng tôi sau cánh cổng là vua hề Charlot. Vâng, đúng là Charlie Chaplin đầu đội mũ quả dưa, tay chống can, chân xỏ đôi giày to tướng, đang ngồi đầu chiếc ghế dài. Ông nheo mắt như mời chào khách ngồi xuống cạnh, để làm một “pô” ảnh kỷ niệm chơi.

    Chúng tôi rẽ sang trái, vào quán giải khát ở ngay tầng trệt.

    Quang cảnh trong quán, ngược hẳn bên ngoài, không một chút gì hài hước, hơn nữa còn khá nghiêm trang khiến chúng tôi bất giác bước nhẹ chân.

    Ánh sáng mờ. Tiếng nhạc dặt dìu. Phòng rộng thênh thang mà khách chỉ khoảng vài mươi - chắc chưa tới giờ cao điểm. Từng đôi, từng đôi ngồi nhấm nháp ly rượu hoặc cốc cà phê, phần lớn là những người đứng tuổi. Cũng có bàn gồm cả gia đình với trẻ con, nhưng các cháu cũng không đùa nghịch mà lặng yên uống nước ngọt và lắc lư theo tiếng nhạc.

    Trên bục - một dàn tứ tấu: một piano, một cây saxo, một chiếc cello, và một bộ trống. Người dắt dẫn chương trình mặc comlê đen nghiêm chỉnh, và bộ râu của ông trông cũng có vẻ cổ điển, giới thiệu nghệ sĩ và tiết mục. Vỗ tay, không nồng nhiệt lắm nhưng cũng đủ lịch sự.

    Tiếng saxo nổi lên đầm ấm rồi sôi nổi. Rồi chính người giới thiệu bước ra, tay cầm một chiếc sáo hòa theo.

    Bên kia bức tường là đại lộ ồn ào và xô bồ. Nước Mỹ giàu có, sôi động, vội vàng. Bên này, trong quán rượu là chiều yên tĩnh, với âm nhạc và ly cà phê - tiếc là cà phê express. Đúng là Hoa Kỳ, cái gì cũng pha trộn. Tự nhiên tôi ước có một cái phin để mà nhìn từng giọt từng giọt đen từ từ nhỏ xuống.

    Gần tối, trở về Los trên chiếc xe Lincoln sang trọng thuê ngày, chạy bồng bềnh như chiếc thuyền qua khu Beverly Hill. Trên lưng chừng đồi kia là những biệt thự lộng lẫy đủ kiểu đủ dáng thấp thoáng sau các vườn cây và thảm cỏ. Đây là nơi ở của các triệu phú phất lên nhờ Hollywood.

    Đường vắng teo với những hàng cây đinh hương, mùa này nở hoa tím ngát, trùm hết cành như những bó hoa khổng lồ. Nghe nói đường này trông vắng vẻ thế kia nhưng có nhiều cảnh sát lắm, nhất là cảnh sát chìm. Ai đi lại ngó nghiêng sẽ bị để ý ngay. Người ta khuyên đã đến khu phố này thì phải ăn mặc sang trọng, ít ra cũng có bộ quần áo thể thao đắt tiền. Được hiểu là anh đang luyện tập môn chạy chậm jogging, và cũng có nghĩa là ít nhất anh mặc nhiên được coi như một người thuộc lớp trung lưu trở lên.

    Chắc là để phục vụ các triệu phú siêu sao, hai bên đại lộ Rodeo san sát những cửa hàng may mặc, mỹ phẩm lừng danh: Pierre Cardin, Cartier, Channel, Valentino… Anh bạn hỏi: “Có muốn ghé xem không?”.

    Tôi nhún vai. Đấy không phải là nơi dành cho chúng ta.

    Hoàng hôn trên vịnh Santa Monica. Trước mặt là Thái Bình Dương. Bên kia mênh mông, một nơi nào đó là bờ biển nước ta, dĩ nhiên ở một vĩ độ thấp hơn nhiều.

    Trong một cửa hàng hải sản ở đại lộ mang tên đại dương, Ocean Avenue, chúng tôi dùng món cua lột rang muối. Chợt nhớ quê, dù mới đi có mấy ngày. Chợt muốn ngồi ở một nơi nào đó bên kia bờ đại dương gặm chiếc càng cua với lon bia sản xuất tại Việt Nam.

    Ngồi cùng bàn với tôi là một người bạn Úc, gốc Nam Tư. Cô chạy bàn to lớn với bộ ngực đồ sộ kia tự giới thiệu mình là người Thổ Nhĩ Kỳ. Món cua cũng tàm tạm. Vang trắng Cali thì thật ngon. “Dù sao cũng không bằng ở Việt Nam”.

    Câu ấy thốt ra không phải từ miệng một người trong đoàn chúng tôi, mà từ anh bạn Úc đã sống nhiều năm tại thành phố Hồ Chí Minh.

    NIỀM TỰ HÀO CỦA VĂN HỌC MỸ

    Qua thành phố Hannibal, nhìn thấy những tấm bảng lớn chỉ đường và quảng cáo: đại lộ Mac Tuên, bảo tàng Mac Tuên, hang động Mac Tuên, khách sạn Mac Tuên…, tôi thảng thốt:

    - Quê Mac Tuên ở đây sao?

    Anh bạn Mỹ giải thích:

    - Mac Tuên không sinh ra ở Hannibal. Nhưng thời niên thiếu, ông ở đây. Và như anh biết đấy, thành phố Hannibal, những hang động, con sông Mississippi kia đều đã được nhà văn tái tạo qua những tác phẩm nổi tiếng: Truyện phiêu lưu của Hấc Phin, Tôm Sôi-ơ, Cuộc sống trên sông Mississippi…

    Tôi nhớ ra rồi. Đã ba mươi lăm năm qua, kể từ lần đầu tôi đọc Mac Tuên; nhiều chi tiết đã phai mờ trong ký ức, nhưng ấn tượng về câu chuyện nhất là hơi văn còn đọng lại đậm nét trong tôi.

    Hồi ấy chúng ta chưa biết nhiều về những nhà văn đương đại Mỹ. Đến với độc giả Việt Nam trước hết là những tác giả cổ điển: Mac Tuên với Truyện phiêu lưu…, J. Lơnđơn với Gót sắt, v.v… Quả là Mac Tuên mang tới một luồng gió lạ.

    Bởi vậy cho dù thời gian hạn hẹp, chương trình đã được hoạch định trước từng giờ - đúng như lối làm ăn của người Mỹ - nhưng làm sao đã đến được bên bờ sông Mississippi mà có thể không viếng thăm khu lưu niệm Mac Tuên, nhà văn vốn là niềm tự hào của bang Missouri và của cả nước Mỹ, người được đánh giá là “Nhà văn Mỹ được nhiều người biết đến nhất trên thế giới”?

    Người Mỹ biết cách giữ gìn, tái tạo tất cả. Họ có đủ tiền để làm việc ấy. Những hang động mà Tôm Sôi-ơ cùng bạn mình thám hiểm, nay trở thành một khu du lịch lớn. Nhà cô bạn gái của Tôm, Becky Thatcher - tên thật trong đời là Laura Hawkins - ở bên kia đường phố. Nhà Hấc Phin - tên thật là Tom Blankenship - sát sau nhà Mac Tuên. Văn phòng của thân phụ nhà văn, nhìn qua cửa sổ còn thấy được y nguyên bộ sách luật dày cộp, mấy chiếc bút lông ngỗng, đôi kính lão gọng kim loại và cả vò rượu whisky. Và trang trọng ở lưng chừng đồi là tượng đôi bạn thân Tôm Sôi-ơ và Hấc Phin, mà người Mỹ kiêu hãnh cho là “pho tượng duy nhất trên thế giới về những nhân vật hư cấu”.

    Lúc ấy đã gần sáu giờ chiều. Bà trông nom nhà bảo tàng chuẩn bị ra về thì chúng tôi tới. Anh bạn Mỹ xin bà cho phép người bạn từ Việt Nam đến được viếng nhà văn trong mươi phút, dù chúng tôi biết đã hết giờ. Bà niềm nở:

    - Việt Nam ư? Hoan nghênh. Xin mời.

    Rồi bà quay sang hỏi tôi:

    - Ở Việt Nam cũng biết Mac Tuên sao?

    Tôi hơi tự ái:

    - Sao lại không? Chúng tôi đã dịch ra tiếng Việt và in Mac Tuên vào đầu những năm Sáu mươi.

    Sự ngạc nhiên của bà làm tôi vui. Bất giác hưng phấn, tôi khoe như trẻ con:

    - Người đầu tiên dịch Hấc Phin là một người bạn của tôi. Tên ông ta là Xuân Oanh.

    Cuộc đời Mac Tuên được người Mỹ coi như một hiện tượng hiếm thấy. Ông ra đời năm 1835 ở thị trấn Clemens, năm sao chổi Halley xuất hiện. Và ông mất năm 1910, bảy mươi lăm năm sau, đúng chu kỳ sao Halley trở lại. Một ngôi sao xuất hiện và ra đi trên văn đàn hồi ấy còn thưa thớt của văn học Mỹ.

    Thời niên thiếu của Mac Tuên gắn liền với cuộc đời sông nước của những người sống dựa vào con sông lớn, và sau này được ông mô tả rất thành công trong nhiều tác phẩm với văn phong độc đáo. Thời đại Mac Tuên là thời đại người bốn phương xô vào khai thác lục địa mới, thời kỳ mở những tuyến đường sắt về hướng tây, thời những cuộc nhập cư ồ ạt, những vụ lăn xả đi tìm vàng… Đó là thời kỳ định hình nước Mỹ ngày nay.

    CHỊ JULIE

    Giao thông ở Mỹ dĩ nhiên là hiện đại. Song sự đi lại trong nước cũng không phải tiện nghi lắm như tôi tưởng lúc đầu. Cũng dễ hiểu thôi. Hoa Kỳ là cả một lục địa trải rộng từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, cách nhau những bốn múi giờ mà.

    Nơi tôi đến là một thành phố nhỏ thuộc bang Illinois cách Washington1 hơn ba giờ bay về phía tây. Quincy cách đây hai trăm năm mươi năm đã có những người Đức đến lập nghiệp, và nay là một trung tâm công nghiệp thông tin hiện đại. Nhưng sân bay gần nhất cũng ở tận thành phố St. Louis thuộc bang Missouri, cách gần ba trăm cây số. Thành thử chúng tôi buộc phải đáp xuống St. Louis rồi đi xe hơi theo tả ngạn sông Mississippi ngược lên hướng Bắc, qua sông để vào địa phận Illinois.

    Đây là những bang nằm sâu trong nội địa Hoa Kỳ với những cánh đồng ngô và đỗ tương bạt ngàn. Con sông Mississippi vẫn còn giữ được vẻ hoang dã và cũng còn hung dữ lắm. Cách đây bốn hoặc năm năm, có dâng lên một trận lũ cực lớn, tràn ngập nhiều cánh đồng và thị trấn, thiệt hại đến nay vẫn chưa khắc phục được hết. Khí hậu rất lạnh vào mùa đông và rất nóng về mùa hè. Trở lại Việt Nam nghe đài phát thanh, tôi được biết thành phố Chicago, cũng thuộc bang Illinois này, năm nay có những đợt nắng dữ dội khiến mấy trăm người chết nóng. Ấy thế mà chị Julie, người Việt Nam duy nhất ở thành phố Quincy cho biết:

    - Mùa đông lạnh lắm. Con sông này đông thành đá, có thể đi trên mặt được.

    Sợ tôi không tin, chị nói thêm, giọng Nam Bộ ngập ngừng thỉnh thoảng xen vào một tiếng Mỹ:

    - Lạnh lắm ạ. Nếu anh sang đây vào January (tháng một dương lịch) thì con sông này thành đá. Ở nhà, một tảng thịt mang để outside (ngoài trời) sáng ra đông cứng.

    Chị Julie theo chồng về Mỹ từ những năm trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Anh là một chuyên gia lắp đặt máy thông tin. Anh làm việc cho Đài truyền hình Sài Gòn, sau đó chuyển sang làm cho phát thanh. Anh đã tham gia lắp đặt mấy đài phát sóng tương đối lớn hồi ấy ở Nha Trang và Đà Nẵng.

    - Anh phục vụ trong quân đội Mỹ? – Tôi hỏi.

    - Không, chưa bao giờ. – Chị Julie đáp thay anh.

    Tôi hiểu chị Julie có mặc cảm. Vâng, anh chỉ là một chuyên gia dân sự. Tháng tới, một hãng Mỹ sẽ thuê anh sang lắp đặt máy phát xạ ta mua của họ để tăng công suất đài khu vực miền Trung của ta.

    Thoạt gặp, chị Julie chào tôi bằng tiếng Anh. Tôi nói tiếng Việt, vì tôi hiểu chị xa quê lúc đã lấy chồng, không dễ gì quên tiếng mẹ đẻ. Cười ngượng nghịu:

    - Ở thành phố này, có một mình tôi là người Việt. Quanh năm suốt tháng không nói chuyện với ai, đâm ra mắc cỡ. Trước đây ở Washington còn có bạn.

    - Sao chị về đây? Quê anh ấy à? Sao không ở Cali chẳng hạn cho có đông người Việt mình?

    - Tại công chuyện của ảnh. Hơn nữa ở Cali mắc lắm, cái gì cũng mắc, nhất là nhà ở gấp ba lần ở đây, đâu có chịu nổi. Ở Quincy thì buồn nhưng tôi kiếm được việc làm. Ở đây chúng tôi đã có nhà riêng. Ở Cali chắc khó.

    Chị mang ảnh gia đình ra cho tôi xem. Ngôi nhà xinh xắn, có vườn cây. Cậu con trai, sinh ở Sài Gòn, đang học đại học y, năm thứ năm. Cậu vừa cưới vợ đầu năm nay.

    - Còn hai năm nữa mới ra trường. – Chị Julie cười – Nhưng ở xứ này, nghề thầy thuốc dễ kiếm tiền lắm. Chỉ kém nghề chữa răng.

    Chị còn có một cô con gái nữa, đang học sư phạm, sẽ làm cô giáo Anh văn.

    - Chồng tôi tốt. Các cháu ngoan. Nhưng buồn lắm, anh. Muốn ăn một bữa bánh cuốn, phải lái xe đi ba tiếng mới mua được. Nhưng mình chịu khó chiều chồng con mà. Anh ấy và tụi nhỏ rất thích món ăn Việt Nam.

    CHIA TAY TRÊN SÔNG

    Các bạn Mỹ có nhã ý tổ chức bữa chia tay chúng tôi trên sông Mississippi vào hoàng hôn. (Có vẻ Đường thi quá, tôi nghĩ thầm). Và như tôi dự đoán, trên một chiếc tàu du lịch không thể không mang tên Mac Tuên. Và bến tàu, dứt khoát không đâu khác ngoài thành phố Hannibal của Mac Tuên.

    Bữa ăn trên tàu, có ban nhạc sống, có ca sĩ. Bàn ghế lịch sự. Nhưng khách tự phục vụ. Các cô hầu bàn chỉ lo thức uống và dọn đi những thứ đã dùng xong, sau đó dọn bớt các bàn, để ai muốn khiêu vũ thì xin mời. Ai không thích nhảy thì lên boong, ăn kem, uống bia hoặc ly rượu mạnh, ngắm cảnh hoàng hôn. Vào lúc trời chập choạng trên sông Mississippi, thật là kỳ vĩ. Con sông lớn, có nơi rộng tới hai dặm Anh, chảy từ bắc xuống nam. Phụ lưu chính của nó, sông Missouri, cũng to lớn và dữ dằn không kém. Sông Mississippi tạo nên cả một bang đất đai màu mỡ mang tên nó. Hai bên sông là rừng cây bạt ngàn. Dòng nước chảy xiết. Có những cây gục xuống lòng sông. Có những cây trốc gốc – chắc là do ảnh hưởng của lũ. Sóng nước rập rình. Rừng sẫm lại trong đêm, hoang vu, huyền bí. Thỉnh thoảng gặp một chiếc tàu chạy ngược chiều, hai bên kéo còi chào nhau. Tôi có cảm giác như đang đi tàu trên sông Cái Lớn từ Năm Căn ra Đất Mũi, nhưng ở đây rừng cây, sông nước, không gian lớn hơn nhiều lần.

    Từ mặt sông không trông thấy ánh điện thành phố. Chỉ có đêm sẫm, rừng đen. Nhưng tôi tự nhủ: đừng để ấn tượng này đánh lừa. Bởi vì sang bờ sông bên kia, ngược lên phía bắc, ta sẽ gặp thành phố công nghiệp Chicago. Sân bay thành phố này mỗi ngày lên xuống hai nghìn năm trăm chuyến bay.

    Thật khó mà hiểu được sự đa dạng của nước Mỹ. Huống hồ những người chỉ lướt qua một mẩu đường như chúng tôi.

    Người ta thường nói Hoa Kỳ không có truyền thống lịch sử, vì lập quốc muộn màng. Điều hiển nhiên là - và riêng tôi có cảm giác khá rõ về điểm này - quá khứ của Mỹ mang dấu ấn các nền văn hóa khác. Chẳng hạn ở thành phố Quincy nhỏ bé (năm vạn dân), có một khu nhiều biệt thự kiến trúc Đức, tọa lạc trong những vườn cây cổ kính và những thảm cỏ sang trọng. Cách đây hơn hai thế kỷ một cộng đồng người Đức từ châu Âu sang lập nghiệp ở đây. Còn ở Alexandria cạnh thủ đô Washington DC bên bờ sông Potomac, lại có những khu phố dáng dấp Anh với những ngôi nhà xây bằng gạch mộc gần như màu huyết dụ. Tôi chưa tận mắt thấy nhiều, song các bạn Mỹ kể cho nghe rất nhiều thí dụ đại khái như vậy.

    Và cũng hiển nhiên là đã và đang diễn ra quá trình thích ứng. Trong chuyến đi, tôi có được các bạn mời đi các quán ăn Pháp. Cách nấu nướng cũng như cung cách phục vụ ở đây không giống các quán ở Paris hay một nơi nào khác trên đất Pháp. Ở San Francisco, có lần tôi vào tiệm ăn Tàu. Ông quản lý người Quảng Đông thấy chúng tôi nhìn nhau lắc đầu, thẳng thắn giải thích: “Ở đây chúng tôi làm món ăn Trung Hoa phục vụ khách hàng Mỹ. Do đó nó không hoàn toàn giống những món các ông dùng ở lục địa hoặc ở Đài Loan”.

    Tôi không rõ đó là một câu nói thực lòng hay là cách đưa đẩy lấy lòng khách. Dù sao tôi vẫn cảm thấy có thể đồng tình với ông.

    1995

    MARRAKECH: CHỢ ĐÊM VÀ NHẠC TRỊNH

    Chiếc máy bay B737-800 mới toanh của Hãng hàng không Hoàng gia Royal Air Maroc nhẹ nhàng cất cánh rời phi trường Orly ẩm ướt bay sang cố đô Marrakech. Mùa xuân Paris năm nay đến sớm, mới giữa tháng ba đã ấm áp như tháng tư thậm chí tháng năm mọi khi. Đài khí tượng báo thời tiết châu Âu cữ này đỏng đảnh, khi tạnh lúc mưa, và mấy ngày tới có thể có đợt gió lạnh tràn về. Dù sao hoa tuylip rực rỡ đã bày bán ê hề ở các hè phố, tuy giá cả đầu mùa có nhỉnh hơn bình thường chút ít. Chương trình Chào buổi sáng của Đài truyền hình France 2 giới thiệu cách giữ hoa tuylip tươi lâu trong bình. Chắc là tạo cớ để quảng cáo cho một giống hoa mới của Hà Lan, cánh hoa tuyền màu đỏ sâu đằm thắm, tên là King Blood - máu nhà vua. Tôi mỉm cười nghĩ tới câu ngạn ngữ quê hương “người trên đời ai chẳng đầu xanh máu đỏ”. Đã chắc gì máu nhà vua thắm hơn máu người dân thường.

    Máy bay đáp xuống phi trường sau ba giờ bay. Tôi đinh ninh đất nước Maroc ở rìa sa mạc, thời tiết sẽ nóng và khô. Không ngờ nhìn xuống thấy đường bay loang loáng ngập một lớp nước mỏng: trời vừa đổ trận mưa rào. Càng ngạc nhiên khi cô tiếp viên hàng không thông báo: nhiệt độ bên ngoài lúc này mười hai độ C. Sau mưa, hửng lên một vệt nắng quái trước khi hoàng hôn trùm xuống thành phố, không ngăn nổi cơn gió lạnh tái tê.

    Marrakech là kinh đô của nước Maroc từ thế kỷ XI. Một thành phố với nhiều công trình tráng lệ, lắm du khách viếng thăm. Nằm xế chân rặng núi Atlas hùng vĩ, đỉnh và sườn núi quanh năm phủ tuyết trắng nổi danh từ thời thần thoại, thành phố Marrakech chia làm hai khu phân biệt. Khu phố cũ, gọi theo tiếng Arập Medina, là vương thành ngày trước, nay còn lại thành lũy xưa cùng nhiều chứng tích lịch sử. Khu Medina lưu giữ hồn dân tộc - một tờ báo Maroc viết văn hoa - cũng là khu bình dân sống động suốt ngày đêm. Các lâu đài, dinh thự cổ ẩn giữa những khu vườn mát rượi bốn mùa thơm mùi cây trái, làm bạn với nhà của thường dân, kiến trúc vuông vắn đơn điệu chẳng khác những cái hộp xây bằng gạch.

    Cách một thôi đường, xế về phía tây là khu phố mới Guéliz hình thành thời thuộc địa. Đường phố thẳng tắp, hầu hết các biệt thự đều có vườn cây. Hai đại lộ thênh thang, một mang tên vua Mohamed V, một mang tên nước Đại Pháp (Avenue de France) từ phía nam và tây nam chạy lên giao nhau ở đông bắc, tạo thành hai trục chính của khu phố sang trọng. Chốn này xưa kia dành riêng cho các quan cai trị và người Âu - có thể gọi nôm na mà chuẩn xác: khu phố tây. Guéliz nay nhấp nhô những biệt thự xinh xắn của các nhà doanh nghiệp giàu, người nước ngoài và một ít quan chức cao cấp. Riêng tại khu phố mới này đã tọa lạc mười khách sạn năm sao, cùng mười lăm cái nữa hạng bốn và ba sao, quây quần chung quanh một Trung tâm Hội nghị quốc tế bề thế. Bên khu phố cổ dĩ nhiên cũng có nhà nghỉ lộng lẫy, tuy nhiên phần lớn nơi trọ là những nhà khách với giá thuê phòng phải chăng dành cho người trong nước và khách du lịch phổ thông.

    Khách sạn tôi ở mang tên Kenzi Semiramis, không mấy xa một đại sảnh khác cùng họ: Kenzi Farah. Chỉ đọc cái tên đã có thể biết tập đoàn của nước nào đầu tư xây dựng những công trình ấy. Kenzi Semiramis xây giữa một khu vườn thênh thang xanh mượt cây ôliu, cây nguyệt quế, cây bách tán, cây hoa đại và nhiều cây cỏ nhiệt đới khác mang những cái tên thật lạ. Nét đặc trưng nhất là những khóm cọ dừa vươn lên trời cao. Những khóm cọ cổ thụ biệt lập, mỗi khóm dăm bảy cây dễ đến hai, ba mươi mét cao; vỏ nhăn nhúm nhưng thân vẫn thẳng đuột như cánh tay mạnh mẽ và gân guốc các cụ già suốt đời đẵn rừng bạt núi. Các tòa nhà lớn chỉ cao có ba tầng. Sảnh chờ, hành lang, phòng ốc tầng nào cũng hào phóng về không gian, tạo cảm giác thư giãn. Khách sạn Sofitel Plaza mới xây dựng, mà khuôn viên chạy dọc suốt một quãng dài ven đại lộ Pháp quốc kia, các công trình chính cũng chỉ cao ba, bốn tầng. Dường như không gian cho phép các nhà kiến trúc không phải quan tâm đến chiều cao. Đứng trong phòng ngủ ở tầng ba, nhìn ra vườn cây chỉ thấy cành và lá cây xanh, ngọn những cây bách tán, cây phi lao khuất đâu quá mái nhà. Chim chóc bay lượn, từ các cành cây sà xuống đậu trên những chiếc ăng ten parabôn. Khách không cần để đồng hồ báo thức; sáng sáng, tiếng chim líu lo ngoài vườn vọng vào đủ mời bạn nhẹ nhàng tỉnh giấc.

    Có thể nói không sợ rơi vào khuôn sáo, đất nước Bắc Phi này được thiên nhiên ưu đãi nhiều mặt. Một nước với ba ngàn năm trăm cây số bờ biển chạy dài từ nam Địa Trung Hải nối với đông Đại Tây Dương - điểm nối là eo biển Gilbraltar ngăn cách châu Âu và châu Phi rộng chưa đến mười lăm kilômét và nước sâu, kín gió, từ thượng cổ đã thuận lợi cho tàu bè thông thương qua lại. Một nước hai mươi bảy triệu dân mà có tới hai mươi bốn cảng biển, hai mươi bảy sân bay trong đó mười hai sân bay nối thẳng chuyến với nước ngoài. Dù không xa sa mạc, Maroc vẫn hưởng khí hậu ôn hòa nhờ hơi mát của hai biển cả, lại có rặng núi lớn Atlas chạy dọc đất nước từ đông bắc xuống tây nam chắn gió cát sa mạc Sahara. Hai mươi bảy triệu người sinh sống trên một diện tích rộng gấp hai lần rưỡi diện tích nước Việt Nam ta.

    Thành phố Marrakech từ thời cổ đại đã là một ốc đảo hiếu khách, chốn dừng chân thanh thản và an toàn cho các đoàn lữ hành sau những ngày vượt qua thảo nguyên bát ngát ở phía bắc hoặc từ sa mạc khô cằn phía đông lại. Marrakech nay là cố đô của vương triều, được coi như một thánh địa của người bản xứ, đồng thời là chốn vui chơi, làm ăn có nhiều cơ hội phát tài cho những người khá giả.

    Từ ốc đảo này, xưa kia các đoàn chiến binh Berbère xuất phát, cưỡi lạc đà đi sâu vào và làm mưa làm gió trên sa mạc Sahara. Đạo Hồi truyền đến đây đã hơn mười thế kỷ, để lại khắp nơi dấu ấn văn hóa Hồi giáo đậm đà. Các triều đại Amoravit năm 1970 xây dựng ốc đảo thành kinh đô của họ - đúng sáu mươi năm sau ngày vua Lý Cao Tổ ta xuống chiếu chọn Thăng Long làm kinh thành. Nhiều cung điện, thánh đường huy hoàng theo phong cách kiến trúc Hồi giáo chính thống được dựng nên. Sang thế kỷ XIII, nhằm ngăn ngừa các bộ tộc du mục từ phía đông nam đột nhập vào kinh thành, người ta bắt tay xây thành lũy cao bao quanh. Tường thành ấy được các triều đại sau nối tiếp nhau bồi đắp, cải tạo nhiều lần, đến nay vẫn bao quanh khu phố cổ. Từ ngoài vào nơi họp chợ cũ, phải đi qua cổng thành.

    Lịch sử bất kỳ ở đâu cũng là một chuỗi những biến động triền miên. Vương triều Amôhat thế chân triều đại Amoravit. Sau khi chiến thắng, nhà vua triệu các tướng lĩnh, đại thần, mời nhiều bậc minh triết cùng tụ hội lại và nêu câu hỏi: Nên chăng san bằng kinh thành cũ? Lời giải đúng đắn trong bối cảnh thời trung cổ: chỉ nên phá cung điện của vương triều đối địch và một số thánh đường thuộc giáo phái khác. Song chả nhẽ một kinh thành Hồi giáo thiếu vắng thánh đường? Thế là người ta cho xây dựng một khu thờ phụng đồ sộ, theo phong cách kiến trúc khác giản dị hơn, đến nay vẫn tồn tại gần như nguyên vẹn. Hồ nước rộng được tạo lập để làm dịu không khí. Cái tháp Kutubia hình bốn cạnh cao tới bảy mươi hai mét của thánh đường ấy là một kỳ quan đặc sắc của Marrakech. Tám trăm năm qua, sáng nào cũng như sáng nào từ ngọn tháp Kutubia ấy vọng khắp thành phố lời rao hối thúc tín đồ chớ quên cầu nguyện.

    Bước qua cổng thành, theo những con đường lát đá có hoa văn Arập đi sâu vào khu chợ, thấy cảnh quan khác hẳn bên khu phố Guéliz. Những ngôi nhà cũ kỹ. Những cửa sổ tàn tạ. Thức ăn và gia vị: hạt lạc, quả chà là, chanh tươi, bột cà ri, bột nghệ, bột quế bàng bạc hương thơm quyện lẫn mùi khai của nước tiểu người ta tự do tè ra đâu đó bên vỉa hè. Tất cả những thứ bà giằn ấy bày bán la liệt trên những cái khay nhựa đủ kích cỡ, tạo nên những bức tranh hội họa trừu tượng độc đáo dáng hình và màu sắc... Đường đi trong khu chợ ngoằn ngoèo. Thỉnh thoảng có một người cưỡi chiếc xe máy Mobylette cá xanh nổ phành phạch đột ngột xuất hiện và len lỏi giữa những lối đi chật: anh mang hàng đến bán. Ở những khúc đường rộng hơn một chút, có xe ngựa trang trí sặc sỡ chở khách du lịch nước ngoài, đôi khi ta gặp một chiếc xe hơi Peugeot cổ lỗ hoặc xe Citroen đến tuổi thanh lý từ lâu, bốn bánh rung xòng xọc khi lăn trên mặt đường đá gập ghềnh. Tôi đồ chừng người ta giữ những chiếc xe tiền chiến này lại chỉ để tạo hơi hướng hoài cổ, chứ trên các đại lộ thẳng tắp của cố đô bên sau thành lũy kia, vun vút toàn những chiếc xe hơi đời mới nhất.

    Cố đô Marrakech cũng như cả vương quốc Maroc đang trải qua một quá trình chuyển đổi văn hóa, bắt đầu từ ngôn ngữ, gọi là “Arập hóa” (Arabisation). Trước đây, ngôn ngữ chính thức của vương quốc là tiếng Pháp, di sản thời thuộc địa. Để dễ hòa nhập hơn vào thế giới Arập, Chính phủ quyết định lấy tiếng Arập làm ngôn ngữ chính dạy ở nhà trường và dùng trong công sở. Tiếng Pháp trở thành ngoại ngữ bắt buộc thứ nhất đối với học sinh. Dù vậy, trong xu thế toàn cầu hóa, đầu tư nước ngoài mở rộng, ngành du lịch phát triển mạnh mẽ, tiếng Anh trở thành phương tiện giao lưu ngày một thông dụng. Người lái xe taxi tôi vẫy đến hôm ấy thành thạo tiếng Pháp, nhưng khi xe vừa dừng và tôi vừa với tay mở cửa xe, anh đã quay lại nhoẻn miệng chào bằng một thứ tiếng Anh rất dở: “Ông là người Nhật Bản?”.

    Cô hướng dẫn viên Madujine làu làu tiếng Pháp, tiếng Anh sáng nay cho tôi biết thành phố Marrakech đông đến một triệu dân. Bác tài xe buýt cãi lại, bảo chỉ tám mươi vạn. Còn anh lái xe taxi thì quả quyết chỉ sáu trăm ngàn thôi; sáu trăm ngàn riêng cho thành phố, còn cả tỉnh hai triệu, chả là tỉnh này địa giới rộng lắm, bao gồm cả rặng núi Atlas kia. Cô gái cười xòa: “Thì đã lâu lắm, Nhà nước có làm điều tra dân số đâu mà biết chính xác”.

    Không mấy xa khu chợ cũ chật hẹp sôi động suốt ngày, có nhiều di tích văn hóa đặc sắc. Mộ cổ của các triều vua Saad. Trang viên lộng lẫy của một vị vizir (tể tướng) từng phục vụ hai đời vua thế kỷ XVII, xây toàn bằng đá đẹp trong khu vườn mát rượi. Nhiều cây ăn quả, đặc biệt là cam. Ai từng sang Paris hoặc các thành phố lớn khác ở nước Pháp đều thấy những quầy cam tươi ngon và giá rẻ của người Bắc Phi bày bán dọc phố phường. Cam Maroc không có hạt, cùi giòn, không xơ, vị ngọt thanh. Một năm hai vụ trái. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy trong vườn vị cố đại thần ấy những cây cam gốc thật to và thân cao quá cỡ, cao đến mái nhà, và không sao đếm xuể có bao nhiêu quả chín vàng rượm cùng cỡ cùng màu núc ních từ những cành sát gốc lên tận ngọn cây.

    Một anh bạn người địa phương cho biết thành phố này - cũng như nhiều điểm du lịch nổi tiếng khác - đang bị nạn chảy máu... nhà và đất. Giá đất, giá nhà cổ ở đây khá rẻ so với thu nhập của người châu Âu. Chủ nhà không có điều kiện bảo dưỡng, nhiều công trình vô giá đang xuống cấp. Đấy là tài sản riêng, nhà nước không làm được gì, vả chăng dù muốn làm cũng vượt quá khả năng ngân sách. Chủ nhà rao bán. Khách mua phần lớn là người giàu có bên kia Địa Trung Hải. Cuối tuần họ chỉ cần bay vèo một cái đã đến nơi. Họ mua nhà để nghỉ ngơi, vì giá cả quá rẻ, và cũng là một cách để dành tiền ít lo biến động.

    Trong khung cảnh bộn bề của khu phố cổ, sinh hoạt truyền thống mang tính dân gian đặc sắc nhất của cố đô (và có lẽ của cả nước Maroc) là Chợ đêm Marrakech. Đây là một trong mười chín di sản văn hóa phi vật thể của loài người được UNESCO công nhận đợt đầu. Chúng ta biết, từ đầu những năm 70 thế kỷ trước đến ngưỡng thế kỷ này, có đến mấy trăm địa danh rải rác khắp nơi trên địa cầu được Tổ chức Giáo dục Văn hóa và Khoa học của Liên hợp quốc công nhận là Di sản thiên nhiên hoặc Di sản văn hóa của loài người. Nhưng về Di sản văn hóa phi vật thể, phải đợi đến năm 2001, một Hội đồng Giám khảo gồm những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian lỗi lạc từ nhiều nước hội lại, mới xem xét và công nhận lần đầu. Trong số thành viên Hội đồng Giám khảo, có văn hào người Mêhicô Carlos Fuentes mà tên tuổi và sự nghiệp luôn sóng đôi với bạn thân của ông, nhà văn Gabriel Marquez tác giả Trăm năm cô đơn; nhà khảo cổ học và dân tộc học người Pháp Georges Condominas nổi tiếng với những công trình nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam, đặc biệt về Tây Nguyên; nhà sử học Alpha Oumar Honaré, đương kim Tổng thống nước Mali... Chợ đêm Marrakech - tên gọi chính thức của nó là “Không gian Văn hóa ở Quảng trường Jemaa el-Fna”, là một trong mười chín di sản văn hóa phi vật thể của loài người được công nhận đợt đầu, đồng thời với Kinh kịch của người Trung Hoa, kịch No của người Nhật Bản, kịch Kutiyattam (tiếng Phạm) nước Ấn Độ, Hội Carnaval ở Bolivia, Sử thi truyền miệng của thổ dân da đỏ Zápara vùng giáp ranh hai nước Pêru và Equador, v.v...

    Tôi tìm đến quảng trường Jemaa el-Fna trước khi hoàng hôn xuống. Nghe nói để chuẩn bị việc trình ra Đại hội đồng, đề nghị UNESCO chính thức công nhận “không gian” quảng trường Jemaa el-Fna này là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo tồn, rồi để duy trì nó đều đặn, Maroc đã thông qua chương trình bảo tồn và phát huy di tích kéo dài mười năm. Một Viện quốc gia Nghiên cứu Di sản truyền miệng được lập nên và hoạt động trong khuôn khổ chương trình ấy.

    Quảng trường Jemaa el-Fna nằm sát cổng chính của thành lũy xưa dẫn vào khu Medina. Nơi đây được coi là biểu tượng của cố đô kể từ ngày thành lập. Ban ngày trống trải và vắng vẻ, trừ các dãy hàng quán sin sít bốn chung quanh. Nhưng trời vừa sập tối, người không hiểu từ đâu tràn vào quảng trường đông đến thế. Các hiệu ăn dân tộc thơm lừng các món thịt nướng, mở cửa đón khách. Các quầy bán đồ dùng hằng ngày và vật lưu niệm dàn ra khắp “không gian”: đồ dùng hằng ngày bằng da thuộc (da thời trang Maroc nổi tiếng từ lâu ở châu Âu), túi xách phụ nữ, thắt lưng, ví đựng tiền cho đàn ông… Hiệu chữa răng bật đèn. Các quầy bán thuốc chữa bệnh truyền thống chế biến từ thảo dược từa tựa thuốc Nam ở nước ta. Hàng trái cây đa dạng sắc màu. Hàng giải khát, các lon Coca và Pepsi xếp cạnh những chai nước uống dân gian. Tôi không nhìn thấy ở đâu bia, rượu vốn bị kinh Coran nghiêm cấm con chiên dùng nơi công cộng. Quảng trường không có đèn cao áp chiếu sáng chói chang, nhằm làm nổi bật trăng sao trên bầu trời và ánh sáng đèn lồng dịu dàng từ các quán hắt ra. Người ta nói đủ các thứ tiếng: tiếng các bộ tộc Bắc Phi, tiếng Arập, và dĩ nhiên tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha… Càng về đêm – chắc lúc này mọi người dùng bữa tối xong tỏa ra – chợ đêm càng náo nhiệt. Đúng là “hỗn độn và hài hòa”, có lẽ vũ trụ mà nhà thiên văn học Trịnh Xuân Thuận mô tả cũng chỉ đến cỡ này mà thôi.

    Thu hút nhiều người hơn là sự tái dựng sinh hoạt truyền thống của người Berbère, người Béduin, người Arập trước đây. Một nhóm nhạc công chơi kèn đồng, kèn gỗ. Mấy chàng trai bên cạnh nhảy múa. Không nhìn thấy vũ nữ trong hội chợ đêm. Một người đàn ông xem bói chễm chệ giữa dăm bảy khách hàng ngồi xổm chung quanh, điều đáng chú ý là những người coi bói ai cũng áo dân tộc chùng bén gót. Một ông già đầu đội chiếc khăn quấn to đùng như khăn xếp của người Ấn Độ, khuôn mặt xám nắng tưởng chừng vô cảm, say sưa thổi tiêu. Từ chiếc giỏ đan bằng cây sậy thô sơ đặt dưới chân ông, hai con rắn hổ mang theo tiếng nhạc tỉnh giấc từ từ vươn cổ lên, thẳng như hai khúc cây dựng đứng; chúng lắng nghe, rồi hai cái đầu rắn phồng to mang lắc lư theo tiết tấu cây tiêu của ông chủ. Lại có những người chơi trò xiếc thú. Lại có một người trình diễn tiết mục nhai rào rạo rồi nuốt bóng đèn thủy tinh. Khắp nơi trên quảng trường, liên tục lóe lên flash máy ảnh của khách du lịch.

    Đông nhất và chăm chú nhất là nhóm người vây quanh cụ già kể chuyện. Cụ ngồi trên cái đôn gỗ cho cao hơn người nghe một ít, giọng sang sảng, tôi không hiểu ý cũng biết được giọng đầy diễn cảm. Người ông cụ dường như không động đậy, chỉ để cho nét mặt và hai cánh tay thỉnh thoảng giơ lên minh họa một trường đoạn sử thi nào đó đang cuốn hút tâm linh thính giả. Và khách nước ngoài, để tỏ lòng kính trọng, cũng chỉ chuyện trò khe khẽ với nhau…

    *

    *   *

    … Tiếng nhạc rất nhẹ trong gió chiều, nhưng giai điệu quen thuộc giúp tôi nhanh chóng nhận rõ lời ca:

    Tôi ru em ngủ - Một sớm mùa thu - Em đi trong sương mù…

    - Đúng là Việt Nam rồi! – Bạn tôi mừng rỡ thốt lên.

    - Thì chữ ơ kia, còn lẫn với ai được nữa. – Một người khác nói.

    Đến Marrakech chưa lâu, chúng tôi ai nấy đã cảm thấy thèm cơm Việt. Công việc xong xuôi, sao không cho phép tự đãi đằng một bữa ăn châu Á? Marrakech là Trung tâm Hội nghị quốc tế và là một thành phố du lịch nổi tiếng, thiếu chi khách sạn, nhà hàng. Giở cuốn sách hướng dẫn du lịch ra tra cứu, quả nhiên ngoài những hàng ăn dân tộc Maroc, thấy liệt kê một loạt restaurant, pub, bistrot Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…, cùng nhiều quầy thức ăn nhanh kiểu Mỹ. Ở mục Hàng ăn châu Á, chỉ thấy có hai biển hiệu. Một là Con rồng vàng ở đại lộ Zertoumi và hai là Kim son ở phố Toumert. Con rồng vàng, nhất định là hiệu ăn Tàu rồi. Còn Kim son (với chữ o không có dấu), Việt Nam chăng? Hay cũng vẫn là nhà hàng Trung Quốc, đến nước nào ta cũng gặp?

    Chúng tôi vẫy một chiếc taxi. Anh lái xe nói: “A, Kim Son, nhà hàng châu Á. Tôi biết. Chẳng xa đâu. Nhưng ở đấy đêm khuya khó kiếm taxi. Nếu các ông đồng ý, tôi đưa các ông đến và để lại số điện thoại; lúc nào cần, tôi sẽ quay lại đón các ông trở về. OK?”.

    Đó là một ngôi nhà nhỏ, kiểu biệt thự, kín đáo sau mấy rặng cây và một lối đi hẹp qua sân, giữa hai hàng dâm bụt. Trời đã tối sập từ lâu, ánh đèn trong nhà mờ mờ ảo ảo, nhưng may mắn là có một ngọn ở cổng chiếu rõ hai chữ Kim Sơn, với một chữ ơ đầy đủ dấu móc chỉ có trong văn tự Việt Nam ta. Bên cạnh mấy dòng loằng ngoằng chữ Arập, còn ghi chú hai từ spécialités vietnamiennes. Chẳng sợ lẫn với ai. Hơn nữa, tiếng hát vẫn dịu dàng vọng lại:

    Con đường thật buồn - Một ngày cuối đông - Con đường mịt mù - Một ngày cuối thu…

    Đập vào mắt chúng tôi là bốn bức tranh sơn mài khảm xà cừ treo dọc như kiểu tứ bình, có cầu Thê Húc, có chùa Thiên Mụ… Hiệu ăn vắng vẻ vì lúc này còn sớm theo tập quán sinh hoạt địa phương, là nơi các hoạt động vui chơi chuyển về đêm để tránh cái nắng gay gắt ban ngày. Mới thấy một đôi nam nữ ngồi ở bàn kín đáo trong góc, và lát sau, mấy người bạn Thái Lan cũng sang đây dự hội nghị; chắc họ cũng đang đi tìm hương vị Á châu như chúng tôi.

    Bảng thực đơn có đủ: nem rán, xúp cua, phở bò, (tiếng Tây đề là “mì dẹt châu Á” – nouilles asiatiques)… Bữa ăn tối của chúng tôi hôm nay đạt quá mong ước. Có thịt lợn xào măng, thịt bò nấu với hành tây và một nhĩ, đủ cả nước mắm dầm ớt tỏi và xì dầu… Cơm gạo Thái thơm phức. Chỉ tiếc không có món canh chua.

    - Chúng tôi muốn gặp bà chủ. - Tôi nói với người phục vụ.

    Anh thoáng vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn lẳng lặng đi vào nhà trong. Lát sau, một người Maroc đứng tuổi xuất hiện, rất nhã nhặn:

    - Xin chào. Các ngài từ Việt Nam sang? Các ngài cần gì? Vâng, tôi là chủ hiệu. Vợ tôi người Việt Nam.

    Chúng tôi bắt tay chúc mừng và cảm ơn ông về bữa ăn ngon.

    - Công việc làm ăn ở đây khá chứ?

    Ông lắc đầu: “Tôi đang muốn dẹp hết đi để đi Việt Nam”.

    - Sao vậy? Ông bà định mở một nhà hàng đặc sản Maroc ở Hà Nội chăng? – Tôi cười.

    Ông buồn rầu:

    - Vợ tôi mất rồi.

    Tôi cảm thấy câu nói vui của mình rất không đúng lúc.

    Ông vào nhà lấy cho chúng tôi xem một tấm ảnh ông chụp cùng một phụ nữ Việt Nam trẻ và khá xinh:

    - Chúng tôi quen nhau ở Paris. Chẳng may nhà tôi qua đời sớm.

    Giọng ông buồn lắm. Ái ngại, chúng tôi không muốn hỏi gì thêm. Chính ông kể tiếp câu chuyện:

    - May là chúng tôi có một con trai. Cháu năm nay mười lăm tuổi. Đang học lớp mười.

    Ông gọi cháu ra chào. Một cậu bé đang phát triển chiều cao, da mặt ngăm ngăm nhưng vẫn phảng phất một nét gì châu Á.

    - Cháu có ý định sang du lịch Việt Nam không? – Bạn tôi hỏi.

    - Mẹ cháu đã kể cho cháu nghe bao nhiêu điều huyền thoại về quê mẹ. Thế nào cháu cũng sang. Nhưng chưa phải lúc này. Cháu còn phải học xong trung học.

    Làm nền cho câu chuyện giữa chúng tôi trong đêm yên tĩnh vẫn là nhạc Trịnh Công Sơn.

    Mưa vẫn mưa mau trên tầng thác cổ…

    Bạn tôi ngỏ ý muốn tặng ông vài đĩa nhạc mới của Trịnh, chúng tôi có mang theo, tiếc là đang để ở khách sạn. Có lẽ sáng mai mới mang đến biếu ông được. Ông chủ hiệu cảm ơn:

    - Tôi đâu dám phiền các ông quá nhiều. Tôi sẽ bảo cháu chiều mai sau giờ học, ghé lại khách sạn xin. Nhà chỉ có mấy cái đĩa nhà tôi để lại…

    Ngày mai sỏi đá cũng cần có nhau…

    Nhạc nền vẫn kín đáo nhẹ nhàng giữa đêm xa xứ, khi chúng tôi nán lại ít lâu để trò chuyện với anh bạn mới quen.

    2002

    DƯỚI BÓNG TƯỢNG NHÂN SƯ

    Có những địa danh đến với ta rất sớm, một cách tình cờ vào tuổi ấu thơ, và rồi nó sẽ đeo đẳng ta suốt đời. Ta thầm hẹn: thế nào cũng có một ngày mình sẽ đến tận nơi. Bao nhiêu chờ đợi, cái ngày ấy tới. Ta có cảm giác vừa ngỡ ngàng vừa thân thương như lâu ngày gặp lại người bạn thuở học trò. Nhưng đến lúc chia tay, lại nghĩ nào ta đã hiểu gì đâu về con người ấy.

    Ai Cập đối với tôi là một địa danh như vậy.

    *

    *   *

    Tôi biết hai từ Ai Cập huyền bí hồi còn bé lắm, qua một bài báo bắt gặp tình cờ. Vào cái tuổi gặp gì đọc nấy, tôi đọc ngấu nghiến và bị ấn tượng sâu đậm bởi những chi tiết về các kim tự tháp dựng lên giữa sa mạc mênh mông, du khách cưỡi lạc đà đi trên cát nóng đằng đẵng cả tuần không gặp một dòng nước, một bóng người. Những điều tưởng chừng huyễn hoặc, và sự huyễn hoặc còn được nhân lên với trí tưởng tượng của trẻ con. Cho đến nay, gần bảy mươi năm trôi qua, biết bao phôi pha trong hồi ức cuộc đời, không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in các chi tiết trong bài báo ấy. Nào những tảng đá dùng để xây dựng kim tự tháp nặng lắm, to lắm, mà sa mạc không có đá, vậy là phải chuyển về từ một công trường đẽo đá ở nơi nào xa lắm lắm. Những tảng đá ấy xếp chồng lên nhau sít sìn sịt, đến nỗi không ai có thể cho lách vào kẽ hở một lưỡi dao bào. Đào sâu trong lòng cát dưới cái tháp ấy có xác một ông vua cùng bà hoàng hậu được ướp khô và bọc bằng vàng khối. Trên vách phòng mộ có khắc những dòng chữ bí hiểm, chỉ các nhà khoa học uyên thâm mới đọc được, và họ thấy người xưa có nhiều tính toán khớp với những kiến thức hiện đại về hệ mặt trời…

    Lớn lên ít nữa, lại một bài “văn học trích diễm” khác, đọc thêm để minh họa bài học trong sách giáo khoa. Nhằm tôn vinh sự vĩ đại của nước Pháp, chuyện kể rằng tướng Napoléon năm 1798 mang quân đánh Ai Cập (lúc này ông chưa lên ngôi hoàng đế), nhằm cắt đứt con đường giao thương của đế quốc Anh với Ấn Độ. Đứng trước các hàng quân nao núng vì gió cát, vì nắng sa mạc và sự đề kháng của đối phương, vị tướng trẻ trổ tài hùng biện. Cho đến nay tôi vẫn thuộc lòng nguyên văn câu tiếng Pháp ấy, tạm dịch: “Hỡi các quân sĩ, từ ngọn các kim tự tháp kia, bốn mươi thế kỷ đang chiêm ngưỡng các bạn...”. Và đội quân viễn chinh xiết chặt hàng ngũ, nhất kề xông lên đánh tan đội kỵ binh của những người Mameluk cực kỳ thiện chiến(*)... Sau này, mỗi lần đến Paris, ngắm cái cột Ai Cập bốn cạnh mang trên mình nó ba ngàn năm trăm năm lịch sử và hơi nóng sa mạc, vốn được tạc nguyên từ một khối đá hoa cương hồng, ngất nghểu bằng chiều cao một tòa nhà bảy tầng dãi tuyết dầm sương cô đơn và ngạo nghễ như một kẻ bị lưu đày giữa quảng trường La Concorde hoa lệ, tôi lại không nén được nụ cười - cho dù trên danh nghĩa cái vật quốc bảo nặng hai trăm ba mươi tấn này là do vị phó vương Ai Cập Môhamet Ali làm quà cho nước Đại Pháp thân hữu nhiều năm sau cuộc viễn chinh ấy.

    ... Cuối cùng, vào buổi xế chiều của cuộc đời, tôi cũng đặt chân được lên bờ sông Nin. Con sông dài nhất thế giới, những hạt phù sa của nó đã kiến tạo nên một cái nôi văn minh cổ nhất, rực rỡ nhất của loài người. Nhiều năm qua, tôi đã chịu khó đọc không ít sách báo viết về các kim tự tháp; càng đọc càng thấy mình lạc vào mê cung. Dù sao văn chương cũng làm sống lại ít nhiều sự háo hức thuở ấu thơ tưởng đã thui chột theo quá trình chất chồng của tuổi tác. Vừa đến nơi, chân ướt chân ráo, tôi nói với anh bạn đang giữ trọng trách tại sứ quán ta ở Cairô: “Xin phép anh, sáng mai tôi đi xem kim tự tháp”.

    - Vâng, tôi cùng đi. - Anh bạn tôi thủng thỉnh.

    - Ai lại dám phiền anh đến thế. Các anh chị giúp cho một chuyến xe, là quý quá rồi.

    Nhà ngoại giao tủm tỉm nụ cười kín đáo và lịch thiệp:

    - Không hề gì. Mai là ngày nghỉ cuối tuần. Tôi cùng đi. Bản thân tôi cũng muốn thư giãn.

    Hôm sau đến nơi, tôi mới hiểu nhã ý thâm trầm của anh bạn.

    Bầu trời Ai Cập trong veo. Và nắng thì khỏi phải nói, rực rỡ như tôi chưa từng được thấy ở đâu khác. Nhiệt độ ngoài trời khá cao, song gió từ sa mạc thổi tới thoáng mát chứ không oi nồng như tôi hằng tưởng. Chiếc xe vừa đỗ xịch, chưa ai kịp bước ra ngoài thì đã thấy đông người xúm đến mời chào. Mời cưỡi lạc đà, mời mua vật kỷ niệm... Ríu ra ríu rít, giá cả đủ loại:

    - Một đô la, năm đô la, hai mươi đô la... OK? OK?

    Bạn tôi không đáp một ai, đảo mắt nhìn quanh. Chợt một người nhận ra anh, vội vàng bước tới. Một người đàn ông cao lớn, khuôn mặt phương phi mang làn râu mép tỉa tót, ăn mặc chẳng giống ai - có nghĩa không phải áo thun, quần bò vô cùng phổ biến nơi đây, mà là một chiếc áo choàng trắng dài bén gót, lộng gió sa mạc phập phồng theo bước chân khoan thai của một bậc đàn anh chính cống, cho dù đang vội vã. Anh nở nụ cười tươi như hoa, và xuýt xoa: “Excellency, excellency...” (chào ngài).

    Tôi thoáng nghe bạn tôi gọi tên anh là Ahmed. Cũng có thể tự tôi nghĩ ra thế - dù sao cho đến hôm nay nhớ đến anh chàng ấy, tôi vẫn đinh ninh tên anh là Ahmed, một cái tên rất Arập và cũng đầy âm hưởng... nghìn lẻ một đêm. Anh ta vẫy tay một cái. Tất cả đàn người vừa xúm đến chúng tôi tản đi ngay tức khắc. Bạn tôi trao đổi gì đó với Ahmed. Lại thấy anh khoát tay. Lập tức hai người dắt tới hai con lạc đà. Đến trước mặt tôi, theo lệnh của người dắt, con vật cồng kềnh ngoan ngoãn quỳ hai chân trước, rồi xếp hai chân sau, phủ phục trên cát. Ahmed giúp tôi cưỡi lên con vật đã đóng sẵn yên, lưng phủ tấm thổ cẩm rộng đỏ sặc sỡ, đính những chùm tua đen phủ xuống che kín hai bên hông. Con lạc đà hé đôi mắt vô cảm dường như lúc nào cũng muốn khép lại làm cho cái mi trên của mắt lồi hẳn lên: nó sẵn sàng né những cơn lốc cát bất thần. Con vật chậm chạp đứng lên theo “quy trình” ngược lại: Hai chân sau vươn thẳng trước (buộc người cưỡi vội vã bíu chặt cái yên để khỏi tuột xuống đầu con vật), rồi mới đến hai chân trước thong thả chống lên. Rồi nó đủng đỉnh quay đầu hướng về phía các kim tự tháp, bốn chân lênh khênh đủng đỉnh bước đi, tấm thân đồ sộ lúc la lúc lắc...

    Sau một chặng đường vừa đủ cho người cưỡi cảm nhận thế nào là sự ngật ngưỡng trên lưng lạc đà dưới nắng gió sa mạc, và cũng là thời gian vừa đủ để bạn bè kịp chụp cho dăm pô ảnh kỷ niệm, sau một tiếng ậm ừ phát ra từ cổ họng Ahmed (để tỏ lòng ưu ái người bạn của Excellency, Ahmed đã hạ cố thân hành dắt con lạc đà tôi cưỡi), cỗ xe sa mạc bằng thịt bằng xương chậm chạp quay đầu, đủng đỉnh trở về nơi xuất phát. Và không chờ thêm lệnh, nó tự động quỳ xuống (làm cho tôi một lần nữa phải bíu chặt cái yên), ngoan ngoãn nằm chờ. Đầu và cổ con vật ườn dài đặt sát mặt đất. Người cưỡi có thể thản nhiên dẫm lên cổ nó như bước qua một bậc cấp để xuống mặt đất.

    Số tiền phải trả cho một cuốc cưỡi lạc đà phải chăng thôi. Tuy nhiên đối với những vị khách lớ ngớ, một khi đã ngồi lên lưng con vật, cứ thế người ta dắt nó vòng qua vòng lại, mà cho dù bạn có thông thạo mọi ngôn ngữ phổ cập nhất trên đời, cũng chẳng có cách gì nói cho người dắt lạc đà hiểu ra để anh ta cho mình quay trở lại nơi xuất phát. Dễ hiểu thôi, anh chàng láu cá tảng lờ, để khách càng ngồi lâu trên lưng con vật, “cước phí vận chuyển” rồi sẽ tăng lên theo tỷ lệ thuận với thời gian. Nghe nói có lần một nhà báo từ Việt Nam sang đi thăm kim tự tháp, tự hào mình sảnh sỏi không giao hẹn trước, cho nên cứ lắc lư mệt nhoài trên lưng con vật, kỳ đến khi anh đành tự nguyện mở hầu bao lấy một tờ hai chục đô la ném xuống thưởng công cho người dắt. Đút tờ giấy xanh có in hình tổng thống Mỹ vào túi áo, anh chàng liền “hiểu” ngay tiếng Mỹ và lệnh cho con vật quay đầu. Sáng nay, giả thử không có mặt Excellency bạn của tôi ở đây, hẳn tôi cũng khó tránh cách xử sự bằng ngôn ngữ thực dụng như ông bạn đồng nghiệp thân yêu.

    Ven con đường cái, ở những điểm dừng xe để đi bộ đến gần chân cái kim tự tháp lớn nhất và bức tượng khổng lồ tạc con sư tử mang đầu người trứ danh (tiếc là đã vỡ mất không biết từ bao giờ cái mũi chắc là đẹp như mũi của hoàng hậu Cléopatre)(*), có những chiếc lán sơ sài, có khi chỉ đặt một cái bàn, bày bán những vật kỷ niệm: tranh vẽ tay trên giấy papyrus sản xuất thủ công theo lối lưu truyền từ đời thượng cổ, những chiếc lọ con có niêm phong đựng một nắm cát gin lấy đúng ở chân tượng nhân sư, nhiều loại hàng thủ công bằng đồng khá đẹp với giá cả phải chăng, cùng cơ man tượng nhỏ bắt chước đồ cổ hoặc tạc bằng đá hoặc đúc giả đồng đen. Phổ biến nhất và lớn bé đủ cỡ là tượng bán thân một phụ nữ có cái cổ thon thả rất cao và khuôn mặt thanh tú, đầu đội vương miện...

    - Nàng Cléopatre đây chăng?

    Anh bạn tôi cười:

    - Không phải. Đây là tượng nàng Néfertiti, vợ của hoàng đế Ramses II, một người đàn bà có công lớn trong lịch sử Ai Cập thời cổ đại. Đối với người Ai Cập, Cléopatre chẳng là gì. Hơn thế, dưới con mắt những người tuân theo giáo lý đạo Hồi, tư cách của người đẹp ấy có nhiều điều đáng chê trách... Một điều ngộ nhận khá phổ biến ở nhiều nước là, hễ nói đến mỹ nhân Ai Cập, người ta nghĩ đến nàng Cléopatre. Có lẽ tại lịch sử Ai Cập (và cả lịch sử Syrie, Macédoine) có nhiều bà hoàng tài sắc cùng mang tên ấy chăng. Cũng có thể do tác động của quá nhiều tác phẩm điện ảnh, kịch trường, văn học lấy đề tài về người phụ nữ tài danh ấy.

    Chao ôi, tôi đã thưa ở trên, lịch sử văn minh Ai Cập đối với một người nước ngoài bình thường như tôi, vượt khỏi tầm hình dung. Thành thực chào thua. Cổ đại ư? Tuyệt nhiên không đồng nghĩa với một thời đại dài chừng dăm, bảy trăm năm thậm chí nghìn năm như thông thường đối với lịch sử các quốc gia khác. Riêng một khái niệm pharaon (hoàng đế Ai Cập thời cổ, nhiều vị được ướp xác và táng trong các kim tự tháp huyền bí kia) gồm những ba mươi mốt triều đại liên tục. Theo những gì các nhà khoa học ngày nay phanh phui ra được qua các lớp dày cát bụi thời gian, triều đại pharaon đầu tiên khởi nguyên từ năm 3100 trước Công nguyên - có nghĩa là trước cả các vua Phục Hy, Thần Nông hoang đường của người Trung Hoa gần hai thế kỷ. Và các hoàng đế pharaon oai phong rực rỡ kia chỉ chịu chấm dứt quyền uy tuyệt đối của họ khi đất nước suy vi vào năm 332 (trước CN), đúng một năm sau khi đội quân tinh nhuệ của Alexandre đại đế tiến vào Ai Cập, đất nước rộng lớn và hùng cường từng có một không hai này chỉ còn được coi là một tỉnh ngang hàng mọi tỉnh gần xa của đế quốc La Mã. Nói cách khác, các triều đại pharaon kế tiếp nhau đã làm nên lịch sử Ai Cập cổ đại trong một “khoảnh khắc” thời gian ngắn ngủi 2768 năm - gần hai mươi tám thế kỷ!

    Mà đâu có phải tất cả các pharaon đều được mai táng trong kim tự tháp. Cái “mốt” này mới có từ triều đại thứ 3 và kết thúc vào triều đại thứ 6, trong vòng khoảng năm trăm năm. Theo những gì người ta biết được, đến nay (2004), trên đất nước Ai Cập đã phát hiện 107 kim tự tháp lớn nhỏ. Hầu hết được xây dựng ở bờ tây sông Nin. Nhiều cái nay chỉ còn lại một đống đá vụn vùi lấp dưới cát sa mạc. Ấy thế mà hằng ngày vẫn có những đoàn khảo cổ lang thang trên biển cát nóng, hy vọng phát hiện thêm nơi chôn cất một pharaon bị lịch sử lãng quên ở một góc nào đó đang kiên nhẫn chờ đợi người đời sau đưa lên, để hoàng đế kịp hưởng thụ ánh sáng văn minh thời toàn cầu hóa.

    Từ thuở xa xưa, người Ai Cập cổ đại tin rằng con người gồm hai phần kết hợp lại: thể xác và linh hồn. Khi thể xác chết đi, linh hồn vẫn có thể tồn tại, với điều kiện giữ sao cho thân thể không phân hủy, và tiếp tục được cung phụng thức ăn nước uống đầy đủ như ngày thường. Hóa cho nên người ta cố tìm cách ướp xác giữ cho nó nguyên vẹn lâu dài, đồng thời xây những nhà mồ thật kiên cố và an toàn phòng bọn vô lương cướp phá, trong đó chứa đủ nước uống thức ăn cùng kẻ hầu người hạ hoàng đế và hoàng hậu. Người Ai Cập cho rằng ngôi nhà ở có thể phá đi xây lại nhiều lần, còn nơi an nghỉ cuối cùng là vĩnh cửu. Ngôi nhà cuối cùng của người đứng đầu quốc gia có quyền uy tuyệt đối, đương nhiên phải hùng vĩ xứng tầm vĩ đại của người ấy. Cho nên bốn triều đại kế tiếp mới lưu lại cho hậu thế những kỳ quan kia, với cái giá máu và nước mắt của không biết bao nô lệ và dân tự do làm việc khổ sai suốt năm trăm năm, xây nên hết tháp này đến tháp nọ, phục vụ chưa xong đời vua cha đã đến đời vua con!

    Kim tự tháp hùng vĩ nhất mang tên hoàng đế Khéops - mà hôm nay tôi đang chiêm ngưỡng kia - được xây trên một cao nguyên ở rìa sa mạc, cách một thị trấn tên là Guizeh chừng bảy kilômét. Cách kim tự tháp Khéops một quãng, cùng trong tầm nhìn, sừng sững hai tháp khác, tầm vóc nhỏ hơn một ít, nơi yên nghỉ của hoàng đế Khéphren và hoàng đế Mykérinos (đều thuộc triều đại thứ 4 nước Ai Cập cổ đại). Ba kim tự tháp này tạo thành một quần thể nổi danh nhất thế giới. Chính bức ảnh chụp ba kỳ quan ấy đã làm mê mẩn tuổi ấu thơ tôi. Tôi nhìn thấy một số du khách hiếu kỳ thử leo lên kim tự tháp. Trên thực tế, phần lớn chỉ quanh quẩn ở mấy bậc cấp dưới cùng. Trừ những người có nhiệm vụ khảo cứu hoặc các nhà thể thao, chẳng mấy khách du đủ sức khỏe và thời gian in dấu chân của mình lên đỉnh kỳ quan.

    Sẽ khó hình dung quy mô của công trình kiến trúc ấy nếu không dẫn ra một vài số liệu và làm đôi điều so sánh. Người ta đã tính toán, riêng phần các khối đá dùng để phủ lên bề mặt của tháp Khéops – tôi xin gọi nôm na là bốn mái – gồm chừng hai triệu ba trăm ngàn phiến với trọng lượng trung bình mỗi phiến hai tấn rưỡi; phiến lớn nhất nặng mười lăm tấn. Nhà khoa học J. Capart tính ra, nếu mang các phiến đá ấy chẻ thành những viên hình khối có cạnh ba mươi centimét và xếp chúng lại bên nhau thì sẽ tạo nên một con đường dài bằng hai phần ba xích đạo, khoảng hai mươi tám ngàn kilômét. Còn nền tháp? Theo tác giả Badwin Smith, diện tích mặt bằng tháp Khéops đủ để xây lên trên đó, bên cạnh nhau, những cung điện và nhà thờ hùng vĩ bậc nhất thế giới là Điện Wesminter và Saint Paul ở London, Thánh đường Saint Paul ở Roma cùng hai Nhà thờ lớn trứ danh nữa của hai thành phố Florence và Milan nước Ý.

    Một điều thú vị, người ước tính đầu tiên và sát thực tế quy mô xây dựng ba kim tự tháp lớn nhất Ai Cập lại là Hoàng đế Napoléon. Thời gian mang quân chinh phạt nước này, trong lúc đứng xem một số tướng lĩnh của mình leo lên đỉnh tháp, Napoléon tính nhẩm. Khi họ quay trở xuống, Napoléon nói, số đá xây ba kim tự tháp kia đủ dùng để tạo dựng một thành lũy cao ba mét và dày 30 cm vòng quanh nước Pháp. Các nhà làm sử quả quyết, nhà toán học Monge (trong số các nhà khoa học hàng đầu của nước Pháp thời ấy được cử đi theo đại quân của Napoléon để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập) xác nhận sự ước tính của vị tổng tư lệnh là chuẩn xác.

    Sự đo đạc chính thức tiến hành năm 1925 cho những con số cụ thể. Bốn cạnh ở sát mặt đất của tháp Khéops mỗi cạnh dài hai trăm ba mươi mét (thêm ba con số lẻ chỉ đơn vị centimét). Cạnh dài nhất so với cạnh ngắn nhất chênh nhau không tới một gang tay. Diện tích mặt bằng vậy là khoảng năm mươi ba ngàn mét vuông – rộng hơn năm hécta, gấp hai lần quy mô trung bình một trang trại ở nước ta ngày nay! Bốn cạnh tháp ứng một cách chuẩn xác với bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Chiều cao của tháp hồi mới xây dựng nên là 146,59 mét (nay đã sụt mất chừng chín mét). Độ nghiêng các mái tháp và mặt đất tạo thành những góc rộng 51,52 độ.

    Một chi tiết không thể không quan tâm nếu bạn muốn hiểu hết tầm vĩ đại của công trình, là chớ nên hài lòng chiêm ngưỡng hình dáng khổng lồ của tháp từ bên ngoài. Những bí ẩn lớn nhất nằm trong lòng tháp. Giữa tăm tối vĩnh hằng, sâu trong lòng cát, là cả một hệ thống phòng ốc nhiều tầng nhiều lớp, thông với nhau bằng nhiều bậc thang và đường đi lối lại chằng chịt. Từ mấy trăm năm nay, các nhà bác học kiên trì nghiên cứu để đưa một phần nhỏ những bí ẩn ấy ra ánh sáng.

    Từ xa xưa, người ta đã tin chắc trong tháp chứa nhiều kho báu. Không ít người đã tìm cách đột nhập. Ở mặt Bắc của đại tháp Khéops hiện vẫn còn dấu vết cái cửa rộng của một đường hầm đào xuyên vào lòng tháp. Tương truyền đích thân hoàng đế Mamum, con trai và người kế vị khalip Harun An Rasit, vừa hoàng đế vừa giáo chủ, nhân vật chính trong bộ truyện Nghìn lẻ một đêm, đã xuống lệnh cho đào con đường hầm ấy vào cuối thế kỷ thứ IX (sau CN). Cũng may, vị khalip hám của ấy chưa moi được chiếc quan tài đúc bằng vàng ròng của vua Khéops, cho nên nay nó mới được mang lên trưng bày tại Bảo tàng Cairô cho hậu thế năm châu trầm trồ.

    Tôi may mắn được dự một đêm hội, ở đó một khoảnh khắc của lịch sử cổ đại được tái hiện để phục vụ khách thời hiện đại. Bữa dạ tiệc dành cho hơn một nghìn thực khách từ trên một trăm quốc gia đến, trong số ấy có nhiều chính khách tầm cỡ, tham gia một cuộc họp quốc tế tại thành phố Cairô. Tiệc bày ngay trên bãi cát ở rìa sa mạc, không mấy xa tháp Khéops. Dưới bầu trời đầy sao, trước gió lộng từ biển cát thổi vào, đèn đóm vụt tắt. Âm thanh và lời người dẫn chuyện – được giả định từ ba đỉnh tháp cao dội lại – vang lên trầm hùng. Ánh sáng soi rọi sườn kim tự tháp. Trong tiếng nhạc nền sâu lắng và lời thuyết minh trang nghiêm, các luồng ánh sáng lade xoắn xít với nhau, tái tạo giữa không gian mênh mông những hình ảnh ảo huyền như cuộc sống ảo huyền nơi đây bốn, năm nghìn năm về trước… Thực đơn bữa dạ tiệc tiếp sau đấy không do các pharaon mời, mà nổi trội vẫn là độc chiêu thời thượng cổ: thịt nướng. Đủ kiểu đủ loại món nướng. Trái cây chủ yếu là quả chà là. Tuyệt nhiên không có bia bọt, nói chi rượu mạnh. Chắc tại các pharaon xưa chưa làm quen các nhãn mác rượu thời thượng, và nhất là tại dân Ai Cập ngày nay hầu hết theo đạo Hồi.

    Buổi trình diễn tối hôm nay không phải là một sáng tạo mới dành riêng mời các vị khách quý, mà là một chương trình đã có từ lâu, được cải biên và nâng cấp ít nhiều. Tôi nhớ, mấy chục năm về trước có lần được một người bạn từ nước ngoài về cho nghe một đĩa nhạc có nội dung mang tên Âm thanh và Ánh sáng, tương tự thế này. Hồi ấy chưa có VCD, DVD, cái đĩa tôi nghe là loại đĩa nhạc to đùng quay rè rè theo tốc độ 45 vòng/phút, cho nên đương nhiên “ánh sáng” chỉ có ở trí tưởng tượng của người nghe. Lần này, công nghệ tân tiến quả đã góp phần hiệu nghiệm đánh thức dậy ngàn xưa.

    Du lịch là một hoạt động rộng lớn, một trong ba ngành chủ chốt mang lại cho nước Ai Cập ngày nay nguồn ngoại tệ kếch xù. Nước này có thế mạnh không quốc gia nào khác trên hoàn cầu sánh nổi, phần lớn do ba mươi mốt triều đại pharaon sáng tạo nên. Bảo tàng lịch sử thành phố Cairô là một trong những nơi lưu giữ nhiều cổ vật nhất. Đã thế, thỉnh thoảng người ta lại “phát hiện” thêm một cái gì đó. Chẳng hạn di tích thư viện thành phố Alexandrie cổ vừa được câu lên từ đáy biển. Dòng sông Nin năm nghìn năm qua ẩn chứa không biết bao nhiêu huyền thoại. Lại còn một nhân tố cập thời: Ai Cập là nước 70 triệu dân, thu nhập quốc dân gần 3700 đô la một người (2002). Các nhà lãnh đạo nước này có tham vọng đưa Ai Cập trở thành quốc gia nòng cột của châu Phi thống nhất.

    Đôi lần tôi có dịp tiếp xúc với các bạn Ai Cập. Cảm tưởng của tôi – nói trộm phép – dường như các bạn khá tài tử. Tôi có ý nghĩ của mình với Excellency thân thiết. Anh lại cười tủm và trả lời thận trọng như bất cứ nhà ngoại giao nào trong trường hợp này:

    - Ai Cập là một dân tộc vĩ đại. Người Ai Cập vốn đa tài…

    Rồi thủng thẳng nói thêm:

    - Khi tôi mới sang nhận nhiệm vụ ở đây, một số bạn nước ngoài có kể cho nghe một giai thoại, nói lên tính cách của người Ai Cập. Nói gọn trong một từ: IBM…

    - IBM?

    - Không phải IBM máy tính mà là những chữ đầu của ba từ Arập, viết theo tiếng Anh: I – Inchallah. Tạ ơn Thánh Allah, mọi sự đều tốt lành. B – Bukhra. Ngày mai. Bạn cần làm việc với tôi? Xin hẹn đến mai. Và M – Malush. Không sao. Cho dù bạn chưa hài lòng, rồi đâu sẽ vào đấy…

    Dĩ nhiên đấy chỉ là mẩu chuyện vui các nhà ngoại giao lưu trú tại Cairô kể với nhau trong lúc trà dư tửu hậu. Hoàn toàn không hàm ý xúc phạm. Chẳng qua nhập gia tùy tục, hiểu rõ phong cách của nhau để thêm thân thiết và dễ bề làm việc với nhau.

    Mọi công việc xong xuôi. Mọi yêu cầu riêng thỏa mãn. Chúng tôi bận rộn sắp xếp hành lý để sáng mai lên máy bay về nước sớm. Excellency bạn tôi vẫn niềm nở:

    - Đúng là thời gian các anh lưu lại Ai Cập có hơi ngắn. Dù sao, vẫn không thể không tranh thủ để hiểu thêm một khía cạnh nữa của văn hoa Ai Cập. Tôi muốn mời mấy anh tối nay đi xem chương trình vũ đạo, có một điệu thức vô cùng đặc sắc…

    Thấy mọi người tỏ vẻ ngần ngại, Excellency chủ nhà hiếu khách thuyết phục:

    - Tôi biết nhiều vị đã có dịp sang Nam Mỹ, đã nhiều lần đến châu Phi, những vùng đất nổi tiếng về nhảy múa. Chúng ta đều rõ, nhảy múa thấm sâu vào mạch máu của mọi người Phi. Họ múa đầu, múa cổ, múa mắt, múa tay, múa lưng, múa… Ai cũng phải chịu là “cực kỳ”. Nhưng chưa có nước nào có điệu thức đặc sắc như ở Ai Cập đây: múa bụng. Chỉ qua động tác của cái bụng, vũ công (hay vũ nữ?) có thể diễn tả nhiều sắc thái thâm trầm… Chúng ta sẽ đáp một con tàu lữ hành. Chúng ta sẽ cùng du khách nhiều nước thưởng thức múa hát, theo nhịp dập dềnh của chuyến tàu đêm trên sóng nước dòng sông mẹ thiêng liêng…

    2004

    (còn tiếp)

    Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.

    www.trieuxuan.info

    ___

    1 Tác gi nói ti Washington DC, tc Th đô Washington; khác vi tiu bang Washington nm bên b Thái Bình Dương, giáp vi Canada. (Chú thích ca Người Biên tp).

    (*) Trn đánh din ra ngày 21-7-1798. Hai hôm sau, quân Napoléon tiến vào th đô Cairô. Lch s quân s Pháp gi là Trn kim t tháp (La bataille des Pyramides).

    (*) Tương truyn chính Napoléon đã cho nã đại bác phá v mt tượng nhân sư. Vì mi quan h đang tt đẹp gia ba nước bn bè, ký gi v quên chi tiết y.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,816,841

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/