Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,088,593

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tư liệu sáng tác

Champa: Vai trò của Charles Lemire và Henri Parmentier trong việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng

Tư liệu sưu tầm

  • Thứ tư, 17:05 Ngày 19/05/2021
  • Charles Lemire (1839 – 1912)

    Bài viết giới thiệu một số luận điểm của nhà nghiên cứu nghệ thuật Julian Brown về công việc sưu tập hiện vật điêu khắc Champa của Charles Lemire và Henri Parmentier. Lemire được xem là người đặt nền móng đầu tiên cho sự ra đời của Bảo tàng Chàm tại Tourane (tiền thân của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng) và Parmentier là người đã hiện thực hoá ý tưởng ban đầu của Lemire, đóng vai trò then chốt trong công việc sưu tập hiện vật, xây dựng và trưng bày bảo tàng buổi ban đầu. Thông qua bài viết này, tác giả muốn nêu ra những động cơ và mục đích phía sau công việc của mỗi nhà sưu tập trong bối cảnh Việt Nam nằm dưới sự đô hộ của người Pháp vào những năm cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20.

     

    Henri Parmentier tại Campuchia. Nguồn: Lưu trữ EFEO

    Trong tiến trình phát triển của lịch sử, các dân tộc thuộc các tiểu vương quốc Champa1 cổ ở miền Trung Việt Nam đã để lại một di sản nghệ thuật vô cùng quí báu. Ngày nay, cụm từ “nghệ thuật Chăm” hoặc “nghệ thuật Champa” dùng để chỉ các tác phẩm điêu khắc Ấn giáo – Phật giáo cùng hệ thống đền tháp được xây dựng bởi người Chăm và các dân tộc khác trên mảnh đất miền Trung từ thế kỉ 52 đến thế kỉ 173 sau công nguyên. Rất nhiều đền tháp Champa đã bị huỷ hoại theo thời gian. Một số đền tháp khác may mắn tồn tại đến ngày nay như một minh chứng cho một quá khứ vàng son của các vương quốc Champa xưa. Tác phẩm điêu khắc Champa bao gồm chủ yếu là tượng nam thần và nữ thần, đài thờ, ngẫu tượng linga – yoni, vật linh, bia ký và các bộ phận cấu thành kiến trúc.

    Năm 1858 đánh dấu việc người Pháp chiếm đóng và Việt Nam trở thành thuộc địa của họ.4 Các quan chức và nhà khảo cổ học người Pháp đã đến Việt Nam và bắt đầu quá trình khám phá các di tích đền tháp Champa tại miền Trung Việt Nam, thu thập hàng trăm tác phẩm điêu khắc thông qua các cuộc khai quật khảo cổ học hoặc là hiện vật ngẫu nhiên tìm thấy. Các bộ sưu tập điêu khắc Champa này hiện nay được trưng bày tại nhiều bảo tàng trong và ngoài nước, trong đó đáng chú ý nhất là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, Bảo tàng Bình Định, Bảo tàng Nghệ thuật châu Á tại Paris (Pháp), Bảo tàng Rietberg (Thụy Sỹ), Bảo tàng Nghệ thuật Cleveland (Hoa Kỳ), Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan ở New York (Hoa Kỳ). Tuy nhiên, bộ sưu tập lớn nhất hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Năm 2019, Bảo tàng Điêu khắc Chăm kỉ niệm 100 năm ngày mở cửa đón khách tham quan. Việc xây dựng bảo tàng bắt đầu từ năm 1915 sau những nỗ lực không mệt mỏi để sưu tập và gìn giữ các tác phẩm nghệ thuật Champa của Henri Parmentier và các học giả làm việc cho Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (École Française d'Extrême-Orient, viết tắt là EFEO).

    Bài viết này nhằm phân tích công việc sưu tập nghệ thuật Champa do hai người Pháp tiến hành vào cuối thế kỉ 19 cho đến năm 1936, bao gồm Charles Lemire và Henri Parmentier.

    Charles Lemire (1839 - 1912) là một công sứ Pháp làm việc cho chính quyền thực dân Pháp,5 và Henri Parmentier (1871 – 1949) là kiến trúc sư và nhà khảo cổ làm việc cho EFEO. Cả hai ông được xem như những người tiên phong, đóng vai trò then chốt trong việc sưu tập và trưng bày nghệ thuật Champa dưới chính quyền Pháp tại Đông Dương. Công việc của họ là nhân tố thúc đẩy sự thành lập của bảo tàng và mở đường cho việc nghiên cứu nghệ thuật Champa. Qua bài viết này, tác giả muốn lập luận rằng các quan chức thực dân và nhà khảo cổ đã sưu tập nghệ thuật Champa theo nhiều mục đích khác nhau: muốn sở hữu tư nhân, bảo tồn văn hoá, trưng bày cho công chúng và trao đổi buôn bán thương mại, như Brown đã đề cập trong nghiên cứu của mình. Bài viết cũng chỉ ra rằng việc sưu tập nghệ thuật châu Á thể hiện quyền lực thực dân của các quốc gia, đặc biệt là Pháp và các nước châu Âu.

    Charles Lemire: Câu chuyện của một nhà sưu tập đa mục đích

    Charles Lemire sinh ngày 8 tháng 6 năm 1839 tại Abbeville, miền Tây Bắc nước Pháp, và ông bắt đầu làm việc cho ngành điện tín kể từ năm 1861 (Hình 1, 2).6 Từ năm 1862 đến 1868, ông được bổ nhiệm làm việc tại Việt Nam cho chính quyền thực dân, đặt trụ sở tại Sài Gòn và Mỹ Tho. Trong thời gian sống tại đây, ông đã học tiếng Việt và tiếng Khmer, cũng như bắt đầu sưu tập các tác phẩm nghệ thuật châu Á với dự định sẽ xây dựng một bảo tàng tư nhân tại thị trấn quê nhà.7 Sau sáu năm làm việc tại miền Nam Việt Nam, ông quay về Pháp. Từ năm 1874 đến 1881, ông đảm nhận công việc mới, làm trưởng công ty điện tín cho chính quyền thực dân Pháp ở New Caledonia. Sau khi hoàn thành công việc tại đây, Lemire trở lại Việt Nam và được bổ nhiệm làm công sứ Pháp tại Qui Nhơn, sau đó là Đồng Hới và các tỉnh khác ở miền Trung Việt Nam. Kể từ đợt bổ nhiệm làm việc đầu tiên tại Nam Kỳ, Lemire đã bày tỏ mối quan tâm hàng đầu của mình về thực trạng xuống cấp của các đền tháp và điêu khắc Champa. Tại thời điểm này, tất cả hầu như bị bỏ mặc và rơi vào tình trạng hoang phế do sự dửng dưng của con người và hậu quả của các cuộc xung đột quân sự diễn ra hàng thế kỉ trước đó.

    Sau nhiều năm sống tại Đông Dương và sưu tập nghệ thuật như là một thú vui, Lemire lần đầu tiên xuất bản một danh mục cho các tác phẩm mà ông đã thu thập, với tựa đề “Bộ Sưu tập Đông Dương của Charles Lemire”. Theo Brown, danh mục này được công bố giữa năm 1887 và 1889, giới thiệu 592 hiện vật Lemire đã tích góp được, trong đó có nhiều hiện vật Champa mà ông đã sưu tập khi làm công sứ ở miền Trung Việt Nam nơi các di tích Champa nằm rải rác và bị bỏ mặc trong nhiều thế kỉ sau sự sụp đổ của Vijaya năm 1471.8 Bên cạnh cuốn danh mục, Lemire đã tổ chức một triển lãm để trưng bày bộ sưu tập của mình tại Abbeville năm 1890. Cho đến thời điểm này, có thể cho rằng Lemire là một người sưu tập cổ vật, người gìn giữ văn hoá và là người trưng bày triển lãm.

    Năm 1891, Lemire một lần nữa quay trở lại Việt Nam với vai trò công sứ Pháp tại Tourane (Đà Nẵng) và Faifo (Hội An). Ông ở đây cho đến năm 1893 và theo đuổi sở thích sưu tập của mình. Năm 1892, Lemire đã vận chuyển 50 tượng điêu khắc Champa về công viên Tourane – vị trí toạ lạc ngày nay của Bảo tàng Điêu khắc Chăm. Sau đó, số lượng các tác phẩm điêu khắc tăng lên đến 90, và được xem như bộ sưu tập đầu tiên của một bảo tàng sẽ được xây dựng trong tương lai. Không chỉ sưu tập các tác phẩm điêu khắc, năm 1893, Lemire lập bảng kiến nghị trình lên các quan chức thuộc địa bày tỏ nguyện vọng muốn xây dựng một bảo tàng địa phương để có thể gìn giữ các tác phẩm nghệ thuật tốt hơn.9 Tuy nhiên mãi đến năm 1915, ba năm sau khi ông qua đời toà nhà đầu tiên của bảo tàng mới được khởi công xây dựng.

     

    Henri Parmentier: Từ công viên Tourane đến Bảo tàng Henri Parmentier

    Henri Parmentier là một kiến trúc sư chuyên nghiệp và đồng thời là nhà khảo cổ tham gia vào việc sưu tập nghệ thuật Champa trong thời gian ông làm việc cho EFEO. Ông sinh năm 1871 trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật (Hình 3). Parmentier tốt nghiệp chuyên ngành vẽ kiến trúc tại trường Mỹ thuật Paris và bắt đầu làm việc cho EFEO tại Việt Nam ngay sau khi viện này được thành lập vào năm 1900, với nhiệm vụ khảo sát các di tích khảo cổ Champa. Năm 1904, ông được bổ nhiệm làm Trưởng bộ phận khảo cổ của EFEO.10 Trong những năm làm việc cho EFEO, Parmentier tiến hành khảo sát và phát lộ nhiều di tích Champa ở miền Trung Việt Nam; và qua công việc khảo cổ của mình, ông đã lập nên bảng niên đại đầu tiên cho hệ thống kiến trúc và điêu khắc Champa.11 Việc xác định niên đại này là một nhân tố quan trọng trong công việc mô tả và trưng bày di sản văn hoá này, tuy nhiên đây vẫn là một vấn đề hết sức phức tạp đối với các học giả nghiên cứu về Champa ngày nay. Parmentier là người đầu tiên đề cập đến vấn đề này và công trình của ông tạo nền tảng cơ bản cho việc nghiên cứu tiến trình phát triển và phân loại kiến trúc và điêu khắc Champa trong nhiều thập niên về sau. Bên cạnh đó, Parmentier cũng là nhà nghiên cứu với rất nhiều bài viết được xuất bản trên tập san của EFEO, được biết đến dưới tên gọi Bulletinde l'École Française d'Extrême-Orient (viết tắt BEFEO). Ông đã thực hiện rất nhiều bản vẽ về các đền tháp và tác phẩm điêu khắc Champa trong quá trình điều tra và khai quật các di tích Champa.

    Giống như Auguste Barth (1834 –– 1916), một thành viên của Viện Hàn lâm Bia ký và Mỹ văn (Académie des Inscriptions et belles-lettres) và là một trong những người sáng lập của EFEO, Parmentier ôm ấp ý tưởng xây dựng một bảo tàng địa phương nơi những tác phẩm nghệ thuật Champa sau khi được thu thập về sẽ được trưng bày và bảo quản tốt hơn, thay vì gửi tất cả về Bảo tàng Guimet hay những nơi khác ở Pháp. Năm 1902, ông bắt đầu vẽ phác thảo về “một dự án kho lưu trữ” (projet de depot) để bảo quản bộ sưu tập các hiện vật mà Charles Lemire đã mang về khu vườn Tourane kể từ năm 1892, nhưng vẫn nằm dầm mưa dãi nắng tại đây.12 Những bản vẽ này phác hoạ một ngôi nhà theo phong cách Việt, bằng gỗ với mái lợp và các hàng cột chống, các bên để mở (Hình 4). Cũng tại thời điểm này, EFEO đang xem xét việc thành lập một bảo tàng trung tâm tại Sài Gòn để trưng bày các hiện vật thu thập từ Đông Dương, hoặc sẽ xây dựng một chuỗi các bảo tàng địa phương ở nhiều nơi khác nhau. Tuy nhiên, đề án xây dựng bảo tàng tại Tourane của EFEO đã bị chính quyền Trung Kỳ phản đối do những khó khăn về tài chính.

    Hình 4: Bản vẽ đầu tiên của Parmentier về Bảo tàng tại Tourane. Nguồn: Lưu trữ EFEO

    Tiếp tục đeo đuổi kế hoạch xây dựng bảo tàng tại Tourane, năm 1908, Parmentier lập bản báo cáo về việc thành lập một bảo tàng Chàm. Trong văn bản này ông đã thuyết phục các nhà cầm quyền về tính khả thi của việc xây dựng một kho lưu trữ có thể sử dụng như là một bảo tàng với giá thành xây dựng thấp.13 Ông cũng báo cáo về tình trạng nguy kịch của các hiện vật điêu khắc, bao gồm những hiện vật đã được tháo gỡ di dời khỏi đền tháp và những hiện vật được lưu giữ ở Sài Gòn, Tourane, các toà nhà dinh sứ cũng như ở các ngôi làng rải rác. Bên cạnh đó, Parmentier thiết lập các nguyên tắc áp dụng cho chính sách sưu tập hiện vật của bảo tàng Chàm trong tương lai. Có ba nguyên tắc cơ bản, nhấn mạnh việc bảo quản, trưng bày và tôn trọng bối cảnh hiện vật, bao gồm:14

    1.         Bất cứ hiện vật nào được tìm thấy ở ngoài nơi xuất xứ ban đầu của hiện vật phải được đưa về bảo tàng. Tương tự như vậy đối với các tác phẩm riêng lẻ khi ngôi đền tháp ban đầu nơi hiện vật thuộc về đã biến mất, miễn là những hiện vật này có tầm quan trọng về mặt khảo cổ, và không được thờ cúng tại thời điểm đó. Điều này cũng áp dụng cho các văn bia, trừ khi các văn bia hiện tại vẫn đang là một bộ phận cấu thành của ngôi đền.

    2.         Đối với các hiện vật tìm được qua các cuộc khai quật, nhưng thuộc về một công trình đền tháp có thể nhận dạng được, và việc nghiên cứu những hiện vật này có thể giúp hiểu thêm về công trình đó, thì cần để những hiện vật này ở lại, trừ khi chúng ở trong tình trạng hư hại không thể bảo quản tại chỗ.

    3.         Cần tôn trọng việc thờ cúng của một số hiện vật, bởi vì các nông dân tin rằng những hiện vật này có thể đóng vai trò trung gian trong các nghi lễ vào thời kì hạn hán.

    Trên cơ sở những nguyên tắc này, Parmentier đã lập một danh mục gồm 300 tác phẩm điêu khắc và 70 văn bia có thể vận chuyển về bảo tàng Chàm trong tương lai ở Tourane. Tuy nhiên phải mất một vài năm nữa để dự án bảo tàng trở thành hiện thực. Năm 1913, ông Charles Gravelle – Giám đốc Ngân hàng Đông Dương, ghé thăm vườn tượng Tourane. Sau chuyến đi này, ông đã viết thư cho Giám đốc EFEO, Claude Eugene Maitre, để bày tỏ mối quan tâm về thực trạng của các tác phẩm điêu khắc trong khu vườn này cũng như nhu cầu cấp thiết phải xây dựng một bảo tàng. Năm 1914, Toàn quyền Đông Dương chấp nhận cấp kinh phí cho dự án bảo tàng, và Parmentier được bổ nhiệm làm giám đốc dự án. Việc xây dựng chính thức bắt đầu vào năm 1915 và hoàn thành năm 1916. Công việc di chuyển hiện vật, trưng bày diễn ra trong ba năm sau đó, và hoàn tất vào tháng 4 năm 1919. Sau thời gian này bảo tàng bắt đầu mở cửa đón du khách, được biết đến với tên gọi Bảo tàng Chàm tại Tourane (Musée Cam de Tourane).15 Toà nhà được thiết kế bởi hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair, với những ý kiến đóng góp của Parmentier (Hình 5, 6, 7). Theo danh mục xuất bản năm 1919 của Parmentier, bảo tàng trưng bày 160 hiện vật được thu thập từ nhiều tỉnh miền Trung của Việt Nam.

    Hình 5: Bản vẽ mặt trước Bảo tàng Chàm tại Tourane của Delaval, năm 1911. Nguồn: Lưu trữ EFEO

    Hình 6: Bản vẽ mặt trước Bảo tàng Chàm tại Tourane của Auclair, năm 1915. Nguồn: Lưu trữ EFEO

    Hình 7: Bảo tàng Chàm tại Tourane năm 1919. Nguồn: Lưu trữ EFEO

    Trong những năm sau đó, EFEO tiếp tục khai quật và nhập về bảo tàng một số lượng lớn hiện vật. Vì vậy, toà nhà hình chữ nhật ban đầu được mở rộng bằng cách xây thêm hai gian phòng ở hai bên, tạo thêm không gian cho công tác trưng bày, lưu trữ và thư viện. Ngày 11 tháng 3 năm 1936, bảo tàng được chính thức khánh thành với sự tham dự của vua Bảo Đại, các quan chức thuộc địa, các học giả EFEO (Hình 8 & 9). Từ năm này, bảo tàng được đổi tên thành Bảo tàng Henri Parmentier (Musée Henri Parmentier) để ghi nhận những nỗ lực của Parmentier trong việc kiến lập một bảo tàng nghệ thuật – khảo cổ Champa, đánh dấu một chặng đường 43 năm kể từ bản kiến nghị đầu tiên của Charles Lemire vào năm 1893 (Hình  10 & 11).16 Parmentier đã chỉ đạo công tác trưng bày dựa theo xuất xứ của hiện vật. Trên diện tích 1000 m2 không gian trưng bày được chia thành các phòng Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mẫm và các hành lang Quảng Trị, Quảng Ngãi, Kon Tum và Bình Định.17

    Hình 8, 9: Mặt trước và sau thiệp mời dự lễ khánh thành bảo tàng ngày 11/3/1936. Nguồn: Lưu trữ EFEO

    Hình 10: Bảo tàng Henri Parmentier năm 1936. Nguồn: Lưu trữ EFEO

    Hình 11: Cột chỉ đường đến Bảo tàng Henri Parmentier. Nguồn: Lưu trữ EFEO

    Nhận xét về công việc của Charles Lemire và Henri Parmentier, có thể thấy rõ là cả hai ông đều là những người tiên phong trong việc sáng lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm. Nói một cách khác, Lemire là người đặt những viên gạch nền tảng đầu tiên cho toà nhà này, và Parmentier là người xây dựng nên một toà nhà hoàn chỉnh.

    Cả hai đều tham gia vào việc sưu tập và trưng bày nghệ thuật Champa, xuất phát từ đam mê tìm hiểu các nền văn minh cổ đại, sự quan tâm gìn giữ di sản văn hoá, và ước muốn trưng bày các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo phục vụ công chúng. Cả hai ông đều chọn Tourane làm địa điểm lí tưởng để xây dựng bảo tàng vì thành phố nằm ở vị trí trung tâm nơi các di tích Champa hiện hữu ở miền Trung Việt Nam. Tuy nhiên, có một vài điểm khác biệt trong việc sưu tập giữa Lemire và Parmentier mà bài viết này sẽ chỉ ra sau đây:

    Thứ nhất, việc sưu tập của Parmentier về bản chất mang tính khoa học trong khi Lemire khởi đầu là một người nghiệp dư. Đối với bảo tàng Chàm tại Tourane, Parmentier bắt đầu sưu tập thông qua công việc khảo sát, và tuân thủ theo những qui định chi tiết cho việc lựa chọn hiện vật. Cuốn danh mục của ông, tựa đề “Các tác phẩm điêu khắc Chàm tại bảo tàng Tourane” (Les sculptures chames au Musée de Tourane) in năm 1919 đã ghi lại thông tin của tất cả hiện vật bảo tàng hiện lưu giữ và cuốn danh mục này vẫn được sử dụng đến hôm nay cho mục đích tra khảo – nghiên cứu. Parmentier không đồng ý với các quan chức thuộc địa ở cách thức họ ứng xử với đền tháp và điêu khắc Champa. Ông tin rằng không nên tách rời các bộ phận kiến trúc đền tháp và hiện vật điêu khắc ra khỏi các ngôi đền “nếu không có động cơ mang tính khoa học hoặc một ý định nhằm bảo quản”18, và một khi đã được thu thập, các hiện vật điêu khắc cần phải được trưng bày ở các bảo tàng nằm gần nơi xuất xứ của chúng. Tuy nhiên trên thực tế, một số lượng lớn tác phẩm điêu khắc Champa đã được mang ra khỏi các ngôi đền tháp và được chuyển về Pháp bởi các quan chức thuộc địa và các nhà sưu tập.19 Ngược lại, Charles Lemire sưu tập điêu khắc Champa dựa trên niềm tin rằng những hiện vật này sẽ được bảo vệ khỏi sự hư hại do con người và thời tiết gây nên, và vì thế ông chủ ý tách gỡ hiện vật ra khỏi đền tháp nơi hiện vật vốn dĩ thuộc về. Với những hiện vật đã được vận chuyển về công viên Tourane, Lemire cũng đã ghi chép nguồn gốc xuất xứ của hiện vật, tuy nhiên công tác làm hồ sơ tư liệu của ông không mang tính chất khoa học chặt chẽ như Parmentier.20

    Một điểm khác biệt nữa giữa hai nhà sưu tập được thể hiện qua thái độ của họ đối với hiện vật. Với Parmentier, động cơ chính của việc sưu tập là hình thành bộ sưu tập cho một tổ chức, vì thế tất cả các hiện vật điêu khắc mà ông thu thập đã được nhập về bảo tàng. Không có chứng cứ nào cho thấy Parmentier đã thu thập hiện vật để làm sở hữu tư nhân trong suốt những năm ông sống và làm việc cho EFEO tại Đông Dương. Tuy nhiên đối với Lemire, việc sưu tập của ông khởi đầu được thúc đẩy bởi động cơ sở hữu cá nhân và sau đó là thương mại. Ở đỉnh cao sự nghiệp với tư cách là quan chức thuộc địa và là nhà sưu tập, ông đã trưng bày bộ sưu tập nghệ thuật Châu Á của mình, ít nhất hai lần, với ý định làm nổi bật vị thế xã hội và cá nhân mình như hình ảnh của một nhà thám hiểm thuộc địa người Pháp theo đuổi sứ mệnh khai hoá văn minh ở Đông Dương. Mặc dù Lemire đã mang 50 pho tượng điêu khắc về công viên Tourane và kêu gọi việc thành lập một bảo tàng địa phương để trưng bày và bảo quản những hiện vật này, hành động này dường như chỉ là “kết quả của một sự tình cờ và sự chống đối” như Brown đã lập luận.21 Tài liệu lưu trữ của EFEO và ghi chép của Parmentier cho thấy trong khi làm công sứ tại Qui Nhơn, Lemire được chính quyền thực dân yêu cầu thu thập hiện vật để gửi về các bảo tàng ở Pháp. Tuy nhiên, ông đã phớt lờ yêu cầu này và quyết định di chuyển các hiện vật về công viên Tourane, bên cạnh đó gửi về Pháp cho bộ sưu tập tư nhân của mình.

    Điểm khác biệt cuối cùng giữa hai nhà sưu tập là Parmentier đã bày tỏ sự tôn trọng của ông đối với người dân địa phương và quan tâm đến ý nghĩa tôn giáo của những hiện vật điêu khắc trong quá trình thu thập hiện vật để trưng bày tại bảo tàng. Ông tin rằng những người dân địa phương vẫn bày tỏ sự tôn kính đối với các pho tượng đặt ở các đền tháp và nỗi sợ hãi tâm linh phần nào đó đã ngăn cản họ xâm hại các pho tượng.22 Vì vậy khi thiết lập các nguyên tắc sưu tập hiện vật, ông đã lưu ý rằng không nên di dời các tượng điêu khắc hiện nay vẫn còn được người dân địa phương thờ cúng. Lemire, ngược lại, nhìn người Annam qua lăng kính chủ quan của một nhà cầm quyền với hệ tư tưởng thực dân, tin rằng sứ mệnh của người Pháp ở các nước thuộc địa là để giải cứu nền nghệ thuật cổ, như ý kiến của Nora Taylor.23 Ở một số bài viết của mình, Lemire khẳng định rằng người dân địa phương đã huỷ hoại một cách thiếu hiểu biết các di tích Chăm, và ông thậm chí còn gọi họ là “những người man rợ” (barbarians) hay “những người Annam đi xâm chiếm” (Annamite conquerors). Đây là những lời lẽ rất nhạy cảm cần nên tránh dùng trong các tài liệu, ấn phẩm về lịch sử và nghệ thuật Champa. Tuy nhiên bản chất thật sự của việc sưu tập dưới thời thực dân, theo như Claire Wintle,24 là để thể hiện quyền lực của những người chinh phục. Trong ngữ cảnh này, chúng ta có quyền đặt câu hỏi: ai là người đi chinh phục và ai, vì lợi ích cá nhân họ, đã tách rời các pho tượng tôn giáo ra khỏi đời sống/ngữ cảnh tôn giáo của những pho tượng đó?

    Kết luận

    Charles Lemire và Henri Parmentier đóng vai trò tiên phong trong việc sáng lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm. Công việc sưu tập và trưng bày các tác phẩm điêu khắc Champa của hai ông đã mở đường cho những nghiên cứu về sau này trong lĩnh vực lịch sử, nghệ thuật, bia ký Champa. Từ bộ sưu tập đầu tiên gồm 50 hiện vật mà Lemire đã chuyển về công viên Tourane năm 1892, Parmentier đã lập bản báo cáo thực trạng các hiện vật này, thiết lập qui tắc sưu tập hiện vật, và triển khai dự án xây dựng bảo tàng mà Lemire đã khởi xướng. Sau nhiều năm, Bảo tàng Chàm tại Tourane cuối cùng đã được xây dựng tại địa điểm công viên Tourane gần sông Hàn, nơi bảo tàng toạ lạc ngày nay.

    Vai trò của hai nhà sưu tập đã được bảo tàng và cộng đồng những người yêu thích nghệ thuật Champa ghi nhận sâu sắc. Tuy nhiên những động cơ phía sau việc sưu tập của Lemire và Parmentier khá phức tạp và thay đổi theo thời gian. Là một kiến trúc sư và nhà khảo cổ, Parmentier thể hiện sự cam kết, gắn bó của mình đối với công tác trưng bày phục vụ công chúng và việc gìn giữ văn hoá, như đã thể hiện trong phương pháp làm việc của ông. Hoạt động sưu tập của Lemire, ngược lại, gây nên nhiều tranh cãi bởi lẽ việc làm của ông không chỉ đơn thuần xuất phát từ mong muốn gìn giữ nghệ thuật châu Á và trưng bày cho công chúng, mà còn được thúc đẩy bởi mong muốn sở hữu cá nhân và thu lợi nhuận.

    Trong trào lưu trao trả hiện vật văn hoá đang diễn ra ở nhiều quốc gia hiện nay, các vấn đề xung quanh việc sưu tập hiện vật thời thực dân đang được nhìn nhận trở lại.25 Các hiện vật điêu khắc Champa đã được gửi đến nhiều bảo tàng và nhà trưng bày ở Pháp và các quốc gia khác. Không thể phủ nhận rằng các quan chức thực dân và những nhà sưu tập cổ vật đã tách rời các pho tượng điêu khắc Champa ra khỏi bối cảnh và nơi xuất xứ ban đầu, ban cho những hiện vật này một đời sống bảo tàng (museum life) và qua đó, họ đã dựng lại và làm thay đổi ý nghĩa, chức năng của các hiện vật điêu khắc. Tuy nhiên, vào thời điểm Việt Nam nằm dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, nhiều đền tháp Champa đã bị huỷ hoại và các hiện vật điêu khắc ở các đền tháp đã bị bỏ mặc. Từ cái nhìn của một quan chức thực dân, Lemire tin tưởng rằng sứ mệnh của mình là gìn giữ các công trình cổ đại này, và vì thế song song với việc sưu tập, ông kêu gọi sự quan tâm của các cơ quan thuộc địa nhằm có những biện pháp thích hợp để bảo vệ tài sản văn hóa Champa khỏi bị huỷ hoại. Lịch sử đã sang trang, chúng ta không phủ nhận công việc của các quan chức và học giả người Pháp mà Lemire và Parmentier là những mắt xích quan trọng, nhưng đồng thời chúng ta cũng cần nhìn nhật sự thật lịch sử một cách khách quan với một tư duy phản biện, phê phán.

     

    Nguyễn Hoàng Hương Duyên

    *Tác giả muốn gửi lời cảm ơn đến nhà nghiên cứu Julian Brown và luận án tiến sỹ của ông, với đề tài về nghệ thuật Champa và các vấn đề bảo tàng học liên quan. Trong luận văn này, Brown đã nghiên cứu về những đóng góp của Charles Lemire và Henri Parmentier đối với nghệ thuật Champa. Bài viết này cũng nhằm mục đích chuyển tải những thông tin, luận điểm từ luận văn này đến bạn đọc Việt Nam.

    _____

    1 Trong bài viết này, tác giả dùng từ Champa cho những hiện vật điêu khắc và công trình tôn giáo kiến trúc của Champa. Champa là từ được chuyển tự từ chữ “Campā” trong tiếng Phạn, xuất hiện ở các văn bia để gọi các tiểu quốc (chính thể) ở khu vực miền Trung Việt Nam. Các công trình nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng Champa là tên gọi chung (generic term) để chỉ các chính thể nằm ở ven biển và Tây Nguyên miền Trung Việt Nam cho đến đầu thế kỉ 19. Về vấn đề này, có thể tham khảo các nguồn tài liệu sau: Bruce M. Lockhart, “Colonial and Post-Colonial Constructions of Champa” trong The Cham of Vietnam, ed. Bruce M. Lockhart and Trần Kỳ Phương (Singapore: NUS Press, 2010); William Southworth, “The Origins of Campa in Central Vietnam - a Preliminary Review,” (SOAS, University of London, 2001), 21 - 25; Keith Taylor, “The Early Kingdoms,” và Kenneth R. Hall, “Economic History of Early Southeast Asia,” trong The Cambridge History of Southeast Asia - Volume One, Part One – From early times to c. 1500, ed. Nicholas Tarling (Cambridge: Cambridge University Press, 1992): 153-157; 252-260.

    Ngoài ra, một số từ như “Chăm”, “Chàm” cũng xuất hiện trong bài viết này khi nói về tên gọi của bảo tàng qua các thời kỳ. Ví dụ: Bảo tàng Chàm tại Tourane (Musée Cam de Tourane) trong thời kỳ 1919 – 1935, nhưng tên gọi chính thức ngày nay là Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Ngoài ra trong các tài liệu của người Pháp hoặc tài liệu dịch trước đây, chữ “Chàm” vẫn được sử dụng. Tác giả tôn trọng tính nguyên bản, nên vẫn sử dụng cả hai chữ “Chàm” và “Chăm” tuỳ theo bối cảnh. Về vấn đề danh xưng “Chàm” hay “Chăm”, xem bài viết của nhà nghiên cứu Inrasara tại đường dẫn:

    https://www.baodanang.vn/channel/5433/201008/trao-doi-cham-hay-cham-dung-1999374/ (truy cập 13/5/2019)

    2 Văn bia Mỹ Sơn C.73 A, niên đại thế kỉ 6 SCN thuộc triều vua Sambhuvarman, nhắc đến việc ngôi đền dâng cho thần Bhadresvara đã bị phá huỷ vào thế kỉ 5. Ngôi đền nay do vua Bhadravarman I (thế kỉ 5) xây dựng. Vì vậy có thể suy đoán rằng trước khi những ngôi đền bằng gạch được xây dựng ở Mỹ Sơn vào khoảng thế kỷ 7, đã từng tồn tại ít nhất một ngôi đền bằng gỗ ở đây từ thế kỉ 5. Xem: Karl-Heinz Golzio, Inscriptions of Campa (Germany: Shaker Verlag GmbH, 2004), 7-8.

    3 Tháp Po Rome, có niên đại vào khoảng thế kỷ 17 được xem là ngôi tháp muộn nhất vẫn còn tồn tại đến hôm nay.

    4 Marilyn B. Young, “The Vietnam Wars: 1945 – 1990,” (New York: Harper Collins Publishers, 1991), 32; Dưới thời kỳ thuộc địa, Việt Nam được chia thành là Tonkin, Annam và Cochinchina, tương ứng với Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

    5 Résident, gọi là Công sứ, dùng để chỉ một quan chức người Pháp, được chỉ định bởi chính quyền thực dân để quản lý một tỉnh ở nước thuộc địa.

    6 Emmanuel Guillon, “Charles Lemire,” SACHA, số 8 (Tháng 12, 2001): 16; Brown, The Field of Ancient Cham Art in France, 174-192.

    7 Brown, 176. Các thông tin về việc sưu tập nghệ thuật châu Á của Lemire được biết đến thông qua các bài viết của Lemire và thư từ trao đổi giữa ông và chị gái mình, và các học giả người Pháp.

    8 Vijaya là một trong số các tiểu quốc thuộc Champa. Năm 1471, quân đội Đại Việt đã chiếm đóng thủ đô Vijaya và tàn phá kinh thành này. Những thế kỉ sau đó đã chứng kiến sự tan rã và lụi tàn của các tiểu quốc miền Nam Champa và Champa chính thức chấm dứt sự tồn tại của mình như một nhà nước vào năm 1832.

    9 Guillon, 16.

    10 Brown, 119; Về tiểu sử của Henri Parmentier, xem tại đường dẫn:

    http://www.efeo.fr/biographies/notices/parmentier.htm (truy cập 12/5/2019)

    11 Southworth, 128 – 132; Henri Parmentier, Inventaire Descriptif des Monuments Čams de l'Annam, Tome I – L'étude de l'art Čam (Paris: Leroux, 1909).

    12 Simone Delobel, “Genesis of the Cham Sculpture Museum in Da Nang”, SACHA, số 11 (Mùa đông, 2004 – 2005): 10-11.

    13 Brown, 194.

    14 Trần Thuý Điểm, “History of the Museum,” trong Cham Art: Treasures from the Da Nang Museum, Vietnam, ed. Emmanuel Guillon (Bangkok: River Books, 2001), 10-13.

    15 Về lịch sử xây dựng bảo tàng, xem Henri Parmentier, “Catalogue du Musée Cam de Tourane,” BEFEO1919,  số 3  tại đường dẫn

    (https://www.persee.fr/doc/befeo_0336-1519_1919_num_19_1_5651) và Bản dịch tiếng Việt “Vựng tập của Viện Bảo tàng Chàm tỉnh Tourane”, 1 – 4.

    16 Clémentin-Ojha and Manguin, 219 – 220.

    17 Trần, 11.

    18  Delobel, 11.

    19 Jean-Michel Beurdeley, “La Collection Morice du Musée d'Histoire naturelle de Lyon,” SACHA, số 1 (Tháng 7, 1997), 4-7; Robert Stenuit, The Dr Morice Collecion: A Shipwreck Consignment of Cham Staturary,” Minerva, số 5, vol. 16 (Tháng 9/10, 2005), 34-41.

    Bác sĩ Claude Albert Morice (1845-1877) đã gửi nhiều tượng Champa về Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Lyon. Vào ngày 17 tháng 6 năm 1877, con tàu hàng hải Pháp tên Mekong trên đường từ Sài Gòn đi Marseille chở theo bộ sưu tập tượng của Morice đã bị đắm ở ngoài khơi bờ biển Somalia. 18 tác phẩm được khai quật từ vụ đắm tàu này, trong đó 10 tác phẩm đã được nhận diện. Trong bài viết về bộ sưu tập Champa tại Bảo tàng Guimet, giám tuyển Pierre Baptise đã ghi chép lại 23 hiện vật điêu khắc Champa hiện đang trưng bày ở bảo tàng, trong đó có nhiều hiện vật được gửi về Guimet bởi các nhà cầm quyền thuộc địa và các nhà sưu tập.

    20 Điều này đã dẫn đến một số sai lệch trong việc truy tìm nguồn gốc xuất xứ của hiện vật. Xem thêm Parmentier viết về Lemire và việc sưu tập của ông, trong “Vựng tập của Viện Bảo tàng Chàm tỉnh Tourane”.

    21 Brown, 200-201.

    22 Delobel, 11.

    23 Taylor, 149 – 150.

    24 Claire Wintle, “Colonial Perspectives on Material Culture from the Adaman and Nicobar Islands,” trong Colonial Collecting and Display: Encounters with Material Culture from the Adaman and Nicobar Islands  (Oxford and New York: Berghahn, 2013), 73.

    25 James Cuno, Who Owns Antiquity? Museums and the Battle over Ancient Heritage (Princeton and Oxford: Princeton University Press, 2008), chương mở đầu; James Cuno, Culture War: The Case Against Repatriating Museum Artifacts. - http://www.foreignaffairs.com/articles/142185/james-cuno/culture-war  (truy cập 13/5/2019).

    Nguồn: chammuseum.vn/

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,088,594

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/