Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,515,441

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Cái Tết khó quên (2)

Vũ Hạnh

  • Thứ năm, 12:44 Ngày 11/02/2010
  • Liên tiếp tôi bị ba nơi chối bỏ, không muốn nhìn là chỗ quen thân. Ít nhiều tôi đã cảm thấy buồn lòng nhưng tự nghĩ không thể phiền trách họ. Các người ấy từ miền Trung chạy vào, hẳn chưa hòan hồn về sự khủng bố của mật vụ Cẩn. Vừa tự an ủi rằng những người tốt hãy còn đông đảo trên cuộc đời này, tôi đi lang thang khắp các phố phường ngắm nhìn thiên hạ ăn Tết, nhờ vậy mà thuộc đường phố khá nhiều. Số tiền của ba người thân cho tôi ở Huế đã dùng mua vé máy bay, sắm những vật dụng cần thiết, chỉ còn rất ít đủ ăn vừa no một cách thanh đạm trong vài tuần lễ - dĩ nhiên không được ăn Tết, dẫu ăn ngoài đường. Đó là cái Tết thực sự cô đơn, thật sự không Tết mà tôi đã gặp. Tôi càng thắm thía ngày Tết là ngày của sự đoàn tụ gia đình, và nếu thiếu cơ sở ấy cái Tết sẽ thành vô nghĩa.

    Tôi cũng tự an ủi rằng nếu không lâm vào cảnh này làm sao tôi hiểu hết được đầy đủ ý vị của một cái Tết đòan tụ vui vầy ở giữa gia đình? Giá trị mọi vật lại phải tìm thấy từ mặt trái của nó, nghĩa là từ sự so sánh hay nói cách khác, từ trong mâu thuẫn. Nơi tôi khởi đầu có sự nhận thức trở lại về lẽ mâu thuẫn như là nguyên tắc lớn nhất chi phối cuộc sống trong vũ trụ này.

    Bấy giờ, Sài Gòn cũng như Thủ Đức rất nhiều hàng quán bán các thức ăn, đồ nhậu, gần như thức trắng về đêm. Dầu không biết đến ăn nhậu và không có tiền ăn nhậu, tôi cũng đã thức với họ, rồi ban ngày vào Sở Thú làm một giấc ngắn trên các ghế đá, ở nơi khuất lấp, hoặc mua một vé xi nê hạng chót để có chỗ ngồi làm một giấc dài. Từ thực tế đó tôi nghĩ ra một vế đối: “Đêm Thủ Đức, năm canh thức đủ”, nhưng mãi đến nay chưa gặp ai đối cho được vừa lòng, vì đêm đã là năm canh, và tiếng “thức đủ” nói lái thành ra Thủ Đức.

    Cuối cùng, tôi đến gõ cửa nhà người bà con là anh Phan Ngô, bấy giờ là trung úy không quân chế độ cũ. Anh là con ông Phan Khoang, cậu tôi, tác giả nhiều sách biên khảo cùng một lứa tuổi, và ông đã có thời học chung một lớp, nhưng chúng tôi ít thân nhau vốn anh là người nhỏ nhẹ, hiền lành rất mực. Ban đầu, do một kiêng kỵ về mặt quan điểm chính trị khác biệt tôi không muốn gặp nhưng khi thấy tôi, anh đã mừng rỡ một cách chí tình. Nhà hẹp, anh dọn ga-ra để tôi có được chỗ nằm, và anh tâm sự rằng: “Chúng ta có chính kiến riêng, cứ việc giữ lấy, nhưng là anh em phải đùm bọc nhau, anh đừng e ngại gì hết”.

    Những năm đầu dưới chế độ Diệm-Nhu đời sống hết sức khó khăn, cả về chính trị cũng như kinh tế. Dầu anh Phan Ngô luôn rất ân cần nhưng tôi không muốn phiền đến cơm nước nhà anh nên suốt ngày đi tìm kiếm việc làm chỉ mãi tối mịt mới về đặng có chỗ mà ngả lưng qua đêm. Tôi còn thất nghiệp dài dài suốt một năm trời. Cả năm dài ấy, anh Trương Văn Thông dạy học từ ngoài Đà Nẵng hàng tháng gởi tiền vào nuôi sống tôi. Trong thời gian này, nhờ một người bạn là Trần Công Diếu - sau này anh mới là bạn cột chèo với tôi - giới thiệu, tôi được quen anh Phạm Hoài, công nhân điện lực. Dẫu nghèo, anh đã vui lòng cho tôi mượn chiếc xe đạp để rong ruổi khắp Sài Gòn tìm kiếm việc làm. Chiếc xe cà tàng, không thắng, không chuông, không có đôi vè nhưng quí hơn con xích thồ, trong hoàn cảnh đó. (Sau ngày giải phóng không lâu, tôi rất vui mừng khi nghe tin anh Phạm Hoài được phong Anh hùng lao động của ngành điện lực). Rồi tôi được một người bạn giới thiệu đến làm gia sư ở nhà ông Nguyễn Văn Điệt, anh của ông Nguyễn Văn Bổng - tác giả Con Trâu - bấy giờ đang ở ngoài Hà Nội và về sau này, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ mở rộng, anh đã có lúc vào chiến đấu ở miền Nam với một cái tên đổi khác là Trần Hiếu Minh, vì đã có dịp về ngay Sài Gòn ở cạnh nơi tôi, với một hầm nước làm chỗ ẩn náu mỗi khi cảnh sát đi lùng. Cuối cùng, tôi gặp được anh Trương Lâm - anh bà con của anh Trương Văn Thông - trốn vào Thủ Đức đổi tên là Nguyễn Văn Hai. Rất nghèo, nhưng anh là Mạnh thường Quân cho nhiều anh em từ ngoài Trung chạy vào tị nạn, và tôi tá túc nơi anh một thời gian dài. Ở đây, tôi được gặp lại anh Nguyễn Văn Dư, ân nhân của tôi khi còn nằm trong nhà lao Thăng Bình. Anh rời quân đội đi theo người yêu là em ruột chị Trương Lâm. Năm sau, vợ tôi cũng đã lập mưu - bởi lẽ chính quyền địa phương không cho di chuyển ra ngoài khu vực - để đưa con vào sum họp. Rồi đến lúc tôi hay được tin anh Phan Ngô, bấy giờ đang là trung tá không quân, âm mưu với Nguyễn Văn Cử ném bom giết Diệm ở Dinh Độc Lập, nhưng việc không thành nên phải vào tù.

    Vào Sài Gòn chẳng bao lâu, tôi nghe được tin quận trưởng ở quê tôi bị ra tòa về các tội ác, và bị giam giữ. Chi trưởng Trần Mịch, đổi vào Quảng Ngãi, mua một xe vespa mới, chạy húc đầu vào một chiếc xe tải, tương quan lực lượng quá sức chênh lệch nên đã giã từ cuộc sống không kịp trối trăng. Hai Cu, nhân viên Công an tích cực thì cũng nối gót theo thủ trưởng mình. Anh ta mua một chiếc xe gắn máy hiệu Sachs mới toanh, chạy vượt qua mặt một cách trái luật chiếc xe chở khách mà trước đây con của người chú ruột tôi đã đưa tôi về nhà ngày rời lao xá Hội An, bị em tôi cán vỡ sọ. Em tôi không bị sự trừng phạt nào, vì đúng luật và xe đã được bảo hiểm.

    Nhìn lại quá khứ, tôi thấy hầu hết những kẻ xử tệ với tôi đều đã chuốt lấy hậu quả bi thảm. Thật tình, tôi không chờ đợi những con người ấy lại gặp những đoạn kết thúc như thế. Nhưng đã xử tệ với tôi, nghĩa là họ đã xử tệ với nhiều người khác. Phải chăng, ở vào thời đại chúng ta, tất cả quả báo đều được thể hiện nhãn tiền theo đà siêu tốc.

     

    CHỌN MỘT BÚT DANH ĐỂ VÀO LÀNG BÁO

    Chọn một bút danh để vào làng báo, với tôi đó là kỷ niệm về một tình bạn tuyệt vời vào một thời điểm có lẽ là thảm khốc nhất mà dân tộc này đã phải trải qua.

    Trong nhiều năm dài, từ khi ký kết hiệp định Genève (1954) tạm thời chia đôi đất nước, bạo chúa Ngô Đình Cẩn ở miền Trung cùng bầy chó săn khát máu mang đủ hình dạng mặt người tha hồ lùng sục, cắn xé những người kháng chiến. Có nơi, chỉ trong một đêm, chúng đã bóp cổ gần trăm mạng người yêu nước rồi xô xác xuống một đập nước lớn. Trên những bãi cát ở huyện Thăng Bình, nhiều khi gió thổi, cát bay, lộ ra những phần thi thể các người bị chúng giết chết trong đêm, vùi lấp vội vàng. Chúng ta có thể liên hệ cuộc tàn sát này với những cuộc tàn sát khác ở trên thế giới, cũng do một lớp tay sai Hoa Kỳ gây nên, kể từ đất nước In-đô-nê-xi-a đến xứ Chi-lê và nhiều nước ở châu Mỹ La-Tinh… để thấy chúng đều mang tính cách chung, là sự man rợ u-tối đến độ khủng khiếp. Những người cầm bút ở Việt Nam này, và trên thế giới, làm ngơ trước thực trạng ấy có còn dám tự coi là lương tri thời đại được chăng? Cũng chưa có tổng kết nào để biết chính xác trong cái thời gian chín năm được Mỹ đưa về thống trị miền Nam, anh em nhà Ngô giết hại bao nhiêu con người yêu nước, để giúp nhân loại thấy được một cách cụ thể, qua biết bao nhiêu can thiệp, lật đổ trên toàn thế giới trong vòng nửa thế kỷ này, Hoa Kỳ với cái tham vọng bá chủ đã tàn sát bao nhiêu triệu con người lương thiện…

    Trong thời điểm đen tối ấy, vào khoảng giữa năm 1956, tôi đang bị giam ở nhà lao Thăng Bình về tội cầm đầu một cuộc biểu tình đòi được hiệp thương Nam Bắc để sớm thống nhất dất nước, thì một sáng nọ trong lúc tù nhân ngồi xổm trên sân vào giờ điểm danh có nghe thầy chú kháo rằng vừa bắt được một Việt Cộng nằm vùng là dân bản địa, đã chuyển vùng lên Đà Lạt hoạt động nay bị dẫn độ về đây, vào chiều ngày qua. Hướng theo các sự chỉ chỏ, tôi nhìn về phía cuối sân, dễ dàng nhận thấy một người trai trẻ vận chiếc sơ-mi xanh lợt và quần tây xám, vì chưa tiếp nhận được bộ quần áo vải đen của tù. Tôi hơi ngờ ngợ rằng đó là anh Võ Hạnh. Vài ngày sau đó, mới biết đúng thực là anh. Trong tù, sự cách ngăn rất chặt chẽ và mọi trao đổi với người khác phòng đều bị cấm ngặt, chỉ có ánh mắt nhìn nhau vội vàng những khi thoáng gặp.

    Anh Võ Hạnh là người cùng xã và là bạn học của tôi ở trường tiểu học Thăng Bình. Ba anh, thừa phái dưới chế độ cũ, đã qua đời sớm, mẹ anh nuôi con khôn lớn trong sự nghèo nàn. Tôi không được biết thật rõ gia cảnh của anh, vì không chơi thân nên về sau không hiểu anh được học đến đâu và đã chọn ngành nghề gì. Dưới thời Pháp thuộc, con cái nhà giàu ít chơi thân với con cái nhà nghèo. Giao tiếp, mặc nhiên mang tính chọn lựa giai cấp. Sau ngày Cách Mạng Tháng Tám (1945) thành công, cuộc sống mới có được sự hòa đồng và anh Võ Hạnh cùng tôi thỉnh thoảng gặp nhau, chào hỏi, trong các cuộc họp thanh niên. Rồi theo nhu cầu công tác, mỗi người lại đi một ngả.

    Thế ra, sau ngày ký kết hiệp định Genève, anh Võ Hạnh đã ở lại và đã chuyển vùng hoạt động. Những ngày sống ở lao xá Thăng Bình tôi chỉ thấy anh loáng thoáng qua một vài lần tập hợp điểm danh. Độ ít tuần sau, chúng tôi cùng được xô đẩy lên xe, bịt mắt, còng tay, đưa ra lao xá Hội An để chuẩn bị đày ra đảo. Điều thật bất ngờ, tại lao xá này, chúng tôi được nhốt chung phòng. Làng quê, trường học và những năm tháng hoạt động chưa giúp chúng tôi gần gũi với nhau bằng phòng giam này.

    Phòng chỉ đủ chỗ cho khoảng ba chục con người nhưng chúng đã nhốt gần một trăm mạng, sàn nằm được ghép từ những thanh củi nhỏ, dài, đầy những nhánh mắc lởm chởm, đâm mạnh vào lưng, thêm rệp lúc nhúc ở trong các kẽ cùng với đám muỗi ken dày tấn công liên tiếp trong một không khí oi nồng, ngột ngạt, khiến những người tù khó tìm giấc ngủ. Anh Võ Hạnh nằm cạnh tôi, đêm nào cũng chia cho tôi cái phần mát mẻ từ chiếc quạt giấy phe phẩy không ngừng trên bàn tay anh. Đồng thời, để dỗ giấc ngủ cho các bạn tù, mỗi đêm anh lại kể chuyện, nào Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc, nào Thủy Hử, Tây Du Ký v.v… và anh kể mãi như thế cho đến khuya lắc khuya lơ. Bấy giờ, trong tù chưa qui định giờ giới nghiêm như về sau này. Để giúp anh em quên sự nóng bức và nỗi nhớ nhà cũng như trăm điều buồn phiền của cảnh giam giữ, anh Võ Hạnh bao giờ cũng là người tìm thấy giấc ngủ sau cùng. Nhờ được tiếp xúc gần gũi trong cảnh khốn khổ như thế, tôi mới thấy những giá trị của con người anh. Sao anh tốt với anh em đến thế, và sao anh lại có được trí nhớ phi thường như vậy, bởi đêm nào anh cũng kể miên man, bất tận về các chuyện cổ mà không hề thấy cạn kiệt. Hồi ấy, tù được tự quản lấy việc cơm nước nên trong bữa ăn thỉnh thoảng có một lát thịt hay một miếng cá thì anh Võ Hạnh luôn tìm cách nhường phần ấy cho tôi mà tôi không hề hay biết: trong lúc nhận việc phân phối cơm nước cho các bạn tù, anh đã chôn phần ăn ấy ở dưới chén cơm và trao cho tôi. Đến lúc biết rõ, tôi san sớt lại thì anh nói giọng từ tốn nhưng cũng dứt khoát:

    - Mình đã quen rồi, Dũng cứ ăn đi. Chúng ta còn phải chịu đựng lâu dài.

    Có lẽ, anh nghĩ rằng tôi sinh trưởng trong một gia đình khá giả, không thể chịu nổi cực khổ của chốn lao tù nên hỗ trợ chăng? Không riêng với tôi, anh xử tốt với mọi người. Trong cái vóc dáng cao, gầy, màu da ngăm đen, tiếng nói nhỏ nhẹ ẩn chứa tấm lòng nhân ái, bao dung, anh đã khiến tôi nhiều khi xúc động. Thì ra, giá trị con người thực sự chỉ được tìm thấy qua những cảnh ngộ thử thách.

    Khi tôi lập mưu để sớm ra khỏi nhà tù (tôi có kể lại trong thiên hồi ký Cái Tết khó quên đăng trên Tạp chí Gia đình vào năm 1995, sau này đăng lại trên tờ Đặc san Công an Thành phố) thì hôm thấy tôi nhận lệnh phóng thích, anh nói với chút bùi ngùi:

    - Tình hình đất nước thế này không biết bao giờ anh em mình mới được gặp lại nhau.

    Tôi nói đủ cho anh nghe:

    - Chuyến này tôi sẽ tìm cách trốn vào Sài Gòn, theo đuổi nghề văn, ngành báo mà tôi yêu thích lâu nay. Nếu anh đồng ý, tôi sẽ xin mượn tên anh để làm bút hiệu. Như thế, chúng ta vẫn ở bên nhau.

    Anh không trả lời nhưng ôm chầm tôi, nước mắt lưng tròng. Vào được Sài Gòn, cuối năm 1956, tôi phải loay hoay mất trên nửa năm mới kiếm được một tư thục để dạy mỗi tuần vài giờ đặng mà nuôi sống, còn báo chí thì chẳng quen biết ai. Vì thế, tôi không có cơ hội nào để dùng đến cái bút hiệu Võ Hạnh ấp ủ từ lâu. Một hôm, có người bạn cũ, vốn là cơ sở họat động nội thành cho tôi hay rằng, anh …, - xin tạm gọi bằng tên Khang, cho khỏi mất lòng - muốn gặp gỡ tôi. Tôi biết anh Khang từ hồi còn kháng chiến Pháp. Anh lớn hơn tôi ít tuổi, được xem là một trí thức có tầm hiểu biết sâu rộng về mặt chính trị. Trước đây, tôi luôn coi anh là bậc đàn anh, đứng xa mà kính. Nhưng sau hiệp định Genève, anh được bố trí ở lại miền Nam và nghe anh đã đầu hàng. Ở con người này, gần như có đủ mọi đức tính tốt, trừ sự can đảm. Nhưng thiếu can đảm, hẳn không một đức tính nào có thể tồn tại.

    Tôi ngần ngại không muốn đến gặp anh, vì lý do anh là kẻ chiêu hồi. Nhưng một cán bộ, cũng là đồng hương, hoạt động nội thành - là anh Ba Nghĩa - khuyên tôi hãy đến, vì nhận xét rằng anh Khang do quá sợ hãi nên đã đầu hàng chứ không thật tâm là kẻ phản bội. Anh ấy cần sự hỗ trợ nhiều phía để tìm lại được tự tin mà góp công sức vào sự nghiệp chung.

    Anh Khang tiếp tôi với sự niềm nở. Anh hỏi tôi đang bận tâm lo nghĩ việc gì, tôi đáp là muốn đi vào làng báo song chưa tìm được một nẻo khai thông. Anh bàn với tôi phối hợp cùng anh viết bài, và để sớm có cái tên ở trong làng báo thì hai chúng tôi cùng lấy chung một bút hiệu. Như thế, số bài viết ra sẽ được nhiều hơn và đa dạng hơn, đồng thời với sự xuất hiện thường xuyên ở trên mặt báo, cái tên ấy dễ gây được ấn tượng nơi các bạn đọc sẽ sớm tạo được thế đứng trên diễn đàn này. Dĩ nhiên, bài ai được đăng thì người ấy nhận nhuận bút. Theo anh, như vậy tôi sẽ giúp đỡ cho anh được nhiều, vì anh không biết đi xe gắn máy lại rất sợ đi xe đạp, giao tiếp sẽ rất khó khăn. Tôi sẽ là người trực tiếp gởi bài, giao dịch, nhận tiền cho cả hai người… Cuối cùng, tôi đã đồng ý hợp tác trên tinh thần ấy và anh chọn giúp một bút hiệu chung, đó là Minh Hữu. Theo anh, minh là thề, hữu là bạn, và đây là những người bạn chung một lời thề gắn bó cùng nhau. Anh nói:

    - Nghe tờ Lẽ Sống của Ngô Công Minh đang rất cần các truyện ngắn, truyện dài. Tôi có thử viết xong một truyện ngắn, nay ký Minh Hữu nhờ anh chuyển giúp. Rồi anh cứ viết tiếp theo, cho được liên tục.

    Tôi thông cảm anh rất ngại giao tiếp và hiện gia đình anh sống quá khổ, trú ngụ trong ngôi nhà thuê lụp sụp trên một nghĩa địa hoang tàn. Do có dạy được ít giờ, bớt lo cái đói nên tôi khuyến khích anh viết để gởi hộ anh. Chỉ có lúc nào anh bí, viết ra không kịp thì tôi mới lấy bài mình gởi đăng, cốt duy trì sự hiện diện của một cộng tác tích cực.

    Cái tên Minh Hữu xuất hiện gần một năm trời và kể như đã đứng được, vì không có bài nào bị chối từ. Một hôm, anh Ba Nghĩa đến tìm tôi, cho biết anh Khang rất phàn nàn tôi vì bảo gặp ai tôi cũng xưng là Minh Hữu trong khi nhiều bài viết ấy không phải của tôi. Tôi lặng người đi. Rồi nhớ hôm ấy là ngày thứ bảy, bèn nói:

    - Sáng mai, chủ nhật, bảy giờ mời anh đến tại ngã ba Hòa Hưng và Lê Văn Duyệt (nay là Cách Mạng Tháng Tám) để cùng ăn phở, rồi sẽ rõ hết mọi việc. Tôi sẽ đến mời anh Khang, anh khỏi bận tâm.

    Ngày mai, tôi đến sớm ở nơi hẹn. Khi đã đủ mặt ba người tôi gọi phở ăn và đợi đến lúc cùng uống cà phê, nói với anh Khang như sau:

    - Anh Khang, tôi luôn coi anh là bậc đàn anh nên tìm mọi cách để giúp đỡ anh. Nghe anh Nghĩa nói anh phàn nàn tôi mạo nhận bút danh Minh Hữu làm tôi hết sức sửng sốt. Chính cái tên ấy do anh đặt ra và đề nghị tôi chấp nhận. Chúng ta đã cùng thỏa thuận là cả hai người đều là Minh Hữu, vậy tôi có gì đáng nên chê trách khi dùng cái bút hiệu ấy? Vả lại, trung bình anh viết ba truyện thì tôi viết một, vì để cho anh có đủ cái sống tôi đã nhịn viết, chứ chẳng phải tôi không biết cầm bút. Tôi biết anh sợ những người của chế độ này và sợ cả người Cộng sản nên tôi tự nguyện làm kẻ giao liên, phụ tá cho anh gần một năm nay, hoàn toàn không phải vì cá nhân tôi. Điều lạ là người thông minh như anh, hẳn phải biết rằng anh chỉ chuyên viết chính luận, xã luận chứ không có thiên hướng nào về các loại truyện, do đó được làm tác giả các bài sáng tác của anh, tôi chẳng có gì để mà tự hào. Chẳng qua đã cùng cam kết thì phải tôn trọng. Nói anh đừng giận, có lẽ anh quá bận tâm về mình nên không nhìn thấy người khác. Vậy kể từ nay tôi xin từ chối cái tên Minh Hữu, anh muốn sử dụng cứ việc tiếp tục. Còn sự hợp tác, giữa anh và tôi, cần được chấm dứt, kể từ hôm nay.

    Anh Khang tái mặt, không nói lời nào.

    Sau đó, tôi nhớ lại lời đề nghị với anh Võ Hạnh trước khi rời khỏi nhà tù. Tôi sẽ mang lấy tên anh, từ đây, với niềm vui sướng vì đã giữ được lời hứa đối với chính mình. Đồng thời, tôi sẽ không bị quấy rầy vì sự mượn tên, và tôi có được tên người bạn quí để mà hỗ trợ tinh thần trên bước đường dài.

    Sau một thời gian dọ dẫm, tôi cộng tác thường xuyên với tạp chí Bách Khoa, dưới cái bút hiệu Vũ Hạnh. Tôi đã đổi Võ ra Vũ, vì lúc bấy giờ có nhiều cây bút di-cư từ Bắc vào Nam - như Vũ Hoàng Chương, Vũ Khắc Khoan… - nên trong điệu cuồng vũ ấy tôi muốn cùng “vũ” với họ xem sao. Chúng ta đều biết ngày xưa họ Vũ, họ Hoàng khi đi vào Nam, do sự kỵ-úy phải đổi thành ra họ Võ, họ Hùynh…

    Với bút hiệu ấy, từ nay trong tôi có hai con người. Tôi có thể viết kém cỏi nhưng không được quyền viết ra những gì trái với đạo lý ở đời, để khỏi buồn lòng người bạn là bút hiệu tôi. Để tự khẳng định điều này - như một tuyên ngôn đối với chính mình - đồng thời cũng để chống lại một lớp bồi bút đông đảo bấy giờ, tôi viết truyện ngắn Bút máu. Tôi cũng không ngờ truyện được miền Bắc tiếp nhận với nhiều cảm tình và đã đăng lại trên tờ Thống Nhất. Cho đến một hôm, sau khi đăng kịch-truyện Người nữ tỳ trên tạp chí Bách Khoa tôi chợt gặp Lương Minh Đức giữa đường, anh này là sĩ quan an ninh của chế độ cũ, vốn là bạn học ngày nào với tôi ở bậc phổ thông. Anh ta lên giọng cảnh cáo:

    - Này, nói cho mà biết: lần này mà Người nữ tỳ còn được Hà Nội đăng lại như là Bút máu thì cậu không thoát khỏi nhà tù đâu.

    Tôi làm thinh, thừa hiểu miền Bắc chẳng quan tâm đến cái kịch-truyện này. Dầu đó là chủ đề lớn, song tôi viết theo một lối văn phong cổ kính và quá bóng bẩy, quanh co, khiến nội dung truyện khó lòng tiếp cận. Thực chất của Người nữ tỳ là hạng trí thức trong cái chế độ áp bức, bóc lột, ngụy trá, đã phản bội lại nguồn gốc đích thực của mình để bám chặt vào địa vị, danh vọng do chế độ ấy ban phát, mà quên rằng mình cũng chỉ là hạng tôi đòi đội lốt cao sang.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,515,442

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/