Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập35,895,003

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Biên niên ký chim vặn dây cót

Murakami Haruki

  • Chủ nhật, 12:02 Ngày 10/01/2021
  • CHƯƠNG 35 - CHẲNG QUA LÀ MỘT CON DAO THỰC ♦ ĐIỀU ĐÃ ĐƯỢC TIÊN BÁO

    Dùng đèn soi đường, cố bước thật êm, tôi đi về phía cửa. Cây gậy nằm trong tay phải tôi. Tôi vẫn đang đi thì tiếng gõ cửa lại vang lên: hai tiếng, rồi hai tiếng nữa. Lần này mạnh hơn, hung hãn hơn. Tôi nép mình vào tường bên để khi cửa mở thì tôi sẽ được cánh cửa che khuất. Tôi đứng đó đợi, nín thở.

    Khi tiếng gõ cửa đã lắng đi, im lặng sâu thẳm lại chìm xuống mọi vật như thể không có chuyện gì xảy ra. Nhưng tôi cảm nhận được sự hiện diện của ai đó phía bên kia cửa. Cái kẻ nào đó này cũng đang đứng đấy như tôi, cũng đang nín thở, lắng tai, cố nghe ra tiếng thở hay tiếng tim đập, hay để đọc ra những vận động của một ý nghĩ. Tôi cố kìm không cho hơi thở mình khuấy động không khí xung quanh. Mình không có mặt ở đây, tôi tự nhủ. Tôi không ở đây. Tôi chẳng ở đâu hết.

    Chìa khóa xoay trong ổ khóa. Hắn thực hiện từng cử chỉ một cách cực kỳ cẩn trọng, kéo dài thời gian từng động tác sao cho những âm thanh phát ra bị chẻ thành mỗi mảnh nhỏ không còn liên hệ với nhau, mất hết ý nghĩa. Quả đấm cửa xoay, theo sau là tiếng bản lề xoay hầu như không thể nhận ra. Tim tôi bắt đầu co bóp nhanh hơn. Tôi cố át đi sự nhiễu loạn này, nhưng không được.

    Ai đó đã đi vào phòng, gây ra vài nhiễu loạn trong không khí. Tôi tập trung tinh thần mài sắc ngũ quan và bắt được cái mùi thoang thoảng của kẻ lạ: một hỗn hợp kỳ quặc giữa quần áo dày, hơi thở dồn nén và thần kinh kích động hết mức dìm trong im lặng. Hắn có cầm dao trong tay không? Phải coi như là hắn có. Tôi vẫn nhớ cái ánh lóa trắng bạc của nó. Tôi nín thở, xóa bỏ sự tồn tại của mình, siết chặt cây gậy trong cả hai tay.

    Vào phòng xong, kẻ đó đóng cửa rồi khóa lại. Đoạn hắn đứng đó, lưng áp vào cửa, quan sát và chờ đợi. Hai bàn tay siết chặt gậy của tôi mướt mồ hôi. Tôi đã toan chùi lòng bàn tay vào quần, nhưng mọi cử động dù nhỏ nhất cũng có thể gây hậu quả chết người. Tôi cố nhớ lại bức tượng chim trong vườn căn nhà bỏ hoang của gia đình Miyawaki. Để xóa bỏ sự hiện hữu của mình ở đây, tôi tự đồng hóa mình thành nhất thể với hình ảnh một con chim. Nơi đó, trong khu vườn mùa hè ngợp nắng, tôi là bức tượng chim, đóng băng tại chỗ, nhìn chăm chắm lên bầu trời.

    Kẻ đó mang theo đèn pin. Hắn bật đèn pin, tia sáng thẳng, hẹp của nó cắt xuyên qua bóng tối. Ánh sáng không mạnh. Đó là ánh sáng của một cây đèn bút cùng loại với cây tôi đang mang. Tôi đợi tia sáng đó quét qua tôi khi hắn bước vào phòng, nhưng hắn không nghĩ đến chuyện dời khỏi chỗ. Ánh sáng bắt đầu nhận diện từng vật một ở trong phòng - những đóa hoa trong bình, chiếc khay bạc nằm trên bàn (hắt ra ánh lóe đầy nhục cảm), ghế sofa, đèn trang trí... Nó lướt qua ngay trước mũi tôi rồi dừng lại trên sàn chỉ cách đầu mũi giầy tôi vài xăng-ti-mét, liếm từng góc phòng như cái lưỡi rắn. Tôi đợi, chừng như phải đợi đến vĩnh viễn. Sợ hãi và căng thẳng khoan vào ý thức tôi đau nhói.

    Đừng nghĩ ngợi. Mày không được phép nghĩ. Tôi tự nhủ. Mày không được phép dùng trí tưởng tượng. Trung úy Mamiya đã viết thế trong thư. Ở nơi này mà tưởng tượng là mất mạng như chơi.

    Cuối cùng, ánh đèn pin bắt đầu chuyển động về phía trước, chậm, thật chậm. Gã đàn ông hình như đang tiến về phía phòng trong. Tôi siết chặt gậy trong tay. Chính khi đó tôi mới nhận ra mồ hôi trên tay tôi đã sạch ráo. Tay tôi bây giờ quá khô là đằng khác.

    Gã đàn ông chầm chậm tiến tới một bước, dừng lại. Rồi một bước nữa. Hắn như đang kiểm tra từng bước chân của mình. Hắn đang gần tôi hơn bao giờ hết. Tôi hít một hơi rồi nén lại. Chỉ cần hai bước nữa là hắn sẽ đến đúng chỗ tôi muốn. Chỉ hai bước nữa là tôi có thể kết liễu cái cơn ác mộng biết đi này. Nhưng rồi đúng lúc đó, hoàn toàn bất ngờ, ánh sáng biến mất. Bóng tối như mực lại nuốt chửng mọi vật. Hắn đã tắt đèn pin. Tôi cố buộc đầu mình làm việc nhanh hơn trong bóng tối, nhưng nó hoàn toàn không chịu làm việc. Một luồng khí lạnh tôi chưa từng biết chạy khắp người tôi. Hắn đã nhận ra tôi đang ở đây.

    Cử động đi, tôi tự nhủ. Đừng đứng đực ra thế. Tôi cố lạng người sang trái, nhưng chân tôi không nhúc nhích. Chân tôi như đã gắn chặt xuống sàn nhà, giống như chân con chim đá. Tôi cúi về phía trước, cố nghiêng phần thân trên tê dại của tôi sang trái. Đúng lúc ấy cái gì đó đập vào vai phải của tôi, rồi một cái gì cứng và lạnh như mưa đá thọc vào thấu xương tôi.

    Cú sốc như làm tôi bừng tỉnh, chứng tê liệt biến mất khỏi chân tôi. Tôi nhảy bật về bên trái rồi phục trong bóng tối, mò mẫm tìm đối thủ. Máu chạy rần rật trong cơ thể tôi, mỗi bắp thịt, mỗi tế bào căng lên đòi dưỡng khí. Vai phải tôi tê dại dần, nhưng tôi không thấy đau. Mãi sau mới đau. Tôi đứng im không động đậy, hắn cũng thế. Hai chúng tôi đối diện nhau trong bóng tối, cùng nín thở. Chẳng nhìn thấy gì, chẳng nghe thấy gì.

    Một lần nữa, không hề báo trước, dao xỉa tới. Nó sượt qua mặt tôi như một con ong chích, điểm nhọn vừa vặn bén vào má phải tôi, chỗ có vết bầm. Tôi cảm thấy da bị toạc ra. Không, hắn cũng không nhìn thấy tôi. Nếu thấy tôi thì hắn đã cho tôi rồi đời từ lâu rồi. Tôi vung gậy trong bóng tối, nhắm vào hướng xuất phát của con dao, nhưng gậy chỉ vụt qua không khí, chẳng đập vào cái gì sất. Tuy nhiên cú vung khá đạt, và tiếng vụt sắc gọn kia giúp tôi phần nào bớt căng thẳng. Tạm thời chúng tôi ngang sức nhau. Tôi đã dính dao hai lần, nhưng cả hai lần đều không nặng. Hai chúng tôi chẳng ai nhìn thấy nhau. Hắn có dao, nhưng tôi có gậy.

    Một lần nữa, cùng mù như nhau, hai chúng tôi kìm hơi thở, cố cảm nhận ra đối thủ, chờ từng động tĩnh nhỏ nhất. Tôi cảm thấy máu rỉ xuống mặt mình, nhưng tôi chẳng mảy may sợ hãi. Chỉ là con dao thôi mà, tôi tự nhủ. Chỉ là một vết rạch thôi. Tôi đợi. Tôi đợi con dao lại xỉa về phía tôi lần nữa. Đâm đi! Tôi bảo hắn trong đầu mình. Nhúc nhích đi! Tao đang đợi mày động thủ đây. Muốn thì cứ đâm tao đi. Tao không sợ đâu.

    Con dao lại tới. Nó rạch toang cổ áo len của tôi. Tôi cảm thấy được mũi dao sạt qua họng tôi nhưng không chạm tới da tôi. Tôi xoay người nhảy sang một bên, rồi, hầu như hấp tấp quá chẳng kịp thẳng người lên nữa, tôi vung gậy vào không trung. Gậy đập vào đâu đó gần xương quai xanh hắn. Không đủ mạnh để quật ngã hắn hay làm gãy xương, nhưng tôi biết mình vừa nện hắn một cú ra trò. Tôi cảm thấy hắn rụt hẳn lại vì cú đánh, nghe tiếng hắn há miệng đớp không khí. Tôi lùi gậy lại một quãng ngắn rồi lại vung lên giáng vào hắn, cũng về hướng đó nhưng cao hơn một chút, nơi tôi nghe tiếng hắn thở.

    Cú đánh quá hoàn hảo. Tôi đã nện vào hắn ở đâu đó trên cổ. Có tiếng xương gãy răng rắc nghe lợm giọng. Một cú giáng thứ ba đúng phóc - ngay vào sọ, quật hắn văng sang một bên. Hắn hộc ra một âm thanh kỳ lạ rồi đổ phịch xuống sàn. Hắn nằm đó, ngáp ngáp khe khẽ, nhưng tiếng ngáp chẳng mấy chốc ngừng. Tôi nhắm mắt, rồi, chẳng suy nghĩ gì, nhắm một cú đánh cuối cùng về phía âm thanh kia. Tôi không muốn làm vậy, nhưng tôi không có cách nào khác. Tôi phải kết liễu hắn: không phải vì hận thù, thậm chí cũng chẳng phải vì sợ, ấy chẳng qua là một việc tôi phải làm. Tôi nghe tiếng cái gì đó vỡ toác trong bóng tối như một quả dưa. Rồi tôi nhận thấy mình đang run bắn lên. Toàn thân. Chẳng cách nào ngăn được. Tôi lùi lại một bước, rút đèn pin ra khỏi túi.

    - Đừng! - Một giọng thét lên trong bóng tối. - Đừng nhìn nó! - Giọng Kumiko đang gọi tôi từ phòng trong, cố ngăn không cho tôi nhìn, nhưng tôi phải nhìn. Tôi phải thấy nó. Tôi phải biết nó là cái gì, cái vật nằm ở trung tâm bóng tối mà tôi đã đánh cho nhừ tử kia. Một phần của tôi hiểu Kumiko đang cấm tôi làm gì. Nàng nói đúng: tôi không nên nhìn nó. Nhưng lúc này tôi đang có đèn pin trong tay, và bàn tay đang tự nó chìa ra phía trước.

    - Xin đừng, em xin anh hãy dừng lại! - Nàng thét lên. - Nếu anh còn muốn đưa em về nhà thì chớ nhìn nó!

    Tôi nghiến răng, im lặng đẩy không khí nãy giờ giam trong phổi ra ngoài. Nhưng cơn run vẫn không giảm. Một mùi tởm lợm nồng nặc trong không khí - mùi óc, mùi bạo lực và chết chóc. Tôi đã làm việc này: chính tôi là kẻ đã làm cho không khí có cái mùi này. Tôi tìm thấy chiếc sofa, liền đổ vật xuống. Trong chốc lát tôi cố chống cự với cơn buồn nôn đang dậy lên trong dạ dày, nhưng rồi cơn buồn nôn thắng. Tôi nôn xuống thảm tất cả những gì có trong dạ dày, đến khi chẳng còn gì nữa thì tôi nôn ra dịch vị, rồi không khí và nước dãi. Trong khi nôn, tôi buông gậy xuống sàn. Tôi nghe tiếng nó lăn lông lốc trong bóng tối.

    Khi những cơn co thắt dạ dày bắt đầu dịu xuống, tôi muốn rút khăn mùi soa lau miệng nhưng không cử động nổi tay. Tôi không đứng dậy nổi khỏi sofa. - Mình về nhà đi, - tôi nói về phía bóng tối ở buồng trong. - Xong cả rồi. Ta đi thôi.

    Nàng không trả lời.

    Không còn ai ở trong đó nữa. Tôi lại vùi mình vào sofa, nhắm mắt lại.

    Tôi cảm thấy sức lực đang trút ra khỏi mình - từ đầu ngón tay tôi, từ vai tôi, cổ tôi, chân tôi... Cái đau từ những vết thương của tôi cũng dần dần biến mất. Thân thể tôi đang mất mọi cảm giác về khối lượng và vật chất. Nhưng điều đó không làm tôi bất an hay sợ hãi, hoàn toàn không. Tôi không chống cự mà buông mình - phó thác nhục thể mình - cho một vật to lớn, ấm mềm nào đó đang đến để bao bọc lấy tôi. Điều đó thật tự nhiên. Khi đó tôi nhận ra, mình đang băng qua bức tường sứa. Tôi chỉ có mỗi việc là buông mình cho dòng chảy. Mình sẽ không bao giờ quay lại đây nữa, tôi tự nhủ trong khi di chuyển qua tường. Mọi chuyện đã chấm dứt. Nhưng Kumiko đâu? Nàng đi đâu rồi? Lẽ ra tôi phải mang nàng ra khỏi căn phòng đó mà đưa nàng về nhà. Chính vì lẽ đó tôi mới giết tên kia. Chính vì lẽ đó tôi mới đánh cho sọ hắn vỡ toác ra như quả dưa. Chính vì lẽ đó tôi... Nhưng tôi không thể nghĩ gì được nữa. Ý thức tôi bị hút vào cái hồ sâu hoắm của hư không.

    *

    Khi hồi tỉnh, tôi thấy mình lại đang ngồi trong bóng tối. Lưng tôi đang dựa vào tường như mọi khi. Tôi đã trở lại đáy giếng.

    Nhưng đó không phải cái đáy giếng như khi trước. Có cái gì đó mới ở đây, cái gì đó lạ lẫm. Tôi cố tập trung các giác quan để hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Cái gì khác biệt đến vậy? Nhưng các giác quan tôi vẫn đang trong một tình trạng tê liệt gần như hoàn toàn. Tôi chỉ có cảm nhận một phần, đứt đoạn về môi trường xung quanh. Tôi cảm thấy như thể, vì sai lầm nào đó mà tôi đã bị đặt vào nhầm vỏ chứa. Tuy nhiên, sau một lát, tôi bắt đầu nhận ra ấy là chuyện gì.

    Nước. Quanh tôi toàn nước.

    Giếng không còn khô nữa. Tôi đang ngồi trong nước lên tới thắt lưng. Tôi hít vào mấy hơi để trấn tĩnh. Làm sao có chuyện này được? Giếng đang có nước, tuy không phải nước lạnh. Đúng hơn là nước âm ấm, như thể tôi đang dầm mình trong bể bơi có sưởi. Bỗng tôi sực nghĩ cần phải kiểm tra trong túi. Tôi muốn biết cây đèn pin có còn đó không. Liệu tôi có mang theo cây đèn đó từ thế giới kia về đây không? Liệu có mối liên hệ nào giữa những gì xảy ra ở đó với cái thực tại này không? Nhưng tay tôi không động đậy được. Ngay cả ngón tay tôi cũng không nhúc nhích được. Bao nhiêu sức lực đã mất hết khỏi tay chân tôi. Thậm chí đứng dậy tôi cũng không đứng nổi.

    Tôi bắt đầu nhận định một cách tỉnh táo hoàn cảnh của mình. Trước hết, nước chỉ mới tới thắt lưng, nên tôi không phải lo chết đuối. Đúng là tôi không nhúc nhích được, nhưng có lẽ ấy là do tôi đã vắt kiệt sức. Chỉ cần có đủ thời gian là sức lực sẽ hồi phục lại thôi. Vết thương vì dao đâm xem chừng không sâu lắm, và toàn thân tê dại thế này lại hóa hay - ít nhất cũng nhờ vậy mà tôi không thấy đau. Máu nơi má hình như không chảy nữa.

    Tôi tựa đầu vào tường tự nhủ: Không sao, đừng lo. Mọi chuyện xong rồi. Bây giờ tôi chỉ còn có mỗi một việc là cho thân thể mình được nghỉ ngơi, sau đó trở về thế giới ban đầu của mình, thế giới ở trên mặt đất kia, nơi chan hòa ánh nắng... Nhưng tại sao cái giếng này tự dưng có nước hoàn toàn đột ngột như vậy? Nó đã khô cạn, đã chết từ quá lâu rồi, thế nhưng giờ nó đã phục hồi sự sống. Liệu điều này có mối liên hệ nào với những gì tôi đã làm ở kia không? Có, hẳn là có. Cái gì đó bấy lâu vẫn làm tắc nghẽn mạch nước nay đã bị tháo tung ra.

    *

    Chẳng mấy chốc sau tôi chạm trán với một thực tế đen tối. Thoạt tiên tôi cố khước từ không chịu thừa nhận nó là thực tế. Trí óc tôi nghĩ ra hàng loạt khả năng may thì có thể giúp tôi phủ nhận nó. Tôi cố tự thuyết phục mình ấy chỉ là một ảo giác nảy sinh do kết hợp giữa bóng tối và kiệt sức. Nhưng rốt cục, tôi phải công nhận sự thực. Dù ra sức tự lừa mình đến đâu đi nữa, thực tế vẫn sờ sờ ra đó.

    Mực nước đang dâng lên.

    Nước ban nãy còn ngang thắt lưng, giờ đã lên đến phía dưới cặp đầu gối đang co lại của tôi. Nước dâng từ từ thôi, nhưng nó đang dâng. Tôi lại cố động đậy thân thể. Tôi tập trung toàn bộ tinh thần, cố rặn hết chút sức lực cuối cùng còn lại, nhưng vô ích. Cùng lắm tôi chỉ xoay cổ được chút ít. Tôi nhìn lên trên đầu. Nắp giếng vẫn đậy kín bưng. Tôi cố xem đồng hồ trên cổ tay trái nhưng đành chịu.

    Nước đang chảy ra từ một khe mở nào đó, mà hình như càng lúc càng nhanh. Ban đầu chỉ ri rỉ, nhưng giờ thì tuôn xối xả. Tôi nghe được tiếng nước tuôn. Chẳng mấy chốc đã lên đến ngực. Nước sẽ còn dâng đến đâu chứ?

    Nhớ cẩn thận với nước, ông Honda đã bảo tôi thế. Hồi đó cũng vậy, sau này cũng vậy, tôi đã chẳng hề tin lời tiên tri của ông. Quên thì tôi không quên (một điều kỳ quặc như thế thì không thể quên được), nhưng tôi cũng chưa bao giờ coi nó là nghiêm túc cả. Ông Honda chẳng qua chỉ là một tình tiết vô hại đối với tôi và Kumiko mà thôi. Thỉnh thoảng nhân chuyện gì đó, tôi lại nhắc lời ông "Nhớ cẩn thận với nước" để đùa. Thế là chúng tôi cười ha hả. Chúng tôi còn trẻ, đâu cần tới những lời tiên với tri. Bản thân việc sống đã là một hành vi tiên tri rồi. Nhưng ông Honda nói đúng. Tôi hầu như muốn cười phá lên. Nước đang dâng, và tôi đang gặp khốn.

    Tôi nghĩ tới Kasahara May. Tôi dùng trí tưởng tượng để hình dung cô đang mở nắp giếng - hoàn toàn rõ ràng, sống động như thực. Bức tranh thực và rõ mồn một đến nỗi dường như tôi có thể bước thẳng vào. Tôi không cử động được thân mình, nhưng trí tưởng tượng của tôi vẫn hoạt động. Tôi còn được làm gì khác nữa?

    - Này Chim vặn dây cót, - Kasahara May nói. Giọng cô dội xuống vọng lên thành giếng. Tôi chưa hề biết rằng giếng có nước thì tạo tiếng vang tốt hơn giếng không có nước. - Anh làm gì dưới kia thế? Lại suy nghĩ à?

    - Chẳng phải anh đang làm gì cả, - tôi ngẩng mặt lên nói. - Giải thích bây giờ thì lâu lắm. Anh không cử động được thân mình, nước lại đang dâng lên dưới này. Đây không còn là giếng cạn nữa. Chắc anh chết đuối mất.

    - Tội nghiệp Chim vặn dây cót! - Kasahara May nói. - Anh đã vắt kiệt hết mình, cố hết sức bình sinh để cứu Kumiko. Và có lẽ anh đã cứu được chị ấy thật. Đúng không? Và trong khi làm vậy, anh cũng đã cứu nhiều người. Nhưng bản thân mình thì anh lại không cứu được. Mà cũng chẳng ai khác cứu được anh cả. Anh đã dốc cạn sức mình, đem cả tính mạng mình ra để cứu người khác. Hạt giống của anh thảy đã gieo chỗ khác hết rồi, giờ túi anh rỗng không. Sao lại bất công đến thế được chứ! Em thông cảm với anh, Chim vặn dây cót à, tự đáy lòng em. Thật đấy. Nhưng nói gì thì nói, đó là tự anh lựa chọn mà. Anh có hiểu ý em không?

    - Anh hiểu, - tôi nói.

    Vai phải tôi nghe đau dần dật. Vậy là chuyện đó thực đã xảy ra, tôi tự nhủ. Con dao quả thực đã đâm tôi. Nó đã xé thịt tôi như một con dao thực.

    - Anh có sợ chết không, hở Chim vặn dây cót? - Kasahara May hỏi.

    - Có chứ, - tôi nói. Tôi nghe giọng mình vang vọng trong giếng. Nó là giọng tôi, đồng thời cũng không phải giọng tôi. - Nghĩ đến chuyện mình phải chết dưới đáy giếng tối om này thì dĩ nhiên anh sợ.

    - Thế thì tạm biệt anh, Chim vặn dây cót tội nghiệp. Tiếc là em chẳng làm gì cho anh được. Em đang ở xa, xa lắm.

    - Tạm biệt, Kasahara May, - tôi nói. - Em mặc bikini trông xinh lắm.

    Giọng Kasahara May hết sức bình thản khi cô nói:

    - Tạm biệt, Chim vặn dây cót tội nghiệp.

    Nắp giếng lại đóng chặt. Hình ảnh tan biến. Như chẳng có gì xảy ra cả. Hình ảnh ấy không gắn liền với bất cứ cái gì. Tôi thét về phía miệng giếng: "Kasahara May ơi, lúc này anh cần em thì em ở đâu?"

    *

    Nước đã lên đến họng tôi. Giờ nó đã quấn quanh cổ tôi như cái thòng lọng. Bằng dự cảm, tôi bắt đầu thấy khó thở. Tim tôi, giờ nằm trong nước, ra sức điểm quãng thời gian còn lại của nó. Cứ thế này tôi còn khoảng năm phút nữa cho tới khi nước lấp đầy mũi miệng tôi và bắt đầu tràn ngập phổi tôi. Chẳng có cách nào tôi thắng được. Tôi đã hồi sinh cho cái giếng này thì giờ đây tôi chết giữa lúc hồi sinh của nó. Chết cách này cũng không tồi, tôi tự nhủ. Trên đời có lắm cách chết kinh khủng hơn thế nhiều.

    Tôi nhắm mắt lại, cố chấp nhận cái chết đang đến gần một cách càng bình thản càng tốt. Tôi cố vượt qua sợ hãi. Ít nhất thì sau khi chết, tôi cũng để lại được vài thứ. Chẳng nhiều nhặn gì cho cam, nhưng dẫu sao vẫn là một tin lành. Tôi cố mỉm cười, nhưng chẳng đạt lắm. "Dẫu sao mình vẫn sợ chết," tôi tự nhủ. Hóa ra đó là lời cuối của tôi. Nghe chẳng ấn tượng lắm, nhưng không thay đổi được nữa, muộn quá rồi. Nước giờ đã dâng cao hơn miệng tôi. Rồi cao hơn mũi tôi. Tôi ngừng thở. Phổi tôi nằng nặc đòi hít không khí mới. Nhưng chẳng còn không khí nữa. Chỉ có nước âm ấm thôi.

    Tôi đang chết. Như tất cả những ai sống ở trên đời.

    CHƯƠNG 36 - CHUYỆN VỀ DÂN VỊT ♦ BÓNG VÀ NƯỚC MẮT ♦ QUAN ĐIỂM CỦA KASAHARA MAY (6)

    Chào chim vặn dây cót!

    Này, anh có nhận được mấy thư trước của em không đấy?

    Em đã viết cho anh hàng đống thư, mà rồi chẳng biết anh có nhận được không. Địa chỉ người nhận em chỉ ghi hú họa, còn địa chỉ người gửi thì em không ghi trên phong bì, thành thử có khi thư em đã chất đống trên ngăn "thư không người nhận" ở bưu điện, bụi bặm mốc meo, không ai thèm ngó tới. Thôi được, nếu không đến được người nhận thì là không đến được, đã sao nào? Em cày cục viết ngần ấy thư là viết cho anh, nhưng điều quan trọng là em phải ghi được ý nghĩ của mình ra giấy. Hễ cứ nghĩ mình đang viết cho anh là em lại viết dễ dàng hơn. Chim vặn dây cót ạ. Em chả biết tại sao. Ừ nhỉ, tại sao thế?

    Nhưng riêng thư này thì em thực sự muốn anh đọc. Em cầu mong sao nó đến được tay anh.

    *

    Giờ em sẽ viết về dân vịt. Vâng, đây là lần đầu tiên em nhắc đến dân vịt, chuyện thế này.

    Em có lần nói với anh là nhà máy nơi em đang làm việc đây có cơ ngơi rộng ơi là rộng, có rừng, có hồ, lại còn gì gì nữa ấy. Thong dong tản bộ thì chả còn gì bằng. Hồ khá to, có dân vịt sống ở đấy, đâu như mười hai chú. Em chả biết mấy chú này tổ chức gia đình ra sao. Có lẽ chúng thỏa thuận nội bộ với nhau thế nào đó, kiểu như chú này thì chơi được với chú nọ nhưng không được chơi với chú kia, nhưng em chưa bao giờ thấy chúng đánh nhau cả.

    Đã sang tháng Mười Hai, băng đã bắt đầu đóng trên mặt hồ, nhưng cũng chưa dày lắm. Ngay cả khi trời lạnh hồ vẫn không đóng băng hết, vẫn còn một khoảnh nước đủ cho dân vịt bơi loanh quanh tí chút. Em nghe nói, khi trời đủ lạnh để băng đóng dày, có vài cô trong bọn em ra đây trượt băng. Chừng đó thì dân vịt (hì, gọi thế nghe cũng lạ, nhưng em quen mất rồi, tự buột mồm ra thôi) sẽ phải đi chỗ khác. Em thì chẳng thích trượt băng, nên em chỉ mong đừng có băng biếc gì hết, nhưng dẫu có mong thì cũng đâu thể được như ý mình. Vùng này mùa đông lạnh kinh người, thành thử một khi đã sống ở đây thì dân vịt ắt phải thích nghi với lãnh thổ chứ.

    Dạo này, cuối tuần nào em cũng tới đây giết thì giờ bằng cách ngắm dân vịt. Mỗi lần như vậy, em có thể ngồi hàng hai ba tiếng đồng hồ mà không biết. Ra ngoài trời lạnh là em vũ trang từ đầu tới chân y như thợ săn gấu Bắc Cực ấy: tất lót, mũ, khăn choàng, giày cao cổ, áo khoác lông. Rồi em ngồi hàng tiếng đồng hồ trên một tảng đá, chỉ mình em, hoàn toàn thư giãn, ngắm dân vịt. Thỉnh thoảng em cho chúng ăn bánh mì cũ. Dĩ nhiên ở đây chẳng có ai khác dư thì giờ làm mấy chuyện điên rồ ấy cả.

    Chẳng rõ anh Chim vặn dây cót có biết không, chứ vịt là một loài rất dễ thương. Em ngắm chúng chả bao giờ chán. Em không làm sao hiểu được, vì sao ai cũng thích đi đâu đó thật xa hay bỏ tiền xem những bộ phim ngớ ngẩn thay vì dành thì giờ vui với dân vịt. Chẳng hạn như thỉnh thoảng chúng lại vỗ cánh bay lên không trung rồi đáp xuống băng nhưng lại trượt chân, thế là ngã oạch oạch. Y như xem hài kịch trên ti-vi ấy! Xung quanh chẳng có ai khác, thế mà em vẫn cười sặc sụa. Dĩ nhiên đâu phải chúng làm trò để cho em cười. Chúng đang cố hết sức mình để sống cho ra sống đấy chứ, chỉ có điều thỉnh thoảng một cái thôi. Thế mới thật là hay, em nghĩ vậy.

    Dân vịt có những cái chân có màng dẹt mầu cam đến là dễ thương, như là chúng mang giày đi mưa nhỏ xíu của trẻ con ý, chỉ có điều chân ấy không sinh ra để đi trên băng, em đoán vậy vì em thấy chúng cứ trượt tới trượt lui suốt, có khi còn ngã phịch mông xuống, chổng cẳng lên trời nữa. Giày ấy ắt là không có núm chống trượt. Thành thử mùa đông thật chẳng phải là mùa vui vẻ gì cho dân vịt. Em tự hỏi, trong thâm tâm chúng nó nghĩ gì về băng hay những thứ tương tự. Em dám cá rằng chúng chẳng ghét bỏ gì mùa đông lắm đâu. Nhìn chúng nó em cảm thấy vậy. Xem ra chúng sống cũng khá vui vẻ đấy chứ, dẫu đang mùa đông, có chăng thì thỉnh thoảng chỉ tự càu nhàu: "Lại băng à? Đành vậy thôi..." Em thích dân vịt là còn thích điều ấy nữa.

    Hồ nằm chính giữa rừng, từ đâu đến đây cũng xa. Chẳng ai khác (ngoài em ra, dĩ nhiên!) buồn cuốc bộ ngần ấy đường để đến đây vào mùa này, ngoại trừ những hôm thật ấm. Em đi theo lối mòn xuyên qua rừng, giày em nghiến lạo xạo trên lớp băng còn lại từ trận mưa tuyết gần đây. Em thấy xung quanh đâu cũng toàn chim. Mỗi khi em dựng cao cổ áo lên, khăn quàng quấn cổ kín tận cằm, mỗi hơi thở ra là thành bụm khói trắng trong không khí, với một khúc bánh mì tận trong túi, cứ thế men theo đường mòn xuyên qua rừng mà nghĩ về dân vịt, em lại thấy lòng thực sự ấm áp, hạnh phúc, và em chợt nghĩ ra rằng đã lâu lắm rồi mình không thấy hạnh phúc như vậy.

    Thôi, chuyện dân vịt thế là đủ.

    Nói thật với anh, cách đây một giờ em thức dậy giữa lúc đang nằm mơ thấy anh, Chim vặn dây cót ạ, thế là nãy giờ em ngồi viết thư này cho anh. Bây giờ là (để em xem đồng hồ) đúng 2 giờ 18 phút sáng. Cũng như mọi khi, chưa tới 10 giờ em đã đi ngủ rồi, em nói với dân vịt "Chúc cả nhà ngủ ngon!" Sau đó thì ngủ tít, thế nhưng vừa mới đây thôi, đùng một cái, em choàng dậy. Thật sự em không chắc đó có phải là mơ không. Em chẳng nhớ mình đang mơ cái gì cả. Có khi không phải em đang mơ. Nhưng dù thế nào đi nữa, em đã nghe giọng anh sát bên tai em. Anh đang gọi em, gọi mãi, gọi to lắm. Chính vì vậy mà em bừng tỉnh.

    Khi em mở mắt, trong phòng không tối lắm. Ánh trăng tuôn vào qua cửa sổ. Vầng trăng to lồ lộ trông như một cái khay bằng thép không gỉ treo trên ngọn đồi. Nó to đến nỗi dường như em có thể với tay ra sờ và viết lên đó được. Còn ánh trăng tuôn vào qua cửa sổ thì giống như một vũng nước lớn, trắng phau. Em ngồi trên giường, vắt óc nghĩ xem vừa mới xảy ra chuyện gì. Tại sao anh lại gọi em giọng rõ mồn một, nghe chói lọi như vậy? Tim em đập thình thịch, mãi không yên được. Giả như em đang ở nhà mình, em sẽ mặc đồ - dù giữa đêm khuya đi nữa - rồi chạy xuống ngõ mà đến nhà anh, Chim vặn dây cót ạ. Nhưng ở vùng núi non xa anh đến hàng vạn dặm như thế này thì em chẳng chạy đi đâu được, đúng không?

    Thế thì anh có biết em đã làm gì không?

    Em cởi hết ra. Chà. Đừng hỏi tại sao. Chính em cũng chả biết nữa. Thành thử anh cứ im lặng mà nghe cho hết nhé. Nói chung là em cởi hết quần áo rồi ra khỏi giường. Đoạn em quỳ xuống sàn nhà trong ánh trăng màu trắng kia. Máy sưởi đã tắt, trong phòng hẳn là lạnh, nhưng em không thấy lạnh. Trong ánh trăng đang tuôn từ cửa sổ vào kia có một cái gì đó đặc biệt, nó quấn quanh thân thể em thành một lớp bảo vệ mỏng, sát vào da. Ít ra là em cảm thấy vậy. Em đứng đó, trần truồng, trong một lát, thế rồi em lần lượt chìa từng bộ phận cơ thể mình ra cho nó tắm trong ánh trăng. Em chẳng biết tại sao, dường như đó là việc tự nhiên nhất trên đời vậy. Ánh trăng đẹp tuyệt vời, đẹp vô ngần đến nỗi em không thể không làm như thế. Đầu em, vai em, tay em, ngực em, bụng em, chân em, mông em và cả vùng quanh đó nữa, anh biết rồi đấy: lần lượt từng cái một, em nhúng vào ánh trăng, như đang tắm vậy.

    Nếu có ai ở ngoài mà thấy em, hẳn họ sẽ nghĩ thật quái lạ. Hẳn họ sẽ coi em như một con bé bị chứng cuồng trăng, hễ trăng tròn là lại lên cơn khùng. Nhưng dĩ nhiên chẳng ai thấy em cả. Ừ thì cũng dễ anh chàng cưỡi mô tô có thể đang ở đâu đó mà nhìn em. Nhưng chuyện đó thì không sao. Anh ấy chết rồi. Nếu anh ấy muốn nhìn, và nếu như vậy mà anh ấy thích thì em sẽ vui vẻ để cho anh ấy thấy.

    Nhưng không, chẳng ai nhìn em cả. Em làm việc đó hoàn toàn chỉ một mình dưới ánh trăng. Chốc chốc em lại nhắm mắt lại mà nghĩ về dân vịt, hẳn chúng đang ngủ đâu đó gần hồ. Em nghĩ đến cái cảm giác ấm áp, hạnh phúc mà dân vịt và em đã cùng làm ra lúc ban ngày. Bởi vì, rốt cuộc, dân vịt như là một thứ bùa hộ mệnh huyền bí thật quan trọng đối với em.

    Sau đó em cứ trần truồng như vậy mà quỳ một hồi lâu, quỳ một mình, trong ánh trăng. Ánh trăng làm cho da em có một màu ký bí, lại hắt bóng đen sắc nét của thân mình em xuống sàn, dài tới tận tường. Nó không giống như bóng của thân thể em mà thuộc về một người đàn bà khác trưởng thành hơn em nhiều. Đó không phải một đứa con gái còn trinh như em, nó không có những góc cạnh như em mà tròn đầy hơn, ngực và núm vú to hơn nhiều. Nhưng nó chính là cái bóng mà em đang tạo ra - chỉ có điều trải dài hơn với hình dáng khác thôi. Khi em cử động, nó cũng cử động. Mãi một hồi em cứ thử cử động hết cách này đến cách khác, vừa làm vừa quan sát thật kỹ xem có mỗi liên hệ nào giữa em với cái bóng của em, cố hiểu tại sao trông nó lại khác đến vậy. Nhưng em chẳng hiểu gì cả. Càng nhìn càng thấy lạ lùng.

    Giờ thì mới đến phần thực sự khó lý giải, Chim vặn dây cót ạ. Em không biết em có nói được không, nhưng cứ thử xem.

    Nói thật ngắn gọn là đột nhiên em òa khóc. Nếu trong kịch bản hay gì gì đó thì chắc người ta viết thế này: "Kasahara May đột nhiên lấy tay che mặt, nức nở to, nước mắt chảy ràn rụa". Nhưng đừng sửng sốt quá nhé. Lâu nay em vẫn giấu anh, chứ thực ra em là đứa mít ướt nhất trần đời. Chuyện gì em cũng khóc. Đó là điểm yếu bí mật của em. Thành thử đối với em, chuyện tự dưng òa khóc chẳng vì lý do nào đâu có gì lạ. Tuy nhiên thường thì em chỉ khóc một tý, sau đó em tự nhủ: khóc thể đủ rồi, dừng thôi. Em dễ khóc nhưng cũng dễ nín. Thế nhưng đêm nay em không sao nín được. Cứ như ai đó khui nút bật ra, vậy là cứ thế tuôn. Em không biết vì đâu mình khóc, nên cũng chẳng biết làm sao dừng lại cả. Nước mắt cứ thế tuôn ra, như máu tuôn từ một vết thương rộng hoác. Em không thể tin mình lại có thể khóc ra nhiều nước mắt đến vậy. Em đâm lo cứ cái đà này có khi mình sẽ kiệt nước mà biến thành xác ướp mất.

    Em thực sự nhìn thấy, nghe thấy nước mắt em rơi từng giọt xuống hồ trăng màu trắng rồi bị hút luôn vào như thể những giọt nước mắt vốn dĩ luôn luôn là một phần của ánh sáng ấy. Khi rơi xuống giữa không trung, những giọt nước mắt bắt ánh trăng, sáng lóng lánh tuyệt đẹp như những tinh thể pha lê. Rồi em nhận ra rằng cái bóng của em cũng đang khóc, cũng đang tuôn nước mắt, những giọt nước mắt bóng rõ ràng, sắc nét. Anh Chim vặn dây cót đã bao giờ thấy bóng của nước mắt chưa? Chẳng có gì giống những cái bóng thường đâu. Hoàn toàn khác. Chúng đến đây từ một thế giới khác, rất xa nơi đây, chúng đến đây chỉ là cho trái tim của chúng ta thôi. Mà cũng có thể không phải. Chính khi đó em lại sực nghĩ, biết đâu nước mắt mà cái bóng của em đang tuôn mới là thực, còn nước mắt em đang tuôn thì chỉ là bóng. Em chắc là anh không hiểu đâu, Chim vặn dây cót à. Khi một đứa con gái mười bảy tuổi trần truồng tuôn nước mắt trong ánh trăng thì chuyện gì cũng có thể xảy ra. Thật đấy.

    Ấy là chuyện đã xảy ra trong căn phòng này cách đây khoảng một tiếng. Bây giờ thì em đang ngồi ở bàn, viết thư cho anh bằng bút chì, Chim vặn dây cót ạ (dĩ nhiên em đã mặc quần áo rồi!).

    Tạm biệt Chim vặn dây cót. Em không biết nói thế nào... nhưng em cùng với dân vịt trong rừng sâu cầu mong cho anh được ấm lành, hạnh phúc. Nếu có chuyện gì, anh cứ gọi em nữa đi, gọi cho to vào, đừng ngại.

    Chúc anh ngủ ngon.

    CHƯƠNG 37 - HAI LOẠI TIN KHÁC NHAU ♦ VẬT BIẾN MẤT

    - Quế đã đưa cậu về đây, - Nhục đậu khấu nói.

    Điều đầu tiên tôi nhận thấy khi thức dậy là đau, đau dưới nhiều dạng khác nhau, méo mó. Con dao đã làm tôi bị thương, mọi khớp sụn, mọi khớp xương, cơ bắp trong thân thể tôi đều khiến tôi đau. Hẳn là nhiều bộ phận thân thể tôi đã va mạnh vào vật này vật khác trong lúc tôi bỏ chạy trong bóng tối. Thế nhưng hình dạng của mỗi cái đau khác nhau đó vẫn chưa đúng hẳn. Chúng đâu như gần với cái đau, nhưng không thể gọi đích xác là cái đau.

    Kế đó tôi nhận ra mình đang nằm dài trên ghế sofa trong "phòng chỉnh lý" của Dinh, mặc bộ pyjama màu xanh lính thủy mà tôi chưa thấy bao giờ, mình đắp chăn. Rèm mở toang, ánh mặt trời buổi sáng tuôn vào qua cửa sổ. Tôi đoán bây giờ chắc khoảng 10 giờ. Không khí nơi đây thật trong lành, và thời gian thì vẫn đang trôi về phía trước. Nhưng vì sao tất cả những chuyện đó lại xảy ra được, tôi không sao lý giải rõ ràng.

    - Quế đã đưa cậu về đây, - Nhục đậu khấu nói. - Mấy vết thương của cậu không nặng lắm. Vết trên vai khá sâu, nhưng không phạm đến mạch máu chính nào, cũng may. Những vết trên mặt thì chỉ là trầy xước. Quế đã dùng kim chỉ khâu các vết thương khác sao cho cậu không bị sẹo. Chuyện ấy thì nó giỏi lắm. Ít hôm nữa cậu có thể tự tháo chỉ được, không thì nhờ bác sĩ.

    Tôi cố nói, nhưng không thốt được tiếng nào. Tôi chỉ làm được mỗi một việc là hít vào rồi thở ra nghe rin rít chói tai.

    - Cậu khoan hãy cố nói hay cử động thì tốt hơn, - Nhục đậu khấu nói. Bà ngồi trên chiếc ghế gần đó, hai chân bắt tréo. - Quế bảo cậu đã ở dưới giếng quá lâu, thiếu chút nữa là đã chết rồi. Nhưng đừng hỏi tôi đã xảy ra chuyện gì. Tôi chẳng biết gì hết. Nửa đêm có cú điện thoại gọi tôi, tôi bèn gọi taxi rồi ù té tới đây ngay. Cụ thể chuyện gì xảy ra trước đó thì tôi không biết. Quần áo cậu ướt sũng, toàn là máu. Chúng tôi quăng đi rồi.

    Nhục đậu khấu ăn mặc đơn sơ hơn mọi khi, có lẽ đúng là bà đã quáng quàng ra khỏi nhà thật. Bà mặc áo len ca-sơ-mia màu kem khoác ngoài áo sơ-mi nam giới kẻ sọc, váy len màu xanh ôliu, không nữ trang, tóc buộc đằng sau. Bà trông hơi mệt mỏi, nhưng trừ cái đó ra thì bà trông như người mẫu trong cataloug ảnh. Bà cho một điếu thuốc lên môi rồi châm lửa bằng chiếc bật lửa bằng vàng, làm phát ra tiếng tách rõ rệt, khô khốc quen thuộc, đoạn hít mấy hơi, mắt nheo nheo lại. Tôi đúng là chưa chết thật, tôi tự trấn an mình khi nghe tiếng tách của cái bật lửa. Hẳn là Quế đã kéo tôi lên khỏi giếng đúng vào phút chót.

    - Quế hiểu biết mọi chuyện theo một kiểu đặc biệt, - Nhục đậu khấu nói. - Khác với tôi hay cậu, nó luôn luôn suy nghĩ rất sâu xa về khả năng xảy ra chuyện này hay chuyện khác. Nhưng ngay cả nó cũng không tưởng tượng nổi nước lại dâng đầy cái giếng đó đột ngột đến thế. Chuyện đó nằm ngoài mọi khả năng mà nó đã tiên liệu. Chính vì vậy mà suýt nữa là cậu mất mạng rồi. Đây là lần đầu tiên tôi thấy thằng bé hoảng hốt đến thế.

    Bà cố mỉm cười khi nói như vậy.

    - Hẳn là nó thật sự thích cậu, - bà nói.

    Sau đó bà nói gì tôi không nghe được nữa. Tôi nghe đau ở sâu đằng sau mắt, mí mắt tôi nặng như chì. Tôi cứ để mắt díp lại mà đắm vào trong bóng tối như đang đi xuống bằng buồng thang máy.

    *

    Phải mất hai ngày cơ thể tôi mới hồi phục lại. Suốt thời gian đó Nhục đậu khấu luôn ở bên tôi. Tôi không tự dậy được, không nói được, gần như không ăn được. Cố lắm tôi cũng chỉ hớp nổi vài hớp nước cam và nhấm vài miếng đào đóng hộp. Ban đêm Nhục đậu khấu về nhà, sáng ra lại đến. Thế cũng tốt, bởi vì suốt đêm - và hầu như suốt cả ngày nữa tôi ngủ như chết - tôi bị nhiễm cái lạnh ngoài trời. Rõ ràng ngủ là thứ tôi cần nhất để có thể hồi phục.

    Tôi không hề gặp Quế. Hình như Quế cố tình tránh mặt tôi. Ngày nào tôi cũng nghe tiếng xe anh ta qua cổng mỗi khi đưa đón Nhục đậu khấu hoặc mang tới đồ ăn, quần áo - nghe cái tiếng ùng ục trầm trầm đặc biệt của động cơ xe Porsche, bởi cậu ta đã thôi dùng chiếc Mercedes, - nhưng cậu ta không vào bên trong. Cậu trao mọi thứ cho Nhục đậu khấu ở cửa trước rồi lại đi.

    - Sắp tới chúng tôi sẽ dẹp bỏ chỗ này, - Nhục đậu khấu bảo tôi. - Tôi sẽ lại phải tự mình chăm lo cho các quý bà kia. Ờ, phải. Chắc cái số tôi nó thế. Tôi sẽ cứ phải tiếp tục chừng nào chưa kiệt sức - chừng nào chưa cạn sạch. Còn cậu, có lẽ cậu sẽ không còn gì phải liên quan đến chúng tôi nữa. Khi chuyện này đã qua và cậu đã bình phục, tốt nhất là cậu hãy quên chúng tôi đi, càng sớm càng tốt. Bởi vì... Ừ nhỉ, còn chuyện này tôi quên chưa cho cậu biết. Về anh vợ cậu ấy mà. Wataya Noboru.

    Nhục đậu khấu đem một tờ báo từ phòng bên sang, giở ra giữa bàn.

    - Quế vừa mới mang tờ báo về thôi. Anh vợ cậu bị đột quỵ đêm qua ở Nagasaki. Người ta đưa ông ấy vào bệnh viện, nhưng đến giờ ông ấy vẫn bất tỉnh. Người ta không biết liệu ông ấy có tỉnh lại nữa hay không.

    Nagasaki ư? Tôi khó lòng hiểu bà ta đang nói gì. Tôi muốn nói, nhưng lời lẽ không bật ra được. Wataya Noboru lẽ ra phải đột quỵ ở Akasaka chứ không phải Nagasaki. Sao lại Nagasaki?

    - Ông ấy diễn thuyết ở Nagasaki, - Nhục đậu khấu nói tiếp, - sau đó trong khi đang ăn tối với các nhà tổ chức thì bỗng đột quỵ. Người ta đưa ông ấy đến bệnh viện gần đó. Người ta cho rằng có lẽ đó là một loại tai biến mạch máu não, chắc là vì một khiếm khuyết bẩm sinh ở mạch máu trong não. Báo chí cho biết ông ấy sẽ phải nằm liệt giường một thời gian, rằng dù có tỉnh lại có lẽ ông ấy cũng không nói được, rằng rất có thể sự nghiệp chính trị của ông ấy đến đây là hết. Thật đáng tiếc, ông ấy còn trẻ quá. Tôi để tờ báo lại đây. Khi nào thấy khỏe hơn thì cậu tự đọc.

    Phải mất một lúc tôi mới chấp nhận được cái hiện tại kia là sự thực. Những hình ảnh tin tức tivi mà tôi đã thấy trong tiền sảnh khách sạn vẫn còn in sâu, quá sống động rõ ràng trong ý thức tôi: văn phòng của Wataya Noboru ở Asakasa, cảnh sát bu chật ních, cổng trước bệnh viện, nét nghiêm trọng của người dẫn chương trình, vẻ căng thẳng trong giọng anh ta. Tuy nhiên, dần dần, từng tí một, tôi đã có thể thuyết phục được chính mình rằng những gì tôi từng thấy kia là những tin tức chỉ tồn tại trong thế giới khác. Trong thực tại, ở thế giới này, tôi đã không đánh Wataya Noboru bằng gậy bóng chày. Trong thực tại, tôi sẽ không bị cảnh sát thẩm vấn hay bị bắt vì phạm tội. Hắn đã đột quỵ trước bàn dân thiên hạ, vì tai biến mạch máu não. Chẳng có tội phạm nào hết, không thể có tội phạm nào cả. Ý nghĩ đó khiến tôi có thể thở phào nhẹ nhõm. Dù gì đi nữa, hung thủ được mô tả trên truyền hình kia có nhân dạng giống tôi như đúc, thành thử tôi không có bằng chứng ngoại phạm.

    Chắc hẳn phải có mối liên quan nào đó giữa việc tôi đã đánh chết kẻ nào đó ở thế giới kia với việc Wataya Noboru đột quỵ. Rõ ràng tôi đã giết chết một cái gì đó ở bên trong hắn hay một cái gì đó có liên quan chặt chẽ với hắn. Ắt là hắn đã tiên cảm được điều đó sẽ xảy ra. Tuy nhiên, việc tôi làm đã không đoạt được sinh mạng của Wataya Noboru. Hắn vẫn cứ sống ngay bên bờ vực cái chết. Lẽ ra tôi phải đẩy luôn hắn xuống vực kia. Chuyện gì sẽ xảy ra với Kumiko đây? Liệu nàng có dứt được khỏi chỗ đó trong khi hắn vẫn sống? Liệu từ trong bóng tối vô thức kia hắn có tiếp tục ám lời nguyền lên Kumiko?

    Ý nghĩ của tôi chỉ đi xa được đến ngần ấy. Ý thức tôi chuội đi từng tí một, cho đến khi tôi nhắm mắt lại ngủ thiếp. Tôi mơ một giấc mơ căng thẳng, đứt đoạn. Kano Creta đang bế một đứa bé áp vào ngực. Tôi không thấy mặt đứa bé. Tóc Kano Creta cắt ngắn, cô không trang điểm gì. Cô bảo tôi tên đứa bé là Corsica, và cha đứa bé nửa là tôi nửa kia là Trung úy Mamiya. Cô bảo cô đã không đến đảo Crete mà vẫn ở lại Nhật để sinh và nuôi đứa bé này. Cô vừa nghĩ ra được tên mới cho đứa bé, còn hiện giờ cô đang sống yên bình, trồng rau trên những núi đồi Hiroshima cùng Trung úy Mamiya. Những tin ấy không hề làm tôi ngạc nhiên. Ít nhất là trong giấc mơ tôi đã thấy trước tất cả.

    - Kano Malta thế nào từ sau khi tôi gặp cô ấy lần trước? - Tôi hỏi.

    Kano Creta không trả lời. Cô chỉ buồn buồn nhìn tôi rồi biến mất.

    *

    Vào sáng ngày thứ ba tôi đã tự khỏi giường được. Đi đứng thì vẫn còn khó khăn lắm, nhưng tôi đã dần dần nói năng lại được. Nhục đậu khấu nấu cho tôi ít cháo. Tôi ăn cháo rồi thêm ít hoa quả.

    - Con mèo sao rồi? - Tôi hỏi bà. Vấn đề này có lúc đã khiến tôi không yên tâm.

    - Đừng lo. Quế đang chăm sóc nó. Ngày nào cậu ấy cũng đến nhà cậu để cho mèo ăn và thay nước. Giờ cậu chỉ nên lo lắng cho bản thân mình thôi.

    - Bà với cậu ấy định khi nào sẽ dẹp bỏ nhà này?

    - Càng sớm càng tốt. Có lẽ trong vòng tháng sau. Chắc là cậu cũng sẽ kiếm được ít tiền đấy. Chắc chúng tôi sẽ phải bán giá thấp hơn một chút so với hồi chúng tôi mua, thành thử cậu sẽ không được nhiều lắm, nhưng phần cậu vẫn là một phần trăm kha khá của số tiền cậu đã trả thế chấp. Sẽ đủ cho cậu sống một thời gian. Nên cậu không phải quá lo về chuyện tiền nong. Cậu xứng đáng được như vậy; nói gì thì nói, cậu đã làm việc tốt ở đây mà.

    - Nhà này sẽ bị phá dỡ à?

    - Có lẽ vậy. Họ cũng sẽ lấp luôn giếng. Cho nên bây giờ giếng có nước cũng bằng thừa thôi, thời buổi này có ai thích một cái giếng cổ to đùng như thế đâu. Người ta chỉ cần đặt ống và máy bơm điện là xong. Tiện hơn nhiều mà lại choán ít chỗ.

    - Chắc chỗ này không bị xúi quẩy nữa đâu, - tôi nói. - Nó sẽ lại là chỉ một lô đất bình thường chứ không phải "nhà có dớp" nữa.

    - Có thể cậu nói đúng, - Nhục đậu khấu nói. Bà ngần ngừ một chút rồi cắn môi. - Nhưng chuyện đó không còn liên quan đến tôi hay cậu nữa. Đúng không? Trong mọi trường hợp, điều quan trọng là bây giờ cậu phải nghỉ ngơi, đừng bận tâm đến những chuyện không thực sự đáng kể. Phải mất một thời gian nữa cậu mới hồi phục hoàn toàn đấy.

    Nhục đậu khấu chỉ cho tôi bài báo về Wataya Noboru trong tờ báo buổi sáng mà bà mang theo. Chỉ là một bài báo nhỏ, Wataya Noboru vẫn còn mê man, đã được chuyển từ Nagasaki về một bệnh viện đại học lớn ở Tokyo, đang được chăm sóc đặc biệt nhưng tình trạng vẫn không thay đổi. Báo chẳng nói gì hơn ngần đó. Đọc tới đây, dĩ nhiên tôi nghĩ ngay tới Kumiko. Nàng đang ở đâu? Tôi phải quay về nhà. Nhưng tôi vẫn chưa đủ sức để đi bộ một quãng xa đến thế.

    Sáng hôm sau tôi cố lê đến bồn rửa mặt và nhìn thấy mình trong gương lần đầu tiên trong ba ngày qua. Tôi trông thật khủng khiếp. Chẳng giống một người sống phờ phạc là mấy, một cái xác được bảo quản tốt thì đúng hơn. Như Nhục đậu khấu đã nói, vết rạch trên má đã được khâu lại bằng những mũi khâu nhà nghề, mép vết thương đều khin khít với đường chỉ trắng. Vết đâm dài ít nhất hai phân rưỡi nhưng không sâu lắm. Khi tôi thử nhăn mặt thì nó cũng căng ra, nhưng chẳng thấy đau mấy. Tôi đánh răng rồi dùng máy cạo râu chạy điện để cạo râu. Tôi chưa đủ tự tin để dùng dao cạo như bình thường. Khi đã rửa sạch bọt cạo râu, tôi khó lòng tin được điều mình nhìn thấy trong gương. Tôi đặt máy cạo râu xuống rồi nhìn kỹ. Vết bầm đã biến mất. Gã đàn ông kia đã dâm vào má phải tôi. Đúng ngay chỗ có vết bầm. Vết đâm vẫn còn đó, nhưng vết bầm không còn nữa. Nó đã biến mất khỏi má tôi không còn một dấu vết nào.

    *

    Nửa đêm ngày thứ năm, tôi lại nghe tiếng lục lạc reo khe khẽ. Lúc ấy hơn 2 giờ sáng một chút. Tôi trở dậy khỏi sofa, khoác áo cardigan ngoài bộ pyjama rồi ra khỏi phòng chỉnh lý. Băng qua bếp, tôi tiến đến phòng làm việc nhỏ của Quế, ghé nhìn vào. Quế lại đang gọi tôi từ bên trong máy tính. Tôi ngồi xuống bàn đọc thông điệp trên màn hình.

    Hiện bạn đã được quyền truy cập chương trình "Biên niên ký sự của Chim vặn dây cót". Chọn một tài liệu (1-17).

    Tôi nhấp Số 17, và một tài liệu mở ra trước mắt tôi.

    CHƯƠNG 38 - BIÊN NIÊN KÝ SỰ CỦA CHIM VẶN DÂY CÓT SỐ 17 (THƯ CỦA KUMIKO)

    Có nhiều chuyện em muốn nói với anh. Kể cho hết thì phải mất nhiều thì giờ lắm, có khi phải mấy năm trời. Đáng ra em phải bộc bạch với anh từ lâu, thú nhận với anh tất cả, nhưng tiếc thay, em không đủ can đảm làm vậy. Thế nhưng em vẫn ấp ủ một hy vọng vu vơ, rằng mọi chuyện sẽ không đến nỗi tệ hại như vậy. Kết quả là cơn ác mộng này dành cho cả anh và em. Lỗi tại em hết. Nhưng giải thích mọi chuyện thì cũng đã quá muộn rồi. Chúng ta không có nhiều thời gian để làm việc đó. Cho nên ở đây em chỉ muốn nói với anh điều quan trọng nhất thôi.

    Đó là, em cần phải giết anh trai em, Wataya Noboru.

    Lát nữa em sẽ đến phòng bệnh nơi anh ta đang ngủ, để rút phích cắm hệ thống duy trì sự sống cho anh ta. Em là em gái anh ta, nên người ta sẽ cho em thay y tá ở lại qua đêm cạnh anh ta. Hệ thống bị ngắt rồi mọi người cũng không nhận ra ngay đâu. Hôm qua em đã nhờ bác sĩ chỉ cho cách vận hành hệ thống. Em định sẽ đợi đến khi chắc chắn là anh ta đã chết, chừng đó em tự nộp mình cho cảnh sát. Em sẽ bảo họ, em đã làm việc em cho là đúng, nhưng không giải thích gì hơn. Chắc người ta sẽ bắt giữ em ngay tại chỗ và đưa em ra tòa vì tội giết người. Báo chí sẽ nhảy vào, mọi người sẽ nêu ý kiến về chuyện chết không đau đớn và những thứ đại loại thế. Nhưng em sẽ vẫn im lặng. Em không giải thích hay thanh minh gì cả. Trong mọi chuyện chỉ có một sự thực duy nhất mà thôi, ấy là em muốn kết liễu cuộc đời của một con người, Wataya Noboru. Họ sẽ tống giam em, nhưng chuyện ấy em không hề sợ. Những gì tồi tệ nhất em đã trải qua cả rồi.

    *

    Nếu như không có anh, chắc em đã mất trí từ lâu. Chắc hẳn em đã tự trao mình trọn vẹn, trống rỗng, cho một kẻ khác và rơi xuống tới một nơi không còn hy vọng phục hồi. Anh trai em, Wataya Noboru, đã làm đúng như vậy với chị gái em nhiều năm trước đây, rốt cuộc chị ấy đã tự sát. Anh ta đã làm ô uế hai chị em. Nói đúng ra, anh ta không làm ô uế thân thể chúng em. Việc anh ta đã làm còn tồi tệ hơn thế.

    Em đã bị tước quyền tự do làm bất cứ việc gì, tự giam mình đơn độc trong phòng tối. Chẳng ai xiềng xích em hay đặt lính gác canh giữ, nhưng em không thể nào thoát ra được. Anh trai em giam giữ em bằng những thứ xiềng xích và lính gác mạnh hơn nhiều - những xiềng xích và lính gác vốn là chính bản thân em. Em chính là xiềng xích buộc vào chân em, chính là tên lính gác tàn bạo không bao giờ ngủ. Dĩ nhiên bên trong em còn có một cái tôi khác muốn thoát ra, nhưng đồng thời lại có một cái tôi nữa hèn đớn, trụy lạc đã mất hết mọi hy vọng liệu có bao giờ thoát được, và cái tôi thứ nhất chẳng bao giờ át nổi cái tôi thứ hai vì em đã quá mức ô uế trong thể xác và tâm hồn rồi. Em đã đánh mất quyền trở lại với anh, không chỉ vì em đã bị anh trai, Wataya Noboru làm ô uế, mà còn bở từ trước đó em đã tự làm ô uế mình đến không sao cứu chữa nổi.

    Trong thư em có nói với anh, em đã ngủ với người đàn ông khác, nhưng nội dung thư đó không phải là sự thật. Em phải thú nhận sự thật với anh ở đây. Em đã ngủ không chỉ với một người mà với nhiều người khác nữa. Nhiều quá không đếm xuể. Chính em cũng không biết, cái gì đã xui em làm một việc như vậy. Bây giờ nhìn lại, em nghĩ đó chắn hẳn là do ảnh hưởng của anh trai em. Hẳn là anh ta đã mở một cái ngăn kéo nào đó bên trong em, lôi ra một cái gì đó không hiểu là gì, thế là anh ta khiến em phải hiến thân cho hết người này đến người khác. Anh trai em có cái thứ sức mạnh đó, và, dẫu không muốn, em cũng phải thừa nhận điều này: nhất định là hai anh em chúng em có gắn bó khăng khít với nhau ở một chỗ tăm tối nào đó.

    Dù thế nào thì thế, khi anh trai em đến chỗ em thì em đã tự làm ô uế mình không sao gột rửa được. Rốt cuộc em đã bị mắc bệnh giang mai. Nhưng dẫu có vậy đi nữa, như em đã nói trong thư, trong thời gian đó, em không bao giờ cảm thấy mình đang làm điều gì xấu với anh. Em cảm thấy việc em làm dường như hoàn toàn tự nhiên - chắc đó không phải là cái tôi thực của em nên mới cảm thấy như vậy. Tuy nhiên, liệu có đúng vậy không chứ? Liệu câu trả lời có thực sự đơn giản như vậy không? Mà nếu vậy thì đâu là cái tôi thực của em? Liệu em có cơ sở vững chắc nào để kết luận rằng cái tôi đang viết bức thư này là "cái tôi thực"? Em chưa bao giờ có thể tin chắc đến vậy vào "cái tôi" của em, cả đến giờ phút này cũng thế.

    Em thường mơ thấy anh, những giấc mơ sống động, rõ mồn một. Trong những giấc mơ đó, anh luôn luôn đang tuyệt vọng tìm em. Chúng ta đang ở trong một thứ mê cung, anh gần như đã đến sát cạnh chỗ em đang đứng. "Thêm một bước nữa thôi! Em đang ở ngay đây!" Em muốn thét lên, giá như anh tìm thấy em và ôm em vào lòng thì cơn ác mộng hẳn đã chấm dứt, mọi thứ sẽ quay lại như xưa. Nhưng em không thể nào cất lên tiếng thét đó. Thế là anh lại không nhìn ra em trong bóng tối, anh đi ngang qua ngay trước mặt em rồi biến mất. Lúc nào cũng vậy. Thế nhưng, những giấc mơ ấy vẫn giúp đỡ và khích lệ em. Ít nhất là em biết, mình vẫn còn sức để mơ. Anh trai em không thể ngăn em làm chuyện đó. Em cảm thấy được rằng anh đang cố hết sức bình sinh để đến gần em. Có thể một ngày nào đó anh sẽ tìm thấy em, ôm em vào lòng, quét sạch những thứ bẩn thỉu kinh tởm đang bám chặt lấy em rồi cứu em thoát khỏi chỗ đó vĩnh viễn. Có thể anh sẽ phá được lời nguyền, gắn lại niêm phong sao cho cái tôi thực của em sẽ không bao giờ phải bỏ đi đâu nữa. Chính nhờ vậy em mới còn giữ được một ngọn lửa hy vọng con con ở cái nơi tối tăm lạnh lẽo không lối thoát này, vẫn giữ được chút nhỏ nhoi còn sót lại từ giọng nói đích thực của em.

    Em nhận được mật khẩu truy nhập máy tính hồi chiều nay. Có ai đó đã gửi nó cho em bằng thư bảo đảm. Em đang gửi thư này cho anh từ máy vi tính trong văn phòng của anh trai em. Em hy vọng thư sẽ đến tay anh.

    *

    Em không còn thời gian nữa. Taxi đang đợi em ngoài kia. Em phải đến bệnh viện ngay bây giờ, để giết anh trai em và chịu trừng phạt. Lạ thật, em không còn căm thù anh trai em nữa. Em thanh thản với ý nghĩ mình sẽ phải xóa sạch cuộc đời anh ấy ra khỏi thế giới này. Em phải làm việc đó vì chính anh ấy nữa. Và để mang lại ý nghĩa cho cuộc đời của chính em.

    Anh nhớ chăm nom con mèo nhỏ. Anh không thể biết em vui đến nhường nào khi hay tin nó đã trở về đâu. Anh bảo tên nó là Cá thu à? Em thích cái tên ấy. Nó luôn luôn là biểu tượng cho một cái gì tốt lành đã lớn lên giữa hai ta. Lẽ ra hồi đó chúng mình đừng để mất nó mới phải.

    *

    Em không thể viết thêm gì nữa. Tạm biệt.

    CHƯƠNG 39 - TẠM BIỆT

    - Tiếc là em không thể chỉ cho anh xem dân vịt. Chim vặn dây cót à, - Kasahara May có vẻ tiếc rẻ rất thành thực.

    Cô và tôi đang ngồi trên bờ, nhìn mặt hồ đóng lớp băng dày. Đó là một cái hồ lớn, trên mặt băng có hàng ngàn vết cắt nhỏ vì đế giày trượt. Kasahara May đã xin nghỉ phép sáng thứ Hai hôm nay chỉ vì tôi. Tôi đã định đến thăm cô vào Chủ nhật, nhưng vì có tai nạn tàu hỏa nên tôi bị trễ mất một ngày. Kasahara May quấn mình kín mít trong áo lót lông. Chiếc mũ len màu xanh nhạt của cô thêu hoa văn hình học bằng sợi len trắng, trên chỏm có quả cầu tròn nho nhỏ. Cô đã tự đan chiếc mũ đó cho mình, cô bảo mùa đông sang năm cô sẽ đan một chiếc y như thế cho tôi. Má cô đỏ hây hây, mắt cô ngời sáng trong trẻo như bầu không khí xunh quanh, khiến tôi thấy thật sung sướng: dù sao đi nữa cô chỉ mới mười bảy tuổi, cô còn có thể thay đổi đến vô cùng.

    - Từ khi hồ đóng băng kín thì dân vịt chuyển đi chỗ khác hết rồi. Nếu anh gặp thì nhất định anh cũng sẽ yêu chúng ngay. Mùa xuân này anh trở lại nhé? Em sẽ giới thiệu anh với chúng.

    Tôi mỉm cười. Tôi mặc một chiếc áo khóa len không ấm lắm, quấn khăn quàng kín tận má, tay thọc vào túi áo. Trong rừng lạnh căm căm. Tuyết cứng như đá phủ đầy mặt đất. Đôi giày thể thao của tôi cứ trượt luôn. Lẽ ra tôi phải mua từ trước một đôi giày cao cổ chống trược dành riêng cho chuyến đi này.

    - Vậy là em định sẽ ở lại đây lâu hơn phải không? - Tôi hỏi.

    - Chắc vậy. Có thể sau một thời gian nữa em sẽ về đi học lại. Mà cũng có thể không. Em chả biết nữa. Cũng có khi em đi lấy chồng không chừng... mà cũng không chắc. - Cô mỉm cười, thở ra một làn hơi trắng. - Nhưng dù gì, em cũng ở lại đây ít lâu nữa. Em cần thêm thời gian để suy nghĩ. Nghĩ xem em muốn làm gì, em muốn đi đâu. Em cần có thì giờ để nghĩ về những chuyện đó.

    Tôi gật đầu: - Có lẽ em cần phải làm vậy thật.

    - Này Chim vặn dây cót, hồi bằng tuổi em, anh có hai nghĩ về những chuyện như thế không?

    - Hừm. Chắc là không. Chắc anh cũng có nghĩ tới mấy chuyện đó một chút, nhưng nếu nghĩ một cách nghiêm túc như em thì không... anh nhớ là không. Chắc là hồi đó anh nghĩ nếu mình cứ bình thường mà sống thì mọi chuyện tự nó sẽ ổn thôi. Nhưng kết cục lại chẳng như vậy, phải không? Thật đáng tiếc.

    Cô nhìn thẳng vào mắt tôi, khuôn mặt cô bình thản. Rồi cô đặt đôi găng tay lên lòng mình, chiếc nọ chồng lên chiếc kia.

    - Vậy là rốt cuộc người ta sẽ không thả Kumiko ra à? - Cô hỏi.

    - Cô ấy không chịu ra tại ngoại, - tôi nói. - Cô ấy sợ nếu ra ngoài thì sẽ bị đám đông quây lấy, không cho cô ấy yên. Chẳng thà cứ ở trong tù, được tĩnh lặng bình an. Thậm chí cô ấy cũng không muốn gặp anh nữa. Cô ấy không muốn gặp ai hết, chừng nào mọi việc chưa giải quyết xong.

    - Bao giờ phiên tòa bắt đầu?

    - Đâu như vào mùa xuân, Kumiko nhận tội. Cô ấy sẽ chấp nhận phán quyết của tòa, dù tòa quyết định thế nào đi nữa. Phần xét xử chắc sẽ không kéo dài đâu. Có nhiều khả năng cô ấy sẽ được hưởng án treo, cùng lắm thì cũng xử nhẹ thôi.

    Kasahara May nhặt một hòn đá dưới chân ném ra giữa hồ. Hòn đá rơi đánh cạch xuống mặt băng rồi văng sang phía bên kia.

    - Còn anh Chim vặn dây cót, anh lại sẽ ở nhà đợi chị Kumiko chứ?

    Tôi gật đầu.

    - Thế cũng tốt nhỉ... có tốt không?

    Tôi thở một cụm mây trắng lớn vào bầu không khí lạnh.

    - Anh không biết, chắc là chính bọn anh đẩy mọi chuyện đến chỗ này thôi.

    Kết cục có khi còn tệ hơn nhiều ấy chứ, tôi tự nhủ.

    Đằng xa, trong khu rừng bao quanh hồ, một con chim cất tiếng kêu. Tôi ngẩng lên nhìn khắp xung quanh, nhưng chẳng còn nghe thấy gì nữa. Chẳng thấy gì nữa. Chỉ có âm thanh khô khốc, rỗng không cửa một con chim gõ kiến đang khoan lỗ vào thân cây.

    - Nếu Kumiko và anh có con, anh chắc sẽ đặt tên nó là Corsia, - tôi nói.

    - Tên hay quá, - Kasahara May nói.

    *

    Khi hai chúng tôi đi bên nhau xuyên qua khu rừng, Kasahara May tháo găng tay bên phải rồi đút tay vào túi áo khoác của tôi. Điều đó làm tôi nhớ lại Kumiko. Nàng cũng hay làm như vậy những khi chúng tôi cùng đi bên nhau vào mùa đông, để cả hai có thể dùng chung một cái túi áo trong những ngày lạnh giá. Tôi nắm bàn tay Kasahara May trong túi áo tôi. Đó là bàn tay bé nhỏ, ấm như một linh hồn ẩn dật.

    - Này Chim vặn dây cót, chắc ai người ta cũng nghĩ mình là đôi tình nhân đấy.

    - Có lẽ em nói đúng.

    - Thế thì anh có đọc hết thư của em không đấy?

    - Thử của em á? - Tôi hoàn toàn không hiểu cô đang nói đến chuyện gì. - Anh xin lỗi, anh chẳng hề nhận được thư từ nào của em hết. Anh phải hỏi mẹ em mới có địa chỉ và số phone của em. Cũng chẳng dễ đâu, anh đã phải bịa một chút đấy.

    - Ôi không! Thế thì thư em đi đâu hết rồi? Em viết cho anh dễ đến năm trăm bức là ít! - Kasahara May nhìn lên trời.

    *

    Chiều muộn ngày hôm đó, Kasahara May tiễn tôi ra ga. Hai chúng tôi đáp xe buýt vào thị trấn, ăn bánh pizza ở một nhà hàng gần ga, sau đó đợi đoàn tàu bé tí vỏn vẹn ba toa chạy bằng dầu diesel rốt cuộc cũng bò tới. Hai ba người đứng quanh chiếc lò sưởi to đốt bằng củi đỏ rực giữa phòng đợi, nhưng hai chúng tôi thì đứng ngoài sân ga giữa trời lạnh. Một vần trăng mùa đông rõ ràng, sắc cạnh đông cứng trên bầu trời. Đó là vầng trăng non, với đường cong sắc nét như một thanh gươm Trung Hoa. Dưới vầng trăng ấy, Kasahara May nhón chân hôn lên cổ tôi. Tôi cảm thấy đôi môi mỏng, lạnh của cô chạm vào chỗ trước kia có vết bầm.

    - Tạm biệt, Chim vặn dây cót, - cô thì thầm. - Cám ơn anh đã đi ngần ấy đường để đến thăm em.

    Hai tay thọc sâu trong túi áo khoác, tôi nhìn vào mắt cô. Tôi chẳng biết nói gì.

    Khi tàu đến, cô cởi mũ ra, lùi lại một bước rồi nói với tôi:

    - Nếu có chuyện gì xảy ra với anh, chỉ cần gọi em cho to vào. Chim vặn dây cót nhé? Gọi em và gọi dân vịt.

    - Tạm biệt, Kasahara May, - tôi nói.

    *

    Vòng cung trăng vẫn treo trên đầu tôi mãi sau khi tàu đã rời ga, xuất hiện rồi lại biến mất mỗi khi tàu vào một khúc quanh. Tôi dán mắt vào vầng trăng, và mỗi khi nó biến khỏi tầm nhìn, tôi ngắm ánh đèn những thị trấn nhỏ lướt qua cửa sổ. Tôi nghĩ đến Kasahara May, đội chiếc mũ len màu xanh dương, đang ngồi một mình trên xe buýt quay về nhà máy ở trên đồi. Đoạn tôi nghĩ về dân vịt đang thiu thiu ngủ ở đâu đó trong bóng cỏ. Cuối cùng tôi nghĩ về cái thế giới, nơi tôi đang quay về.

    - Tạm biệt, Kasahara May, - tôi nói. Tạm biệt, Kasahara May: cầu chúc cho luôn luôn có một cái gì đó trông chừng bảo vệ em.

    Tôi nhắm mắt lại cố ngủ. Nhưng mãi rất lâu sau tôi mới thực sự ngủ được. Ở một nơi xa cách bất kỳ ai hay bất cứ nơi đâu, tôi mơ màng thiếp đi một lát.

    Hết.

    Nguồn: Biên niên ký chim vặn dây cót. Tiểu thuyết của Haruki Murakami. Trần Tiễn Cao Đăng dịch. NXB Hội Nhà văn, 2006.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập35,895,003

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/