Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập34,471,543

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Bão

Ngũ Hà Miên

  • Thứ hai, 09:15 Ngày 29/06/2020
  • Bão

    35. CHIẾC KHAY QUẾ CHO THỦ TƯỚNG CẨN:

    TIN TÌNH BÁO VỀ TRẬN MỞ MÀN TÂY NGUYÊN

    Rồi người ta đồn là ông Khiêm sắp từ chức, Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Cẩn sẽ thay. Hôm chàng nằm viện, Cẩn có đích thân tới thăm. Chàng lấy cớ đáp lễ, gọi điện thoại chúc mừng và báo trước sẽ tới thăm, sau khi chàng biết ngày 6-4-1975 tổng thống, thủ tướng và chủ tịch Hạ viện có cuộc họp khẩn và tối mật ở Cam Ranh.

    Chàng kêu Xiếu, một chú em kết nghĩa người Hoa rất giỏi thuốc Bắc đến chơi.

    - Anh Mười cần gì em đó? - Xiếu vui sướng trình diện ngay, nghĩ mình được dịp lập công.

    - Đúng, - chàng đáp - Nuôi quân ba năm, dùng một giờ. Lo cho chú trốn lính và kiếm công việc cho chú có cơm ăn, giờ chỉ cần lúc này. Tôi biết chú rành các loại quế Tàu hảo hạng. Này, hai trăm ngàn, hãy tìm cho được một miếng to bằng cái khay, dày và nhất là thật thơm, loại dách lầu.

    Xiếu y lệnh, hai hôm sau mang đến trong chiếc khăn lông to một miếng quế bằng phẳng như miếng ván, bề ngang có đến hai gang tay, dày hơn một phân, đen thin màu dầu và đặc biệt, khi mở lớp vải bọc ra thì thơm ngát cả phòng. Chàng chậc lưỡi liên tục, khen nức nở:

    - Chú đúng là con cháu Hoa Đà, Biển Thước

    Xiếu mắc cỡ đỏ mặt, lúng túng:

    - Anh bốc thế. Em chỉ là thằng bán thuốc bắc trốn quân dịch, tài giỏi gì. Có điều đây là của gia truyền của Lụ Xôi (Lão Thái, tiếng Quảng Đông), nhờ có ông chú em mách chỗ. Mà giá những gần hai lượng vàng. Vì anh cần gấp, chứ không, em kiếm chỗ khác, rẻ hơn.

    Chàng giữ khư khư lấy miếng quế như sợ Xiếu đem trả lại người ta.

    - Quí quá rồi. Tôi nghe nói có loại danh quế siêu âm dương, trở thành thần dược, người nhiệt nóng sốt mắt đỏ ngầu và người già yếu, hàn, chân tay lạnh ngắt, ỉa chảy, mài cho cả hai uống, cũng đều hết bịnh.

    Đến đây, như được bà mụ móc miệng hồi mới đẻ, cái chàng trai mãi sống chui nhủi trong xó xỉnh, bóng tối đó bỗng trở nên liếng thoắng huyên thuyên với những gì anh biết mà chả bao giờ được nói. Anh nói cho bõ những năm tháng buộc phải ngậm câm. Nào là âm, dương gì cũng vậy, khi phát triển đến tột cùng thì biên độ ở thái cực. Tại đó nó không còn phân biệt cộng trừ, đen trắng, đêm ngày, nóng lạnh.

    Nếu hàn, nó đem lại sự ấm áp, nếu nhiệt, nó đem lại sự mát mẻ… Dĩ nhiên chàng cũng thu thập trong lời lẽ anh ta những điều mình cần học hỏi. Nhưng bây giờ, chàng đang có những việc khác cần kíp hơn.

    Chàng đưa cho người thợ bạc bảo ông này làm bốn cái chân quỳ bằng vàng vào bốn góc và bịt vành vàng hình chữ nhật của chiếc khay, chạm long phụng ở giữa, thành một món cổ vật mỹ thuật tuyệt khéo. Khi lấy về, để trong phòng khách, mùi quế hảo hạng xông lên ngào ngạt, chàng mân mê nhìn ngắm mãi và có lúc như đã ngã lòng muốn giữ nó làm riêng của mình. Nhưng cuối cùng, chàng đã chiến thắng được ham muốn của bản thân. Chàng nhớ, triết gia Lâm Ngữ Đường đã có một ý tưởng rất lạ: Những bảo vật cổ ngoạn ư? Chúng sống lâu hơn chúng ta, chứng kiến bao thế hệ những người thưởng ngoạn qua đi. Chúng cười cợt kiếp người của chúng ta.

    Chàng đã mất bốn lượng vàng tiền túi cho chiếc khay quí này, chàng có quyền giữ nó như của riêng mà không xấu hổ gì. Nhưng chàng mong ước một cái quí hơn, đó là sự thành công của đại cuộc.

    Đi đêm với Nguyễn Bá Cẩn, Chủ tịch Quốc hội, đàn em ngoan ngoãn của ông Thiệu, nếu ở ngoài báo chí người ta biết, phiền lắm đấy. Vậy chỉ có thể làm lén. Đợi cho hơi tối một chút, một mình ngồi xích lô đến nhà Cẩn, sau khi gọi dây nói báo trước.

    Chàng cũng không ngờ Cẩn mừng rỡ tới vậy.

    Được tin một trí thức, một nhân vật đối lập có tầm cỡ đến thăm, ông hào hứng ra tận cổng đón, dìu chàng chống nạng khập khễnh đi vào. Ai cũng tránh nhắc đến nguyên nhân tai nạn, ông hỏi chàng đã đỡ chưa? Chàng mỉm cười tươi tắn thay cho câu trả lời. An tọa trong phòng khách sang trọng thả gỡ bọc giấy kiếng bao lễ vật, mùi hương quế bay ngào ngạt, mang lại một cảm giác vừa thiêng liêng, vừa ấm áp như được tắm táp trong không khí luyện đan phù thủy của cổ tích.

    Ông úi doa, một tiếng, vừa ngạc nhiên vừa lạ lẫm, không hiểu sao bỗng dưng mình được cái ông dân biểu nhà thơ, chuyên chống chính quyền này thương mến đến thế. Cái khay rõ là một tác phẩm thủ công chạm trổ khéo léo. Ông ngắm nghía và biết giá trị số vàng dát trên vành và bốn chiếc chân quỳ của nó.

    Cả hai trải qua một vài phút lúng túng. Chàng không biết phải nói sao để tặng và ông cũng lớ quớ, thừa hiểu chàng mang nó đến không ngoài mục đích tặng mình. Muốn nhận mà cũng một phần cảm thấy bất xứng. Ông khen:

    - Đẹp quá, lại có lẽ bằng thứ quế thần, chắc đã lâu đời.

    Chàng đánh trống lảng:

    - Nhưng cũng không sao bằng bức tranh Tam cố thảo lư anh treo trên vách này. Đây là cảnh Lưu Bị đi mời Khổng Minh, với khuôn mặt nhẫn nhục cầu khẩn, bên cạnh một Trương Phi nôn nóng và một Quan Công điềm tĩnh. Còn cái khay, tôi mong nó sẽ giúp làm thơm tho cho không khí tiếp các quí khách đến đây.

    Chàng nói nịnh. Ông ta đủ rành đời để hiểu, nhưng vẫn khoái trá khi trông thấy. Chàng thân mật đón điếu thuốc lá ba con năm và cú nghiêng mình bật lửa mặn mà chiêu đãi của ông, làm bộ như không chú ý mấy tới câu hỏi của mình:

    - Ở ngoài người ta đồn anh sẽ làm thủ tướng?

    Ông cười, nụ cười thỏa mãn, chẳng thấy gì là thâm hiểm:

    - Ông Khiêm đã đưa đơn từ chức. Trễ rồi, tôi không muốn làm gì nữa hết. Ngặt nỗi, lâu nay ông Thiệu đối với tôi khá tốt, tôi không nỡ bỏ ổng lúc này.

    - Còn tình hình cao nguyên? - Được thể, chàng hỏi dồn.

    Dường như đến đây, ông không còn cảnh giác gì:

    - Có lẽ phải rút khỏi Tân Cảnh. Có khi phải nhớm cả Ban Mê Thuột.

    Chi tiết này quí giá ngàn vàng. Chàng thấy cái khay bốn lạng của mình đáng quá, nhớ như đinh vào lòng. Trước khi ra về, chàng vỗ về Cẩn:

    - Anh yên tâm. Nếu cần một vị cố vấn bên Phật giáo, tôi sẽ giới thiệu anh một Thượng tọa đứng đầu Tổng vụ Cư sĩ của Giáo hội Ấn Quang.

    Khỏi nói về cái ánh mắt biết ơn của Cẩn đối với chàng lúc đó.

    Về sau, trong chính phủ của Cẩn có vị cố vấn là Thượng tọa Thích Quảng Long. Và Thượng tọa là người duy nhất trong ê kíp của Cẩn còn ở lại đã không phải đi tù sau 1975. Nhiều người vẫn thắc mắc hoài.

    Tối đó chàng về tới nhà thì đã gần mười giờ, tức tốc ghé nhà Trí Đăng nhờ điện thoại (cho Công an khỏi lần ra đường dây). Chàng nhắn Phước ngày mai đến bác Phan thật sớm, có quyển sách về luật hành án mới ra hay lắm.

    Sáng hôm sau, chàng lấy một tờ Reader’s Digest, theo qui ước, bỏ đúng vào trang 9 một mảnh giấy nhỏ: - Đi bộ đến nhà tôi, lên lầu.

    Rồi kêu Kem lại, chàng dặn:

    - Con ra chỗ nhà sách Phan Đình Phùng gặp chú Phước, đưa cuốn này cho chú. Ba đang phải chống tó đi lại bất tiện.

    Quá hiểu bây giờ mà chàng xuất hiện ở đâu thì mật vụ theo chân tới đó, nên Phước theo đường hẻm 561 Phan Đình Phùng, luồn sau nhà chàng mà tới. Chàng tỉ mỉ kể lại việc đến thăm Nguyễn Bá Cẩn. Phước chăm chú nghe. Chàng tả kỹ mối xúc động của Cẩn khi dìu chàng ra chiếc xe nhà của ông, bảo tài xế cẩn thận lái về Nguyễn Thiện Thuật, bàn tay nồng ấm của ông như còn in hơi nóng trên chiếc vai gầy của mình.

    Phước mừng lắm, nhưng cũng gặng hỏi: - Anh thấy sao?

    Chàng không ngần ngại:

    - Tôi nghĩ là ông ấy thành thật, ít nhất, trong lúc này. Bọn họ đã đi vào ngõ cụt và bốn bề trơ trọi.

    Có cái tật đồ gàn hay liên tưởng đến các điển tích trong sử và văn học cổ Trung Hoa, chàng nhớ đến câu cuối bài Bái Trung Ca của Hán Cao Tổ, như một lời than: Tứ cố tịch liêu… yên đắc dũng sĩ hề, thú tứ phương[1]

    Về làng, sau khi được thiên hạ, giết hết những người đã cùng mình khởi nghĩa năm xưa, Hán Cao Tổ tự thấy cô đơn, than không còn dũng sĩ giữ tứ phương. Con người, khi nắm quyền lực trong tay nhiều khi cũng cảm thấy cô đơn nữa là…

    Phước hỏi dồn:

    - Như vậy, quân Ngụy nhớm[2] ở Tây nguyên có gì quan trọng?

    Tụi nhỏ đã bưng lên hai tô bún bò bốc khói. Chàng nhìn Phước, ra vẻ thầy đời:

    - Hẵng ăn sáng đã.

    Rồi thong thả như một ông già ngồi kể chuyện cho con cháu nghe trong cổ tích, chàng ung dung nói:

    - Năm 1951, chú mới hai tuổi, tôi đã là cán bộ ở Liên khu Năm.

    Tôi được nghe kể chuyện Bác Hồ bảo Đại tướng Võ Nguyên Giáp đưa cái nhượng cẳng ra. Bác gõ vào đấy một cái, ông Giáp giật nẩy cả người. Bác nói:

    - Trong binh thư, có những vị trí mà nếu ta đánh vào đấy, toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch sẽ rúng động. Trên chiến trường Tây Bắc hiện tại, đấy là Nà Sản. Tiêu diệt cứ điểm này, ta sẽ làm chủ cả đồng bằng Bắc bộ.

    Dừng lại, húp một thìa nước lèo, chàng tiếp:

    - Trong tình hình miền Nam năm 1975 này, Buôn Ma Thuột chính là Nà Sản của Tây Bắc năm 1951. Cẩn đã cung cấp cho chúng ta một tin tình báo vô cùng quan trọng. Tôi biết là quân Giải phóng đang bao vây Tân Cảnh. Theo ý tôi, căn cứ vào sự tiết lộ của Nguyễn Bá Cẩn, chú nên đánh điện gấp lên R, báo cáo rõ tin tức vào loại A1 này và đề xuất với Bộ Tham mưu, thần tốc tập trung toàn lực lượng chớp nhoáng đánh vào Buôn Ma Thuột, một Buôn Ma Thuột đang nhốn nháo muốn nhớm chân. Ta sẽ tái hiện một chiến dịch Nà Sản hăm mấy năm xưa, tiến lên làm chủ cả duyên hải Trung bộ, để có thể đưa cuộc chiến tranh này đến kết thúc.

    Phước chưa ăn tô bún bò cũng đã no. Anh vui sướng như muốn run người lên, vội vã chụp chiếc mũ phớt như một vật hóa trang, nghiêng đầu chào chàng rồi nhanh nhẹn chạy xuống cầu thang. Đó nhằm ngày 6 tháng 3 năm 1975.

    Trong suốt gần một tuần sau đó, đài BBC loan tin chiến sự bùng nổ ác liệt ở Buôn Ma Thuột vào 8- 3. Và rồi chỉ trong vài ngày, thủ phủ Tây nguyên của Việt Nam Cộng Hoà thất thủ. Đã mất tinh thần, chỉ qua vài trận bão của pháo và tăng, ngụy quân phải tháo chạy về đường Hậu Nghĩa.

    Cộng sản sẽ tắm máu. Do đó tuyên truyền bịp đó, lâu ngày in vào tai, như chuyện Tăng Sâm giết người mà dân chúng tin thật, dắt díu nhau, già trẻ lớn bé, hoảng loạn chạy nạn. Tên rơi đạn lạc, quang cảnh nhà cháy, người chết, máu xương vô tội vung vãi khắp chặng đường rừng hàng trăm cây số, cực kỳ thảm thương.

    Trong số này có mẹ vợ một người bạn chàng, chồng là công chức thời Pháp, tham gia kháng chiến nhưng chỉ có con gái đi tập kết. Ông chồng làm thông phán lâu đời ở Buôn Ma Thuột. Nghe súng nổ, ông dắt vợ chạy, chỉ được dăm cây số, đôi chân tiểu thư đã không sao chịu nổi với đường rừng. Khi tàu bay tới thả bom, bà hốt hoảng dạt vào trốn trong lùm cây bên đường, lạc chồng và mất tích luôn. Đứa con gái duy nhất mà bà cưng chiều đã lớn lên ở miền Bắc, được nuôi dạy kỹ lưỡng, làm cô giáo và lấy chồng. Nhiều năm sau giải phóng, người rể mà bà chưa hề biết mặt đậu Tiến sĩ Khoa học ở Liên Xô về, làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Luôn nghe tiếng thở dài não nuột của vợ, mỗi khi nàng nhắc đến hài cốt của mẹ, anh rất buồn. Nghe nói ở ngoài Bắc có ông thầy rất giỏi việc tìm kiếm hài cốt, trong một chuyến công tác, ông tiến sĩ vẫn cố tìm đến nhà thầy ngoại cảm, một vị trung niên mù, ăn trầu toe toét, không biết chữ. Vị tiến sĩ kể lại câu chuyện của mẹ vợ mình. Ông thầy điềm tĩnh bảo ông lấy giấy bút ra ghi. Người khiếm thị đọc cho vị thông thái:

    - Cách thị xã Buôn Ma Thuột đúng năm cây số, theo đường chim bay, hướng Đông Nam, dưới gốc cây bằng lăng già tháng năm này hoa đang nở tím, hãy rẽ lối mòn tay mặt mà vào rừng chừng trăm bước, đào sâu xuống thước rưỡi, sẽ thấy…

    Vị tiến sĩ ngoan ngoãn vâng lời.

    Vợ anh, với tất cả tín tâm của mình, đã tìm thấy trong nhúm xương tàn, dưới lòng đất núi trải bao mưa nắng, một chiếc nhẫn cưới đúng là của mẹ mình, có khắc hai chữ T và N ôm quyện lấy nhau. Sinh thời mẹ vẫn đeo ở ngón áp út. Chị òa khóc. Người bạn đã nhờ chàng bạch với Hòa thượng Như Niệm, mà ông nghe đồn là bậc đắc pháp, để xin gửi hài cốt hương khói tại chùa Pháp Hoa, Phú Nhuận.

    Đấy, bom đạn thật, cảnh chết chóc thật của con người và cái thế giới không có thật của mênh mông u hiểm ở ngoài thực tại và ngoài hiểu biết của chúng ta.

    Sau chiến thắng Ban Mê Thuột, quân Giải phóng áp sát tất cả các thành phố thị xã miền Trung. Thất trận lớn ở Buôn Ma Thuột, Tổng thống Thiệu chữa thẹn bằng cách giải thích đó chỉ là Di tản chiến thuật rồi họp với Cao Văn Viên[3], phái Ngô Quang Trưởng ra Huế.

    Trưởng là con rể của cố nhà văn Thạch Lam, viên tướng được tiếng có tài, trong sạch, nhưng luôn ăn nói bậm xị kiểu người hùng Nam bộ. Nghe đồn ông ghiền wishky. Trưởng tuyên bố tử thủ. Về phía chính quyền, Cẩn lên ngôi thủ tướng. Chàng cũng biết rằng nội các này sẽ không thọ, nhưng nghĩ: Dầu một ngày, ta vẫn phải cài người bên cạnh, để biết họ đang mưu tính cái gì chứ?

    Ít lâu sau đó, chàng được tin BBC loan báo, Huế và Quảng Ngãi đã thất thủ (25-3-1975).

    Rồi Đóa, sĩ quan huấn luyện ở Phú Bài (Huế), em con chú ruột chàng và Tương, thiếu tá Thiết đội trưởng, cháu kêu chàng bằng cậu, đã cùng chạy vào, tả cảnh di tản thật rùng rợn, nào người bu lên cánh máy bay rớt lõm bõm xuống biển, nào người chất đầy tàu thủy vô Phan Thiết đói khát, cứt đái, oi bức, nồng nặc còn thua đám heo chó chở trên các xe tải từ Trung vào bán ở Sài Gòn.

    Đóa có tài kể chuyện, theo đó nỗi thống khổ của lính, của dân không kể xiết, tiếng kêu than vợ chồng, cha mẹ, con cái lìa nhau, vang lên thấu trời, nhưng kết quả vẫn là không sao đếm hết những cái chết, đau đớn, tức tưởi, tủi nhục, xót xa.

    Đóa nói:

    - Hình như Mỹ không muốn cho ông Trưởng chống Cộng nữa. Tuyên bố tử thủ bữa trước, thì hôm sau ông leo lên máy bay trực thăng đi thị sát mặt trận. Nhưng máy bay do một phi công Mỹ lái. Người này được lệnh ai không rõ, sau khi lần quần trên bầu trời Đà Nẵng mấy vòng, liền bay thẳng ra hạm đội Thái Bình Dương. Người ta đồn ông Trưởng bị giam lỏng ở đó… Toàn là tin đồn, thời loạn ly ai biết thực hư thế nào.

    Thiếu tá Tương bắt đầu cuộc đào tẩu từ Quảng Ngãi, đôi mắt như còn mơ màng, kể chuyện.

    Đêm quân Giải phóng tiến vào, phía tây ráng chiều hừng hực, mọi người nhốn nháo linh cảm một điều gì vô cùng quan trọng sẽ xảy đến. Ai cũng nơm nớp tính tháo chạy. Trăng mồng mười tháng Hai, đã hơn nửa vành nhưng mưa mù, tối mịt và lạnh lẽo. Đột nhiên, một nhà túa nhau đi, láng giềng cả xóm đâm hoảng, bắt chước gói gọn đồ tế nhuyễn, cài then cửa, rồi dắt díu nhau ra khỏi nhà, hướng về phía Đà Nẵng.

    Tâm lý tác động dây chuyền và nhân lên cấp số, mọi người ùn ùn bỏ nhà, băng ra phía sông Trà Khúc, không cần biết sẽ đi đâu.

    Rồi có tiếng chân đuổi theo, tiếng súng nổ. Nằm rạp xuống, lại lồm cồm bò dậy, cắm cổ chạy. Có ánh lửa nổi lên, dân bên đường thắp đuốc, cầm xà beng, rựa quéo. Càng sợ, chạy thục mạng… mệt lả, ngã xuống, buồn ngủ thiếp đi… Sáng dậy, chẳng còn biết mình đang ở đâu. Nghe tiếng loa kêu gọi hồi cư, ngơ ngác nhìn nhau, không ai nói gì. Mấy người chẳng bà con họ hàng thân thích ở Đà Nẵng lại lẻ tẻ, lót tót trở lui về nhà. Bên đường cỏ non còn ướt đẫm mưa xuân, những xác chết nằm ngả nghiêng đủ kiểu, máu loang lổ…

    Nghe nói ông Cán ở thuê nhà chàng trong cống Kiểu và ông Quán, Đốc sự hành chánh, làm tòa tỉnh Quảng Ngãi đã tử vong. Tội nghiệp ông Quán, vợ ổng, cô chủ quán chè Thanh Hương còn trẻ và đẹp lắm. Một số tỉnh đã được giải phóng. Nhưng Sài Gòn thì chưa. Thế nào anh Sáu Diễn của mình cũng gặp nhiều khó khăn, chắc có thể bị bắt.

    Nhân có chị Sáu Thảo về công tác, chàng tha thiết nhờ chị nói với anh Sáu Ngọc[4] nhân danh An ninh Sài Gòn- Gia Định, đánh điện ra Quảng Ngãi can thiệp, để anh Sáu khỏi bị cầm giữ. Ba hôm sau, chị Sáu đến trả lời đã báo cáo và được anh Sáu Ngọc gật đầu. Chàng bớt băn khoăn chuyện ngoài quê.

    Một người quen của Hiệu trưởng trường Quảng Ngãi nghĩa thục Nguyễn Liệu[5] về bằng ghe đánh cá chạy dọc theo bờ biển, chàng gửi cho anh Sáu một trăm ngàn, khuyên anh nên tìm cách vào Nam.

    Lời chị Sáu Thảo nói có thật không? Món tiền nhỏ đó có đến tay anh Sáu Diễn của chàng không? Tới nay, vẫn còn là những câu hỏi không ai trả lời. Anh Sáu đã chết vì tai biến mạch máu não, sau khi bị ở tù hai đợt tám năm. Mười hai năm còn lại anh sống trong cảnh vợ con ly tán, đói khổ, bại liệt nửa thân mình dai dẳng… Anh mất hai mươi năm sau Giải phóng, lúc chàng đang ở thăm gia đình con trai ở Melbourne (Úc).

    36. TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG SINH VIÊN

    Trở lại cuối tháng Ba 1975, chàng có trăm thứ để phải lo lắng. Trước hết hàng ngàn sinh viên quê ở các tỉnh đã giải phóng đang mất liên lạc với gia đình. Họ sẽ lấy cái gì để nhét vào bụng mỗi ngày để sống mà đi học và biểu tình, tiếp tục cuộc đấu tranh?

    Sinh viên đang đói thực sự đấy. Tổng thư ký Mặt trận Cứu đói chỉ để cho có cái tên tuổi mà khoe với thiên hạ sao? Vậy ông phải làm chút gì cho đúng nhu cầu thực tế của anh em? Chàng tự hỏi mình.

    Bấy giờ Quảng Ngãi có gia đình một nhà cựu huấn luyện viên thể thao nổi tiếng, anh Trần Đức Oanh. Chịu không nổi cảnh áp bức thời Diệm, anh đã trốn lên rừng. Nay Oanh đã về phụ trách công tác Mặt trận Quảng Ngãi. Lo lắng cho đứa con trai đang học Sài Gòn, trong bữa cơm, vợ anh xót xa:

    - Không biết thằng bé nhà mình sẽ xoay xở ra sao. Từ tháng Tư này, đâu có cách gì gửi tiền cho nó.

    Thầy Oanh cao to như hộ pháp, tiếng nói vang như sấm:

    - Mình chớ lo. Trong đó đã có chú H, tôi rất yên tâm.

    Chàng chống tó xuống Bộ Giáo dục, 70 Lê Thánh Tôn, gặp anh Phạm Tấn Kiệt, một giáo sư, cử nhân đang làm giám đốc Nha Trung học. Kiệt chơi khá thân với chàng và cũng biết chàng có giao du với ông Tổng trưởng Ngô Khắc Tỉnh:

    - Kiệt ơi! Sinh viên gốc ở một số tỉnh vừa bị Việt cộng chiếm, không được gia đình gửi cho tiền ăn. Họ đang đói. Bạn cho mình mượn mấy tấm pon cho đem về giăng ở dưới chân Tháp Nước gần chùa Quảng Hương, 95 bis Ngô Tùng Châu, quận 1, rồi xin thập phương gạo, củi nấu cơm cho họ ăn tạm, chớ còn biết làm sao?

    May mắn, Kiệt hưởng ứng. Chàng lại khập khễnh đến Care, World Vision… xin gạo, củi, mắm, cá hộp. Tiền lương của chàng có thể phụ mua rau muống và cá nục. Một số các má Phật tử đã xung phong đến tiếp tay nấu nướng. Và đến bữa, chàng vẫn với đôi nạng trên nách, tới ăn cơm với anh em. Chính nhờ công việc này, chàng đã tổ chức được Tổng ủy Liên trợ sinh viên học sinh cả mấy nghìn người, giao cho sinh viên Lê Cao Nghị (sau này là Giám đốc Trung tâm dạy nghề Bình Thạnh) chủ trì. Lực lượng này đã tổ chức may cờ giải phóng nhiều ngày trước 30-4-1975 tại lầu ba nhà chàng và dự kiến nếu Việt Nam Cộng hòa không đầu hàng ngay, họ có kế hoạch bảo vệ các nơi quan yếu (nhà thương Chợ Rẫy, nhà máy điện Chợ Quán, cầu Sài Gòn) nếu cần sẽ nội công, đốt vỏ xe, gây tiếng nổ, đánh thùng thiếc tạo nỗi kinh hoàng ở nội thành, yểm trợ ngoại kích.

    Dạo đó, nhà chàng người ra vào nườm nượp, nào sinh viên học sinh lui tới nhóm họp, nào Phước đến bàn những việc cực kỳ khẩn trương do yêu cầu cấp bách của chiến dịch mùa xuân 1975, nào người chiến nạn vào nhiều chỗ trú và kẻ tản cư cần nước uống, lương thực, mấy ký gạo, chai nước tương…

    Bà con họ hàng ở các tỉnh lân cận cũng chạy vào chỗ chàng tá túc. Nhà chật như nêm. Bữa cơm chẳng khác nào cho hàng trăm sinh viên tại Ngô Tùng Châu, phải bằng chảo to và món ăn không gì ngoài cá nục kho mặn chấm với rau muống luộc. Nước luộc rau bỏ vào mấy quả cà chua làm canh, cắn với cà pháo. Chàng vừa ăn, vừa hát nghêu ngao làm vui cho mọi người:

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

    Cơm no, mắm mặn, nước chè đậm, chàng lẩm bẩm nhớ lại hơn ba chục năm trước hồi còn ở quê, mẹ làm ruộng, mình và trai bạn trong nhà vẫn ăn như thế này đây. Chè xanh mua ở chợ Vườn Chuối về, phơi khô, nấu một xô to, tha hồ cho những cái bụng đại ái quốc[6]. Ai cũng thấy ngon miệng. Thế mà cả hai nơi mỗi ngày ngốn cả gần tấn gạo. Dù có cái lương dân biểu, sau mươi ngày, cũng chịu hết xiết, chàng nói với cha Từ. Ông cha cực kỳ dễ thương và sốt sắng này cho chở ngay xuống Ngô Tùng Châu một lúc mấy tạ liền. Như thế cầm cự mãi đến ngày Giải phóng.

    Riêng chàng, chỗ ngủ trong nhà phải nhường cho khách.

    Mỗi tối, chàng ôm cái màn nhỏ ra giăng ở ngoài lan can, vừa mát, vừa nhìn thấy trăng sao và những ánh hỏa châu chớp sáng liên hồi tứ phía. May mắn, trời xuân Sài Gòn năm đó không nóng lắm và không mưa.

    37. HIẾN KẾ CHIẾN THUẬT GOM ĐUỔI CHIM CÚT

    VỀ TÚI ĐÀ NẴNG 3 -1975

    Ngoài Trung, sau giải phóng Huế, Quảng Ngãi, Tây nguyên như vậy chỉ còn hai chỗ mà quân Thiệu ùn lại: Đà Nẵng và Nha Trang.

    Chiều nọ, lâu lắm chàng và Phước mới có dịp thư thả cùng nhau ngồi trò chuyện. Chàng cho Phước biết, theo tin hành lang Quốc hội, Cẩn chẳng làm được gì được, vì chỉ là dân sự, lệnh cho các tướng tá không ai nghe. Áp lực chiến trường và chính trị đang ráo riết buộc Thiệu từ chức, nhưng Thiệu vẫn ngoan cố, không chịu nhường ghế cho ông Dương Văn Minh mà lấy cớ phải theo Hiến pháp, khi tổng thống từ nhiệm, phó tổng thống sẽ lên thay. Phước hỏi:

    - Ý anh thế nào?

    Chàng nói:

    - Cẩn thay Khiêm, Hương thay Thiệu đều là những tín hiệu tốt.

    Phước nhìn chàng ngạc nhiên, mắt tròn xoe, đường râu mép mỏng manh của anh nhíu lại như cậu bé con đang ra oai khiến chàng không nín được cười. Như tuồng anh ta sợ chàng đã hữu khuynh, mất cảnh giác, bắt đầu khâm phục và khen ngợi Cẩn và Hương. Chàng hiểu nỗi lo lắng của Phước:

    - Chú thấy không? Cẩn nó thay Khiêm là tự nhiên những khắt khe, nghiêm ngặt của tụi nhà binh bớt đi thấy rõ: gần đây anh em mình liên lạc có vẻ thoải mái, đỡ lo hơn.Nếu đến giai đoạn Hương thay Thiệu thì càng dễ hơn cho chúng ta. Cả tuần nay, tôi tự biến mình thành người cổ võ cho ông Hương, nào ổng trong sạch, ổng là thầy của ông Minh… đám dân biểu, nghị sĩ người Nam thân chính coi mòi khoái tôi lắm. Họ không còn nghi tôi là Cộng sản mà ra chiều muốn kết làm tâm phúc. Tôi ậm ừ cho qua chuyện. Chưa hết đâu, sau màn Hương thay Thiệu, chúng ta còn phải dành chút sức tàn của mình mà chạy nước rút vận động sao cho Minh thay Hương nữa. Khẩu hiệu của tôi là:

    Đánh Hương dễ hơn đánh Thiệu

    Đánh Minh dễ hơn đánh Hương

    Cuộc đổi ngựa, cứ từ từ xảy ra như thế thì thuận lợi cho ta hơn, đừng nôn nóng. Nhưng còn ở ngoài chiến trường, tôi có cái kế này xin được hiến. Nếu chú có ra chiến khu hay đánh mật mã lên trình bày thử xem sao: Hồi tôi ở quê, tới mùa lúa tháng Tám gọi đồng. Trên thửa ruộng, bao giờ thợ gặt chúng tôi cũng bắt đầu từ một góc, tỏa theo hai bờ, vừa chuyện trò rôm rả cắt lúa, vừa đuổi những con chim cút cụt đuôi ai nuôi mày lớn béo nục vào góc đối. Nơi đó, dân quê giăng sẵn một giàn lưới để bắt chúng, tục gọi là hùi cút. Tóm lại chiến thuật hùi cút nghĩa là dồn một số đông quân địch vào một góc nhỏ, cắt đường tiếp tế, nhốt chúng vào rọ, làm chúng nhốn nháo, tự tan rã.

    Tình hình hiện nay ở Đà Nẵng, Nha Trang cũng thế. Không cần phải đánh, gần nửa triệu quân đã được lùi vào hai thành phố nhỏ đó, đói khát, không ai chỉ huy, sẽ sinh cướp bóc, tự bắn giết nhau là chuyện tất yếu. Binh thư ngày xưa nói:

    Đãi kỳ quân vô chiến tâm, nhất công khả thắng, như thám nang thủ vật nghĩa là đợi cho quân địch không còn bụng dạ nào mà đánh đấm nữa, ta chỉ cần một tiểu đoàn kéo ra nổ súng chỉ thiên cũng đủ giải quyết xong từ vĩ tuyến 12 trở ra. Bất chiến tự nhiên thành, vừa đỡ hao xương máu vừa tránh được đổ nát, thương sát lương dân.

    Ngày 28-3-1975, Trung tá Diệp ở Hải Quân, người học trò ruột vẫn thường cung cấp cho chàng nhiều tài liệu về thực lực và hoạt động của binh chủng mình đến thăm.

    Diệp nói:

    - Sao em nóng ruột quá, thầy ơi! Mấy tháng rồi, mẹ em bả ra Đà Nẵng coi giúp em vài công việc làm ăn ngoài đó. Em muốn ra thăm mẹ. Thầy nghĩ có nên đi không? Tình hình ngoài Trung coi bề bất ổn quá.

    - Thiên địa giai xuất ư hiếu. Chàng buột miệng như một anh nhà Nho thất thời, chỉ còn chút chữ nghĩa đó mà làm oai với đời, tiếp:

    - Hiếu là cái gốc của thiên hạ. Vì mẹ mà ra thăm, trời nào không giúp. Cứ đi đi, tao bảo đảm là chẳng có sao cả.

    Hôm sau, tin lời thầy học cũ, Diệp mua vé bay về Đà Nẵng. Nhưng vừa xuống phi trường thì đối phương của anh, quân Giải phóng đã tràn ngập thành phố. Anh ta nghe nói có mấy đại đội Cộng hòa quay súng bất thần bắn lại quân nhà. Bộ Tư lệnh Quân khu và Sư đoàn không đến sở đã mấy ngày rồi, binh lính thì mạnh ai nấy hôi của kiếm ăn.

    Cuối cùng, khi cờ sao vàng trên nền trời nửa xanh nửa đỏ tiến vào cùng với tiếng loa kêu gọi, tất cả run lập cập, hoảng hốt bỏ chạy, áo xống, quân trang, giày mũ, cánh gà và hoa mai vàng mai bạc[7] rơi rải đầy đường.

    Đà Nẵng đã thất thủ trong một quang cảnh như thế.

    Diệp sợ quá, vội lột bộ binh phục có chiếc hoa mai bạc trên ve áo, ném vào bụi rậm, chỉ còn độc quần đùi áo lá, lòn cửa hông, theo ngõ tắt chạy ra phố. May sao túi bạc vẫn còn và cũng quen đường đi nước bước, anh mua một bộ bà ba đen, sắm đôi dép râu và tậu chiếc xe đạp thật chắc. Men theo các con đường làng ven quốc lộ, anh gò lưng đạp hơn ngàn cây số, đêm ngày không nghỉ, hai tuần sau mới tới Sài Gòn, người đen thùi lùi, hốc hác như bóng ma.

    Đúng một tháng trước ngày 30-4-1975, thầy Trí Quang mời Giáo sư Vũ Văn Mẫu (nhân sĩ Phật giáo), Nguyễn Văn Huyền (cựu Chủ tịch Thượng viện, nhân sĩ Công giáo), Lý Quí Chung (dân biểu Phật tử, cánh ông Dương Văn Minh) và cũng không hiểu sao lại mời cả chàng đến chùa Ấn Quang. Bằng một giọng vô cùng xúc động, thầy nói:

    - Việt cộng đã lấy Đà Nẵng. Nếu chiến sự tiếp diễn, ắt sẽ gây đổ nát nhiều. Quí vị nên khẩn cấp có một bức thư gửi cho cả hai bên, đề nghị ngưng ngay tiếng súng. Chúng ta sẽ đứng giữa cho việc này. Cả tôi cũng sẽ ký vào nữa.

    Chàng phát biểu:

    - Việc đã quá trễ, chúng ta không còn tác dụng nữa.

    Xong, chàng lấy cớ phải thay băng bột cho cái chân còn bị thương nặng, nhờ anh Năm taxi trong Hội đoàn Phật tử đưa đi bệnh viện.

    Suốt thời gian Diệp kẹt ở miền Trung chưa về, ngày nào chàng cũng bị vợ Diệp lên nhà cằn nhằn về việc chàng đã cố vấn một cách tai hại đó và hỏi han tin tức.

    38. ĐÁNH TRẢ ĐÒN XÃ HỘI: VỤ BABYLIFT (BỐC TRẺ EM)

    Chàng không biết gì hơn nhưng việc mất Đà Nẵng làm chàng nghĩ, có lẽ Albert Francis, nhân vật quan trọng của CIA kiêm Tổng lãnh sự ngoài đó thế nào cũng di tản vào đây. Chống gậy tới đường Tú Xương, nhà Leymann, quả nhiên chàng gặp hai vợ chồng Francis. Họ tiếp đãi chàng rất tử tế.

    Chàng mời họ chớ chê nhà chàng tồi tàn chật hẹp, hãy đến dùng cơm. Họ vui vẻ nhận lời nhưng chỉ có mỗi anh chồng tới.

    Qua ly bia, chàng được biết Kiến, tức Earl Martin vẫn còn ở Quảng Ngãi. Vợ Martin thì đã cùng con trai, bé Minh Martin về Mỹ. Chàng tỏ ra quan ngại cho Kiến. Francis cười khẩy bảo:

    - Ông đừng lo, ông Na, người cùng quê với Tướng Trà, dạy Anh văn cho công tác thiện nguyện của Menonite ở Quảng Ngãi và thầy Huỳnh Ngọc Hiến, cả hai đều là học trò của ông dân biểu. Năm ngoái, hai người này đã tổ chức đưa Earl lên thăm vùng chiến khu Việt cộng ở Nghĩa Hành, trước khi ông ấy tích cực giúp các ông phát động các cuộc biểu tình chống chánh phủ. Martin đã chụp hình đủ và đã gửi về Mỹ cho báo chí.

    Chàng cảm thấy nổi gai khắp mình mẩy. Ra, mạng lưới thu thập tin tức của Tổng Lãnh sự Đà Nẵng bủa khắp nơi, nắm từng chi tiết những hoạt động của bọn chàng, vậy mà gặp nhau Martin chẳng bao giờ xì chút tin tức gì, lại vẫn đãi món spaghetti ngon lành.

    Con người đó, đối lập với Tổ quốc của chàng, ngồi ngay trước mặt, thân ái trong căn nhà nhỏ này, còn khá trẻ, học thức và nhã nhặn, rất lịch duyệt về ngoại giao. Đầu tháng Tư, trời nóng hầm hập, chu vi căn phòng lại chỉ có 3m x 6m tương phản với cái khổ người to lớn của anh, cả cái quyền lực mênh mông mà anh mới tiếp thu nơi ngài Eims, Giám đốc cơ quan Tình báo Mỹ ở Việt Nam vừa nghỉ hưu. Anh ngồi đó, mồ hôi lấm tấm, chàng nghĩ là anh thừa biết tỏng mọi công việc của mình, mà vẫn thản nhiên. Tại sao? Trong người chưa hết run sợ, nhưng vẫn cố lấy bình tĩnh, chàng hỏi:

    - Tình hình Việt Nam Cộng hoà xem chừng quá tuyệt vọng. Liệu chính phủ Mỹ có tái can thiệp không?

    Anh nhìn trừng trừng vào mắt chàng. Chàng cũng đáp trả, trân tráo nhìn lại. Cuối cùng anh nhoẻn cười, chậm rãi từng tiếng:

    - Ông thuộc lực lượng thứ ba. Tất cả chúng ta đều biết, với Hiệp định Paris, chúng tôi chấm dứt việc dính líu vào chiến tranh Việt Nam. Ngừng tiếng súng. Ai đâu ở đó. Cử Hội đồng Hòa giải hòa hợp dân tộc. Bầu cử. Bốn việc đó, hai năm rồi, hai bên đều không làm.

    Rồi anh thò tay vào túi, lấy ra một mảnh giấy, đưa cho chàng và nói:

    - Tôi tặng ông dân biểu cái này.

    Chàng nghiêng người, chìa ra ánh đèn và đọc.

    - Đây là bức thư của Phó thủ tướng, bác sĩ Phan Quốc Đán, Quốc vụ khanh đặc trách xã hội gửi Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, để xin đưa bốn ngàn trẻ em Việt mồ côi sang Mỹ với mục đích:

    “… Sẽ gây thêm xúc động trên khắp thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, rất có lợi cho Việt Nam Cộng hòa… Đại sứ Hoa Kỳ cũng can thiệp trực tiếp với tôi để số cô nhi trên được xuất ngoại tập thể…”.

    Bác sĩ Đán nhấn mạnh rằng, việc xuất ngoại tập thể này, thêm vào việc hàng triệu đồng bào nạn nhân chiến cuộc lìa bỏ những vùng Cộng sản chiếm đóng, sẽ giúp xoay chuyển dư luận dân chúng Hoa Kỳ, sẽ được các hãng Truyền thanh và Truyền hình cùng báo chí Hoa Kỳ mục kích, tường thuật, do đó có ảnh hưởng rất lớn lao….

    Công văn này có ấn ký của bác sĩ Đán, số 1388 đề ngày 2-4-1975

    Dò theo đôi mắt chàng, đợi đến dòng cuối cùng, Francis nói, thong thả:

    - Đấy là việc riêng của người Việt Nam. Tôi đã phải từ Đà Nẵng tháo chạy theo họ vào đây. Việc của tôi bây giờ là phụ với ông Leymann tổ chức cho những công chức, binh lính cuối cùng của người Mỹ rời Việt Nam. Nóng quá và trời cũng đã khuya, tôi xin về kẻo nhà tôi trông. Chúc anh mạnh khỏe. Mong rằng anh sẽ sống được với những người Cộng sản mà anh mong ước.

    Anh nói thật nhanh, cùng lúc nhổm đứng dậy, không để cho chàng đáp lời. Vì còn phải chống tó, chàng khó nhọc đứng dậy tiễn anh. Mãi sau khi tiếng máy xe xa dần chàng mới kịp để ý đến từ anh thân mật mà Francis gọi mình. Từ đó, chàng không gặp anh ta nữa.

    Bốn ngày sau, một bức thư làm tại miền Nam Việt Nam ngày 6-4-1975, ký tên Thay mặt toàn thể Cô nhi viện toàn quốc, mang con dấu của Cô nhi viện Ngọc Ninh (Phan Rang), hai Cô nhi viện Nhất Chi Mai ở Lâm Đồng và Biên Hòa gửi Quốc hội và Nhân dân Hoa Kỳ, Hội hồng thập tự Quốc tế, cơ quan Bảo trợ Nhi đồng Thập tự quốc, toàn thể các hội đoàn, các tổ chức từ thiện quốc tế, tố giác rằng:

    “Lịch sử chiến tranh thế giới xưa nay dù người ta có sử dụng vô số các âm mưu thủ đoạn nào để đạt mục tiêu đi chăng nữa, nhưng chưa bao giờ phải sử dụng phương thức xuất cảng cô nhi như Chính phủ mới đây.

    Chúng tôi đau đớn mà tố giác rằng trong khi đời sống của bốn ngàn cô nhi đang bình lặng tại các cơ sở nghĩa dưỡng toàn quốc, thì Chính phủ Sài Gòn do sự khuyến khích của Tòa Đại sứ Mỹ đã bất ngờ đưa hết số cô nhi trên về Sài Gòn để chờ lên máy bay rời bỏ quê hương

    Chúng tôi cũng gay gắt lên án các Hội nghĩa dưỡng quốc tế tại Việt Nam đã cấu kết chặt chẽ với âm mưu trên nhằm ý đồ chính trị, bội phản lại chủ trương nhân đạo chánh một cách bỉ ổi.

    Chúng tôi cực lực phản đối nhà cầm quyền Sài Gòn đã bất chấp tình đồng bào ruột thịt khi tuân hành mệnh lệnh quái ác: xuất cảng cô nhi

    Chúng tôi long trọng xác nhận:

    - Quyết tâm bảo vệ cô nhi Việt Nam đến cùng.

    - Không bao giờ chấp nhận xuất cảng cô nhi cho mưu đồ chính trị tàn nhẫn.

    - Số cô nhi còn lại tại các Cô nhi viện, chúng tôi thà chết chớ không để chính quyền bắt mang đi.

    Chúng tôi kêu gọi ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc và các tổ chức từ thiện cùng nhân dân thế giới hãy:

    - Áp lực bắt buộc chính phủ Mỹ ngưng ngay chương trình xuất cảng cô nhi.

    - Kêu gọi nhân dân tiến bộ các nước Tây phương đừng tiếp tay, đồng lõa với chính phủ Mỹ mà bắt buộc các trẻ em Việt Nam phải rời bỏ bản xứ.

    Sau cùng, chúng tôi nghiêm khắc cảnh báo rằng: Lịch sử đạo đức nhân loại sẽ vô cùng lâm nguy nếu ngày nào ý nghĩa nhân đạo còn bị các thế lực hiếu chiến sử dụng vào mục tiêu chính trị thấp hèn”.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. Nhà văn Triệu Xuân chăm sóc bản thảo. NXB Lao động, 2013.

    www.trieuxuan.info

     

    [1] Nghĩa: Làm sao có được dũng sĩ để đưa đi giữ bốn phương: Hán Cao Tổ cảm thấy cô độc, sau khi đã giết hại nhiều công thần.

    [2] Tiếng miền Trung có nghĩa là muốn bỏ.

    [3] Đại tướng Tổng tham mưu Trưởng quân đội VNCH trước 1975.

    [4] Thủ trưởng Ban An ninh của Thành ủy Sài Gòn - Gia Định trước 1975, tướng Công an Lê Thanh Vân.

    [5] Cựu giáo sư QDĐ, năm 1963 chống Diệm bị tù Côn Đảo. Trước 1975, chủ trương diệt tham nhũng và nâng cao dân trí bằng cách mở Trung học Quảng Ngãi nghĩa thục.

    [6] Dùng chữ đùa: yêu nước, uống nhiều.

    [7] Cánh gà: lon hạ sĩ quan, bông mai: lon sĩ quan úy và tá.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập34,471,543

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/