Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập34,471,119

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Bão

Ngũ Hà Miên

  • Thứ hai, 09:09 Ngày 29/06/2020
  • Bão

    Quả nhiên, sau 30-4, chàng được tin anh di tản, bỏ lại mấy sở nhà ở Bãi Sau, chắc thôi làm tình báo rồi. Nghe đâu sang Texas (Mỹ), hai ông bà trở thành tín đồ nhiệt tâm của đạo Ông Tám, đang đi khắp nơi trên thế giới mở luân xa cho chúng sanh. Đầu năm 1995, anh chị về Sài Gòn cưới vợ cho con, ăn chay trường.

    Hãy trả nguyên vẹn các nỗi bí mật cho những nấm mộ mai sau.

    Đang là một con người hoạt động cả mười tám giờ mỗi ngày mà bỗng dưng phải nằm một chỗ, băng bó đầy người, chàng vô cùng bực tức, càng bực tức, càng mất ngủ, càng mất ngủ, vết thương càng lâu lành, chàng muốn phát điên. Bế tắc.

    Một chiều có bà má phong trào luộc mang tới cho chàng một con cua bể. Má nói: - Con ăn cua cho lồi thịt, vết thương mau lành.

    Chàng cảm ơn vừa ăn thấy ngọt quá, lại vừa ngắm con cua, suy nghĩ:

    - Nó sống phải mang mểnh cả một cái mai cứng và nặng nề này mà còn chịu được. Ta nay nhân danh một con người mà không theo được cái gương của nó sao? Hãy vui lên, chấp nhận số phận, chấp nhận cái năm trong Tử vi Mã ngộ hình, hình ngục nan đào. Nằm đây thì cũng như ở trong tù một thời gian, chứ gì nữa?

    Nghĩ tới đó, chàng như đã tìm ra được một giải pháp thượng thừa cho tâm trí mình, nhoẻn miệng cười.

    Bà má phong trào hỏi: - Con có gì vui vậy?

    Chàng nói: - Chắc là ông Thiệu không ngoan cố được lâu nữa đâu. Má con ta không phải lên đường xuống phố nhọc nhằn nữa.

    Má nói: - Ờ nhỉ, chiến tranh chấm dứt, má về miền Tây coi mấy lũng ruộng nhà. Tội nghiệp, mấy năm nay đâu có thăm thú tới mả mồ của tía mày ra sao đâu? Ổng hy sinh, tới giờ đã ngoài hai mươi năm, con Quờn đã hăm ba. Còn phải lo kiếm chồng cho nó chứ.

    Hai má con cười vui như trẻ thơ. Chàng như phát kiến ra một con đường mới, con đường của kẻ xem như cụt tay gãy chân, chết dí một chỗ vẫn làm việc, vẫn viết lách, nghĩ ra những mưu kế phục vụ phong trào, liên lạc với Phước.

    Cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn, ngày một sục sôi. Nhiều anh chị em bị lựu đạn, ma trắc phải vào nhà thương. Như thế, dòng người cứ từ khắp nơi túa về bệnh viện Sùng Chính[1] thăm chàng và cả ni sư Huỳnh Liên, bác sĩ Đinh Xuân Dũng đi biểu tình bị cảnh sát đánh đập phải vào điều trị.

    Nhiều người ở xa lắm, không đích thân đến thăm được thì viết thư. Trong thời gian chỉ hơn một tháng chàng nhận cả hơn ngàn lá thư từ Bến Hải tới Cà Mau, chiến hữu, học trò cũ, đồng đạo, bạn thơ văn… cả từ nước ngoài, nhất là Pháp, Mỹ, Canada, Úc…

    Chàng hài hước nghĩ là nên lợi dụng dịp này gom góp một collection tem thư để sau này bán lại cũng có tiền xài. Trước kỷ niệm hai năm Hiệp định Paris mấy ngày, chị Tôn Thất Dương Kỵ lại đến nhà thương. Chị bảo:

    - Chị mừng thấy chú đã hồi phục. Lại ra vẻ còn có da có thịt hơn hồi chưa bị mưu sát nữa kia đấy. Nếu đã đỡ, về đi. Phong trào đang cần. Ông Râu cũng mong gặp chú.

    Phước không đồng ý. Nhưng chàng đã nghe lời chị Kỵ. Nằm mãi một chỗ, chán quá. Thà chết còn hơn, chàng nghĩ. Đầu và tay phải còn băng, chân còn bó bột, hai nạng kẹp nách, chàng trở về 80 Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Hàng xóm đến đông chật nhà. Và làm việc ngay, chàng viết bản thông báo dài hơn 4 trang giấy A4 bằng tiếng Anh gửi đến các nơi trên thế giới về lập trường của Cứu đói, thông qua các hãng thông tấn và báo chí quốc tế.

    29. THƯ CHO TỔNG THỐNG MỸ

    Statenent by deputy Nguyen Van Ham, general secretary of the central executive committee of the popular front for famine relief on peace in Vietnam on the occasion of 2nd anniversary of the signing of the Paris’ Agreement.

    Bức thông điệp này được in rene’o nhiều nghìn bản chàng mang lên chùa phát hành rộng rãi cho báo chí trong và ngoài nước. Và cho những gương mặt quen thuộc trong và ngoài nước. Bức thư bằng giếng Anh, được dịch ra tiếng Việt phát hành tận những gương mặt quen thuộc trong giới tranh đấu không thiếu một ai, nhất là giới lao động Phật tử mà chàng là Tổng thư ký. Họ cũng còn phải tới coi tận mắt xem chàng đã lành hẳn chưa, nhưng chàng còn phải đi bằng nạng gỗ.

    30. THÀNH ĐỒNG TỊNH XÁ NGỌC PHƯƠNG

    Ngoài ra còn có các nhân vật tiến bộ của Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo và nhân viên các tòa Đại sứ Ba Lan, Ấn Độ, Mỹ, Pháp, Anh, Nhật, Úc… Các anh Vũ Văn Mẫu, Trần Ngọc Liễng, chị Ngô Bá Thành… phải thật vất vả trong vòng vây và trả lời của báo chí.

    Cảnh sát mật đi đầy đường như bầy sói tung tăng hít ngửi tìm mồi, vừa kiếm chuyện xét giấy tờ, vừa ra roi đánh đập hàng trăm sinh viên mà họ tình nghi đang tụ tập về. Ni sư Huỳnh Liên cũng đem bổn bộ gia binh mấy chục sư hữu và đệ tử tấp tới tăng viện sau suốt hai tuần lễ tuyệt thực ở Ngã bảy, chỉ có khăn ướt chặm mắt và chanh tươi ngậm trong mồm chống lựu đạn cay.

    Không ai ngờ rằng đến thế kỷ hai mươi cũng còn có những vị tu hành chịu đựng đói khát kiên trì đến thế. Áo vải lam lem luốc bụi đường, đầu không sợi tóc đội Trời, chân không đạp đất, trải qua ngần ấy ngày đêm, kẻ bị đánh tứa máu, người gãy cả tay, cũng không chút sờn lòng, nao núng, người gãy cả tay, cũng không chút sờn lòng, nao núng vẫn thi gan với cơn nắng cháy bỏng giữa trưa và sương muối cuối năm nửa khuya về sáng. Tấm gương của ni sư Huỳnh Liên, ni cô Liên Tuấn… những bậc nữ lưu đã từ bỏ tất cả những gì cuộc đời dâng tặng để chỉ giữ lại hai món y bát[2] bình dị đó sống mãi trong tâm trí chàng như một hình ảnh vô cùng anh hùng, sắt son, đẹp đẽ.

    Sau này, có dịp đi ngang qua Ngã bảy vào giờ quá khuya, bao giờ chàng cũng có cảm giác như ni sư vẫn còn đó, trên chỏm tháp cao tượng đài, nhìn ra tám hướng nhân gian.

    Lẽ dĩ nhiên các đoàn thể tham dự kỷ niệm hai năm ngày Thiệu ngoan cố không chịu thi hành thỏa hiệp Paris (23-1-1975), đều có diễn văn. Viện Hóa đạo hiện diện đông đủ và thầy Trí Thủ ban đạo từ tán dương.

    Xong mít tinh, đoàn ni sư Huỳnh Liên trở về tịnh xá Ngọc Phương thì nơi đây đã bị cảnh sát mang kẽm gai tới bao vây dày đặc. Được Phước báo tin có đoàn nghị sĩ Hoa Kỳ sang Sài Gòn điều tra về chế độ giam giữ tù nhân và nghiên cứu xem có nên tiếp tục viện trợ cho Thiệu không. Chàng bí mật bàn với cha Từ bày mưu cho ni sư đem cả mấy chục người, bổn bộ quân gia tịnh xá Ngọc Phương kéo đến ngồi lỳ trước dinh Độc Lập, lấy cớ chùa đã bị Thiệu phong tỏa, không cho vào.

    Ni sư đã y kế.

    Hôm đó đúng trăng rằm tháng Chạp sáng vằng vặc, một số dân biểu, nghị sĩ, chánh khách đối lập thỉnh thoảng lại đến tiếp hơi, không khí thật sôi động, ai nấy cũng cảm thấy như mạnh dạn hẳn lên. Chàng nhắc anh em Phật tử xích lô liên lạc với các Hội đoàn, các má phong trào, tổ chức luân phiên đến trước phủ Tổng thống thăm viếng đoàn biểu tình.

    Nhóm nghị sĩ Mỹ do Mac Closeky cầm đầu đã phải tới gặp những người đối lập, phỏng vấn và cuối cùng phải thừa nhận đó là đòi hỏi chính đáng của nhân dân miền Nam. Cuộc tuyệt thực kéo dài suốt nửa tháng, mãi chiều ba mươi Tết Ất mão, gây cho ngụy quyền một nỗi nhức nhối liên miên, âm ỉ như ung nhọt đang song thối trong lục phủ ngũ tạng.

    Tuy vậy, Tết đến nơi thì đồng bào cũng phải tạm đình chỉ mọi thứ để lo cúng quay ông bà. Đoàn biểu tình ngồi không thể tiếp tục biểu dương trong một khung cảnh vắng vẻ như vậy, nhưng về tịnh xá Ngọc Phương thì không được vì đang bị bao vây chặt. Ni sư đã tuần hành thị uy một vòng quanh thành phố rồi rút về Ấn Quang.

    Tại đây, do lòng sợ sệt của một số thầy trong chùa, đoàn của Ni sư được đón tiếp một cách nhạt nhẽo và được tống lên tá túc ở gác lỡ nhà bếp, khói lên mù mịt, vừa chật, vừa nóng bức.

    Cho người đến thăm và biết hoàn cảnh ấy, chàng chẳng nói gì. Nhưng đêm trừ tịch, trước giờ giao thừa, chàng đã vét tất cả bánh mứt chay nhà mình mang lên Ấn Quang. Chống nạng, chỉ còn một chân, bò cầu thang lên gác, chàng ân cần thăm viếng.

    Ni cô Liên Tuấn, người chiến sĩ gan dạ, bao lần tay không xông ra hứng chịu lựu đạn, ma trắc cho đồng bạn, đang kiệt sức. Chàng cảm động xiết bao, hai bên nhìn nhau chảy nước mắt.

    Tịnh xá Ngọc Phương đã trở thành một phần của cuộc đời chàng là thế. Làm ruộng, làm bánh mứt gia công để sống và lao vào cuộc đấu tranh không kể đến thân mình, đã có một thời những nữ tu ở đấy là những nữ thánh.

    Xuân năm ấy, trên Đài Phát thanh chàng nghe Hồng Vân hát: Anh, anh ơi, người tình tôi ơi, ra mà xem người ta họ cưới nhau rồi… Tiếng ca lánh lỏi trong suốt như nước giếng quê nhà, về một thời thái bình đã quá xa xôi. Ôi ước mơ của dân tộc tôi sao mà hiền lành dễ thương thế, chỉ mong được bình an để yêu nhau.

    Trước Tết, ông Thiệu đã cay cú đổi qua giọng điên khùng lên án Mỹ bỏ rơi mình. Trong một phiên họp tất niên với Lập pháp, ông và đám dân biểu nghị sĩ tay sai chống Cộng đã hẹn nhau sẽ cùng đi thăm tiền đồn.

    Nhưng đến giờ lên máy bay trực thăng, đám trí thức gia nô miệng hùm gan sứa kia chẳng thấy ma nào tới. Một mình ông lủi thủi lên cầu thang. Trên màn ảnh nhỏ hồi ấy chỉ có đen trắng, nhìn con chim sắt đơn côi như con chuồn chuồn lẻ loi, dại nắng bay lẫn vào mây mù, chàng cảm thấy thương hại cho cái kiếp người. Nó mải chạy theo quyền lực và những đồng đô la. Cuối cùng nào nó giữ được gì, ngoài sự trơ trọi, một mình một bóng, đối diện với bao ăn năn của một quá khứ tội lỗi.

    Ông ấy đã cho người giết mình, chàng nghĩ, nếu không nhờ một sự nhiệm màu nào đó của thiêng liêng mà không ai giải thích nổi, thì có thể đến nay cỏ đã lên xanh trên mồ mình. Vô lý thay, nhìn ông, cái lưng đã hơi khòm xuống, mình cảm thấy xót thương cho cả cái chúng sinh mê muội. Trong đó có ông, có cả mình.

    Duyên nghiệp chung cho khắp cả chúng sanh, tham sân si và bi trí dũng quyện lấy nhau, như những cặp vợ chồng ở bên này bờ luân hồi. Lại atvam atsi.

    Tại Sài Gòn, biểu tình náo động sát ngoài hàng rào dinh Độc Lập, quyển sách của Mac Coy phơi bày bộ mặt thật buôn ma túy của Thiệu, Khiêm làm binh lính khủng hoảng tinh thần, quân ngụy tan rã, thua trận khắp miền Nam. Mỹ lại áp lực nặng, Thiệu lên ti vi hết than thiếu xăng, không còn đủ đạn, hết đô la, nguyền rủa mọi người, hăm he chiến đấu tới giọt máu cuối cùng. Nhưng nhân dân lúc nào cũng sáng suốt:

    Dù ai nói ngả nói nghiêng

    Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân

    31. TẶNG THƠ ĐẠI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

    Giới đối lập mừng rơn trong bụng. Ngày 6 Tết tại dinh Hoa Lan, đại tướng Dương Văn Minh thết tiệc hàng trăm chính khách, người nào cũng tươi cười hớn hở, rượu thịt lại càng làm cho họ thêm phần hào hứng, giữa cảnh muôn hoa đua sắc. Chàng cũng thắng đồ lớn, cà vạt, kính trắng cẩn thận đến chia vui. Đám ký giả bu tới hỏi han phỏng vấn. Mọi người ai cũng mặc nhiên trở thành những ông thầy bói tự tin và đọc tương lai đất nước vanh vách: nào Thiệu sẽ ra đi, nào sẽ có chính phủ ba thành phần, nào theo hội đàm và cam kết mật giữa Kisinger và Lê Đức Thọ thì Việt cộng sẽ chỉ lấy từ Phan Thiết trở ra Bến Hải cho Thủ tướng Huỳnh Tấn Phát…

    Mặc dầu lúc đó chàng còn nằm bệnh viện, Phước đã bí mật đến thăm và cho biết anh Mười Hương tin và yêu cầu nội thành chuẩn bị, hết mùa khô (khoảng đầu tháng 5) sẽ mở cuộc tấn công dứt điểm, nhưng trong buổi tiếp tân xuân Ất mão (1975) khi được nhà báo Hạnh Châu mò tới gạn hỏi tình hình sắp tới, chàng mỉm cười chỉ vào một người bạn thân đồng viện:

    - Xin phỏng vấn người thạo tin như ông bạn Nguyễn Hữu Chung tôi đây đi. Phần tôi mới nằm viện ra, đâu biết gì hơn.

    Câu chuyện rôm rả bắt đầu nhạt dần thì ông đại tướng đến bên chàng. Lại vỗ vai một cách thân mật, ông nói:

    - Anh bây giờ khỏe hẳn chưa? Làm bài thơ cho anh em nghe nào.

    Chàng thầm nghĩ:

    - Nếu lời anh Mười Hương nói với Phước ứng nghiệm thì thế nào đất nước miền Nam này cũng đã đến hồi từ màu trắng tư bản đế quốc chuyển sang màu hồng rồi. Ta hãy ứng khẩu cách sao có thể ngầm khuyên quần anh[3] ở đây tích cực tham gia vào công cuộc hòa bình. Nhưng để gây chú ý, có lẽ nên là một bài tứ tuyệt bằng chữ Hán thế nào thật dễ hiểu, dù ai không có học nho cũng đọc được.

    Chàng kính cẩn vái chào Đại tướng Dương Văn Minh:

    - Xin tuân lệnh- Rồi tằng hắng lấy giọng, ngâm:

                       TẶNG DƯƠNG TƯỚNG QUÂN

    Xuân sắc tranh khai, bạch chuyển hồng

    Mãn đình: đào, lý ứng đông phong

    Hoa thôi nhân hướng quần anh hội

    Phủ kiếm hòa ca: tứ hải đồng

    Và chàng tạm dịch:

    Xuân sắc tranh khoe trắng chuyển hồng

    Đầy sân mơ, mận chực đông phong

    Hoa xui người tới quần anh hội

    Vỗ kiếm mà ca bốn bể đồng.

    Sau câu thứ ba, chàng đã phải câu giờ, ngâm í…a một chặp, chờ lựa chọn một trong ba từ: bả, đầu và phủ. Bả kiếm hay đầu kiếm? Chàng đã phải qua một phút đắn đo, vì nếu xài bả kiếm nghĩa là cầm kiếm thì ra còn hiếu chiến. Nếu đầu kiếm nghĩa là quăng kiếm đi, thì… thiếu cảnh giác (lỡ ra kẻ thù ngoan cố thì sao?). Vậy chỉ có phủ là hợp thời nhất vì có nghĩa là vỗ kiếm mà ca, một cử chỉ rất văn nghệ, thượng võ, nhưng hiếu hòa.

    Bài thơ này được chính thầy học của chàng, một nhà giáo bậc tổ sư ở Quảng Ngãi, thầy Nguyễn Tấn Đức, rất thích và đã gia công họa lại, cũng bằng chữ Hán nguyên vận.

    Trong bài diễn văn truyền hình cuối năm, ông Thiệu không chỉ cay cú mà đã ra mặt hằn học chửi rủa của Mỹ. Lạ thay nhìn bộ mặt bị biến dạng, trở nên xấu xí vì tham sân si đó, tự dưng chàng thấy thương hại ông ta. Chàng nghĩ:

    - Mình với ông ấy cùng họ, họ Nguyễn Văn. Ông bà ổng cũng từ Quảng Ngãi di cư vào Phan Rang trong thế kỷ 19 như lời đồn.

    Ổng sinh năm Giáp Tý, tháng Tý, ngày Tý, giờ Tý, thua anh Bảy nghệ sĩ của mình một tuổi. Cho ông đi học, chắc cha ông cũng nuôi một giấc mộng giống cha mình: mong con kiếm một chân công chức hay thầy giáo để được ở trong mát, không phải cực nhọc lao động dầu dãi nắng mưa.

    Rồi ông cũng đỗ Trung học như anh em mình, như anh Sáu Diễn, cũng ham công danh và lợi quyền như mình. Và thời cuộc xui khiến ông cầm súng cho Tây, bỏ đạo nhà theo Thiên Chúa của ông Diệm rồi được tin dùng, trong hội đỏ đen của cuộc cờ Đông Nam Á, lên tới ngôi vị nguyên thủ Quốc gia mà có lẽ hồi trẻ ông cũng không sao mơ đến.

    Nếu chỉ nịnh Tây, bợ Mỹ thì thiếu gì đứa nó hơn ông, thế mà chỉ có mình ông được. Theo lý số ngày xưa, hoặc phải tu nhân tích đức mấy đời, hoặc phải chôn tổ phụ nhằm long mạch, mới phát được chân mạng đế vương như thế.

    Vậy mà bộ máy của ông ấy đã giết mình, có lẽ ông cũng không biết, mãi cho đến khi báo chí miền Nam phanh phui ra. Con người luôn luôn là đại hòa diện của các quan hệ xã hội, còn là nạn nhân của các quan hệ xã hội, và còn là nạn nhân của cái guồng máy từ đó nó được sản sinh. A grandiose harmony of all social relations, hình như Marx nói vậy. Cái miệng ông giờ đây vẫn còn gang còn thép, một lời buông ra, muôn tiếng dạ ran. Quyền năng hạnh phúc ở người này là đau khổ nghèo hèn cho kẻ khác, cái này có thì cái kia có, atvam atsi. Nếu không, làm sao ông đủ khả năng gây ngần ấy tai họa cho bao người. Anh Mười Hương đã nói với Phước thì chắc chắn rồi. Tháng Năm này nổ súng, ba tháng sau mừng 30 năm cách mạng cả nước thành công. Chừng đó ông làm tù binh hay xương tan thịt nát trong loạn quân chưa biết chừng. Giờ đây, chiếc trực thăng ông đi chỉ như con phù du trong cõi đất trời mênh mông, như lời thơ dịch Xích Bích phú của Tô Đông Pha mà cha rất tâm đắc hay ngâm cho chàng nghe, để minh họa về cái nhỏ bé của kiếp người.

    Như hạt lúa nổi chìm trong bốn bể

    Cánh phù du cao thấp dưới lưng trời.

    Chàng thấy thương ông Thiệu rồi lẩm cẩm tự trách mình mềm yếu.

    Bấy giờ đang giữa tháng Hai, vết thương còn nhức nhối, đi đâu vẫn phải lê cặp nạng và phải nhờ đứa cháu đang trốn lính ở trong nhà làm tài xế.

    32. ĐIỆP VIÊN KHAI THÁC CÁI CHẾT CỦA NHÀ BÁO PHÁP

    Một hôm, có một đại đức trẻ đến gặp chàng. Trông ngờ ngợ, chưa biết bạn hay thù. Nhưng cũng siết tay ra chừng thân ái lắm, chàng hỏi:

    - Thầy từ đâu đến?

    - Trời đất, bác không nhớ tôi sao? Huệ Minh đây mà, đại diện cho sinh viên, Phật tử lên đọc bài hoan nghênh tuyên cáo của bác nhân dịp hai năm ngày ký thỏa hiệp Paris ở Ấn Quang đó.

    Chàng bối rối thấy rõ:

    - Xin thầy tha lỗi cho. Tôi từ hôm bị mưu sát, chấn thương vùng não và mất nhiều máu đầu óc tôi có khi bị lãng đi, như không còn nhớ gì.

    Huệ Minh xúc động cầm lấy bàn tay chàng, vết sẹo chỗ mu bị giập mới kéo da non, những ngón gãy chìa ra một cách mất trật tự:

    - Tôi biết là bác còn yếu. Nhưng hôm nay có việc quan trọng, phải tới bàn với bác.

    Nỗi vui mừng làm ửng một chút hồng trên khuôn mặt thiếu máu bạc tái của chàng.

    - Có gì vui không?

    - Không vui chút nào. Nhưng nếu biết vận dụng, có thể biến tin buồn thành hữu ích.

    Không đợi chàng hỏi thêm, Huệ Minh cho biết, chẳng rõ có chủ trương hay rủi ro mà cảnh sát Thiệu đã bắn chết một nhà báo Pháp, ông Paul Le’andry sáng nay tại đường Trần Hưng Đạo, gần Tổng nha Cảnh sát. Chàng la lên:

    - Thế thì đi đời Trang Sĩ Tấn[4] rồi. Tất nhiên kéo theo cả ông Thiệu cùng chìm xuồng.

    - Làm gì? - Huệ Minh không nói nhưng đưa mắt dò hỏi.

    Chàng không một chút lưỡng lự nói:

    - Tôi đang khó khăn trong sự di chuyển. Mà việc này phải hành động như chớp, quyết tốc mới quyết thắng. Đại đức phải phụ tôi. Chúng ta liên doanh tác chiến, giữa đoàn Sinh viên Phật tử và Pen Club Việt Nam. Dạo này Linh mục Tiến sĩ Thanh Lãng rất nghe tôi. Cánh nhà báo thì khỏi nói. Tôi sẽ báo cho ông Hồng Sơn Đông và Võ Long Triều ngay. Hôm nay Chủ nhật, hai vị này, kẻ đi Thủ Đức, người về Mỹ Tho, mình gọi điện tới nhà. Tất cả sẽ đánh điện phản kháng với Hội Nhà báo thế giới, đồng thời gửi cho Tổng thống Pháp, đòi Mỹ triệt hạ ngay bạo chúa sát nhân, đã làm chết đói ký giả trong nước, nay còn giết hại cả nhà báo nước ngoài. Lần này coi thử Mỹ còn ủng hộ Thiệu nổi nữa không.

    Thanh Lãng, tên thật là Đinh Xuân Nguyên, người Thanh Hóa, di cư vào Nam, trước chống Cộng một sống một chết. Từ ngày vào Trung tâm Văn Bút, chàng hay đến giáo xứ Thanh Hóa, bên trường Lê Bảo Tịnh đường Trương Minh Giảng[5], khi nói chuyện văn nghệ, khi nhận đồng hương, ông bà mình gốc Cống Sơn theo chúa Nguyễn Hoàng vào khai khẩn Thi Phổ, ông dần dần từ bỏ lập trường cực đoan, chuyển sang thân Cộng, nhận lời làm cố vấn Mặt trận Cứu đói và cuối cùng, cộng tác viên mật cho an ninh nội thành. Nhiều báo cáo về âm mưu Mỹ sử dụng Công giáo đã được ông giúp hoàn thành và được Phước gửi lên theo đường dây của Sáu Thảo. Và Linh mục Tiến sĩ Thanh Lãng đã sốt sắng thật. Kết quả là một bản tuyên cáo, ký tên và đóng dấu, một bên là nhà thơ N.H.M Ủy viên Ban chấp hành Pen Club, một bên là Đại đức Huệ Minh, đại diện Đoàn sinh viên Phật tử Việt Nam.

    Bức thư được gửi đến Liên hiệp quốc, OIJ, tổng thống Pháp, các nước cùng ký bảo đảm việc thi hành Hiệp định Paris, Ủy ban Tranh đấu đòi tự do báo chí và xuất bản, các hãng thông tấn trong ngoài nước, các phong trào… yêu cầu lên án hành động sát nhân, Thiệu phải ra đi, Mỹ phải rút toàn bộ cố vấn và những người còn ở lại.

    Việc này, cùng với việc đòi Mac Closeky đặt vấn đề với Thượng viện Mỹ cương quyết chấm dứt viện trợ, đã gia tốc lên cấp số nhân sức phản kháng và làm suy yếu hẳn phe hiếu chiến.

    33. TỪ CHỐI ĐÔLA CỦA HỘI ĐỒNG TÔN GIÁO  THẾ GIỚI

    Chưa hết. Một hôm ông Gible, Chủ tịch Hội đồng Tôn giáo Thế giới tới thăm Việt Nam. Nghe nói có một dân biểu đối lập, thay vì được bất khả xâm phạm như ai thì đã bị mưu sát gần chết. Nạn nhân lại là giáo sư Triết Đông phương, còn làm thơ, chuyên công tác từ thiện nữa.

    Gible thích thú tìm đến tận nhà 80 Nguyễn Thiện Thuật, quận 3 thăm chàng.

    Trên căn gác hẹp chỉ 24 mét vuông nóng bức, ngổn ngang giường chiếu, vung vãi chai lọ, ống tiêm thuốc uống dở dang và cuốn album chụp hình hàng ngàn người từ nhân sĩ trí thức, tôn giáo, sinh viên… cả những kẻ chống Cộng nữa, đến thăm chàng ở bệnh viện, vị chủ tịch người Mỹ nhìn chàng ái ngại.

    Chống nạng, một chân vẫn còn phải bó bột khiến ống quần dài bên phải xăn lên tận gối, gương mặt tái xanh, chàng nói:

    - Cảm ơn ngài Gible đã khó khăn tìm đến thăm và tỏ vẻ thương hại tôi. Điều này tôi thường không mấy thích, theo kiểu hay mặc cảm của người phương Đông, đặc biệt là người Việt Nam.

    Ông hỏi:

    - Là một nhà lập pháp, giáo sư chỉ sống đơn giản thiếu thốn thế này sao?

    Chàng nói:

    - So với đồng bào tôi, thế này là quá sang rồi. Những nạn nhân khác của ông Thiệu còn bị bỏ tù, đánh đập, chết đói. Hàng triệu người như thế.

    Ông Gible nhìn chàng thật lâu:

    - Tôi sẽ phản ánh thực trạng này ra thế giới khi có thể. Còn riêng việc ông dân biểu đang làm là cứu đói thì Hội đồng Tôn giáo Thế giới rất hoan nghênh. Chúng tôi đang có món tiền lớn, hàng chục triệu đô USD. Tôi có thể chuyển nó đến cho ông dân biểu Tổng thư ký Mặt trận Cứu đói để cứu người đói, ai ở đâu về đó mà làm ăn sinh sống, được không?

    Chàng xoay cây nạng bằng cánh tay phải, vẽ một vòng tròn to bằng vành nón lá trên nền gạch hoa:

    - Rất cảm ơn ông. Nhưng không. Bà con tôi không cần cầm những đồng đô la làm của, để về những nơi mà rồi bom đạn của nước ông sẽ tiếp tục đổ xuống đầu, giết chết họ một cách thảm thương như ông đã quá thấy. Lòng tốt của ông nên đặt đúng chỗ. Ông phải biết chúng tôi cần gì. Đồng bào tôi chỉ cần ông Thiệu ra đi, chỉ cần Chính phủ của ông đừng tiếp tục đưa tiền bạc và bom đạn cho ông Thiệu nữa.

    Ông Gible lắc đầu phản đối chàng:

    - Nhưng ông Thiệu là tổng thống của ông, do các ông cử ra, là chuyện nội bộ của mấy ông, ông dân biểu chế độ Việt Nam Cộng hòa ạ.

    Nghe như bị nói kháy, chàng đâm cáu, nổi nóng dằn từng tiếng:

    - Thưa ông Gible! Ông đến đây nói chuyện với nhau như một người bạn hay để đem những lời lẽ không thật đấu lý nhau chơi? Xin ông hãy nhìn thẳng vào mắt tôi: Ông tin Thiệu là một lãnh tụ tài đức do nhân dân miền Nam tín nhiệm bầu ra, hay ngài đã biết tỏng hắn chỉ là sản phẩm của CIA đặt lên để tiện sai khiến trong cuộc đánh nhau, nhằm be bờ Trung Cộng? Thưa ngài, nếu không đến với nhau bằng tấm lòng thành, tôi nghĩ thà chúng ta chấm dứt cuộc nói chuyện vô bổ này đi.

    Gible chùng mắt xuống. Ông vỗ vai chàng dịu giọng:

    - Tôi chịu là ông dân biểu trực tính và rất thành thật. Giờ hãy giả sử Thiệu sẽ ra đi ngay…

    Chàng sung sướng cướp lời:

    - Thì tức khắc có hòa bình ngay. Khi đó những bà mẹ già khốn khổ của tôi sẽ trở về trên cánh đồng, sẽ nhặt từng cọng kẽm gai, sẽ bới mảnh đất cằn, gieo vào đấy hạt lúa, hạt ngô hay trồng sắn khoai.

    Đã bốn ngàn năm rồi, tổ tiên tôi vẫn sống như thế và đã bao lần đổ máu để bảo vệ nền độc lập của mình. Tôi biết đã có gần sáu chục ngàn người Mỹ chết trên quê hương chúng tôi, trong số có con trai đại sứ Martin. Đau khổ biết bao, họ cũng là nạn nhân của một chính sách sai lầm. Giờ thì chúng ta có thể làm cách khác, cảm ơn ông Gible, tôi thấy rất mến tấm lòng từ tâm của ông.

    Ông nhìn chàng, bây giờ là một cái nhìn lạ lẫm. Từ chối mà vẫn biết ơn, người Việt Nam không kỳ lạ thì cũng phức tạp thật. Chả trách nước mình thua trận những kẻ tầm thường này, ông nghĩ.

    - Giáo sư nói sao?- Cuối cùng thì ông cũng phải hỏi, sau một vài phút nặng nề trôi qua.

    Chàng nhoẻn một nụ cưới, không giấu giếm bày tỏ lòng thương mến:

    - Món tiền to lớn đó, ông để đấy, khi người ta có tấm lòng nhân đạo, sẽ không thiếu dịp tỏ bày. Bây giờ tôi từ chối[6], nhưng bà con tôi sẽ cần sự giúp đỡ của ông sau này, khi chính phủ thống nhất độc lập của chúng tôi kêu gọi. Trước mắt chúng tôi, việc cần cấp là: Thiệu ra đi. Sắp tới ở Washington sẽ có một cuộc họp về Đông Dương. Ông hãy đến đó, nhân danh Hội đồng Tôn giáo thế giới, ông yêu cầu Mỹ tức khắc buộc Thiệu phải ra đi. Rồi ông sẽ có dịp sang thăm Việt Nam hòa bình. Mọi người sẽ vui mừng chào đón ông, ngài Gible.

    Lần này ông Gible không còn khó chịu vì lời từ chối nhận tiền ông cho Mặt trận Cứu đói. Ông hứa sẽ làm theo những gì chàng yêu cầu và ở lại vui vẻ ăn bún bò cây nhà lá vườn của chàng. Họ cùng nhau đàm đạo về Triết học, Tôn giáo. Ông Chủ tịch Hội đồng Tôn giáo thế giới chăm chú nghe chàng giải thích về Duyên, Nghiệp theo quan niệm đạo Phật và tỏ ra ngạc nhiên khi biết rằng đức Phật chưa bao giờ tự coi mình như một đấng Sáng thế. Giáo lý của ngài chỉ như ngón tay chỉ mặt trăng và mọi người phải tự thắp đuốc lên mà đi.

    Về sau chàng được biết ông góp phần ngăn việc tiếp sức bom đạn và dollar cho Thiệu. Năm 1978, khi chàng làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ông có dịp sang thăm thành phố Hồ Chí Minh, gặp chàng lúc ông viếng chùa Vĩnh Nghiêm. Ông nhận ra chàng nhưng hai bên chỉ gật đầu chào nhau. Cả hai đều sợ bị nghi là CIA, chẳng dám bày tỏ cảm tình gì. Chàng tự thấy ăn năn đã không can đảm nói lời cảm ơn ông.

    Ôi bao giờ mới gặp lại để chỉ một lời thôi, cho trọn tình và chứng tỏ mình không bao giờ vong ân?

    Cái tâm của chàng luôn biến động. Có lẽ chính là đã nhìn thấu vào chỗ ấy mà sư phụ chàng, thầy Hồng Ân đã đặt pháp danh cho chàng là Tâm Tịnh. Chân tâm minh như con vượn không ngừng chạy nhảy, chàng nghĩ: và khi thời gian ủng hộ chúng ta ở mặt này đứng về một khía cạnh khác, thời gian lôi cuốn chúng ta vào dòng chảy náo động không mệt mỏi của nó, làm con người tổn thất và đòi hỏi bồi bổ, trao đổi năng lượng, cứ thế, lớn lên về cả hai nghĩa.

    Và ngày nào kia ta sẽ già và chết. Cây cỏ, thú vật không hề hay biết về sự hiện hữu của chính mình. Và một đôi khi, con người cũng vậy.

    34. THƯ GỬI TỔNG THỐNG MỸ G. FORD

    Sau Tết, anh chị Earl Martin[7] từ Quảng Ngãi vào thăm, mang cho chàng bánh nổ và mạch nha đặc sản. Anh nói một cách tự hào, bằng thứ tiếng Việt của người Mỹ:

    - Cái này tôi mua ở Thi Phổ.

    Chòm râu quai nón thật rậm của anh làm thành một vành móng ngựa đen sì bao lấy cằm và miệng. Chàng mỉm cười chào và không bỏ cái tật hay đùa:

    - Càng ngày anh càng giống Tổng thống Lincon. Cái mồm anh luôn luôn hầu tòa.

    Martin cũng khá nhanh trí:

    - Phải, ông ấy gốc làm trạng sư mà. Tôi bằng một phần nhỏ của ông ấy cũng đã hân hạnh biết bao. Ông bênh vực nô lệ. Ở Việt Nam thì là Bồ Tát đó.

    Tên Việt của anh là Kiến, của chị là Mai. Anh chị thuê ngôi nhà nhỏ trong vườn anh Sáu Diễn, ăn rau muống chấm với mắm nêm như dân quê. Trong tận cùng quả tim, chàng rất mến phục Kiến và Mai. Họ đã có một trai: bé Minh Martin, sinh ở Quảng Ngãi. Họ đặt tên con như thế do lòng sùng mộ Cụ Hồ. Chị dạy tiếng Anh miễn phí cho các trường tư, anh làm đủ thứ nghề, khi thợ mộc sửa nhà cửa, vét giếng, khi y tá băng bó, chích, phát thuốc thiện nguyện cho các nạn nhân chiến tranh, do tổ chức Menonite của giáo phái phản chiến Quaker bên Mỹ tài trợ.

    Kiến nói:

    - Chủ nhật này chúng tôi về Mỹ, thăm Minh, con trai tôi đang ở với bà nội.

    - Bao giờ anh trở lại Quảng Ngãi?- Chàng hỏi.

    - Một tháng. Giữa tháng Ba tôi lại sang.

    Một tia chớp nảy trong óc, chàng hỏi:

    - Hình như gia đình anh ở Baltimore, gần Washington phải không?

    Cặp mắt anh sáng lên, khi nghe nhắc tới quê hương mình:

    - Đúng rồi, anh muốn tôi làm điều gì?

    Chàng biết người Mỹ có thể la ó phản đối nhưng thường tránh việc quay phá Chính phủ nước mình, khái niệm công dân của họ nghiêm túc lắm. Nên chàng thong thả, như vừa chậm rãi thăm dò thái độ của anh, vừa dùng tay quạt khói thuốc mình mới nhả ra lảng vảng làm anh khó chịu:

    - Xin lỗi. Tôi nhờ anh chịu khó gửi giúp một cái thư cho ngài Tổng thống Gerald Ford, vừa thay Nixon bị bãi chức, cố sao cho tới được tay ổng.

    Anh nói ngay:

    - Nếu nội dung chống cuộc chiến tranh bẩn thỉu này, có chết tôi cũng làm. Giáo phái tôi cũng có những dân biểu và nghị sĩ trong Quốc hội Hoa Kỳ.

    Rồi anh giơ bàn tay phải cho chàng: ngón trỏ đã bị chặt cụt để khỏi phải đi lính sang Việt Nam. Lần đầu tiên chàng thấy. Và hiểu tại sao anh đang ở Việt Nam để làm công việc hiện tại.

    Trong bức thư gửi cho Tổng thống Ford, chàng ngợi khen nhân dân Hoa Kỳ và cái cơ chế hiến định tuyệt vời đã vừa đuổi được Nixon ra khỏi Nhà Trắng. Chàng khẩn thiết yêu cầu Tổng thống Ford cũng làm việc ấy với Thiệu. Và rằng, nếu còn tiếp tục ủng hộ Thiệu, nước Mỹ dù đã được ông thay làm tổng thống, được trong sạch mấy, cũng vẫn sẽ mang tiếng.

    Vợ chồng Martin về cố quốc với bức thư của chàng, không biết có làm nặng nề thêm máy bay không, nhưng xem chừng anh ta vui lắm. Chàng tin lòng thành thật của anh khi giữa tháng Ba, đúng như lời hứa, anh đã trở lại Việt Nam trong một không khí vô cùng náo động và hỗn loạn. Anh kể đã đến Washington nhờ một nghị sĩ trao tận tay bức thư của chàng cho Tổng thống Ford.

    Thế là bản Tuyên bố nhân danh Mặt trận Cứu đói, bài tố cáo với thế giới về cái chết của Paul Le’andry và bức thư riêng gửi Ford có cùng một xuất phát và không phải là không một chút tác dụng nào.

    Sau Giải phóng, trên cái tư duy phong kiến của một số cán bộ đã mấy chục năm quan liêu bao cấp, chàng chỉ là một giáo sư ngụy, một dân biểu ngụy, một viên Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng trên danh nghĩa, một tên điểm chỉ cho An ninh Cộng sản thời bí mật, sao làm nổi những việc tày trời như thế? Không ai tin và nếu vẫn theo cách nghĩ đó, phải bố trí chức vụ gì cho chàng chớ? Và ai sẽ phải nhường ghế của mình cho chàng? Tất cả đã lặng im. Chàng nghĩ mình hành động hồi đó không phải để về sau kể công, nên cũng làm thinh luôn.

    Tháng 2-1975, vùng giải phóng được mở rộng trên tất cả các nơi. Chàng lại gặp các học trò ruột: Tạ Quang Huy ở Không quân, Trần Thế Điệp ở Hải quân, Nguyễn Thiên Công ở Tiếp vận hỏi han một cách khéo léo thực hư thế nào về việc ông Thiệu lên Đài chửi rủa Mỹ thậm tệ vì thiếu hụt trầm trọng xăng nhớt, đạn dược.

    Tới chơi từng người một, buổi chiều, sau giờ làm hoặc 470 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bình Thạnh của Điệp, hoặc ngay trong trại Phi Long của Huy, bao giờ cũng có Phước. Theo họ tiết lộ: Cũng có thiếu, nhưng lượng dự trữ vẫn còn đủ đánh nhau hàng nửa năm nữa. Phước luôn có phong cách rất Mỹ, đúng tầm một nhân vật trong Văn phòng Thủ tướng Chính phủ. Và anh có trí nhớ cực tốt, không cần ghi chép gì, vẫn nhớ đóng đinh từng con số, từng chi tiết.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. Nhà văn Triệu Xuân chăm sóc bản thảo. NXB Lao động, 2013.

    www.trieuxuan.info

     

    [1] Nay là Trung tâm Chỉnh hình TP.HCM.

    [2] Y: áo, bát: bát bằng đất nung để đựng cơm xin. Áo cà sa và bát đựng cơm, chỉ đời sống giản dị của người tu hành.

    [3] Quần: số đông.

    [4] Giám đốc Nha Cảnh sát Sài Gòn của Thiệu (1975).

    [5] Nay là đường Lê Văn Sĩ, quận 3.

    [6] Giáo sư Trần Văn Giàu và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng trong Địa chí Văn hóa Thành phố đã ca ngợi câu này.

    [7] Người Mỹ, thuộc giáo phái Menonite, chống chiến tranh.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập34,471,119

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/