Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập33,725,799

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Bản tin chiều

Arthur Hailey

  • Chủ nhật, 18:26 Ngày 21/06/2020
  • CHƯƠNG 16

    Lúc này là hai giờ mười phút sáng ở Nueva Esperanza.

    Suốt mấy giờ, Jessica nằm thao thức, giấc ngủ chập chờn, đôi lúc nằm mơ, những giấc mơ trở thành cơn ác mộng hoà trộn với thực tế.

    Mấy phút trước, lúc còn tỉnh ngủ, Jessica nhìn qua chỗ đục làm cửa sổ đối diện cũi giam của nàg. Trong ánh đèn lờ mờ từ trong lọt ra, nàng cảm thấy như nhìn thấy khuôn mặt Harry Partridge. Rồi khuôn mặt ấy biến mất đột ngột như khi nó xuất hiện. Nàng ngủ hay thức? Hay nàng lại đang mơ? Có thể là ảo giác chăng?

    Nàng lúc lắc đầu cho tỉnh táo, thì lại thấy khuôn mặt ấy xuất hiện, từ từ nhô lên trên mép lưới cửa sổ, rồi dừng lại. Một bàn tay ra hiệu gì đó mà nàng không hiểu, nhưng nàng nhìn kỹ khuôn mặt ấy. Chả lẽ là đúng? Tim đập mạnh khi nàng cả quyết: Đúng rồi, chắc chắn là Harry Partridge.

    Mồm anh mấp máy không thành tiếng, môi uốn theo từng từ, cố làm nàng hiểu. Nàng tập trung tư tưởng, cố xem anh nói gì, và nhận ra được hai tiếng "thằng gác". À, đúng rồi: "Thằng gác đâu?".

    Thằng gác lúc này là Vicente. Hắn đến thay gác cách đây một tiếng, rõ ràng là rất muộn, nên hắn và Ramon là tay gác phiên trước cãi nhau kịch liệt. Ramon quát tháo giận dữ. Vicente vặc lại, nghe có vẻ say vì hắn nói hơi líu lưỡi. Jessica không để ý chuyện chúng cãi nhau, bao giờ nàng cũng mừng khi hết phiên gác của Ramon. Thằng này tính tình độc ác, hành động không lường trước được và luôn bắt tù nhân phải tuân thủ lệnh cấm nói chuyện, điều mà đến lúc này những tên khác đều bỏ qua.

    Ngoảnh lại, Jessica có thể nhìn thấy Vicente. Hắn đang ngồi trên chiếc ghế bọn gác vẫn ngồi, cách xa chỗ giam và khuất góc cửa sổ. Nàng không rõ hắn đang ngủ hay thức, song mắt hắn hình như đang nhắm, khẩu súng trường dựa vào tường ngay cạnh người. Gần đó là ngọn đèn dầu treo trên xà, và chính nhờ ánh sáng của nó hắt ra, nên nàng nhìn thấy khuôn mặt ở bên ngoài.

    Cẩn thận đề phòng Vicente đột nhiên nhìn thấy, Jessica trả lời câu hỏi thầm ấy, bằng cách hất hàm về phía hắn ngồi.

    Lập tức ngoài cửa sổ - Jessica vẫn không dám chắc đó là Harry Partridge, lại bắt đầu nói. Nàng lại phải căng óc ra đoán. Đến lần thứ ba thì nàng hiểu câu đó là: "Gọi hắn!".

    Jessica khẽ gật đầu, ra ý đã hiểu. Tim nàng đập rộn lên khi thấy Harry. Như vậy là việc được giải thoát mà họ hằng mong đợi cuối cùng đã tới. Đồng thời nàng cũng hiểu hoàn thành những gì vừa bắt đầu không phải là việc dễ dàng.

    "Vicente!". Nàng nghĩ không cần phải gọi to lắm, nhưng nó không đủ để hắn nghe thấy vì đang ngủ. Nàng lại gọi to hơn: "Vicente!".

    Lần này hắn cựa mình, mở mắt nhìn nàng. Thấy vậy, Jessica vẫy hắn lại.

    Vicente vặn người trên ghế, rồi đứng dậy. Nhìn hắn, nàng có cảm tưởng hắn đang định thần, cố cho tỉnh cơn say. Hắn đứng một lát, bắt đầu đi về phía nàng, sau đó lại vội vàng quay lại lấy khẩu súng. Nàng nhận thấy hắn cầm súng trong tư thế sẵn sàng nếu cần.

    Cần phải có lý do tại sao gọi hắn, nàng nghĩ, và quyết định sẽ ra hiệu hỏi xem có thể sang chỗ Nicky được không. Tất nhiên hắn sẽ từ chối yêu cầu đó, song lúc này điều đó không quan trọng.

    Nàng không biết Harry định làm gì. Mặc dù lo lắng và căng thẳng, nàng cũng biết đây là giây phút mà nàng mơ ước, nhưng đã lo sợ sẽ không bao giờ tới.

    *

    Nép người dưới cửa sổ, Partridge nắm chặt khẩu Browning chín li, nòng lắp ống giảm thanh. Tối nay, cho đến lúc này, mọi việc đều theo đúng kế hoạch, song anh biết sắp tới mới là phần việc khó khăn và quan trọng nhất.

    Chỉ trong một vài giây, không thể có nhiều cách lựa chọn và chọn cái nào anh phải quyết định trong khoảnh khắc. Trong tình huống này, anh có thể dùng súng khống chế tên gác, sau đó trói lại, nhét giẻ vào mồm trước khi rút đi, hoặc mang hắn theo làm con tin. Song cực chẳng đã mới phải chọn cách thứ hai. Cách thứ ba giết hắn, nhưng đó là điều anh mong sẽ không phải làm.

    Anh cũng gặp thuận lợi: Jessica là người tháo vát, nghĩ nhanh và hiểu nhanh, đúng như điều anh còn nhớ về nàng.

    Anh nghe nàng gọi hai lần, rồi nghe những tiếng động nhẹ ở góc xa và tiếng chân thằng gác đang tới gần. Partridge nín thở, sẵn sàng nhoài người xuống đất nếu như hắn nhìn về phía hướng cửa sổ. Nhưng không, hắn nhìn về phía Jessica, lưng quay ra chỗ Partridge. Vì thế anh có thêm được một giây ước lượng tình hình.

    Điều anh thấy trước tiên là thằng gác cầm khẩu súng trường tự động Kalashnikov, loại vũ khí anh biết rất rõ, và trông cách cầm súng, có thể thấy hắn biết cách sử dụng. So với khẩu Kalashnikov, khẩu Browning của anh chỉ là thứ đồ chơi của trẻ con.

    Không thể còn cách khác; Partridge phải giết tên gác và phải bất ngờ nổ súng trước. Nhưng cái khó là còn Jessica. Lúc này nàng đứng ở vị trí tạo thành đường thẳng với tên gác. Bắn hắn, đạn có thể xuyên qua Jessica.

    Partridge đành phải liều. Không còn cơ hội nào nữa và cũng không còn cách lựa chọn nào khác. Đành phải tin vào khả năng suy đoán nhanh và hành động tức thì của nàng vậy.

    Hít một hơi dài, Partridge gọi to và rõ ràng: "Jessica nhào xuống đất ngay!".

    Tên gác quay ngoắt lại, nòng súng ghếch lên, chốt an toàn đã mở. Nhưng Partridge đã nâng súng bắn. Một giây trước đó, anh nhớ lại lời khuyên của huấn luyện viên bắn súng, người đã dạy anh cách sử dụng vũ khí: "Nếu anh muốn bắn chết, đừng có ngắm vào đầu. Dù anh siết cò nhẹ mấy đi nữa, vẫn có khả năng là mũi súng hếch lên, viên đạn sẽ đi cao phía trên đầu. Vì vậy, nếu nhắm thẳng vào tim, hoặc thấp hơn một chút. Như vậy, dù viên đạn ghim vào phía trên trái tim đi nữa, khả năng sát thương vẫn rất lớn, có lẽ giết chết kẻ địch; và nếu hắn chưa chết, anh còn có thời gian bắn phát thứ hai".

    Partridge siết cò; chỉ nghe khẩu Browning kêu "phựt" một tiếng rất nhỏ. Mặc dù đã từng sử dụng súng có giảm thanh, tiếng nổ rất nhỏ ấy bao giờ cũng làm anh ngạc nhiên. Anh nhìn mục tiêu trước mắt, sẵn sàng bắn phát thứ hai, nhưng thấy không cần thiết. Viên đạn găm đúng vào tim và máu bắt đầu chảy ra. Hắn thoáng vẻ ngạc nhiên, sau đó ngã gục, khẩu súng rơi xuống tạo nên tiếng động.

    Ngay khi siết cò, Partridge đã thấy Jessica tức khắc làm theo lệnh của anh, nhào người xuống đất. Anh thở phào nhẹ nhỏm, thầm cám ơn nàng. Lúc này nàng đang lồm cồm bò dậy.

    Anh vừa quay về phía cửa ra vào, thì một bóng người đã vụt chạy vào. Đó là Minh Văn Cảnh. Anh đã ở đúng vị trí phía sau Partridge như được lệnh, song bây giờ đảo vị trí, Minh nhanh chóng tới gần tên gác, khẩu UZI sẵn sàng nhả đạn, rồi gật đầu với Partridge lúc ấy vừa vào, xác nhận là hắn đã chết. Sau đó Minh tới bên cũi giam Jessica, xem xét chiếc khoá của cũi rồi hỏi: "Chìa khoá đâu?".

    Jessica bảo anh: "Ở phia trên chỗ thằng gác ngồi. Cả chìa khoá cũi Nicky nữa!".

    Ở cũi bên cạnh, Nicky cũng vừa tỉnh. Nó vội vàng ngồi dậy hỏi: "Chuyện gì thế mẹ?".

    Jessica nói cho nó an lòng: "Chuyện tốt cả, con ạ".

    Nicky nhìn người mới đến: Partridge lại gần, tay cầm khẩu Kalashnikov anh vừa nhặt lên, còn Minh đang lấy chùm chìa khoá móc trên chiếc đinh. "Họ là ai thế, hả mẹ?".

    "Những người bạn con ạ. Những người bạn rất tốt".

    Tuy còn ngái ngũ, mặt Nicky sáng lên. Sau đó nó nhìn cái xác bất động nằm trong vũng máu trên nền nhà, và mếu máo nói: "Đó là Vicente! Họ bắn chết Vicente? Tại sao?".

    "Im nào, Nicky", Jessica đe.

    Partridge trả lời, giọng rất nhỏ: "Chú không muốn làm việc ấy, Nicholas ạ. Nhưng hắn định bắn chú. Nếu hắn bắn, chú sẽ không thể đưa mẹ và chú ra khỏi đây được. Mà các chú đến đây là vì việc ấy".

    Nicky vừa chợt nhận ra, hỏi: "Chú là Partridge phải không?".

    "Đúng thế".

    Jessica nói, giọng cảm động: "Ôi, Chúa phù hộ cho anh, Harry, Harry thân yêu!".

    Vẫn với giọng rất nhỏ, Partridge bảo: "Chúng ta vẫn chưa thoát khỏi chỗ này, còn nhiều việc phải làm. Mọi người phải nhanh lên".

    Minh Văn Cảnh cầm chùm chìa khoá, tra từng chiếc vào ổ khoá cũi giam Jessica. Khoá đột nhiên mở ra. Lát sau, cửa cũi giam mở toang và Jessica bước ra ngoài. Minh đến bên cũi Nicky, thử từng chìa một. Vài giây sau, Nicky cũng bước ra. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau ngay chỗ giữa cũi giam và cửa ra vào.

    "Giúp tôi một tay", Partridge bảo Minh. Anh đang kéo xác tên gác về phía cũi Nicky và hai người nhấc đặt lên chiếc giường gỗ thấp. Làm vậy cũng không giấu được việc tù nhân trốn, anh nghĩ, nhưng nó sẽ làm việc phát hiện chậm lại một chút. Cũng vì thế; anh vặn ngọn đèn dầu cho đến khi nó chỉ còn là một chấm sáng nhỏ; buồng giam lập tức tối om.

    Nicky buông Jessica và đến bên Partridge. Bằng giọng đều đều, nó nói với vẻ nghiêm trang: "Chú giết Vicente cũng không sao đâu, chú Partridge ạ. Thỉnh thoảng hắn cũng giúp đỡ mẹ con cháu, nhưng hắn vẫn là một tên trong bọn chúng. Chúng đã giết ông cháu, chặt đứt hai ngón tay cháu, vì vậy cháu không còn chơi piano được nữa". Vừa nói, nó vừa giơ bàn tay còn đang băng.

    "Gọi chú là Harry", Partridge bảo. "Có, chú có biết chuyện chúng giết ông và chặt ngón tay cháu. Và chú hết sức đau lòng".

    Cậu bé nói, đặc giọng người lớn: "Chú có biết Hội chứng Stockholm không, chú Harry? Mẹ cháu biết đấy. Nếu chú thích, mẹ cháu sẽ kể chú nghe".

    Partridge không trả lời, trố mắt nhìn Nicky. Trước đây, anh đã từng gặp những người trong cơn choáng váng vì phải trải qua những nguy hiểm và tai ương quá sức chịu đựng của họ; giọng nói và cách chọn từ của cậu bé trong mấy phút vừa rồi biểu hiện triệu chứng bị choáng. Nó cần phải được giúp đỡ sớm. Còn lúc này, anh chỉ có thể vươn người, dang tay ôm ngang vai cậu bé. Anh cảm thấy cậu bé đáp lại cử chỉ đó bằng cách nép sát vào anh.

    Partridge thấy Jessica đang nhìn, nét mặt đầy vẻ lo lắng như anh. Nàng cũng ước giá thằng gác là đứa khác, chứ không phải Vicente. Nếu đó là Ramon, nàng đã chẳng hề bận tâm. Thế nhưng nàng cũng ngạc nhiên trước cử chỉ và lời nói của Nicky.

    Partridge lắc đầu, cố làm Jessica an lòng, đồng thời ra lệnh: "Chúng ta đi thôi".

    Anh cầm khẩu Kalashnikov, đây là loại vũ khí tấn công tốt nhất và có thể phải dùng đến nó. Anh cũng đút túi hai băng đạn mà anh lục được trên người thằng gác bị giết.

    Minh ở phía trước, gần cửa ra vào. Anh đã lấy máy ra, lúc này đang ghi lại cảnh họ rút, đằng sau là những chiếc cũi giam. Partridge thấy Minh đang dùng loại ống kính quay đêm đặc biệt - ống kính hồng ngoại không dùng được cho băng video và vì vậy, dù ánh sáng rất yếu như bây giờ, anh vẫn có được những bức ảnh rõ.

    Từ hôm qua, Minh vẫn quay hình, nhưng ít và có chọn lọc, vì số băng anh mang theo cũng tương đối hạn chế.

    Đúng lúc đó, Fernandez được phân công theo dõi các nhà khác chạy bổ vào. Anh hổn hển nói với Partridge. "Một phụ nữ đang đến. Đi một mình. Tôi nghĩ nó có súng". Anh vừa nói xong đã nghe tiếng bước chân đang tới gần.

    Không còn thời gian để phân công hoặc bố trí chỗ nấp nữa. Mọi người đứng sững người. Jessica ở gần cửa, nhưng lệch quá sang một bên. Minh đứng ngay giữa cửa, những người khác ở sâu phía trong, khuất trong bóng tối. Partridge nâng khẩu Kalasknikov lên. Mặc dù biết tiếng súng sẽ đánh thức cả làng dậy, song nếu muốn dùng khẩu Browning có ống giảm thanh anh sẽ phải để khẩu súng trường xuống mới lấy được. Không còn thời gian làm điều đó.

    Soccorro vội vã bước vào. Ả mặc váy ngủ, tay cầm khẩu úng lục Smith và Washe đã lên đạn. Jessica từng thấy Soccorro mang súng nhưng để trong bao, chứ chưa bao giờ cầm ở tay.

    Tuy cầm súng, Soccorro có vẻ không nghĩ tới chuyện gì khác thường xảy ra, và lúc đầu, vì trong nhà tối đen, ả tưởng lầm Minh đang đứng gần ả nhất là thằng gác. Ả bảo: "Pense que oscuche…" (1) rồi ả nhận ra đó không phải là tên gác và quay sang trái ả thấy Jessica. Giật mình, ả hét: "Que haces…"(2) rồi câm bặt.

    Sự việc tiếp theo diễn biến quá nhanh, đến nỗi sau này không ai có thể tả được đầy đủ.

    Soccorro giương súng, ngón tay đặt sẵn trên cò, bước rất nhanh lại gần Jessica. Sau đó, hình như ả định bắt Jessica làm con tin bằng cách gí họng súng vào đầu nàng.

    Jessica thấy được điều đó, và cũng nhanh không kém, nhớ lại thuật cận chiến mà nàng đã học nhưng chưa có dịp sử dụng từ khi bị bắt đến giờ. Mặc dù đã nhiều lúc nàng bị thôi thúc áp dụng nó, nhưng biết rằng về lâu dài cũng chẳng giải quyết được gì. Nên quyết định để dành cho đến lúc thật sự cần thiết.

    "Khi đối thủ tiến lại gần", tướng Wade nhấn mạnh trong các bài giảng và bài thị phạm, "phản xạ tự nhiên của ta là lùi lại. Đối thủ cũng chỉ chờ có vậy. Đừng làm như thế, mà hãy làm hắn bất ngờ bằng cách bước lên, vào thật gần".

    Nhanh như chớp, Jessica nhảy bổ vào Soccorro tay trái giơ cao, lên gân rất chắc và chém mạnh vào tay phải của ả. Hai tay chạm nhau, tay Soccorro bất giác bật lên, ả cố gắng ghìm tay xuống và theo phản xạ, ngón tay rời ra, khẩu súng rơi xuống đất. Toàn bộ sự việc diễn ra không đầy một giây. Soccorro hầu như không kịp biết chuyện gì cảy ra.

    Jessica không dừng lại, mà dùng hai ngón tay móc mạnh vào họng Soccorro, bóp chặt khí quản không cho ả thở. Đồng thời Jessica áp sát chân phải vào sau Soccorro xô ả ngã ngửa về phía sau. Sau đó, nàng lật úp ả xuống, vòng tay khoá chặt cổ làm ả không thể cựa quậy được. Nếu là trong chiến tranh, theo đúng bài bản của cận chiến, bước tiếp theo sẽ là bẻ gãy cổ, giết chết Soccorro.

    Jessica do dự, vì nàng chưa giết ai bao giờ, và cũng chẳng muốn giết người. Nàng cảm thấy Soccorro có vẻ muốn nói điều gì, nên nới bớt hai ngón tay đang bóp họng ả.

    Soccorro thở dốc, cầu xin: "Tha cho tôi… Tôi sẽ giúp bà… cùng trốn với các ông, các bà… tôi biết đường".

    Partridge đã lại gần nên nghe rõ. Anh hỏi: "Có thể tin ả được không?".

    Jessica lại lưỡng lự. Nàng thoáng thấy thương hại. Soccorro không phải hoàn toàn xấu. Ngay từ đầu, nàng có cảm giác thời gian làm hộ lý ở Mỹ đã làm con người ả tốt lên. Ả đã săn sóc Nicky sau khi nó bị đốt bỏng và sau này khi ngón tay nó bi chặt. Rồi còn việc Soccorro ném vào trong thuyền thanh sôcôla lúc cả ba người đang đói. Soccorro đã làm nơi họ bị giam khá hơn, khi cho đục cửa sổ trên tường… bất chấp lệnh của Miguel, ả đã cho nàng sang với Nicky…

    Nhưng Soccorro cũng chính là đứa đã tham gia vào vụ bắt cóc ngay từ đầu, và cũng chính ả, khi Nicky sắp bị chặt ngón tay, đã nhẫn tâm quát: "Câm mồm! Mày không thể ngăn được điều sắp xảy ra đâu!".

    Và rồi Jessica còn như nghe thấy lời Nicky nói mới cách đây vài phút: "chú giết Vicente cũng không sao đâu, chú Harry ạ… Đôi khi hắn cũng giúp đỡ mẹ con cháu, nhưng hắn là một tên trong bọn chúng… chú có biết Hội chứng Stockholm không? … Mẹ cháu biết đấy…". Hãy cẩn thận với Hội chứng Stockholm.

    Jessica trả lời câu hỏi của Harry. Nàng lắc đầu, nói với anh "Không".

    Mắt họ gặp nhau. Harry vẫn còn kinh ngạc trước tài nghệ đánh nhau bằng tay không của Jessica. Anh tự hỏi nàng học cái đó ở đâu, và để làm gì. Nhưng vào lúc này, điều đó không quan trọng. Cái quan trọng là nàng đã đạt tới điểm quyết định và mắt nàng như hỏi ý kiến anh. Anh khẽ gật đầu. Rồi vì không muốn chứng kiến việc sắp xảy ra, anh quay mặt đi.

    Người run vầm cập, Jessica siết chặt tay bẻ cổ Soccorro rồi vặn mạnh đầu ả cho gãy lìa xương sống. Chỉ nghe một tiếng khô khốc rất nhỏ rồi toàn thân ả mềm nhũn. Nàng buông xác ả xuống đất.

    *

    Partridge đi đầu, Jessica, Nicky, Minh và Fernandez lặng lẽ theo sau, cả nhóm vượt qua làng đang chìm trong bóng tối, không gặp một ai.

    Tới bên sông, Ken O’Hara bảo: "Tôi cứ nghĩ các anh sẽ không bao giờ ra được đến đây".

    "Chúng tôi gặp sự cố", Partridge bảo anh. "Ta đi nhanh lên. Thuyền nào đấy?".

    "Thuyền này". Đó là một chiếc xuồng gỗ không mui dài khoảng ba mươi phít, có hai động cơ gắn phía sau. Hai dây neo chặt nó vào bờ. "Tôi lấy thêm dầu ở các thuyền khác". O’Hara nói, chỉ vào mấy can nhựa để gần đằng đuôi.

    "Tất cả lên xuồng", Partridge hạ lệnh.

    Trước đó, mặt trăng gần tròn khuất trong mây, nhưng trong mấy phút vừa qua, mây đã trôi đi. Lúc này, mọi người đều trông rõ hơn, nhất là trên mặt nước.

    Fernandez giúp Jessica và Nicky trèo vào xuồng. Jessica cảm thấy buồn nôn, người run bần bật, hậu quả của việc giết Soccorro mấy phút trước đó. Minh đứng trên bến quay hình, là người cuối cùng nhảy vào xuồng, trong khi O’Hara tháo dây và dùng chèo đẩy thuyền ra xa bờ. Fernandez cầm mái chèo thứ hai, cùng O’Hara bơi xuồng ra giữa sông.

    Nhìn xung quanh, Partridge nhận thấy O’Hara đã sử dụng thời gian chờ đợi một cách có hiệu quả. Một số thuyền bị dìm xuống nước ở gần bờ, những chiếc khác trôi giạt mỗi chiếc một nơi.

    "Tôi đã tháo bugi", O’Hara chỉ mấy chiếc thuyền ở gần. "Chúng có thể vớt thuyền lên, nhưng cũng mất thời gian. Tôi còn quăng mấy mô tơ xuống sông". "Khá lắm, Ken ạ!". Quyết định để O’Hara đi cùng, Partridge nghĩ, đã nhiều lần cho thấy là đúng.

    Chiếc xuồng họ đang đi không có ghế ngồi, giống như thuyền mà Jessica, Nicky và Angus đã đi lúc trước, "hành khách" ngồi trên những tám ván bắc ngang lòng xuồng. Hai người chèo xuống ngồi ở phía đối diện, cố hết sức đưa xuồng ra giữa sông. Khi Nueva Esperanza mờ dần trong ánh trăng, dòng nước siết đã đưa xuồng trôi xuôi.

    Lúc xuồng rời bến, Partridge nhìn đồng hồ: hai giờ ba mươi lăm phút sáng. Đến hai giờ năm mươi phút, khi xuồng trôi dọc sông theo hướng tây bắc, anh bảo Ken O’Hara nổ máy.

    O’Hara mở van thông gió ở bình xăng phía bên trái xuồng, điều chỉnh dây le, bơm hơi đầy bình cao su hình tròn, và giật mạnh dây kéo bánh đà. Máy nổ ngay lập tức. Anh đưa máy về không tải, sau đó tiếp tục cho nổ máy thứ hai. Anh gài số cả hai máy và chiếc xuồng vọt đi.

    Trời trong xanh. Ánh trăng sáng phản chiếu trên mặt nước, nên việc lái xuồng trên dòng sông khúc khuỷu tương đối dễ dàng. Fernandez hỏi: "Anh đã quyết định tới chỗ máy bay đỗ chưa?".

    Partridge cân nhắc, hình dung ra tấm bản đồ tỷ lệ lớn của Fernandez mà cho tới lúc này, anh hầu như đã thuộc lầu.

    Trước hết, việc chọn rút theo đường sông không cho phép anh tới được điểm đỗ trên đường khi trước. Chỉ còn lại điểm đỗ mà bọn buôn ma tuý thường dùng, ở vào quãng giữa, đi mất khoảng một giờ rưỡi, hoặc dải đất Sion ở xa hơn, đi mất ba giờ bằng đường sông, cộng với đoạn cuốc bộ qua rừng dài chừng ba dặm, một công việc họ đã biết là rất khó khăn.

    Để tới được Sion vào lúc tám giờ sáng, là lúc chiếc Cheyenne của hãng Aerolibertad đến nơi, họ chỉ có thể đến được sát giờ. Mặt khác, nếu đi đến chỗ đậu ở quãng giữa, họ có thể sớm được vài giờ, song nếu bọn chúng đuổi kịp, họ sẽ phải nổ súng, mà với số người và súng đạn ít hơn, chắc chắn họ sẽ thua.

    Vì vậy con đường tốt nhất và khôn ngoan nhất có vể vẫn là vượt quãng đường xa nhất từ Nueva Esperanza đến chỗ máy bay đậu.

    "Chúng ta tới Sion", Partridge bảo những người trên xuồng. "Sau khi rời xuồng lên bờ, chúng ta sẽ phải gắng vượt rừng thật nhanh; vì vậy mọi người hãy tranh thủ nghỉ ngơi".

    Thời gian trôi qua, Jessica trở lại bình tĩnh hơn, người nàng không còn run bắn lên nữa; mồm không còn buồn nôn. Nhưng nàng không tin có thể tĩnh trí được sau những việc nàng đã làm. Chắc chắn lời cầu xin thầm thì, tuyệt vọng của Soccorro sẽ còn ám ảnh nàng mãi về sau.

    Nhưng Nicky được an toàn, ít nhất cũng trong lúc này, và đó là điều quan trọng nhất.

    Nàng đã quan sát Nicky, thấy rằng từ khi họ rời lán giam, nó luôn quấn quít bên cạnh Harry Partridge và chỉ cao ngang gối anh. Cứ như Harry là cục nam châm mà Nicky tìm cách dính chặt vào. Ngay cả bây giờ ở trên xuồng, nó cũng ngồi cạnh Harry rõ ràng muốn nép sát vào anh và Harry có vẻ cũng muốn như vậy. Thực ra trước đó, Harry đã quàng tay qua vai Nicky và lúc này hai người như hoà làm một.

    Jessica thấy thích điều đó. Rõ ràng, trong suy nghĩ của Nicky, nàng nghĩ, Harry với vẻ như bây giờ, chính là người khác hẳn bọn xấu đã gây nên những nỗi kinh hoàng mà họ phải trải qua - Miguel, Baudelio, Gustave, Ramon… những đứa đã biết và chưa biết… đúng, cả Vicente và Soccorro nữa.

    Nhưng còn hơn thế nữa. Nó chứng tỏ bản năng nhìn nhận con người của Nicky bao giờ cũng chính xác. Nàng đã từng yêu Harry, bây giờ cũng vẫn thế, nhất là khi lòng biết ơn và tình yêu quyện chặt vào nhau. Vì vậy, không có gì lạ khi con nàng theo bản năng cũng có chung tình cảm ấy.

    Nicky hình như đang ngủ. Gỡ nhẹ tay ra, Partridge đến ngồi cạnh nàng. Thấy thế, Fernandez đổi chỗ ngồi qua phía bên kia để giữ cho xuồng thăng bằng.

    Partridge cũng đang nhớ lại thời xua, cái thuở anh và Jessica đã sống vì nhau. Và ngay cả trong phút giây ngắn ngủi này, anh có thể thấy nàng cơ bản vẫn không thay đổi. Những gì anh hằng ngưỡng mộ ở nàng, suy nghĩ nhanh, cứng rắn, nồng hậu và tháo vát một cách thông minh, vẫn còn nguyên đó. Partridge biết, nếu anh ở lâu bên cạnh nàng, tình yêu ngày xưa của anh sẽ sống lại. Một suy nghĩ táo tợn; có điều nó sẽ không xảy ra.

    Nàng quay lại nhìn, có lẽ đang đọc những suy nghĩ của anh. Anh nhớ lại những ngày xưa ấy, nàng vẫn thường làm được điều đó.

    Anh hỏi: "Ở trong ấy, có bao giờ em mất hy vọng không?".

    "Cũng nhiều lúc gần như vậy, nhưng không bao giờ hoàn toàn". Jessica trả lời. Nàng cười, nói: "Tất nhiên, nếu em biết anh phụ trách việc giải thoát cho mẹ con em, thì sự thể lại khác chứ".

    "Bọn anh gồm nhiều người", anh bảo nàng. "Crawf cũng ở trong nhóm. Anh ấy phải chịu biết bao đau đớn, mà hai mẹ con em cũng thế. Khi về đến nơi, hai vợ chồng em đều cần đến nhau".

    Anh cảm thấy nàng hiểu ý anh muốn nói: "Mặc dù anh trở lại đời nàng trong chốc lát, nhưng rồi sẽ lại biến mất ngay".

    "Anh suy nghĩ thật tử tế, Harry ạ. Tới đây anh sẽ làm gì".

    Anh nhún vai: "Tiếp tục đưa tin. Đâu đó lại sẽ có một cuộc chiến tranh. Bao giờ chả thế!".

    "Thế còn giữa hai cuộc chiến tranh?".

    Có những câu hỏi không có câu trả lời. Anh đổi chủ đề câu chuyện: "Thằng Nicky của em tính rất hay, đúng như đứa con mà anh muốn có".

    Lẽ ra đã là như vậy, Jessica nghĩ. Giữa hai đứa mình, những năm về trước.

    Không muốn nhớ lại chuyện ấy, Partridge để mình nghĩ đến Gemma và đứa con trai chưa kịp ra đời.

    Anh nghe Jessica thở dài bên anh: "Ôi Harry!".

    Họ im lặng, lắng nghe tiếng máy rung nhè nhẹ và tiếng nước rào rào. Sau đó nàng đặt tay lên tay anh.

    "Cám ơn anh, Harry", nàng nói. "Cám ơn anh vì tất cả những gì anh đã làm, đang làm… anh, người yêu thương nhất của em".

    ___

    1 Tôi nghĩ rằng mình đã nghe…

    2 Mày làm gì…?

    CHƯƠNG 17

    Miguel bắn ba phát súng lên trời, phá tan bầu im lặng. Hắn biết đó là cách báo động nhanh nhất.

    Mới chỉ cách đây một phút, hắn phát hiện ra xác của Vincete và Socorro và nhận ra bọn tù đã đi mất.

    Lúc này là ba giờ mười lăm phút sáng, tức là đúng bốn mươi phút kể từ lúc chiếc xuồng chở Fernandez, Jessica, Nicky, Minh, O’Hara và Partridge rời bến; song Miguel không biết điều ấy.

    Miguel lập tức nổi giận điên cuồng và lồng lên. Trong lán giam tù, hắn vớ chiếc ghế của bọn gác và quật mạnh vào tường, chiếc ghế vỡ tan. Lúc này hắn muốn quật túi bụi, chặt chân những đứa đã để tù xổng mất.

    Thât không may, hai đứa đã chết rồi. Và Miguel đau đớn nhận thấy hắn cũng chịu một phần trách nhiệm.

    Rõ ràng hắn đã lơ là trong việc giữ nghiêm kỷ luật. Bây giờ đã quá muộn, hắn thấy rõ điều đó. Từ khi đến đây, đúng ra phải rất chú ý canh phòng thì đôi khi hắn lại nghỉ xả hơi. Ban đêm, lẽ ra hắn phải đích thân đốc thúc việc canh phòng thì hắn lại giao cho những đứa khác.

    Lý do vì hắn mềm yếu, hắn phải lòng Socorro. Hắn đã muốn ngủ với ả từ khi còn ở ngôi nhà ở Hackensack, cả trước và sau vụ bắt cóc. Ngay bây giờ, hắn vẫn còn nhớ cái thú dục tính rắng trợn của ả lúc chúng rời nhà Hackensack. Với nụ cười nhạo báng, ả nói với hắn về việc đút những ống nhỏ vào trong người tù trên đường đi. "Đó là những ống trong dương vật đàn ông và âm hộ đàn bà, Entiendes?".

    Có, hắn hiểu. Hắn cũng hiểu là ả đang chài hắn, giống như ả đã chài những thằng khác ở Hackensack như cái đêm ả đột nhiên cặp đôi với Carlos, cười nói ầm ỉ, làm Rafael là đứa bị cự tuyệt điên người vì ghen.

    Nhưng lúc đó Miguel còn nhiều việc khác phải lo, những trách nhiệm đòi hỏi hắn phải bận tâm suy nghĩ, nên hắn đã tự nghiêm khắc với mình trước lòng thèm khát của hắn đối với Socorro.

    Ở Nueva Esperanza không giống như vậy.

    Hắn căm ghét rừng rậm, hắn nhớ lại cảm giác của hắn hôm đầu tiên tới đây. Thêm vào đó, chẳng có việc gì làm. Ví dụ, hắn đã không coi trọng khả năng có người đến cứu con tin. Nueva Esperanza, nằm sâu trong lãnh địa của Sendero, có vẻ hẻo lánh và an toàn. Vì vậy, ngày cũng như đêm chậm chạp trôi qua, cho đến một hôm, đáp lời năn nỉ của hắn, Socorro mở cửa cho hắn vào cái nơi mà hắn nhanh chóng phát hiện ra là cõi cực lạc.

    Từ đó, đêm nào cũng như đêm nào, đôi khi cả ban ngày, chúng làm tình với nhau và ả tỏ ra là một người tình có nhiều ngón nghề làm hắn thoả mãn nhất từ trước đến nay. Cuối cùng, hắn sẵn lòng phục dịch ả và giống như kẻ nghiện đang đợi thuốc, hắn bỏ bê tất cả các việc khác.

    Bây giờ hắn đang phải trả giá cho thứ nghiện đó.

    Đầu giờ tối nay, sau một cuộc truy hoan vô cùng mãn nguyện, hắn ngủ rất say. Rồi cách đấy khoảng hai mươi phút, hắn tỉnh dậy, lại thèm muốn làm tình lần nữa, nên rất bực mình khi thấy Socorro đi đâu mất. Hắn nằm đợi ả một lúc khi không thấy ả quay lại, hắn dậy đi tìm, xách theo khẩu súng lục Marakov mà hắn bao giờ cũng mang theo bên người.

    Những gì hắn vừa tìm thấy, giống như một cú đấm mạnh và hiểm, đưa hắn trở về với thực tế phũ phàng. Miguel cay đắng nghĩ: Hắn có thể sẽ phải trả gía cho việc này, có khả năng bằng sinh mạng của hắn. Nếu Sendero Luminoso biết chuyện, nhất là nếu không tìm được đám con tin. Vì vậy, trước hết phải bắt lại bọn chúng bằng bất cứ giá nào!

    Nghe súng nổ, những tên khác từ các nhà chạy về phía hắn. Gustavo dẫn đầu. Miguel chửi rủa bọn chúng tới tấp: "Maldito escoria, imbeciles inservibles! Por su estubidez… Nuca vigilar! Solo dormir y tomar! Sin cuida!... Los presos de mỉeda se écaparon!". (1)

    Chỉ mặt Gustavo, hắn rít lên: "Mày là đồ ăn hại dái nát! Chỉ huy gì cái đồ mày, một con chó ghẻ còn khá hơn! Bọn người lạ đã tới đây trong khi mày nằm ngủ! Mày lờ cho chúng qua, mày tiếp tay cho chúng! Hãy tìm ngay xem bọn chúng từ đâu tới và chạy trốn bằng cách nào. Nhất định phải có dấu vết!".

    Mấy giây sau, Gustavo quay lại, thông báo: "Bọn chúng đi bằng đường sông. Một số thuyền trôi đâu mất, những chiếc khác bị đánh chìm".

    Miguel như phát khùng, vội vã ra ngay bến sông. Cảnh tàn phá mà hắn thấy, dây neo thuyền bị cắt, thuyền máy không thấy đâu, mấy chiếc khác bị chìm chỗ nước nông, cũng đủ làm hắn tức sùi bọt mép. Song hắn hiểu rằng, nếu hắn không bình tĩnh lại và kiềm chế, sẽ không thể nào cứu vãn được tình thế. Kìm mình lại, hắn bắt đầu suy nghĩ môt cách khách quan.

    Vẫn dùng tiếng Tây Ban Nha, hắn bảo Gustavo: "Hãy chọn cho tao hai chiếc thuyền tốt nhất trong số còn lại, mỗi thuyền đủ hai máy. Không phải trong mười phút, mà phải ngay bây giờ. Mọi người đều phải làm, mà làm nhanh, nhanh, thật nhanh! Sau đó, tất cả tập trung tại bến, mang đủ súng đạn và sẵn sàng xuất phát!".

    Cân nhắc các khả năng, hắn tin rằng những người vào cứu tù chắc hẳn phải đi máy bay đến vùng này; đó là phương tiện chuyên chở nhanh nhất, thực tế nhất. Vì vậy, họ cũng sẽ phải thoát ra bằng máy bay, nhưng cho đến lúc này không có khả năng máy bay đã đi rồi.

    Ramon đã báo cáo Vincente đến thay gác cho hắn ngay sau một giờ sáng, lúc đó mọi chuyện vẫn yên ổn, tù nhân vẫn bị khoá chặt trong cũi giam. Vì thế, cho dù ngay sau đó chúng thoát ra đi nữa, thì nhiều nhất cũng chỉ mới đi được hai tiếng. Việc xác của Socorro và Vicente khi chúng tìm thấy vẫn còn ấm càng xác nhận thêm suy đoán của Miguel là bọn đột nhập mới đi chưa được hai giờ.

    Hắn tiếp tục lập luận: từ Nueva Esperanza nếu đi bằng đường sông tới nơi hẹn máy bay, bọn kia sẽ phải chọn một trong hai đường băng máy bay ở trong rừng. Chỗ gần hơn không có tên, chỉ có các máy bay chở ma tuý mới sử dụng đến. Đường băng kia là Sion, xa gấp đôi, là nơi ba tuần trước đó chiếc Learjet chở Miguel cùng những tên khác và đám con tin đã đậu.

    Sử dụng cái nào cũng đều có lý cả. Chính vì thế Miguel quyết định cử một thuyền đầy người mang súng tới nơi gần hơn, còn chiếc thứ hai đến Sion. Miguel quyết định cùng đi với thuyền tới Sion.

    Trong lúc hắn đang còn suy nghĩ, ngoài bến mọi người đã khẩn trương hoạt động. Hai thuyền nước ngập phân nửa được kéo vào gần bờ và tát nước ra. Những người trong làng cũng tới giúp bọn thuộc Sendero. Họ đều hiểu rằng, nếu bọn cầm đầu Sendero Luminoso nổi giận với Nueva Esperanza, tổ chức này có thể giết sạch cả làng mà không hề ân hận. Trước đây cũng đã có nhiều trường hợp như vậy.

    Dù đã làm gấp, nhưng đến khi khởi hành được cũng mất nhiều thời gian hơn là Miguel mong muốn. Cuối cùng, lúc bốn giờ kém mấy phút, cả hai thuyền đã khởi hành xuôi theo hướng tây bắc, cả hai máy mở hết tốc lực. Thuyền của Miguel đi Sion chạy nhanh hơn nhiều, vượt xa thuyền kia ngay khi vừa rời bến. Gustavo điều khiển bánh lái.

    Ngồi ôm khẩu tiểu liên Bereta dùng tăng cường cho khẩu Marakov, Miguel lại thấy cơn giận trào lên. Hắn vẫn không hiểu ai là người đã giải thoát hai tù nhân. Nhưng khi hắn đuổi kịp và bắt lại được, mà hắn định phải bắt sống, chúng sẽ phải chịu đựng những hình thức tra tấn từ từ, khủng khiếp.

    Chú thích:

    Mất dạy, đồ ăn hại! Vì sự đần độn của mày… Không bao giờ chịu canh gác! Chỉ ngủ và uống thôi… Không trông nom gì hết… bọn tù nhân cứt đái đã trốn hết rồi…

     

    CHƯƠNG 18

    Khi chiếc Cheynne II của hãng Aerolibertad cất cánh từ sân bay Lima trong ánh rạng đông, Crawford Sloane bỗng nhớ đến mấy câu thơ trước đây anh đã đọc:

    Nếu tôi bay trên đôi cánh bình minh

    Và đậu xuống nơi đại dương xa nhất.

    Hôm qua, chủ nhật, họ đã bay trên đôi cánh bình minh thật, nhưng không phải tới đại dương, mà vào sâu trong lục địa, song không thu được kết quả gì. Hôm nay, họ lại một lần nữa bay về phía rừng rậm.

    Rita ngồi ở hàng ghế thứ hai, bên cạnh Sloane. Trước mặt họ là phi công chính Oswaldo Zileri và người phụ lái còn trẻ tên là Felipe Guerra.

    Trong suốt chuyến bay ngày hôm trước kéo dài ba tiếng, máy bay của họ đã qua cả ba điểm hẹn. Mặc dù trước khi đến điểm nào anh đều được báo trước, Sloane vẫn khó phân biệt được đâu là đâu, vì nhìn từ máy bay, rừng rậm ken dày như vô tận. "Giống như ở Việt Nam, nhưng rậm rạp hơn", anh bảo Rita.

    Mỗi khi máy bay lượn trên điểm hẹn, cả bốn người đều nhìn kỹ bên dưới xem có tín hiệu hoặc dấu hiệu hoạt động nào không, song không thấy gì. Sloane rất hy vọng hôm nay sẽ khác.

    Lúc trời sáng rõ, chiếc Cheyenne II bay trên đỉnh cao Andes trong dãy Cordillera. Sau đó qua tới bên kia, họ hạ dần độ cao về hướng rừng rậm và thung lũng thượng nguồn của sông Hualaga.

    CHƯƠNG KẾT

    Partridge biết anh đã tính toán sai. Họ đã bi chậm rất nhiều.

    Cái anh không tính tới khi chọn Sion thay vì chọn điểm hẹn gần hơn là xuồng gặp sự cố. Việc đó xảy ra khoảng hai tiếng sau khi rời Nueva Esperanza, tức là còn một tiếng nữa mới đến chỗ họ bỏ thuyền lên bờ và bắt đầu đi bộ tới điểm đỗ máy bay.

    Cả hai máy vẫn đang hoạt động bình thường tuy kêu hơi to, thì bỗng chuông trong máy bên trái xuồng réo ầm lên, Ken O’Hara lập tức giảm ga, về số không, và tắt máy. Chuông và máy đều im lặng.

    Chiếc máy ở mạn phải vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng lúc này xuồng chạy chậm hẳn lại.

    Partridge bước về phía cuối xuồng và hỏi O’Hara: "Sao thế? Liệu có sửa được không?".

    "Tôi e rằng không", O’Hara trả lời. Anh đã tháo nắp máy và đang xem xét bên trong. "Máy nóng quá, vì thế chuông báo. Nước làm mát máy rất trong, chứng tỏ bơm đã hỏng. Cho dù tôi đủ dụng cụ tháo rời máy ra, có thể vẫn cần phụ tùng thay thế. Mà chúng ta không có cả hai thứ…". Anh bỏ lửng không nói hết câu.

    "Tức là chắc chắn không thể chữa được nữa?".

    O’Hara lắc đầu: "Rất tiếc là vậy, Harry ạ".

    "Nếu cứ cho chạy tiếp thì sao?".

    "Máy sẽ hoạt động một thời gian ngắn, rồi lại bị nóng. Sau đó máy quá nóng, pittong và xilanh chảy dính với nhau. Rồi chỉ còn mỗi một việc là quẳng ra bãi rác".

    "Cho chạy đi", Partridge bảo. "Nếu không còn cách nào khác, cứ chạy được chừng nào hay chừng ấy". "Được thôi, anh là thuyền trưởng mà", O’Hara trả lời, mặc dù anh rất ghét làm hỏng chiếc máy, mà giá ở hoàn cảnh khác vẫn chữa chạy được.

    Đúng như O’Hara nói, máy hoạt động được vài phút, rồi chuông réo ầm ĩ và có mùi khét lẹt. Sau đó nó ngừng và không sao khởi động lại được nữa. Xuồng lại chậm lại và Partridge lo lắng nhìn đồng hồ.

    Anh có thể thấy tốc độ xuồng chỉ còn bằng nửa khi trước. Như vậy quãng sông còn lại họ sẽ phải đi hết hai tiếng chứ không phải một tiếng.

    Thực tế phải mất tới hai giờ mười lăm phút, và lúc này đã là sáu giờ năm mươi phút sáng; họ đã thấy chỗ bỏ xuồng lên bờ. Partridge và Fernandez nhận ra nó trên tấm bản đồ tỷ lệ lớn, đồng thời căn cứ vào dấu hiệu người trước để lại - ống bơ nước ngọt và mảnh chai vỡ vứt đầy trên bờ. Bây giờ họ sẽ phải lết hết đoạn đường rừng khó khăn tới đường băng Sion trong vòng một tiếng, ngắn hơn thời gian dự tính rất nhiều. Liệu họ có làm nổi không?

    "Chúng ta phải đến kịp", Partridge nói, rồi giải thích cho Jessica và Nicky biết. "Có thể sẽ rất mệt, nhưng không còn thời gian nghỉ nữa, và nếu cần, chúng ta sẽ phải giúp nhau mà đi. Fernandez sẽ đi trước, tôi đi sau cùng".

    Mấy phút sau, mũi xuồng sát trên cát và họ lội vào bờ. Ngay trước mặt là một khoảng trống trong vùng rừng rậm dày đặc.

    Giá có nhiều thời gian, Partridge có lẽ đã tìm cách giấu xuồng đi, hoặc đẩy nó ra giữa sông cho trôi xuôi. Còn bây giờ, nó đang nằm ngay gần bờ.

    Sau đó, sắp sửa vào rừng, Fernandez bỗng dừng lại, ra hiệu mọi người im lặng. Anh nghiêng đầu, đứng nghe trong bầu không khí ban mai yên tĩnh. Anh quen thuộc rừng hơn những người kia, anh nghe rõ các loại âm thanh khác nhau. Anh hỏi nhỏ Partridge "Anh nghe thấy không?".

    Lắng tai nge Partridge nghĩ anh nghe thấy tiếng ì ầm đằng xa, phía họ vừa đến, nhưng không biết là gì. Anh hỏi: "Tiếng gì thế nhỉ?".

    "Một thuyền khác đang chạy", Fernandez trả lời: "Cũng còn cách khá xa, nhưng chạy rất nhanh".

    Không trù trừ, mọi người đi vào rừng.

    *

    Lối mòn này không đến nỗi khó đi như con đường rừng từ điểm đậu máy bay trên đường ô tô tới Nueva Esperanza mà Partridge và các thành viên của nhóm đã đi trước đó ba ngày. Rõ ràng lối này có nhiều người qua lại hơn, vì cỏ chỉ hơi rậm một chút và không có chỗ nào mất dấu như đường kia.

    Thế nhưng qua được cũng không phải dễ. Mặt đất gồ ghề rễ trồi lên, và ở những chỗ mềm mềm có thể bị thụt xuống bùn hoặc vũng nước, rất khó nhấc chân.

    "Nhìn cẩn thận rồi hãy bước", Fernandez nhắc mọi người. Anh ta đang đi phía trước, chân bước phăng phăng.

    Partridge hoạ theo, cố làm bộ vui vẻ, phấn chấn: "Chúng tôi không muốn phải cõng ai đâu nhé. Tôi đang toát hết cả mồ hôi!".

    Ai cũng đều thế cả. Cũng như lần họ tới đây, trong rừng nóng ngột ngạt như nồi hầm và càng về trưa càng nóng hơn. Các loài sâu bọ cũng hoạt động mạnh hơn.

    Đầu óc Partridge luôn bận rộn với câu hỏi: Jessica và Nicky sẽ chịu đựng chuyến đi vất vả này được bao lâu? Suy nghĩ một lát, anh cho rằng Jessica có thể trụ được; nàng có quyết tâm và rõ ràng là dẻo dai. Song Nicky có vẻ mệt lắm rồi.

    Lúc đầu Nicky đi gần cuối, rõ ràng muốn ở gần Partridge như lúc trước. Song anh cương quyết bảo nó và Jessica phải đi gần đầu hàng, ngay sau Fernandez. "Để sau, Nicky ạ", anh bảo. "Còn bây giờ chú muốn cháu đi gần mẹ". Nicky nghe lời, với vẻ miễn cưỡng.

    Nếu đúng là chiếc thuyền họ vừa nghe tiéng máy kia chở bọn đuổi theo, Partridge hiểu rằng cuộc tấn công sẽ đến từ phía sau. Nếu điều đó xảy ra, anh sẽ cố hết sức đẩy lui cuộc tiến công, trong khi nhữnng người khác tiếp tục đi. Anh đã kiểm tra khẩu Kalashnikov đang đeo trên vai, để hai băng đạn dự trữ chỗ túi anh có thể dễ dàng lấy ra.

    Partridge lại nhìn đồng hồ; bẩy giờ ba mươi lăm phút. Họ đã đi được gần bốn mươi phút. Nhớ đến cái mốc tám giờ tại điểm hẹn với Aerolibertad, anh hy vọng đã đi được ba phần tư quãng đường.

    Mấy phút sau họ buộc phải dừng lại.

    Nghĩ lại cũng buồn cười, Fernandez là người nhắc mọi người phải cẩn thận trước khi bước, nhưng chính anh ta lại trượt ngã chỏng gọng, chân kẹp trong đám rễ cây đầy bùn. Khi Partridge vội vã chạy đến, Minh đã nâng Fernandez dậy, còn O’Hara đang cố kéo chân anh ta ra; lúc đó Fernandez nhăn mặt vì đau đớn.

    "Có vẻ tôi đã làm hỏng việc", anh ta nói với Partridge. "Tôi xin lỗi vì đã phụ lòng tin của ông".

    Khi đã rút được chân ra, Fernandez thấy đau buốt tận óc khi bước đi. Rõ ràng chân anh bị gãy hoặc trật khớp rất nặng.

    "Nói thế không đúng; anh chưa bao giờ phụ lòng chúng tôi", Partridge nói. "Anh là người dẫn đường, người bạn đường tốt, và chúng tôi sẽ dìu anh đi. Chúng tôi sẽ vứt bớt các thứ đi".

    Fernandez lắc đầu: "Dù có làm thế đi nữa, cũng không còn thời gian. Tôi chưa nói với ông, Harry ạ, nhưng tôi đã nghe thấy tiếng động cơ ở phía sau. Chúng đang đuổi theo và cách chúng ta không xa nữa đâu. Hãy để tôi lại, các ông đi tiếp đi".

    Jessica cũng đến. Nàng bảo Partridge: "Chúng ta không thể để anh ấy lại được".

    "Một người sẽ cõng anh", O’Hara nói. "Tôi sẽ cố làm việc đó".

    "Trong cái nóng như thế này ư? " Fernandez sốt ruột nói. "Anh sẽ không đi nổi qua một trăm mét, và tất cả sẽ bị chậm lại".

    Vừa định phản đối, Partridge chợt hiểu làm như O’Hara nói là vô ích. Fernandez đã nói đúng: không còn cách nào khác hơn là phải bỏ anh lại. Song anh nói thêm: "Nếu có thêm người và có thể được, chúng tôi sẽ quay lại đón anh".

    "Đừng phí thời gian nữa, Harry. Tôi phải nói ngay mấy việc". Fernandez đang ngồi cạnh lối mòn, tựa lưng vào gốc cây. Cây cối rậm quá, không thể đưa anh vào sâu thêm. Partridge và Jessica quỳ xuống cạnh anh ta.

    "Tôi còn một vợ và bốn đứa con", Fernandez nói. "Tôi mong sẽ có người trông nom vợ con tôi".

    "Anh làm cho CBA", Partridge đáp "thì CBA sẽ chịu trách nhiệm việc đó. Tôi đảm bảo với anh, chính thức hứa sẽ làm như vậy. Việc ăn học của lũ trẻ, tất cả".

    Fernandez gật đầu, rồi anh chỉ khẩu M16 anh mang theo, hiện đang để bên cạnh "Anh nên cầm nó theo. Ngoài khẩu anh có, anh có thể phải dùng đến nó. Nhưng tôi không định để chúng bắt sống. Đưa tôi khẩu súng lục".

    Partridge đưa cho anh ta khẩu Browning chín li của anh, sau khi tháo bỏ ống giảm thanh.

    "Ôi, Fernandez!" Jessica nghẹn ngào, mắt đẫm lệ. "Nicky và tôi chịu ơn anh nhiều". Nàng cúi người hôn lên trán anh ta.

    "Vậy thì đi đi" Fernandez giục nàng "Đừng mất thời gian nữa, kẻo sẽ mất những gì đã làm được cho đến lúc này".

    Khi Jessica đứng dậy, Partridge nhoài người, ôm chặt Fernandez và hôn lên hai má anh ta. Phía sau anh, Minh và O’Hara đang đợi để hôn vĩnh biệt Fernandez.

    Partridge đứng dậy, bước đi không ngoảnh lại.

    *

    Ngay khi thấy chiếc xuồng bỏ lại trên bãi gần cửa rừng, và nhận ra nó từ Nueva Esperanza tới, Miguel rất mừng, hắn đã quyết định đi trên chiếc thuyền tới Sion.

    Hắn càng mừng hơn, khi vừa từ trên thuyền nhảy xuống bờ, Ramon chạy đến bên chiếc xuồng và thông báo: "Underhill mortor esta cliente, Elliott ottro frio-fundido" (1).

    Một máy còn nóng tức là những người chúng đang đuổi theo mới vào rừng chưa lâu. Còn chiếc máy bị cháy, đã nguội ngắt cho biết chiếc xuồng đã bị chậm lại và những người trên xuồng đến đây khá muộn.

    Cũng như Miguel, bảy tên thuộc nhóm Sendero đều mang vũ khí đầy đủ. Hắn bảo chúng bằng tiếng Tây Ban Nha: "Bọn sâu mọt tư sản ấy chưa chạy xa được. Chúng ta sẽ đuổi kịp và trừng trị chúng. Hãy hành đông với lòng căm hận của Guzman".

    Chúng lao nhanh vào rừng, reo hò ầm ĩ.

    "Chúng ta đến sớm mấy phút", Rita nói với Oswaldo Zileri, phi công chiếc Cheynne II khi máy bay tới gần Sion, điểm hẹn đầu tiên. Cô vừa mới xem đồng hồ, bảy giờ năm mươi lăm.

    "Chúng ta sẽ lượn và quan sát", ông ta nói: "Dù thế nào đây cũng là nơi ít có khả năng các bạn chị sẽ tới nhất".

    Cũng như hôm qua, cả bốn người trên máy bay - Rita, Crawford Sloane, Zileri và anh chàng lái phụ Felipe nhìn như dán mắt vào tấm màn xanh phía dưới. Họ tìm kiếm dấu hiệu có người, nhất là khu vực đường băng ngắn, hai bên toàn cây, mà cho đến tận khi bay ngay trên nó mới nhìn thấy. Và giống như hôm qua, tuyệt nhiên không có động tĩnh gì.

    Trên lối mòn, Nicky càng thấy khó theo kịp nhịp đi như tra tấn này, Jessica và Minh đang diu nó, mỗi người túm một bên tay vừa lôi, vừa nhấc nó qua những chỗ khó trên đường đi. Cuối cùng có thể sẽ phải khiêng nó, nhưng lúc này mọi người còn phải giữ sức lực còn lại.

    Từ lúc họ chia tay Fernandez đến giờ đã được khoảng mười phút, Partridge đã trở lại vị trí cuối hàng; từ vị trí đó thỉnh thoảng anh nhìn lại phía sau. Cho đến lúc này, vẫn chưa thấy bóng dáng bọn kia đâu.

    Phía trên, vòm lá mỏng dần; ánh sáng lọt qua kẽ lá nhiều hơn. Lối đi rộng hơn, Partridge hy vọng đó là dấu hiệu cho thấy đã tới gần đường băng. Có lúc anh nghĩ nghe thấy tiếng máy bay ở phía xa, nhưng không dám chắc. Anh lại nhìn đồng hồ: bảy giờ năm mưoi lăm phút.

    Đúng lúc đó, từ phía sau vọng lại một tiếng ngắn, đanh gọn, rõ ràng là tiếng súng. Chắc là Fernandez, Partridge nghĩ. Vậy là ngay cả khi dùng khẩu Browning mà Partridge đã cố ý tháo ông giảm thanh, anh thợ dựng kèo nhà đầy nhiệt tình ấy vẫn giúp họ lần cuối - báo cho họ biết bọn đuổi phía sau đã đến gần. Nhưng để xác nhận việc ấy, họ nghe mấy phát súng nổ.

    Có lẽ bọn đang duổi theo họ thấy Fernandez đã chết, nhưng nghĩ là chúng thấy những người khác phía trước nên bắn hú hoạ. Sau đó không hiểu sao tiếng súng im bặt.

    Bản thân Partridge cũng đã gần kiệt sức. Lúc này anh thấy khó tập trung tư tưởng.

    Vào lúc đầu óc đang miên man, anh quyết định, điều mong muốn nhất là thôi không phải làm gì nữa. Khi cuộc phiêu lưu này kết thúc, anh sẽ tiếp tục kỳ nghỉ mà anh vừa mới bắt đầu, rồi đơn giản là biến mất, không gặp gỡ bất cứ ai… Jessica và Gemma là chuyện dĩ vãng. Vivien có thể là tương lai. Cho đến nay, có lẽ anh đối xử với nàng không công bằng; cuối cùng đã đến lúc phải tính chuyện cưới nàng… Hãy còn chưa muộn… Anh biết Vivien sẽ rất thích điều đó…

    Rồi anh cố gắng trở về với thực tại.

    Bỗng nhiên họ thấy mình đã ra khỏi rừng rậm. Đã thấy đường băng trước mặt! Một chiếc máy bay, chiếc Cheyenne đang lượn trên đầu. O’Hara, đáng tin cậy cho đến phút chót, Partridge nghĩ, anh đang lắp viên pháo hiệu màu xanh vào khẩu súng lệnh mà anh mang theo suốt cả chặng đường. Màu xanh nghĩa là: "Hạ cánh bình thường. Không có trở ngại gì".

    Và cũng đột nhiên từ phía sau vang lên hai tiếng súng, lần này nghe gần hơn.

    "Bắn pháo hiệu đỏ, không phải pháo hiệu xanh!" Partridge hét gọi O’Hara. "Hãy làm thật nhanh!". Pháo hiệu đỏ tức là "Hạ cánh càng sớm càng tốt. Chúng tôi đang gặp nguy hiểm!".

    *

    Đã quá tám giờ. Trên chiếc Cheyenne II đang bay phía trên đường băng, Zileri quay lại nói với Rita và Sloane "Không thấy gì cả. Chúng ta qua hai điểm hẹn kia thôi".

    Máy bay đổi hướng. Đúng lúc đó, Crawford gọi: "Khoan đã! Tôi nghĩ tôi nhìn thấy cái gì đó".

    Zileri cho máy bay vòng lại. Ông ta hỏi: "Ở đâu?".

    "Ở dưới kia kìa", Sloane lấy tay chỉ. "Tôi không biết chắc ở chỗ nào. Nó diễn ra trong chốc lát… tôi nghĩ…". Giọng anh nghe cũng có vẻ không cả quyết lắm.

    Zileri cho máy bay lượn tròn. Họ lại căng mắt quan sát mặt đất. Lượn được một vòng, người lái máy bay nói: "Tôi chẳng thấy gì cả. Tôi nghĩ chúng ta nên bay tiếp".

    Đúng lúc đó, pháo hiệu đỏ từ mặt đất bay lên.

    *

    O’Hara bắn phát pháo hiệu đỏ thứ hai.

    "Thế đủ rồi. Họ đã nhìn thấy chúng ta", Partridge nói. Chiếc máy bay đã đổi hướng bay về phía họ. Điều anh cần biết lúc này là máy bay sẽ hạ cánh theo hướng nào, để anh chọn đúng vị trí ở lại chống trả bọn chúng, trong khi những người khác leo vào máy bay.

    Anh nhanh chóng thấy rõ câu trả lời. Chiếc Cheyenne II lượn một vòng rất hẹp, giảm độ cao rất nhanh và sẽ bay trên đầu họ. Sáu đó nó sẽ hạ cánh từ hướng lối mòn xuyên rừng nơi họ vừa nghe súng nổ.

    Mặc dù nghe tiếng súng, nhưng nhìn lại, Partridge vẫn chưa thấy bóng đứa nào cả. Anh chỉ đoán tại sao chúng lại nổ súng. Có lẽ trong khi đi, đứa nào đó trong bọn chúng bắn hú hoạ, hy vọng may ra thì trúng.

    Anh bảo O’Hara: "Đưa Jessica và Nicky ra chỗ đường băng thật nhanh và ở lại đấy với họ. Khi máy bay tới đầu đường phía xa, nó sẽ quay đầu chạy lại, chạy lại gần máy bay rồi tất cả trèo vào. Anh nghe rõ chứ, Minh?".

    "Tôi nghe rõ", Minh trả lời, mắt vẫn dán vào ống kính, điềm nhiền ghi nhìn như anh đã mấy lần làm trong suốt chuyến đi. Partridge quyết định không cần phải lo cho Minh nữa. Anh ta biết cách tự giữ mình.

    Jessica lo lắng hỏi: "Còn anh thì sao, Harry".

    Anh nói với nàng: "Anh sẽ bọc hậu bằng cách bắn chặn lối mòn. Khi mọi người đã lên hết máy bay, anh sẽ nhập bọn. Bây giờ đi đi!".

    O’Hara vòng tay dìu Jessica lúc này đang nắm bàn tay còn lành của Nicky và họ vội vã chạy về phía máy bay.

    Ngay lúc họ vừa đi xong, Partridge ngoảnh lại phía rừng thì thấy bóng một vài đứa đang tiến về phía đường băng, tay giương súng.

    Partridge nhoài người nấp sau mô đất gần đó. Anh nằm xấp, khẩu Kalashnikov để trước mặt, đưa những bóng di động vào thước ngắm. Anh siết cò, và trong tiếng súng nổ thấy một đứa gục xuống, những đứa khác lao tìm chỗ nấp. Cũng lúc đó, anh nghe tiếng máy bay lướt thấp trên đầu không cần ngoảnh lại, anh biết hiện giờ nó đang hạ cánh.

    "Họ kia rồi", Crawford Sloane hét lên vì quá hồi hộp. "Tôi nhìn thấy Jessica và Nicky!". Máy bay vẫn đang còn chạy trên đường băng, bánh lướt nhanh trên mặt đường gồ ghề.

    Điểm cuối đường băng vụt gần lại và Zileri hãm phanh rất gấp. Khi máy bay hết đà chạy, viên phi công vẫn phanh hãm và để một động cơ hoạt động, kèm đầu máy bay quay ngược hướng vừa hạ cánh. Sau đó, dùng cả hai động cơ để tăng tốc, ông ta cho máy bay chạy nhanh dọc đường băng về phía đối diện.

    Chiếc Cheyenne II dừng lại đúng nơi Jessica, Nicky và O’Hara đang đợi. Felipe, người lái phụ đã rời chỗ ngồi và chạy về cuối máy bay. Từ bên trong thân máy bay, anh ta mở cửa và hạ thang xuống.

    Nicky, rồi Jessica và O’Hara trèo lên thanh; mấy cánh tay giơ ra, trong đó có tay Sloane kéo giúp họ vào hẳn bên trong. Minh xuất hiện đằng sau mọi người và lom khom trèo vào.

    Trong khi Sloane, Jessica và Nicky đang xúc động ôm ghì lấy nhau, O’Hara gọi to, giọng hổn hển: "Harry đang ở phía trước. Chúng ta phải đón anh ấy. Anh ấy đang bắn chặn bọn khủng bố".

    "Tôi thấy rồi", Zileri bảo. "ngồi cho vững nào". Ông ta lại tăng ga và máy bay chạy vụt về phía trước.

    Đến cuối đường băng, ông ta lại cho máy bay lộn đầu lại. Lúc này máy bay nằm đúng chiều vừa xuống, sẵn sàng cất cánh, nhưng cửa lên vẫn còn để mở. Qua cửa máy bay để ngỏ, có thể nghe thấy súng nổ. "Bạn của các vị sẽ phải chạy thật nhanh tới máy bay", giọng Zileri nghe khẩn thiết: "Tôi muốn chuồn khỏi đây ngay".

    "Anh ấy sẽ làm như vậy", Minh nói. "Anh ấy đã thấy chúng ta và thế nào cũng tới".

    *

    Partridge đã nghe và nhìn thấy máy bay. Liếc vội về phía sau, anh biết nó đã cố đến thật gần chỗ anh. Khoảng cách giữa anh và máy bay độ một trăm mét. Anh có thể chạy khom người thật nhanh tới máy bay. Song trước hết anh phải vẩy đạng vào phía đường mòn trong rừng để chặn lực lượng Sendero có thể phóng đến. Mấy phút vừa rồi, anh thấy bóng mấy thằng nữa, anh nổ súng và thấy một tên ngã nhào. Bọn còn lại đang nấp sau những thân cây. Một loạt đạn sẽ ghìm chúng ở đó, và đủ thời gian để anh chạy đến được máy bay.

    Anh vừa tra băng đạn mới vào khẩu Kalashnikov, siết mạnh tay cò, anh bắn xối xả dọc hai bên đường mòn. Từ lúc nổ súng, lòng say mê chiến trận vốn có trong anh trỗi dậy… làm anh ngây ngất… nó làm chất adernalin chảy trong huyết quản, nước dịch trào…một thứ nghiện ngập đến điên rồi, phi lô gich trước âm thanh và cảnh sắc chiến tranh…

    Bắn hết băng đạn, anh vứt súng, nhỏm dậy chạy, cúi gập người thật thấp. Chiếc máy bay đang ở trước mẳt. Anh biết anh sẽ thoát!

    Partridge chạy được một phần ba đoạn đường thì bị đạn vào chân. Anh khuỵu ngay lập tức. Mọi việc diễn biến quá nhanh, anh phải mất mấy phút mới hiểu được chuyện gì xảy ra.

    Viên đạn xuyên qua khoeo chân phải, làm vỡ đầu gối. Anh không thể bước được nữa. Cái đau khủng khiếp, hơn cả cái đau nhất mà anh tin là có thể có, lan toả khắp cơ thể. Vào lúc ấy, anh biết không bao giờ anh còn có thể đến được chỗ máy bay đang đợi. Anh cũng hiểu không còn thời gian nữa. Máy bay sẽ phải cất cánh. Còn anh sẽ phải làm cái việc mà trước đó nửa giờ Fernandez đã làm.

    Thu hết sức lực còn lại, anh nhỏm người ra hiệu cho chiếc Cheyenne cất cánh. Điều quan trọng lúc này là mọi người hiểu được ý anh.

    *

    Minh đứng ghi hình ở cửa máy bay. Anh đang quay cận cảnh Partridge và ghi được giây phút khi anh trúng đạn. Felipe, người lái phụ đứng cạnh Minh.

    Felipe gọi với vào trong. "Anh ấy trúng đạn rồi! Tôi nghĩ bị nặng đấy. Anh ấy đang vẫy bảo chúng ta đi!".

    Từ trong máy bay, Sloane nhoài người ra cửa. "Chúng ta phải đón anh ấy vào!".

    Jessica kêu to: "Đúng, ôi, đúng đấy!".

    Nicky hoà theo: "Chú Harry chưa vào thì đừng bay vội!".

    Chính Minh, người am hiểu thực tế của chiến tranh nói: "Không được đâu! Không có đủ thời gian".

    Qua ống kính, Minh đã thấy lực lượng Sendero đang tới gần. Vài thằng đã đến được mép ngoài đường băng, đang vừa chạy vừa nổ súng. Đúng lúc ấy, mấy viên trúng vào máy bay.

    "Tôi bay đây", Zileri nói. Ông ta đã hạ thấp phần cánh nắp phía sau chuẩn bị cất cánh, bây gờ ông đẩy tay ga về phía trước. Minh mang máy quay ngã giúi vào trong. Felipe cũng thụt vào và đóng cửa lại.

    Khi máy bay đã đủ tốc độ, Zileri kéo nhẹ cần điều khiển. Chiếc Cheyenne II rời đường băng bay lên.

    Jessica và Nicky đang ôm nhau khóc. Sloane ngồi mắt lim dim, lắc đầu như thể không tin vào những điều anh vừa thấy.

    Minh tỳ máy vào cửa sổ, ghi những hình ảnh cuối cùng dưới đất.

    *

    Nằm trên mặt đất. Partridge nhìn chiếc Cheyenne II cất cánh bay đi.

    Và anh còn thấy một cảnh khác nữa. Trong cơn đau đớn đến mờ mắt, anh như thấy bóng người mặt bộ đồng phục của hàng không Alitalia đang đứng ở cửa máy bay, mỉm cười vẫy anh.

    Nước mắt bấy lâu nén lại trong anh bắt đàu trào ra. Sau đó, anh bị trúng thêm nhiều vết đạn và chết.

    *

    Nhìn xuống xác Harry Partridge, Miguel thề sẽ không bao giờ để diễn lại thất bại như hôm nay. Ở giai đoạn đầu của vụ bắt cóc, tuy rất phức tạp và công phu, hắn đã thành công đến mức khó tin. Thế mà vào giai đoạn hai, dễ dàng và không phức tạp bằng, thì hắn lại thất bại thảm hại.

    Bài học rõ ràng là: không có gì dễ dàng và không phức tạp cả. Đáng ra hắn phải học bài học đó từ lâu. Nhưng từ giờ phút này trở đi, hắn sẽ ghi nhớ.

    Sau đây làm gì?

    Trước hết hắn phải rời Peru. Hắn có thể mất mạng nếu ở lại đây; Sendero Luminoso sẽ không để yên việc này.

    Hắn cũng không thể trở lại Nueva Esperanza. Cũng may, hắn chẳng phải quay lại đó làm gì. Trước khi rời Nueva Esperanza, lường trước những chuyện có thể xảy ra, hắn đã nhét toàn bộ số tiền hắn có, trong đó có gần năm chục ngàn đôla nhận của Antonio Salavery vào lần cuối cùng hắn tới Liên hợp quốc, vào chiếc bao đựng tiền mà hắn đang đeo. Hắn cảm thấy cồm cộm, phải cái hơi khó chịu, nhưng làm hắn yên tâm.

    Với số tiền này, hắn thừa sức rời khỏi Peru và trở về Colombia.

    Bây giờ hắn định luồn vào rừng. Cách đây hai lăm cây số có một chỗ đỗ máy bay - không phải hai nơi hôm nay chúng đến - là nơi các máy bay chở ma tuý do phi công Colombia lái thường lên xuống. Hắn biết có thể dúi tiền để họ chở hắn về Colombia, và một khi đã ở đó, hắn sẽ được an toàn.

    Nếu có đứa nào trong đám từ Nueva Esperanza kia dám ngăn cản, hắn sẽ giết chết nó ngay. Nhưng hắn không tin là có đứa nào sẽ làm như vậy. Trong số bảy thằng cùng đi với hắn đến đây, chỉ có bốn còn sống sót. Ramon cùng hai hằng nữa đã bị bắn chết bởi tay cái thằng nước ngoài chó chết đang nằm dưới chân hắn đây. Không biết nó là thằng nào, nhưng rõ ràng là một tay súng giỏi.

    Ngay cả ở Colombia, thất bại ở Nueva Esperanza cũng sẽ ảnh hưởng đôi chút đến tiếng tăm của hắn, song cũng không lâu. Và không như Sendero Luminoso, các cácten ma tuý Colombia không đến nỗi cuồng tín. Táo bạo thì có đấy, song bình thường họ thực dụng và lo làm ăn. Miguel là tên khủng bố vô chính phủ rõ ràng đáng bỏ tiền ra thuê. Các cácten có nhu cầu sử dụng đến hắn.

    Gần đây, hắn được biết họ đang thực hiện một chương trình dài hạn biến một số nước nhỏ và trung bình thành nơi ngự trị của cácten ma tuý như ở Colombia. Hắn tin chắc dự án này sẽ cho hắn dịp thi thố tài năng đặc biệt của hắn.

    Colombia không còn là một thể chế dân chủ nữa. Bề ngoài có vẻ vẫn còn đấy, song ngay cả những cái đó cũng đang biến mất dần khi các vụ giết chóc theo lệnh của những ông chủ cácten tỷ phú hùng mạnh đã loại dần cái thiểu số tin vào những con đường cũ.

    Để biến những nước khác thành những Colombia mới, cần phải hối lộ các nhân vật chóp bu hoặc gần chóp bu trong chính phủ của những nước này; hối lộ sẽ tạo điều kiện cho các cácten ma tuý có thể mò vào hoạt động ở đó. Tiếp theo, bằng những bước đi âm thầm, xảo quyệt, các cácten sẽ dần dần mạnh hơn cả chính phủ sở tại. Sau đó, như ở Colombia không gì có thể đảo ngược được nữa.

    Hiện nay người ta nói đến bốn nước có khả năng sẽ được "Colombia hoá". Đó là Bolivia, Elliott Salvador, Guatemala và Jamaica. Rồi sau sẽ có thêm những nước khác được đưa vào danh sách.

    Với khả năng và kinh nghiệm sống sót độc đáo, Miguel nghĩ, có thể hắn sẽ bận rộn suốt trong thời gian tới.

    __

    1 Một máy nóng, còn chiếc kia lạnh,

    Hết

    Nguồn: Bản tin chiều. Tiểu thuyết của Arthur Hailey. Nguyễn Thành Châu & Phan Thanh Hảo dịch từ nguyên tác The Evening News. NXB Lao động, 2007.

     

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập33,725,800

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/