Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,815,698

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Vài nhận xét về đề án văn hóa của GS Phạm Đình Ái

Vũ Hạnh

  • Thứ tư, 10:40 Ngày 02/11/2016
  • Tuy còn khá nhiều khoảng trống, nhưng gian phòng họp của trường Quốc Gia Âm Nhạc, sáng ngày 19/5/1964, đã hội gần đủ nhân vật đại biểu cho giới văn hóa Sài Gòn.

    Sau bài diễn văn khai mạc của Phó Thủ tướng Đỗ Mậu đặc trách văn hóa xã hội, nhấn mạnh về sự cần thiết xây dựng nền văn hóa mới và sự xúc tiến tổ chức đại hội văn hóa toàn quốc, giáo sư Phạm Đình Ái, đại diện văn phòng của Phó Thủ tướng, đăng đàn trình bày “Đề án tổ chức Đại Hội Văn Hóa và thành lập Viện Văn hóa Việt Nam”.

    Đề án gồm có ba phần: phần nhất trình bày lập trường, gồm hai tiết mục: nhận định tình hình văn hóa hiện tại và các quan điểm về một tổ chức văn hóa, phần hai là những nét lớn về sự tổ chức Đại hội Văn hóa, và phần ba là tổ chức Viện Văn hóa Việt Nam.

    Trong phần thứ nhất, trình bày lập trường, giáo sư họ Phạm nhận định tình hình văn hóa hiện tại, đã xác nhận rằng nền văn hóa ấy nghèo nàn, không có tổ chức, không có hướng đi, chịu nhiều ảnh hưởng ngoại lai, lại có tính cách vụ lợi, không vụ dân tộc. Về các quan điểm tổ chức văn hóa, ông thấy có hai quan điểm thái cực: quan điểm văn hóa thuần túy với văn hóa cứu quốc. Giáo sư Ái bênh vực quan điểm sau này và thấy văn hóa cần được chỉ huy.

    Về phần thứ hai và thứ ba, không phải là phần mà ông chú trọng, nên chỉ trình bày bằng những nét lớn: tổ chức đại hội trong vòng 3 ngày, họp độ 300 đại biểu cử theo đơn vị tỉnh hoặc thị xã, thảo luận về các vấn đề đường lối, lập Viện Văn hóa, xây dựng đề án công tác, kinh phí độ 400 ngàn. Còn Viện Văn hóa gồm có Hội Đồng giám hộ ở trên, thành phần là các vị Tổng Bộ trưởng, và Viện, gồm có Viện trưởng và những ủy viên Trung ương do cuộc Đại hội bầu lên từ cấp xã thôn, một ban Thường vụ điều khiển sinh hoạt 3 ngành: Văn học, Khoa học, Nghệ thuật. Ban Thường vụ này được chọn trong những ủy viên Trung ương và danh sách họ phải được Hội đồng Giám hộ - tức là chính quyền - chấp thuận.

    Kết thúc đề án, giáo sư tỏ nỗi hoài nghi công cuộc tương lai vì ông nhận thấy hai triệu bất tường: một là họ Ngô có đủ khả năng mà vẫn không thành lập được một Hội đồng Văn hóa Việt Nam, hai là nhà báo có người đã đem so sánh công trình lập Viện với một dự án chơi… trăng.

    Qua sự trình bày đề án của giáo sư Phạm Đình Ái, người nghe ai cũng đồng ý rằng ông là người hết sức nhiệt thành. Phải thấy tất cả gay gắt của ông khi chỉ trích nền văn hóa thuở Ngô triều bằng một giọng nói rất xa cách sự thân thiện, phải thấy vẻ mặt của ông, thái độ của ông, người ta mới ý hội hết được sự tha thiết đối với văn hóa có thể làm cho một người trở nên nghiêm khắc đến mức độ nào. Ngoài lòng nhiệt thành mà chúng ta nên “kính nhi viễn chi”, giáo sư Ái còn một quan điểm rất đáng tôn trọng, đó là lập trường dân tộc của ông khi chỉ trích những hình thức văn hóa vong bản trong chín năm qua. Ông đã nhìn thấy những nguồn văn hóa, trong chế độ cũ, tiếp nhận văn học nghệ thuật nước ngoài theo một tinh thần không phân tốt xấu, trong một trạng thái thụ động, nô lệ, khiến cho thanh niên ngày nay chịu ảnh hưởng ấy, sống vội sống vàng, theo cái chủ nghĩa ích kỷ và lao đầu vào những cảnh cuồng dục, tôn thờ những Presley, Halliday, múa rối theo những điệu “tuýt” dâm dật, mọi rợ, và tạo nên những quái thai dơ bẩn theo kiểu Saigon by night…

    Tuy nhiên những mối cảm tình trọng hậu mà chúng ta luôn có sẵn mỗi khi nói về giáo sư họ Phạm vẫn không ngăn cản chúng ta xác nhận một sự thực này: vấn đề văn hóa quá sức lớn lao đã gây nên nhiều khó khăn quan trọng cho bản đề án, và giáo sư Ái dù có nhiệt tình đối với văn hóa, tha thiết đối với dân tộc bao nhiêu, vẫn không thể làm tròn được nhiệm vụ nặng nề cấp trên giao phó.

    Nguyên nhân căn bản của thất bại này bắt nguồn ở hai điểm chính sau đây: tác giả của bản đề án không nắm thật vững tình hình văn hóa hiện tại và không có một quan niệm thật rõ về một chủ trương văn hóa dân tộc.

    Vì không nắm vững tình hình cho nên trong phần nhận định, tác giả chỉ cho chúng ta một bản phác họa hết sức mơ hồ về các sinh hoạt trước mắt. Mơ hồ, là vì trong lúc xét định sản phẩm văn học, tác giả chia ra bốn loại như sau: a) Sách giáo khoa, b) Các loại sách khác, c) Loại sách bình dân, d) Các văn nghệ phẩm khác. Phân loại như thế quả là một sự kỳ quái. Dù các người nghe có thể không muốn thắc mắc vì sao các sách giáo khoa lại được xem như “sản phẩm văn học”, thì họ cũng phải tìm hiểu các loại sách khác là loại sách gì? Tuy không một ai nghĩ lầm là sách dạy về nhu đạo hay khoa sản dục có thể được xếp trong hàng ngũ đó, nhưng thật khó lòng ăn ngon ngủ yên với cái tiếng “khác” ấy, ở loại thứ tư, lại được xuất hiện trong câu “văn nghệ phẩm khác” làm cho người ta thêm nỗi băn khoăn. Vì sao? Vì giáo sư Phạm Đình Ái đã lầm lộn hết danh từ: trong phần hiện tình văn hóa thì ông chỉ nói sản phẩm văn học và trong sản phẩmvăn học thì ông nói sách giáo khoa, các loại sách khác, và cả nghệ phẩm!

    Một người uyên bác như tác giả bản đề án không phải là không nắm vững danh từ. Nhưng có lẽ ông chỉ hiểu rõ chúng - bọn danh từ ấy - ở trên sách vở nhiều hơn ngoài đời. Vì vậy, khi cần đảo một cái nhìn ra ngoài thực tế để làm một cuộc tổng hợp thì ông phải thấy bối rối, và từ bối rối người ta bước sang nhầm lẫn không cần giấy có thông hành. Nếu có kinh nghiệm tối thiểu về sự thuyết trình - nhất là thuyết trình về văn hóa là một phạm trù có nhiều khái niệm chưa được nhất trí thừa nhận - thì giáo sư Ái đã giới hạn trước vấn đề để khỏi sụp sỉa trên sự khúc khuỷu danh từ.

     Sự nắm chưa vững tình hình thực tế ở giáo sư Phạm Đình Ái, còn được chứng tỏ trong cách diễn ý, vốn không có gì là cụ thể hết. Ông viết: “Khủng hoảng tinh thần vì những tai nạn thần bí”, (chẳng ai biết tai nạn ấy thế nào) “Về giá trị suông cũng chẳng có gì” (đã suông, thì tất chẳng có gì rồi) “Hình như thiếu một luồng gió để làm nẩy nở nguồn cảm” (chưa ai dám biết là ngọn gió gì, trong lúc tác giả vẫn còn ấp úng đoán chừng như thế)…

    Vì thiếu thực tế nên khi nói về quần chúng, giáo sư tỏ ra hết sức lạc lõng trong các ngôn từ. Ông gọi sách vỡ cho bình dân đọc là thứ “văn hóa hạ cấp” với một giọng nói rất đỗi trang nghiêm, và sự đọc sách của họ là việc “nhai đi nhai lại trong lúc nhàn rỗi”! Những kẻ đa nghi có thể nghĩ rằng tác giả của bản đề án đã tưởng quần chúng cũng là một loại trâu bò!

    Thiếu hẳn thực tế, nên giáo sư Phạm Đình Ái đã mượn danh từ to lớn để che đậy sự trống trải của mình. Nói một cách khác, giáo sư muốn dùng thiện chí thay cho thực lực nên mượn uy thế từ ngữ để xóa bỏ bớt tình hình.

    Ông đã nói đến nhiều ý rất mực quan trọng mà các người nghe không sao hiểu hết nội dung. Chẳng hạn: “Một nền văn hóa tổng hợp được khai sinh”… “màu sắc dân tộc và nhân bản cố hữu nhưng mang thêm tính chất tiến bộ”… “kiến tạo xã hội trên căn bản đạo đức cách mệnh”… “bảo vệ cái gì quí báu nhất của chúng ta là ở một ý thức hệ, một vũ trụ quan và một nhân sinh quan!” Tóm lại, những lời khá màu mỡ này tự nó vốn không có nghĩa gì hết, hoặc đang có một ý nghĩa hoàn toàn ngược lại, đúng như một câu phê phán quá khứ trong bài diễn văn khai mạc của Phó Thủ tướng đặc trách Văn hóa Xã hội: “Những danh từ đó chẳng những không đoàn kết được mọi người mà lại còn gây chia rẽ thêm nữa”!

    Nhưng thiếu thực tế không chỉ đưa đến các nhược điểm trên, mà nguy hại nhất là còn làm cho tác giả đề án có một nhận định phiến diện đối với tình hình văn hóa.

    Xét về phương diện bộ môn ông không nhìn thấy được hết toàn bộ sinh hoạt văn hóa cũng như không thấy khả năng riêng biệt của từng bộ môn với ưu và khuyết điểm của nó. Nói về văn học, cũng không nhìn thấy những sự diễn biến trong ngành tiểu thuyết, thi ca, ông không nhận được bước đi lên xuống của ngành biên khảo, dịch thuật, ông không theo dõi các cuộc tranh luận chung quanh một số vấn đề văn học rất là thời thượng. Và những vấn đề quyết định cho sự phát triển văn học như việc xuất bản, tiêu thụ ông cũng không có một ý kiến nào. Thậm chí đến những giải thưởng văn học, đến những cơ quan văn hóa đã có, hiện có, hoạt động ra sao, kết quả thế nào, ông cũng không có một lời phê phán. Thế thì làm sao ông lại có thể trách cứ các nhà văn hóa của ta không biết phân biệt tốt xấu khi tiếp nhận những văn hóa của người? Nói về nghệ thuật, ông không nhìn thấy điện ảnh Việt Nam đã đi đến đến đâu, sân khấu cải lương phát triển thế nào, và tân nhạc, và hội họa, những bước thăng trầm cùng những nỗ lực của nó ông cũng tỏ ra không nghe, không thấy, không biết một cách chu đáo như kẻ phòng gian bảo mật hoàn toàn. Thế thì làm sao mà ông bảo nó không có hướng đi, nó vô tổ chức?

    Nhưng điểm đáng phàn nàn hơn cả là giáo sư Phạm Đình Ái trong khi hô hào văn học phải có tính cách tranh đấu, đã quên nhìn thấy bao nhiêu năng lực đấu tranh của các người làm văn hóa miền Nam trong mấy năm qua. Những sự tranh đấu của họ không phải là cuộc phát biểu nồng nhiệt trên các diễn đàn đặc biệt an toàn, mà là nhà tù, trại giam, chia ly, tang tóc. Bao nhiêu tờ báo đã bị đóng cửa, bao nhiêu người bị giày xéo, bao nhiêu kẻ phải đào vong vất vả xứ người? Có ai đã đếm được những sinh mạng thiệt thòi, những tài sản bị phá tán và những cuộc đời đã làm cho suy mòn kiệt quệ trên đường văn hóa này chưa? Cho đến những sáng tác phẩm ra đời, giáo sư cũng không rõ được là những công trình nào bị kiểm duyệt chặt đầu, chặt tay, moi móc ruột gan cho phù hợp với ý muốn chế độ, và còn biết bao công trình bị giam giữ lại để cho mất hẳn tính chất thời gian, cho tác giả chúng thối chí ngã lòng? Đáng lẽ giáo sư nên bỏ chút ít thì giờ điều tra sinh hoạt của phòng kiểm duyệt trong mấy năm qua, ông sẽ được gặp vô số oan hồn tác phẩm và những thi hài nghệ thuật trên khắp cánh đồng văn hóa mà ông nhận thấy tiêu điều.

    Những tranh đấu ấy không chỉ diễn ra một mặt, một chiều mà thể hiện dưới thiên hình vạn trạng. Có những ký giả chịu đựng cuộc sống nghèo nàn với cảnh vợ con nheo nhóc để khỏi uốn cong ngòi bút nịnh hót bè lũ độc tài, có kẻ viết ngót hai mươi trang giấy để cố lồng vào đôi ý tranh thủ tự do, có kẻ đã phải bỏ công hàng tuần để theo dõi các giờ giấc, dùng mọi thủ thuật hầu mong qua mắt kiểm duyệt một đôi bài báo. Ông không vào được những gian phòng hẹp tồi tàn để thấy những kẻ ngủ gục trên trang giấy viết nửa khuya, sau ngày làm lụng cực khổ, tuy chẳng bao giờ nhận được món tiền bút phí của một tòa soạn nghèo nàn, vẫn cố mỉm cười vui vẻ dù ở bên trong ruột xót gan bào. Ông cũng không chứng kiến được những cảnh nhà báo phải bị đổi bài vào giờ phút chót phải thức trắng đêm để xóa, để cắt những gì không hợp ý trên trong trang tạp chí đã in xong cho kịp phát hành. Ông cũng không vào được những nhà in bừa bãi, tối tăm để thấy những thợ sắp chữ bỏ cơm cho kịp lên khuôn, những kẻ mồ hôi nhễ nhại quần quật bên lò đúc chữ nóng bỏng cho báo khỏi ra lỡ chuyến, và trong mệt mỏi, có kẻ ngồi trên máy in đã để tay mình bị những răng cưa nghiền nát… Nỗ lực và hy sinh ấy, vốn thuộc vào loài không tuổi, không tên, những người hờ hững đâu có lưu ý làm gì!

    Nhưng người có một chút lòng văn hóa tất phải thông cảm dễ dàng, đâu phải chờ đợi những lời kể lể?

    Trong biết bao người văn hóa mà ta tiếp xúc hằng ngày, có thể tìm thấy nơi họ những giá trị mới khiến họ cách xa ngàn dặm với bọn bồi bút vô lương mà tiếc thay, không thấy một người có nhiều nhiệt tình cách mạng như giáo sư Ái nêu lên trong bản đề án của mình.

    Với sự quen biết rộng rãi hẳn giáo sư đã có dịp nhìn thấy một vài trường hợp về các con người văn hóa đáng để cho ta suy ngẫm. Giáo sư có thể không quen tiếp xúc lớp trẻ đông đảo để thấy tinh thần bền bĩ của nhóm Sáng Tạo dù phải chết đi sống lại nhiều phen cũng vẫn mỗi ngày mỗi gắng cho thêm mới mẻ, công trình sáng tác công phu, nhất trí của nhóm Quan Điểm với cái phong thái sinh hoạt độc đáo của họ, những sự xoay xở gian nan của nhóm Thời Mới trong những điều kiện thiếu thốn vẫn tìm mọi cách giới thiệu tác phẩm của mình và thay đổi hẳn một quan niệm về xuất bản, ý chí cầu tiến của nhóm Giao Điểm đã được xây dựng bằng những bước đầu vất vả thành một cơ sở văn học có đủ tư thế theo đuổi dài lâu, thái độ gan dạ của nhóm Đại Nam Văn Hiến hoàn toàn thiếu thốn tiện nghi tối thiểu đã không ngừng nghỉ phổ biến công trình sáng tạo. Tưởng ông phải biết hơn nhiều kẻ khác về nhóm Đại Học xứ Huế suốt mấy năm liền đã xây dựng tờ tạp chí công phu, đã tập hợp được nhiều người có đủ tài năng và thừa thiện chí, không hề mệt mỏi trong sự sáng tác, biên khảo, dịch thuật, gầy tạo biết bao công trình hữu ích về văn, triết, sử, góp phần xứng đáng vào những công cuộc phát triển văn hóa ngày nay. Làm sao có thể kể hết tất cả sinh hoạt của những tổ chức và những cá nhân bàng bạc trong khắp các ngành văn hóa?

    Nhưng công trình của họ, dù hay hoặc dở, dù tốt hoặc xấu, đều là cố gắng mỏi mòn của thần xác họ trải qua bao năm, để làm cho nền văn hóa ở đây có một hình hài và một sự sống. Có thể giáo sư không quen biết với lớp trẻ, nhưng còn lớp người tuổi tác, giáo sư có thể tìm gặp dễ dàng, hoặc là giáo sự đã từng quen biết họ rồi nhưng không còn nhìn thấy họ vì đang bận tâm nói chuyện văn hóa cao xa.

    Trường hợp cụ Vi Huyền Đắc, tuổi ngoại lục tuần, mỗi sáng kiên nhẫn đón chờ xe buýt để tới xưởng chế quạt trần của một tư nhân làm việc - nhưng nay lại thất nghiệp rồi - cốt để mỗi ngày thừa một buổi chiều mà theo đuổi ngành văn học. Tuổi tác và sự thiếu thốn không làm cho nhà soạn kịch lão thành chán nản, ông vẫn hàng ngày theo dõi sáng tác của lớp nhà văn trẻ tuổi để khích lệ họ, và vẫn hàng ngày dịch sách đăng lên nhật báo, dù có nhiều khi không lấy được một đồng nào. Trường hợp ông Nguyễn Hiến Lê từ chối một địa vị tốt để giữ cho ngòi bút mình độc lập không bao giờ dứt bệnh hoạn, mà vẫn không ngày nào ngừng làm việc, tự khép mình vào một kỷ luật chặt chẽ, để dịch thuật, viết sách từ sáng đến chiều mà vẫn cố dõi theo tình hình chính trị, giáo dục, văn học, để có phản ứng kịp thời. Trường hợp của thi sĩ Vũ Hoàng Chương ốm yếu, bất chấp lưới giăng mật vụ công an, hiên ngang lên tiếng ca mừng ngọn lửa từ bi chói rạng trên mình hòa thượng tự thiêu, trường hợp của bà Song Thu tuổi tác, bệnh hoạn, chối từ tiền bạc dồi dào đưa đến từ nguồn bất chính để ngồi miệt mài chép thuê Kinh Dịch và viết cho báo hàng ngày với tiền nhuận bút nghèo nàn. Và còn biết bao là những trường hợp tương đồng như thế, ở trên giải đất miền Nam?

    Những người không chịu đầu hàng áp bức, không chịu để người mua chuộc bằng tiền, không để trở lực khuất phục, và không chịu ngừng ttheo đuổi lý tưởng văn hóa của mình, không thể bảo họ là không tranh đấu. Với ho, chỉ có mỗi một vấn đề: tranh đấu cho ai? Một khi lẽ phải sáng ngời như lửa tự thiêu thì kẻ tưởng mền yếu nhất cũng biết bất chấp bạo tàn.

    Với họ, cũng không thể nào bảo rằng không có hướng đi. Dù sai hay đúng, thì ai chẳng có con đường dấn bước của mình? Người ta có thể đề nghị với họ về một con đường thích hợp, khi chính kẻ đề nghị ấy đã biết rõ ràng chính nghĩa ngả lối mình đi, và biết nỗi niềm có thể xẻ chia về phần của họ.

    Những điều bày tỏ trên đây có thể phần lớn thộc về một cái dĩ vãng mà giáo sư Phạm Đình Ái không mấy cảm tình nên không biết rõ. Nhưng sau ngày 1/11/1963, tình hình văn hoá cách mạng ra sao, trên nửa năm trời sôi nổi, chúng ta cũng không thấy được giáo sư ghi nhận rõ ràng. Làm sao giáo sư có thể không nhìn rõ sự sinh hoạt phồn thịnh trong ngành báo chí sau ngày súng nổ, và trên xác báo chất chồng người dân đạt được tự do đến mức độ nào? Làm sao ông chẳng nhìn thấy phong trào văn nghệ sôi nổi trong các tầng lớp học sinh, sinh viên, trong những đoàn thể tôn giáo nói lên ý chí đòi hỏi tự do, tha thiết chừng nào? Trong lúc công kích những sự sai lầm, ông đã quên hẳn những phần tích cực mà súng cách mạng đã làm thức tỉnh trong tâm hồn họ. Nếu phim Sài Gòn by night là một công trình vụ lợi dơ bẩn, thì Lòng tin trước bạo lực của họ lại đáng cho ta hoan nghênh. Nếu tuồng cải lương quá thiên về chuyện tình, tiền, nước mắt thì những tuồng tích kịp thời: Nắng lên điện Phật, Tiếng chuông chùa Xá Lợi v.v… dù không gặt hái thành công vẫn bắt buộc người chủ trì văn hóa lưu tâm để thấy rõ hơn con đường phát triển.

    Và nếu mỗi tuần ta phải nghe những bài hát kêu gọi yêu nhau trơ trẽn trên Đài, thì may mắn thay, ta vẫn còn thấy phấn khởi qua những nhạc phẩm phát huy thành tích Cách mạng vừa rồi, còn thấy niềm tin qua những bài hát ca ngợi quê hương, tổ quốc mến yêu, qua những ý nhạc, lời thơ rộn ràng tuổi trẻ, chứa chan hi vọng ngày mai.

    Nếu muốn nói đến khía cạnh sa đọa, ông nên nhận định sau ngày tiếng súng Cách mạng, những cảnh sa đọa phát hiện thế nào, khác biệt ngày trước ra sao, và bởi vì đâu? Ông sẽ thấy được sự phồn thịnh của chuyện dâm ô hạ cấp, thấy sự nẩy nở dồi dào của loại kiếm hiệp hoang đường, và sự kích động ồn ào của các hình thức nghệ thuật vong bản. Một người mô phạm như ông chắc chưa bao giờ nhìn thấy những loại sách vở quay rô-nê-ô kích động dục tình được dán kín lại bằng keo hóa học, bán kín trên các vỉa hè đại lộ, và cũng không sao vào được một số “trụ sở” thanh niên “thời đại” để xem lối sống “nghệ thuật” của họ như thế nào. Những sự kiện nóng hổi, gồm hai mặt ấy, nói lên một sự giằng co quyết liệt của nền văn hóa dân tộc, ý thức được sự độc lập và sức trưởng thành của mình, với nền văn hóa ngoại lai cố bám vào các nền tảng của thực dân cũ để lại, luôn luôn khai thác bản năng hạ cấp con người và làm tách rời văn hoá ra khỏi sinh hoạt nhân dân. Không nhìn thấy hai mặt ấy trong từng biểu hiện văn học nghệ thuật, trong từng cá nhân văn hoá, trong từng tác phẩm của họ, làm sao có thể giúp họ đi về một ngả lối nào, làm sao biết mình phải đứng nơi đâu, mình phải làm gì. Một sự chỉ trích dù có nhiệt thành đến mức độ nào, nếu không có một đối tượng thích đáng, dễ biến thành tự chỉ trích. Phát triển xa hơn, đó là một sự phá hoại, và xa hơn nữa, là sự vong ân.

    Nghe qua dự án của ông về phần nhận định tình hình, người ta thấy rõ là ông không đọc sách Việt hiện đại được nhiều, để khỏi nói rằng ông không hề đọc quyển nào. Ngại rằng có kẻ hỏi ông về các khuynh hướng văn học, về các quan điểm nghệ thuật, về các trào lưu văn hóa hiện nay cùng các tác phẩm tiêu biểu của nó, ông sẽ trả lời thiếu sót hơn là nói về một vài ngôi sao chưa thấy xuất hiện trên vũ trụ này.

    Thực ra, ông vẫn có thể hiểu những nét lớn về nền văn hóa về sự phát triển văn nghệ của ta một cách dễ dàng không phải tốn kém bao nhiêu thì giờ, nếu ông chịu khó điểm qua thư mục hết sức đủ đầy của tập Tin Sách mà sau ông Nguyễn Ngọc Linh, Hội Bút Việt trải qua khó nhọc để cố duy trì hàng tháng, từ mấy năm nay. Ông đã hiểu rõ hơn bất cứ ai rằng mọi hoạt động đều cần kiến thức và sự hoạt động văn hóa đòi hỏi khả năng hiểu biết rất là tổng quát. Trong bài trả lời ký giả Mặc Thu đăng trong Người Việt Tự Do, Phó Thủ tướng đặc trách văn hóa xã hội cũng đã nhắc đến định nghĩa “Kỹ sư tâm hồn”, “Sứ giả thời đại” để nói về các người làm văn hóa, và đó là những định nghĩa cao quí có cái giá trị của một kêu đòi lý tưởng. Nhưng nếu người làm văn hóa là lớp “Kỹ sư, Sứ giả” thì kẻ chủ trì văn hóa, hướng dẫn văn hóa, không thể soi đường bằng những thành kiến cũ kỹ và những tâm thức thầy bói luôn luôn xử liệu cuộc đời bằng triệu bất tường.

    Căn cứ vào những lập luận của ông, người ta dự đoán những điều mà ông đem ra trình bày trong bản đề án có lẽ chỉ dựa vào mỗi một nguồn xuất phát, là tờ nhật báo Ngôn Luận mà hỡi ôi, bây giờ nó đã chết rồi! Vì chỉ nghe ông nói chuyện về sờ-nách-ba và đời sống ở bin-đinh. Nhưng nếu quả đúng như vậy, thì ông lại là một người xem báo quá sức vội vàng và không xét báo trên một tinh thần văn hóa. Bởi vì những thiên phóng sự về sờ-nách-ba, đời sống bin-đinh, ở tờ báo ấy, tuy có khoác vào ít vẻ khêu gợi và mượn chừng nào từ ngữ lố lăng nhưng chính tác giả của nó đã khéo vận dụng những đề tài ấy để làm phương tiện đả kích bọn người đàn bà - và cả đàn ông - đã vì những đồng đô-la mà bán rẻ cả danh dự con người, đả kích những bọn dân biểu đê hèn, những tên cai thầu văn nghệ và những trí thức ma-cô thời đại. Nếu gạt bỏ đi cái phần kỹ thuật thời thượng của loại phóng sự kiểu ấy thì ta vẫn bắt gặp được chừng nào ý thức xã hội ở nơi tác giả, biểu hiện bằng sự phản ứng hết sức tinh nhạy hằng ngày. Với bấy nhiêu đó, tácgiả cũng đã tỏ ra có một tinh thần trách nhiệm cao hơn những kẻ tự nhận cao sang nhưng suốt trong thời gian ấy chỉ biết trói tay hầu hạ một lớp độc tài, miễn sao hàng tháng thâu nhặt được đồng tiền… tốt.

    Ngoài nguồn tài liệu là đôi tờ báo hàng ngày mà ông đọc quá dễ dãi, người ta thấy ông đã dựa vào một thành kiến lâu đời của một giáo sư bảo thủ đối với tình hình để mà phán xét, hơn là theo dõi thực tế để phân tích nó. Cho nên ông cũng không hề nhìn thấy được một sự thực khá phũ phàng này: Sáu tháng trời nay người làm văn nghệ tìm không ra giấy để in tác phẩm của mình. Muốn xuất bản sách họ phải khó khăn để tìm mua giấy chợ đen với giá đắt hơn chính thức mỗi “ram” trên cả trăm đồng. Những ấn loát phẩm tốt đẹp mang đến tay ông không chỉ có phần não tủy của người sáng tác và lớp mồ hôi của những ấn công, mà còn có cả nước bọt và nước ét-xăng tiêu phí cho bọn gian thương kia nữa. Sản phẩm văn học, nếu có nghèo nàn như lời nhận xét của ông, không hẳn chỉ tại nó vô tổ chức và không có một hướng đi. Thực ra bọn buôn bán giấy ở cái kinh thành văn hóa này đây không thể đếm quá ba người. Thế mà tổ chức của chúng quá đỗi chặt chẽ, hướng đi của chúng quá sức khôn ngoan đến độ những người chủ trương văn hóa cũng không thấy chúng như là một chướng ngại vật cồng kềnh đã làm tức gan lộn ruột bao người văn hóa.

    Những sự tìm hiểu trên đây chỉ để xác nhận cái nhìn thiếu sót của giáo sư Ái về một hiện tình văn hóa miền Nam, trước và sau ngày chế độ Ngô-triều sụp đổ.

    Bên cạnh sự thiếu sót ấy, tác giả của bản đề án lại không có một chủ trương văn hóa thích hợp cho giai đoạn này. Quan niệm lệch lạc của ông được thể hiện rõ trong các phần sau của bản đề án mà đây là những điểm chính:

    1) Sự phân biệt hai quan điểm tổ chức văn hóa của ông là một lập luận hời hợt và mâu thuẫn. Theo giáo sư Ái, có hai quan điểm tổ chức văn hóa thái cực, một là quan điểm văn hóa thuần túy chỉ làm những công tác trong phạm vi văn học, nghệ thuật, hai là quan điểm văn hóa chủ trương thực hiện công tác văn hóa thuần túy và những công tác văn hóa cứu quốc.

    Trong cái quan điểm thứ nhất, giáo sư bảo rằng đó là chủ trương của những hạng người nhận định văn hóa thuần túy theo kiểu Hàn Lâm Viện Pháp, chủ trương văn học nghệ thuật tách rời chính trị theo kiểu vua quan dưới triều Tự Đức, chủ trương gạt hẳn khoa học, giáo dục ra khỏi văn hóa kiểu Unesco.

    Thực ra, vua quan dưới triều Tự Đức đâu có tách rời văn nghệ ra khỏi chính trị? Gạt bỏ những bài thi văn nói lên tâm sự cá nhân, vốn chẳng có nhiều, thì những sáng tác thời ấy phản ảnh thật đúng nguyện vọng chính trị của cả chế độ và sự phân hóa trong xã hội ấy. Người ta tự hỏi không biết giáo sư nắm được những gì về cái tình hình văn nghệ của thời Tự Đức, hay ông tưởng nó gồm trong mấy tiếng “Ớ Thị Bằng ơi…” mà đến ngày nay người ta vẫn chưa định được xuất xứ rõ ràng. Hơn nữa, sinh hoạt thời đại bấy giờ chưa thể có những chủ trương văn hoá, văn học như chúng ta đang quan niệm nên khó lòng xem đó như những kiểu cách để ta đối chiếu lập luận. Còn Pháp và Unesco, nếu phải tổ chức văn hóa tách biệt khoa học, giáo dục, thì không phải vì họ có quan niệm thuần túy, trừu tượng về các bộ môn, mà chỉ vì một chu cầu thực tế: sinh hoạt phong phú, phức tạp của các ngành này ở tại nước Pháp cũng như ở Liên Hiệp Quốc không cho phép họ điều khiển dồn chung trong một tổ chức, chứ nó vẫn gồm trong… Unesco kia mà!

    Vậy khởi điểm chính của các tổ chức trên đây vẫn là dựa vào một cái thực trạng xã hội, thực trạng sinh hoạt. Vấn đề mà chúng ta đang băn khoăn phải là tìm hiểu cái nhu cầu ấy trong những sinh hoạt của ta, tìm hiểu khả năng có thể đòi hỏi của nhân dân cũng như khả năng có thể đáp ứng của chính quyền.

    Nếu chỉ đứng trên danh từ trừu tượng, dựa trên phân loại mơ hồ thì sẽ tự dồn vào những lập luận mâu thuẫn. Và ông đã tự mâu thuẫn như sau:

    a) Ở trên, ông thừa nhận rằng quan điểm thứ hai kết hợp văn hóa thuần túy với loại văn hóa cứu quốc. Ở dưới, ông lại xác nhận quan điểm thứ hai tức là văn hóa tranh đấu hay là cứu quốc. Như thế, những loại thuần túy, trong lần phát biểu thứ hai, nằm ở nơi nào? Và ông quan niệm thế nào về tiếng thuần túy mà trong đề án của ông nó phải quan niệm như là đối lập với lại cứu quốc? Hình như ông không hiểu rõ về các danh từ trên đây hoặc chỉ hiểu nó một cách cảm tính, nghĩa là hoàn toàn theo những thành kiến, theo những trực giác mơ hồ. Bởi thế, ý định ban đầu của ông là muốn phân biệt trắng, đen hai loại khác nhau, nhưng khi cầm bút, quan niệm mơ hồ đẩy ông dồn nó vào chung một loại.

    b) Ở dưới, ông bảo rằng ông bênh vực quan điểm thứ hai là phải dồn chung khoa học vào cùng văn hóa vì ông thấy rằng nếu không, thì khi thực hiện tự điển sẽ không có sự hợp tác của nhà chuyên môn. Thế mà ở trên, ông bảo những người văn hóa thuần túy ông Pháp chỉ có mỗi một công việc là ngồi… soạn thảo tự điển. Vậy thì họ soạn tự điển cách nào?

    Điểm này lại càng xác nhận ông không hiểu rõ tĩnh tự “thuần túy”, và ông cũng không hiểu được tính cách biệt lập và mối tương quan của các tổ chức. Theo lý luận ấy, người ta có thể nghĩ rằng: cần phải mở ngay lò rèn trong các hàng thịt. Vì sao? Vì nếu không gấp chủ trương như vậy, thì làm thế nào có dao cắt thịt? Và cứ như thế thì trong lò thịt phải có cơ quan văn hóa. Vì sao? Vì sẽ không có giấy báo thừa thãi để mà gói thịt. Rồi thì cứ thế mà lý luận thêm, thì cái lò thịt phút chốc biến thành… thế giới!

    2) Quan niệm văn hóa chỉ huy và Viện văn hóa đặt dưới Hội đồng Giám hộ gồm các Tổng Bộ trưởng là một lầm lẫn nguy hại. Sau khi chỉ trích văn hóa hiện thời thiếu hẳn tính chất tranh đấu vì không có một hướng đi, giáo sư họ Phạm nhận thấy cần phải chỉ huy văn hóa. Ông có an ủi chúng ta rằng chỉ huy này “chắc chắn là sẽ khác nhiều lề lối lãnh đạo độc đoán, chỉ dê nói nai, trong các nước độc tài phát-xít, dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa”.

    Nghe nói như thế những người đa cảm có thể xúc động vì lời hứa hẹn có vẻ ngon lành. Nhưng người văn hóa, vốn thường đa nghi, có thể nhân đấy mà đặt vấn đề tìm hiểu. Và trong tìm hiểu, họ thấy quan niệm giáo sư còn những sai lầm. Sau đây ta hãy nêu lên một vài nét chính:

    Lẽ một, là ông lầm lẫn bản chất của những hoạt động văn hóa với bản chất những hoạt động quân sự hay là kinh tế. Trong bài diễn văn khai mạc, Phó Thủ tướng đã có nhấn mạnh điểm này, mà rất tiếc giáo sư không tiếp nhận được để khai triển cho đúng mức. Nghiên cứu sự thất bại trong chính sách văn hóa của Ngô Đình Nhu, Phó Thủ tướng đã rút lấy hai kinh nghiệm căn bản như lời tuyên bố của ông: “Rằng -sinh hoạt văn hóa có những quy luật riêng không thể bị đồng hóa với sinh hoạt kinh tế- rằng chính yếu tố căn bản của hoạt động văn hóa là sự nhiệt thành”. Thiết tưởng hai kinh nghiệm ấy đã tóm lược quá đầy đủ đặc tính của những sinh hoạt văn hóa, hiểu trong phạm vi văn học nghệ thuật. Bởi vì văn nghệ phát sinh từ sự rung cảm, truyền đạt bằng rung cảm ấy, và được tồn tại nhờ rung cảm ấy. Rung cảm đủ sức tạo nên công trình văn nghệ bắt nguồn từ sự cảm thông, gắn bó giữa người và người, giữa người và việc, đủ sức khơi dậy sự sống vô cùng huyền diệu, có một năng lực truyền nhập, biến hóa khác thường. Thiếu sự rung cảm văn nghệ là những công thức khô khan, là những khẩu hiệu nhàm chán. Thiếu nguồn sống ấy, sản phẩm văn nghệ là những xác chết. Nếu muốn sản xuất khẩu hiệu, phơi bày xác chết, hà tất phải tốn bao nhiêu ngân quỹ, công lao để quần tụ lại những lớp người chỉ chực đào ngũ khi nghe một tiếng hô nghiêm trong lãnh vực mình. Trong lãnh vực ấy không có tiếng “nghiêm” cũng như tiếng “nghỉ” hoàn toàn phân biệt, bởi vì cái thái độ “nghỉ” của họ có thể là một cách “nghiêm” nhiều khi cẩn trọng hơn là bất cứ một tiếng “nghiêm” nào.

    Người ta tán thưởng hình ảnh tinh xác mà ông Đoàn Thêm vận dụng là so sánh nước với tinh thần văn hóa, khi ông đứng lên bày tỏ quan điểm của mình, sau khi Phạm tiên sinh thuyết trình dự án Văn hóa quả thực mênh mông, nhiều vẻ nhiều màu như nước ở muôn hình trạng trên cõi đời này. Con người có thể đào kênh, khơi ngòi, có thể khai thông cho suối, cho nguồn để nó tưới tắm cánh đồng màu mỡ hoặc làm mát mẻ vườn cảnh xinh tươi, nhưng nếu muốn đem nhốt nó vào hồ, vào chậu, thì những cặn bã tù hãm chóng làm vẩn đục, hoặc biến chúng thành một chỗ sinh sôi nẩy nở của loại rong rêu chờ ngày mục nát mà làm phân bã.

    Ngày trước, khi Ngô Đình Nhu muốn “nắm văn hóa”, không phải là y không thấy bản chất mềm mỏng mà cứng rắn, hữu hình mà vô lượng của sinh hoạt này.

    Qua cái luận điệu “chỉ mong bắt loài cá bé” của y, người ta cũng thấy chừng nào khiêm tốn đối với vấn đề. Nhưng Nhu đã nếm thất bại vì y tưởng lầm cá bé không cùng bản chất sinh hoạt với loại cá to. Vẫn biết có những loại cá ăn mồi rau thịt và loại thích xơi… phân bã, có những loại kình, loại ngạc mỗi ngày mỗi một lớn lao và có loại rô, loại diếc không sao thoát khỏi thân phận yếu hèn. Tuy nhiên cá vẫn thích quen bơi lội nhởn nhơ trong nước, và loài quen mùi mặn chát đại dương khó lòng chịu vị ngọt ngào của chốn ao hồ. Những cá đón mồi ở các cửa sông và quen sống hai dòng nước không phải chiếm phần đông đảo và cũng không phải là giống dễ nuôi!

    Lẽ hai, giáo sư họ Phạm quan niệm tổ chức là một vấn đề hình thức, một thứ khuôn định hoàn toàn thể theo sáng kiến chủ quan của kẻ đặt bày. Ông chưa nắm vững tình hình văn hóa, chưa thấy rõ một chủ trương đường lối phải đi cho hợp với những yêu cầu thực trạng, đã vội quy định ngay một tổ chức nặng nề. Tổ chức, xét trên căn bản, là một kêu đòi nội tại trước khi trở thành một thứ hình hài. Tổ chức biểu thị nhu cầu tập họp, nhu cầu sắp xếp của một cơ năng sinh hoạt muốn được thích nghi và được trường tồn. Người ta thường bảo rằng Thiên Chúa giáo có một tinh thần tổ chức rất cao, nhưng ngoài trình độ kỹ thuật mà cấp lãnh đạo của tôn giáo ấy thâu đạt qua nền văn minh tân tiến Tây phương còn một yếu tố quyết định là lòng tin tưởng mãnh liệt của kẻ tín đồ đối với giáo điều. Những học sinh, sinh viên rời rạc trước kia, cũng như tăng ni trầm lặng phân tán ngày nào, bỗng chốc trong ngày Phật-nạn tự khép thành nhiều hàng ngũ khác nhau, thành nhiều tổ chức tuyệt hảo để đương đầu với kẻ thù và đạt thắng lợi vẻ vang. Giáo sư họ Phạm vốn quen điều khiển học trò trong những khuôn khổ lập thành nên quan niệm về tổ chức, chỉ huy, có phần quá sức thô sơ. Tuy nhiên, nếu không có lòng cầu học, mà phải thụ giáo một kẻ kém cả đức tài, dễ gì đám học trò kia để cho lớp học - là cái tổ chức - được mãi an toàn?

    Nhưng người văn hóa không phải là đám học sinh chưa qua khỏi tuổi trưởng thành. Cuộc sống thiên về cảm xúc, suy tưởng, dễ khiến cho họ thấy mình quán xuyến cuộc đời và tự đặt mình vào một vị trí quá cao, ít nhất cũng trong ảo tưởng. Dù đúng hay sai, đó cũng là một sự thực mà ta không thể bất chấp, không thể cho qua, nếu muốn ghép họ vào trong tổ chức. Kẻ nào muốn nói điều khiển, trước hết phải nói vâng lời. Còn giáo sư Ái, trước khi mưu đồ sự nghiệp chỉ huy, ông vội ban hành mệnh lệnh.

    Hơn nũa, tha thiết tự do, đó là truyền thống của người văn hóa. Dù phải bị loài chó sói nhai xương trong lúc thênh thang rừng núi, vẫn cam lòng hơn là gặm cỏ mướt trọn đời trong khu vườn hẹp của lão Seguin. Lòng tha thiết ấy vốn đã dồi dào đâu từ kiếp trước, nay được tiếng súng Cách mạng vừa qua bồi tiếp bao nhiêu sinh lực kiên cường. Điều người văn hóa mong đợi tất nhiên không phải là những chiếc rọ sơn màu lòe loẹt hứa hẹn… “không như phát-xít, độc tài”!

    Nói thế, thực không có ý đặt người văn hóa ra ngoài công lệ cũng không hoài bão tìm cho văn hóa một tiểu giang sơn. Những người văn hóa vẫn nuôi sống bằng cơm gạo, với rau Phú Nhuận hoặc thịt Chánh Hưng, tất cũng phải như muôn ngàn kẻ khác. Nghĩ rằng họ có độc quyền được sống no đủ trong khi mọi người thiếu thốn, được sống phóng túng trong khi mọi người phải chịu kỷ luật, quả là một chuyện hoang đường, không có người văn hóa nào thành thật với mình lại muốn trở thành ích kỷ, lỗi thời như thế. Vấn đề ở đây là chỉ xác nhận yếu tính của họ về mặt tập hợp và trình bày rõ nhu cầu riêng biệt của họ ở trong sinh hoạt, để tránh một sự phê phán vội vàng - là vô tổ chức - và khỏi phí công đặt sự chỉ huy trước khi xây dựng nền tảng tinh thần của một tổ chức. Người ta chỉ huy họ rất dễ dàng khi đòi hỏi họ ở trên phương diện công dân nhưng trên sinh hoạt văn hóa, đó là một đòi hỏi khác. Lớp văn nghệ sĩ bị gọi động viên không phải là ít, nhưng sự sáng tác trong cái hoàn cảnh đọng viên của họ nào thấy bao nhiê? Nghe nói ông Thanh Tâm Tuyền được đi gác cầu Bình Lợi và gác siêng năng, còn ông Thế Viên vào ngành An ninh Quôn đội đã được tuyên dương công trạng. Nhưng thi sĩ Thanh Tâm Tuyền vẫn chưa có một bài thơ tự do đặc sắc về sự gác cầu, cũng như thi sĩ Thế Viên chưa có một đoản ca nào tuyệt tác kêu gọi người ta phục An ninh! Bởi lẽ đời sống tinh thần của người văn nghệ thiên về rung cảm, hướng về cái đẹp, một khi sinh hoạt bên ngoài đủ sức kích động những nguồn rung cảm sâu xa, khơi lên sự sống rạt rào, thì tức khắc họ kêu đòi được làm một kẻ phát ngôn trung thực. Như thế, không phải là vì gác cầu không thú hay làm An ninh không đẹp nhưng sinh hoạt ấy chưa đủ điều kiện gây tạo cho họ một niềm gắn bó sâu xa như một khát thèm. Có thể vì bản thân họ chưa tìm được mối cảm thông sâu sắc, có thể vì chính quyền chưa giúp đỡ cho họ nhận ra điều ấy. Khi những con người văn hóa được thấy lay động bởi một kêu đòi lớn lao, chan hòa trong sự thông cảm, thì không đợi đến một cái vẫy tay tập họp thứ nhì họ sẽ nhất tề hội lại và nghiêm túc theo mệnh lệnh phát xuất từ lòng của họ, nhưng được nói lên từ một miệng nào.

    Lẽ ba, giáo sư không thấy sát đúng được mối tương quan giữa văn hóa và chính trị. Ông nhìn văn hóa như là công cụ hết sức đơn giản của kẻ cầm quyền, mà quên hẳn rằng nó chỉ thực sự có tác động tốt khi nào nó hướng được về lẽ phải, nghĩa là hướng về nguyện vọng đông đảo nhân dân. Cho đến những tác phẩm cổ, của một tầng lớp sĩ phu trực thuộc đế quyền, trong một hoàn cảnh mà đại đa số nhân dân bị tước đoạt quyền bút mực, cũng chỉ có giá trị lớn khi nó phản ảnh được những nguyện vọng thâm-thiết trong đời sống quần chúng. Chinh Phụ Ngâm Khúc bày tỏ khát vọng yên vui chính đáng của người đàn bà thời loạn, và đó cũng là khát vọng muôn dân. Đoạn Trường Tân Thanh nói lên nỗi khổ của một con người tài đức vẹn toàn bị đời giày xéo, ước mong hạnh phúc, như chính người dân vẫn thường ước ao trong niềm thống khổ mênh mông thường trực của mình.

    Vậy nền văn hóa phong kiến, là nền văn hóa xem ra có nhiều sắc thái tôi đòi hơn cả, thế mà đi vào căn bản những công trình văn nghệ thực sự xứng đáng với danh hiệu ấy vẫn không trực thuộc chính trị chút nào. Điều này rất là dễ hiểu, vì chế độ của vua quan không phải là một con đường tươi mát đưa dân về chốn an lành.

    Chế độ chúng ta ngày nay tự coi như được dựng nên thể theo ý nguyện người dân, nhưng chế độ ấy còn là dự án. Cái dự án ấy còn chờ thực hiện, còn chờ điều chỉnh, đó là sự thực hiển nhiên không thể không nhìn thấy được hàng ngày. Chính quyền vẫn tự xem mình là kẻ cố gắng tìm một phương thức hữu hiệu để cai trị dân, chưa phải thấy mình đồng hóa với dân.

    Sự đồng hóa ấy chỉ được thừa nhận với cái cấp bằng bầu cử, tất nhiên không phải là lối bầu cử của thuở Ngô triều.

    Văn hóa là ý hướng tinh nhạy nhất của một sinh hoạt, giá trị xứng đáng của nó đều có tính chất tiêu biểu, tổng hợp. Như vậy, người làm văn hóa chân chính phải đứng về phía quần chúng nhân dân, nếu không muốn hiểu hoạt động văn hóa chỉ gồm trong mỗi một việc gìn giữ bảo tàng. Đối với chính quyền hiện tại, người văn hóa xin tự nguyện ủng hộ hết lòng, nếu cấp lãnh đạo cũng thực hết lòng chăm lo hạnh phúc cho dân. Một khi nguyện vọng của dân đã được thỏa mãn hợp lý, thiết tưởng mọi người văn hóa chân chính đều thấy hãnh diện mà phục vụ chế độ, làm người hợp tác trung thực với cấp lãnh đạo của mình. Trong cái khuôn khổ chính tình hiện tại, chính quyền tha thiết với dân đang còn cố gắng một cuộc thâu phục nhân tâm, thì sự kêu gọi hợp tác của người văn hóa cũng đang nằm trong ý nghĩa của thâu phục ấy.

    Trên những chặng đường gian nan của sự cảm thông để được trao thân gởi phận lâu dài, đã vội bày trò giám hộ, tính chuyện chỉ huy thì một nhân duyên cưỡng ép làm sao tránh khỏi phụ phàng!

    Lẽ bốn, trong khi lên án tinh thần vụ lợi của nền văn hóa hiện tại, giáo sư đã làm một việc phí công, nếu không nói là lầm lẫn quan trọng. Phí công vì bởi người làm văn hóa, văn nghệ hiện nay vẫn phải hàng ngày nuôi sống con người của họ và gia đình họ một cách hết sức khó khăn. Thực là dễ dàng nói chuyện cao siêu khi đã có sẵn đồng lương no đủ chờ mình hàng tháng ở trong công quỹ! Nhưng xét lịch sử nước nhà chưa thấy có ai thực sự cao siêu khi lẽ sống mình được xếp thành ghim ở trong ngân khố. Hơn nữa, chúng ta đâu còn sống lại thời buổi xa xưa, khi kẻ hiền nhân “hà tất viết lợi” có thể bằng lòng cơm hẩm, nước trong để vun trồng cây đạo nghĩa và được thánh nhân nức nở khen lao? Thời buổi chúng ta, kẻ yếu nói chuyện hòa bình sẽ bị coi khinh là trò lạy lục van xin tha mạng, người nghèo kêu gọi nhân nghĩa sẽ bị đánh giá là lời cầu xin bố thí lỗi thời. Chúng ta ít nhiều là những kẻ đang mê mải chạy đi tìm vàng, có lúc đói ăn cứ ngỡ đồng loại của mình là một con gà có thể xé phay, như hề Charlot đã từng chứng tỏ.

    Ấy thế mà đa số người đuổi theo văn hóa hiện tại không có một món lợi nào. Viết một tác phẩm ba tháng mới xong, nài nỉ bán năm ngàn bạc, không đủ nuôi một tháng cơm cho một gia đình có sáu miệng ăn kiêm tốn. Mà đó là những “văn tài”, là kẻ “có tên có tuổi”! Có những cơ quan văn hóa thời qua - nhãn hiệu chính quyền - mỗi lúc đăng bài tác giả, chỉ trả nhuận bút sáu tháng về sau, và không bảo đảm lấy được đủ số bao giờ. Phải thấy trước đây những người từ Huế lặn lội vào đến Sài gòn đòi cho được vài ngàn bạc ở một cơ quan văn hóa chánh quyền, và khi đếm lại bao giờ cũng mất ít trăm, mới thấy những sự tồi tàn quả có đầy hơn bãi rác Phú Thọ. Những sự kiện này không phải là điều thêu dệt, bởi vì bất cứ lúc nào chúng ta cũng vẫn có thể xuất trình nhân chứng, và là nhân chứng số nhiều. Trong ngành hội họa, trước đây, có biết bao chuyện cười ra… nước mắt. Năm đầu, triển lãm Mùa Xuân, họa sĩ được lãnh huy chương vàng… thiệt, đem ra bán đỡ tiêu xài. Năm sau, lại có huy chương vàng nữa, nhưng họa sĩ này cũng chẳng giàu hơn kẻ trước bao nhiêu, định đem cầm tạm, mới hay thứ vàng… xi, không đáng mươi đồng. Cũng trong dịp triển lãm ấy, một họa phẩm được huy chương bị người đánh cắp. Cấp trên hứa hẹn bồi đền, và mãi mấy năm về sau, nhờ sức chạy chọt dẻo dai và nhiều thế lực đương thời can thiệp, mới được cấp trên trả lại… vài ngàn! Như thế thực không biết người văn hóa vụ lợi chỗ nào, trong khi muốn theo đuổi mãi nghề văn nghiệp vẽ họ phải nương nhờ vào sinh hoạt khác, và nhiều sinh hoạt có thể khiến cho giáo sư họ Phạm giật mình.

    Có lẽ giáo sư nghĩ đến một số cây bút viết truyện tình cảm, dâm ô, kiếm hiệp hằng ngày với một đồng lương trên mức trung bình. Có lẽ giáo sư nghĩ đến ca sĩ hát hò, uốn éo có những nếp sống sinh hoạt trên mức phong lưu. Sự thật không phải hoàn toàn như thế. Nhiều người cầm bút - như bà Tùng Long - cũng đã tuyên bố thành thật là mình không phải viết văn, không làm văn hóa, mà chỉ là làm nghề nghiệp nuôi con, phải viết để sống, hiểu rất đơn giản tiếng “viết” là một thủ đoạn mưu sinh. Những người này không cần nghe theo và cũng không thể nghe theo bất cứ là tiêu chuẩn nào của các trào lưu văn hóa, ngoài cái tiêu chuẩn ăn khách hằng ngày. Còn biết bao nhiêu ca sĩ tân nhạc không thể “vụ lợi” trong nghề phải “vụ lợi” nơi chốn khác? Còn biết bao nhiêu nghệ sĩ chết không có mảnh đất chôn, bao nhiêu những kẻ quằn quại trên giường bệnh viện được các đồng nghiệp kêu rao trợ giúp thảm thương trên báo hàng ngày? Trong mùa mưa gió này đây, bao nhiêu gia đình tài tử cải lương bị xua đuổi ra khỏi nơi trú ẩn là các đình chùa? Chỉ cần đọc các trang trong của tờ Lẽ Sống, của tờ Buổi Sáng v.v… nói về sinh hoạt sân khấu, kịch trường, giáo sư cũng thấy khá nhiều sự thực, bất tất phải đi tìm hiểu xa xôi cho tổn tinh thần.

    Có lẽ giáo sư lầm lẫn các nhà văn hóa văn học với nhà xuất bản, lầm lẫn những người chế tạo hàng hóa với kẻ trung gian tiêu thụ món hàng. Thực không có gì chua chát bằng lầm lẫn người chủ báo, với người viết báo, lầm lẫn tác giả với chủ tiệm sách. Văn hóa, văn học của chúng ta đây hoàn toàn là của tầng lớp trung gian, do sự chỉ định của trung gian ấy. Công kích tinh thần vụ lợi, lẽ ra là công kích lớp rung gian, mà tầng lớp này quả thực không phải là nhà văn hóa! Nhưng công kích lớp trung gian, nguy thay, là công kích cả kiến trúc của nền xã hội hiện thời.

    Giáo sư quả không có chủ tâm ấy, chúng tôi biết thế, nên muốn giáo sư dè dặt nhiều hơn trong cách đặt định vấn đề để cho cấp trên có thể thực hiện phần nào kế hoạch của mình. Và để cho biết bao nhà văn hóa trọn đời chui rúc trong các ngõ hẽm, ở nhà thuê, ăn cơm trọ, giày vò giữa cái sinh kế tủi nhục và cái lý tưởng cao xa, khỏi mỉm nụ cười chua chát khi nghe hai tiếng “vụ lợi” trên đầu. Và biết bao nhà văn hóa, chỉ vì lý tưởng của mình mà phải vào tù ra tội, đã phải hy sinh tính mạng, hoặc chịu kéo lê những ngày bệnh hoạn triền miên, khỏi phải quắc đôi mắt giận - nhưng vẫn khoan dung - đối với giáo sư.

    Lẽ năm, giáo sư quan niệm sai lầm khi bảo chỉ cần thiện chí là có thể tham gia những sinh hoạt văn hóa. Nói thế, giáo sư trở lại với mối lầm lạc ban đầu là ngộ nhận về bản chất văn hóa, đồng thời thêm một ngộ nhận về cái cơ cấu xã hội của ta hiện tại. Biết bao kẻ làm văn nghệ thiện chí đầy mình - và là thiện chí thứ thiệt - chẳng tạo nên được một công trình nào xứng đáng. Năng lực của họ, nếu được dùng vào việc khác, sẽ ích lợi cho xã hội nhiều hơn. Chẳng hạn như giáo sư Ái, không ai dám bảo là ông thiếu hẳn món thiện chí này, nhưng nếu ông cứ làm sách giáo khoa (?), giảng dạy lý hóa ở trường hơn là đem thiện chí ấy ra làm dự án, thì chắc đa số con em sẽ còn giữ nguyên một niềm tín phục đối với giáo sư, như các bậc trưởng thượng họ trước đây vẫn quí giáo sư là nhà mô phạm có nhiều khả năng và giàu lương tâm chức nghiệp. Ngược lại, biết bao nhiêu kẻ nghèo nàn thất học ở xung quanh ta khao khát được thấy đời mình quang đãng hơn lên, và họ vốn giàu thiện chí hơn là cơm áo, nhưng e trọn đời họ vẫn không làm sao hoạt động văn hóa được cũng không làm sao bước vào trong tổ chức ấy, và chẳng biết vào làm gì, mặc dù giáo sư có dụng ý tốt chừa ít chỗ ngồi cho họ.

    Khi nào dân chúng no đủ dồi dào, học vấn thông suốt, bầu cử những người đại diện của họ từ cấp xã thôn đến cấp trung ương, họa chăng họ sẽ nhận thấy thiện chí có thể giúp họ chừng nào trong lãnh vực đó.

    Thiện chí! Thiện chí! Thực là một tiếng quá đỗi mơ hồ có thể sử dụng cho khắp mọi việc trên cõi đời này, trừ cho văn hóa, ở trong điều kiện hiện tại của xã hội ta.

    Thiện chí! Thiện chí! Nhưng chính thực Ngô Đình Diệm trước kia là người thích dùng món đó mỗi khi nói với đồng bào chúng ta. Phái đoàn “giải độc” của Trần Lệ Xuân ra các nước ngoài cũng là thiện chí chứ sao? Và Phan Quang Đông, trước khi đền tội, vẫn cứ một hai ba bốn là mình chỉ có thiện chí phục vụ mà thôi. Nhưng còn một chỗ dồi dào thiện chí hơn hết, đó là… địa ngục. Chẳng thế, Tây phương đã không chua chát bảo rằng: “Địa ngục vẫn được lót đầy thiện chí”!

    Tóm lại, giáo sư đã không nắm vững tình hình, lại không có một quan niệm cụ thể, sát đúng về bản chất văn hóa cùng những yêu cầu của xã hội ta, nên chỉ phác họa được những sai lầm. Ông lại không vận dụng được quan niệm văn hóa và quan niệm về tổ chức văn hóa nói đến trong bài diễn văn khai mạc của Phó Thủ tướng vốn chủ trì rằng văn hóa phải “đặt trên những yêu cầu dân chúng hiện tại” “không thể đi ngoài ý thức thời đại ở trên các mặt sinh hoạt”. Như thế, thay vì nghiên cứu yêu cầu dân chúng một cách chu đáo, thay vì tìm hiểu ý thức thời đại ở trên mọi mặt sinh hoạt để hiểu nguyện vọng sâu xa, kêu đòi thực sự thế nào, hầu có quan điểm văn hóa thích hợp, thì giáo sư lại đặt nhẹ thực tế hơn những thành kiến cũ kỷ của mình.

    Tinh thần bảo thủ đưa đến quan niệm máy móc, dẫn đến lập luận mơ hồ, dắt vào… mê tín hoang đường. Thực không có gì buồn lòng hơn là khi nghe giáo sư kết thúc dự án bằng cách trưng ra hai triệu bất tường. Giáo sư muốn đẩy lùi hẳn ý thức xã hội về mấy trăm năm, ngàn năm về trước, khi những con người bắt đầu làm một việc gì thường coi sách quẻ, thường bói dò gà, lưu ý từng cái máy mắt, từng con nhện sa.

    Nhưng nào có đáng làtriệu bất tường cho cam! Nếu Ngô Đình Diệm thất bại trong việc lập Hội Văn hóa là vì y không hiểu rõ bản chất văn hóa, y đã chủ trương “nắm lấy” một cách sai lầm, chứ đâu có phải là một định mệnh? Việc làm của y đã bị chúng ta lên án chín năm trời nay, và rầm rộ hơn trên sáu tháng nay, tại sao lại ràng buộc y vào với chúng ta bằng một luận điệu thần bí, thiêng liêng, như là đôi bên cùng chung số kiếp? Theo ý giáo sư, những gì Diệm-Nhu không thực hiện nổi thì chúng ta đây đành phải đầu hàng. Thế những kinh nghiệm quí báu mà Phó Thủ tướng rút ra được qua sự thất bại của họ, dùng để làm gì? Chắc rằng, nghe lập luận này, dòng họ Ngô Đình vẫn còn dành sẵn một chiếc mề đay thượng đẳng, bên kia thế giới…

    Chúng ta không muốn tác giả phủ nhận nỗ lực cách mạng bằng cái thái độ tín nhiệm quá đáng dòng họ Ngô Đình, cũng như không muốn tác giả có một thái độ ngờ vực sai lầm dụng tâm của các báo chí.

    Giáo sư bảo dự so sánh dự án lập Viện Văn hóa với cái dự án du hành nguyệt điện trên một nhật báo là triệu bất tường! Nếu đứng trên một quan điểm tự do, ông sẽ nhận thấy dụng ý rất tốt của tờ báo nọ, tức là gián tiếp khích động chính quyền bắt tay xây dựng những việc lớn lao. Hiểu theo nghĩa khác thì so sánh ấy có thể là lời phê phán, ngụ ý cản ngăn chính quyền khỏi mất công làm những chuyện vô ích xa vời trong khi bao nhiêu vấn đề gần gũi trước mắt có ích lợi cho văn hóa nhiều hơn cần được giải quyết cấp bách. Dầu hiểu thế nào đi nữa, một sự so sánh như trên đều là cần thiết cho người cầm quyền, nếu quả người ấy muốn biết phản ứng nhân dân để mà điều chỉnh đường lối của mình. Chỉ sợ trước mọi chủ trương chính sách chính phủ đề ra, người dân vẫn giữ thái độ vô can, bất động. Cái im lặng của dân chúng không thể đem ra so sánh với vàng, nếu xét trên cái quan điểm cầm quyền. “Hãy nói lên đi, dầu là lời nói thế nào”, đó là tâm sự duy nhất của người lãnh đạo chân chính ngỏ với nhân dân, để tùy theo câu trả lời mà sửa cung bậc và đặt lời ca.

    Tất nhiên, một khi báo chí có những nhận xét sai lầm - và điều này chẳng có gì đáng phải lo sợ, ngạc nhiên - thì tưởng chính quyền phải nên điều chỉnh bằng một thái độ thẳng thắn, như văn phòng Phó Thủ tướng đã làm khi trả lời lại loạt bài văn hóa của ông Mặc Thu trên nhật báo Người Việt Tự Do.

    Nhưng, khốn nỗi, giáo sư Ái không muốn hiểu báo chí theo cái tinh thần văn hóa tự do, mà chỉ muốn xét theo cái quan điểm chỉ huy, giám hộ!

    Có lẽ ông thích nghĩ rằng mỗi một dự định của mình đều là chân lý hiển nhiên, không ai được quyền thắc mắc. Từ cổ chí kim, chỉ nghe có mỗi một Đức Chúa Trời là dám tự phán: “Lời nói của ta chính là sự thực”, còn thì muôn vạn chúng sinh mù quáng sân, si, làm sao mà thấy được mình, nếu không tìm trong dư luận bên ngoài một tấm gương soi?

    Báo chí hay lực lượng nào cũng không làm sao tự thân đem lại cho ta một triệu bất tường, nếu như ở trong công việc ta làm không chứa đựng sẵn nỗi niềm hoảng hốt của kẻ thiếu hẳn lòng tin, nhưng bị đẩy vào một cuộc phiêu lưu.

     

    VH.

    Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 2. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.

    www.trieuxuan.info

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,815,699

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/