Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập33,786,600

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Trên sa mạc và trong rừng thẳm

Henryk Sienkiewicz

  • Thứ hai, 15:52 Ngày 13/06/2016
  • Chương 44

    Mãi sau mười ngày đường, cả đoàn mới vượt qua được những ngọn đèo và đi vào một vùng đất hoàn toàn khác hẳn. Đó là một vùng bình nguyên rộng lớn, chỉ đôi nơi mới có những quả đồi gợn sóng nhô lên, nhưng đa số lại là những quả đồi dẹt phẳng. Giới thực vật hoàn toàn thay đổi. Không còn thấy những cây gỗ lớn đứng một mình hay thành cụm vươn cao trên mặt cỏ gợn sóng nữa. Chỉ thảng hoặc mới nhô lên những cây xiêm gai cho nhựa, vỏ màu trai ngọc, có dáng ô, nhưng lá rất thưa thớt, ít bóng mát và mọc cách xa nhau. Đây đó, giữa những tổ mối là những cây xương khô vươn thẳng lên trời, với những cành cây trông giống như các giá cắm nến. Lũ diều hâu quay lượn trên trời cao, còn bên dưới, bay từ cây xiêm gai này sang cây nọ là những con chim thuộc họ quạ, lông màu đen lẫn trắng. Cỏ màu vàng khè, mọc thành từng búi trông cứ như lúa bắc mạch chín. Tuy vậy, đồng hoang khô cằn này hẳn là vẫn cung cấp đầy đủ thức ăn cho một lượng thú rừng rất đông đảo, vì cứ mỗi ngày vài lần, các vị khách bộ hành lại trông thấy những đàn linh dương gơnu, linh dương sừng móc và nhất là ngựa vằn. Trên vùng bình nguyên mênh mông không có bóng cây, cái nắng thật khó chịu đựng nổi. Trời không một gợn mây, ban ngày nóng nực, ban đêm cũng chẳng mang lại được mấy nỗi nghỉ ngơi.

    Càng ngày, chuyến đi càng trở nên khó nhọc hơn.

    Trong những bản làng mà đoàn gặp được, thổ dân rất mực hoang dã đón tiếp đoàn một cách sợ hãi và miễn cưỡng, và nếu như không có một số khá đông những người phu khuân vác có vũ trang, nếu như không có bóng dáng những khuôn mặt da trắng cũng như con King và con Saba thì hẳn là các vị khách bộ hành gặp phải không ít nỗi nguy hiểm.

    Nhờ Kali, Staś  biết được rằng tiếp sau đó sẽ không có bản làng nào nữa, và vùng đất sẽ hoàn toàn không có nước. Thật khó mà tin điều đó vì những đàn thú đông đảo mà người ta gặp được phải có nơi nào đó để uống nước chứ. Tuy nhiên, câu chuyện về những vùng sa mạc, trên đó không hề có lấy một con sông, một vũng nước nào khiến cho những người da đen hoảng sợ, họ bắt đầu trốn dần đi. Hai tên M'Kunđe và M'Pua làm gương đầu tiên. May thay, người ta sớm nhận ra cuộc chạy trốn của chúng, và những người dùng ngựa đuổi theo đã tóm được chúng cách trại không xa lắm. Khi người ta giải chúng về, Kali đã dùng hèo tre chứng minh cho chúng thấy tội lỗi trong hành động của chúng. Họp tất cả những người phu mang hành lí lại, Staś  nói chuyện với họ, bài nói được chàng thanh niên da đen dịch sang thổ ngữ của địa phương. Nhân việc ở trú đêm chung quanh trại, Staś  cố gắng chứng minh cho những người của em thấy rằng, kẻ nào chạy trốn sẽ trở thành mồi của sư tử ngay lập tức, thậm chí nếu như kẻ đó có ngủ đêm trên những cây xiêm gai đi chăng nữa, thì hắn sẽ gặp phải những con vôbô còn kinh khủng hơn nhiều. Sau đó em nói rằng nơi nào có linh dương sinh sống, nơi đó nhất định phải có nước, còn nếu như trên đường đi tiếp, họ gặp phải vùng đất hoàn toàn không có nước, thì họ vẫn có thể mang theo một lượng nước đủ dùng cho hai, ba ngày đường trong các túi da linh dương khâu lại cơ mà. Nghe em nói, những người da đen chốc chốc lại bảo nhau: “Mẹ ơi! Đúng quá đi mất!” nhưng đêm hôm sau lại vẫn có thêm năm người Xamburu cùng hai người Vahima nữa bỏ trốn, rồi cứ mỗi đêm lại có thêm những kẻ khác bỏ đi.

    Tuy nhiên, M'Kunđe và M'Pua không thử tìm may mắn lần thứ hai, vì lí do đơn giản là hàng ngày, sau lúc mặt trời lặn, Kali ra lệnh trói bọn chúng lại.

    Vùng đất mỗi lúc một trở nên khô cằn hơn và mặt trời càng ngày càng thiêu đốt đồng hoang dữ dội hơn, thậm chí không còn trông thấy cả những cây xiêm gai nữa. Những đàn linh dương vẫn thường xuyên xuất hiện, nhưng mỗi ngày một ít hơn. Lũ lừa và ngựa vẫn còn tìm đủ thức ăn, vì bên dưới lớp cỏ cao bị khô héo, tại nhiều chỗ thấp vẫn còn tiềm trữ những loài cỏ thấp, xanh sẫm hơn và ít bị khô hơn. Song con Kinh thì gầy sụt đi, mặc dù nó chẳng hề kén chọn gì cả. Khi gặp những cây xiêm gai, nó dùng đầu bẻ gẫy cả cây rồi chén sạch cả lá lẫn những đọt cây không từ cả những lá già năm ngoái. Cho đến nay, hàng ngày đoàn người vẫn gặp được nơi có nước, nhưng thường thường là nước đục cần phải lọc hoặc là nước mặn hoàn toàn không thể nào uống nổi. Rồi tiếp đó, có vài lần những người do Kali chỉ huy được Staś  cử đi tiền trạm không tìm thấy một vũng nước hay một nguồn khe ẩn kín nào cả, và Kali đành thưa với Staś  bằng nét mặt đầy buồn phiền: Không có nước.

    Staś  hiểu rằng cuộc hành trình cuối cùng này hoàn toàn không dễ dàng hơn những giai đoạn trước, em bắt đầu lo lắng cho Nel, vì ngay cả cô bé cũng có những thay đổi. Khuôn mặt cô bé thay vì bị rám màu nắng gió thì mỗi ngày một trở nên nhợt nhạt hơn, mắt mất vẻ long lanh. Trên vùng đồng bằng khô cằn không có muỗi, không bị bệnh sốt rét đe dọa, nhưng rõ ràng là cái nóng đã làm tiêu hao sức khỏe của cô bé. Staś  thương xót và lo lắng nhìn những bàn tay nhỏ bé đang trắng bệch như giấy của cô, và em cay đắng trách mình đã để phí mất quá nhiều thời gian vào việc tập bắn súng cho những người da đen, khiến cô bé phải đi trong tiết trời nóng bức như thế này.

    Ngày nối ngày trôi qua trong những nỗi lo như thế. Mặt trời càng ngày càng hút kiệt hơi ẩm và sức sống trên trái đất một cách thèm khát và ác độc hơn. Cỏ khô khốc quắt queo hẳn lại và khô tới mức gãy vụn dưới gót chân những đàn linh dương, mỗi đàn dù chẳng đông mấy chạy qua cũng làm bốc lên những đám bụi mù mịt. Tuy nhiên, những người bộ hành của chúng ta cũng gặp được một con sông nhỏ, họ nhận ra ngay từ xa nhờ những hàng cây mọc trên hai bờ sông. Những người da đen vội đua nhau chạy tới những hàng cây, và khi tới được bờ sông, họ bắc cầu, rồi nhúng ngập đầu xuống nước uống ừng ực cho tới khi một con cá sấu đớp lấy tay một người trong bọn mới thôi. Những người khác vội lao tới cứu bạn và trong nháy mắt đã lôi con “thằn lằn” khủng khiếp này lên bờ, song nó vẫn không chịu nhả cái tay của người bị nạn ra, mặc dù người ta đã dùng dao và giáo nậy hàm nó. Mãi đến lúc con King đặt chân lên mình con vật và chà vụn nó dễ như một cái nấm mủn thì mọi chuyện mới kết thúc.

    Khi rốt cuộc mọi người đã thỏa cơn khát, Staś  ra lệnh quây hàng rào cọc tre thành hình tròn tại một chỗ nước nông, chỉ chừa một lối vào từ phía bờ sông để Nel có thể an toàn tắm cho thoải mái. Em còn bố trí con King ở ngay lối cửa vào. Được tắm táp, cô bé tỉnh cả người, và sau khi nghỉ ngơi, sức lực của cô bé hồi lại phần nào.

    Cả đoàn cũng như Nel rất sung sướng khi bvana kubva quyết định cho họ được dừng chân hai ngày cạnh sông. Được tin ấy, mọi người tươi tỉnh hẳn lên và quên đi những nỗi nhọc nhằn vừa trải qua. Sau khi đã được ngủ đẫy giấc và ăn uống no nê, một số người da đen bắt đầu thơ thẩn trong những hàng cây mọc trên bờ sông tìm những quả chà là dại và những quả cây được mệnh danh là “nước mắt Hiốp” mà người ta dùng làm tràng hạt. Trước khi mặt trời lặn, mấy người trong bọn họ quay trở về trại mang theo những vật hình vuông màu trắng mà Staś  nhận ngay rằng đó là những cái diều của chính em.

    Một trong những chiếc diều mang số 7, nghĩa là nó được thả lên từ núi Linđe, nơi bọn trẻ thả hàng mấy chục chiếc. Staś  rất mừng và thêm phấn chấn vì chuyện này.

    − Anh không nghĩ rằng, − em nói với Nel, − diều lại có thể bay xa đến thế. Anh cứ tưởng chúng sẽ vướng lại trên các đỉnh của dãy Caramôiô. Bây giờ thì hóa ra gió có thể mang được diều đến nơi nào nó muốn, anh hi vọng rằng những chiếc diều chúng mình thả lên từ những ngọn núi vây quanh hồ Baxxa Narốc cũng như thả dọc đường sẽ bay được tới đại dương.

    − Thế nào chúng cũng bay tới! − Nel đáp.

    − Cầu Chúa cho được như thế! − Cậu bé nói, và nghĩ tới những nỗi hiểm nguy và khó khăn của chặng đường phía trước.

    Ngày thứ ba, đoàn người rời khỏi sông sau khi đã lấy theo thật nhiều nước dự trữ trong những túi da. Trước khi hoàng hôn xuống, họ đi vào một vùng bị mặt trời thiêu đốt, nơi không có cả cây xiêm gai, một đôi chỗ mặt đất trần trụi như nện vậy. Chỉ thỉnh thoảng mới có một bụi lạc tiên có thân ngầm trong đất, trông giống như những quả bí khổng lồ, có đường kính tới hai ba thước ta. Từ những cái củ khổng lồ ấy mọc ra những sợi dây leo mảnh mai, lan ra trên mặt đất chiếm một khoảng không gian thật to lớn, tạo thành những bụi rậm rạp đến nỗi chuột cũng khó lòng rúc qua nổi. Tuy vậy, mặc dù loài thực vật này có màu xanh non ngon lành, trông giống như màu cây gai châu Âu, song chúng lại có không biết cơ man nào là gai nhọn, đến nỗi cả con King lẫn bọn ngựa cũng không sao xơi nổi. Riêng chú lừa là còn nhấm nháp được chút đỉnh, nhưng cũng rất thận trọng.

    Còn thường thì trong phạm vi vài dặm Anh, không hề trông thấy một thứ gì khác ngoài một loại cỏ cứng ngắn ngủn và một loài cây thân cỏ rất thấp trông từa tựa như cây trường sinh, loài cây này gẫy vụn khi động vào. Sau chặng nghỉ đêm đầu tiên, cả ngày hôm sau, lửa trút từ trời cao xuống đất. Không khí run rẩy giống như trên sa mạc Libi. Trời không một gợn mây. Mặt đất tràn ngập ánh sáng khiến cho mọi vật đều có màu trắng, không nghe thấy một tiếng động nào, thậm chí cả tiếng côn trùng, trong cái im lặng chết chóc đầy ánh sáng khó chịu này.

    Mọi người đẫm mồ hôi. Thỉnh thoảng họ phải dồn đống những súc thịt khô và khiên lại để tìm một chút bóng mát. Staś  ra lệnh phải tiết kiệm nước, những người da đen cũng giống như trẻ con vậy, họ hoàn toàn không hề lo nghĩ tới ngày mai. Cuối cùng, đành phải dùng lính canh giữ những người mang túi nước, và phân phát khẩu phần nước cho từng người. Chính Kali tự làm việc đó một cách công minh, nhưng chuyện ấy mất rất nhiều thì giờ, làm chậm trễ tốc độ hành quân, điều đó cũng có nghĩa là chậm tới được những nguồn nước mới. Thêm vào đó, những người Xamburu kêu ca rằng người Vahima được chia nhiều nước uống hơn, còn người Vahima lại kêu người Xamburu. Người Xamburu đòi quay trở lại, song Staś  tuyên bố rằng vua Pharu sẽ ra lệnh chặt đầu họ, còn bản thân em cũng lệnh cho những xạ thủ được trang bị súng trường rêmingtơn của mình không cho phép một ai bỏ đi cả.

    Đêm thứ hai họ gặp trúng chỗ mặt đất trần trụi. Họ không làm bôma hay hàng rào dêriba như người ta thường gọi ở Sudan − vì không có gì để làm cả. King và Saba trở thành lính canh trại. Đó là những lính canh đủ tin cậy, nhưng vì được uống nước ít hơn mười lần lượng cần thiết, nên con King rống lên cho đến tận rạng đông, còn con Saba thì thè lè lưỡi nhìn Staś  và Nel với lời cầu khẩn câm lặng, xin hãy thí thêm cho nó dù chỉ là một giọt nước. Cô bé muốn Staś  cho nó một ít nước trong cái bình đựng nước bằng cao su được thừa hưởng của ông Linđe mà em đeo bằng một sợi dây ở vai, nhưng cậu bé từ chối, vì em giữ gìn chút nước này cho Nel, dành cho những giờ đen tối nhất.

    Đến chiều ngày thứ tư thì chỉ còn lại có năm túi nước không lớn lắm, nghĩa là mỗi đầu người chỉ còn lại được không đầy nửa chén. Và vì rằng dù sao ban đêm cũng mát hơn ban ngày, khiến cơn khát đỡ giày vò hành hạ người ta hơn là ánh nắng mặt trời gay gắt, hơn nữa buổi sáng mọi người cũng đã được chia chút ít nước, nên Staś  ra lệnh dành những túi nước này sang ngày hôm sau. Những người da đen lao xao phản đối mệnh lệnh này, nhưng nỗi sợ hãi đối với Staś  hãy còn khá lớn, nên họ không dám lao vào chỗ nước dự trữ ít ỏi cuối cùng ấy, nhất là khi bên cạnh đó đang có hai người cầm súng rêmingtơn đứng canh, những người này được thay gác từng giờ một.

    Để đánh lừa cơn khát, những người Vahima và Xamburu đành vặt những cuộng cỏ khô cằn, nhai lõi của chúng, song trong cỏ cũng gần như không còn chút hơi ẩm nào, vì mặt trời đã hút cạn hơi ẩm ngay cả của những tầng đất sâu[1].

    Mặc dù không dập tắt được cơn khát, nhưng ít nhất thì giấc ngủ cũng cho phép tạm quên đi, nên khi đêm về, những người mệt nhọc và kiệt sức sau cả ngày đi đường ngủ như chết. Staś  cũng thiếp đi, nhưng trong lòng em đang có quá nhiều lo nghĩ và dằn vặt nên không sao ngủ yên và lâu được. Vài giờ sau, em tỉnh giấc và bắt đầu suy nghĩ về những chuyện sẽ đến, làm sao kiếm được nước uống cho Nel cùng cả đoàn, kể cả  người lẫn vật? Tình thế thật nghiêm trọng, thậm chí có thể nói thật kinh khủng, nhưng vốn tháo vát, cậu bé vẫn không chịu ngã lòng. Em bắt đầu nhớ lại tất cả những sự kiện diễn ra từ khi chúng bị bắt cóc ở Phaium cho tới lúc này: Chuyến đi dài đằng đẵng đầu tiên vượt sa mạc Sahara, bão cát trong sa mạc, những lần định chạy trốn, Chartum, Mahdi,  Fasoda,  thoát  khỏi  tay  Gebhr,  rồi  chặng đường tiếp theo đó đến khi ông Linđe chết, cho tới tận hồ Baxxa Narốc và mãi đến chỗ mà bọn trẻ đang trú đêm hiện nay.

    “Ta đã vượt qua biết bao chuyện, đã chịu đựng biết bao điều.” − Em tự nhủ. − “Biết bao lần ta tưởng chừng mọi sự đi đứt rồi và không còn có lối thoátào nữa, ấy vậy mà Chúa vẫn trợ giúp và bao giờ ta cũng tìm ra lối thoát. Thật  khó tưởng tượng là ta đã vượt qua ngần ấy chặng đường, ngần ấy hiểm nguy để rồi phải chết trong chặng đường cuối cùng này! Bây giờ hãy đang còn một ít nước, và vùng này đâu phải  là Xahara, vì nếu như thế thật thì hẳn là người ta phải biết điều đó chứ!”.

    Song thật ra niềm hi vọng của em còn được duy trì, bởi vì qua ống nhòm, về ban ngày em nhìn thấy ở phía nam dường như có dạng của một dãy núi mờ mờ, có thể cách chúng còn chừng trăm dặm Anh nữa, cũng có thể xa hơn. Nhưng nếu như đến được nơi đó thì chúng sẽ thoát chết, vì ít khi vùng núi lại không có nước. Cần phải mất bao lâu mới đến được, cái đó em không biết, điều ấy còn phụ thuộc vào độ cao của núi. Trong làn không khí trong suốt như không khí Phi châu này, những đỉnh núi cao có thể nhìn thấy được từ rất xa, nghĩa là phải tìm ra nước trước khi tới đó. Nếu không thì chết hết.

    “Nhất định phải thế!” − Staś  tự nhắc mình.

    Tiếng thở đứt đoạn của con ngựa đang cố sức tống ra khỏi phổi cái nhức nhối của cơn khát chốc chốc lại cắt ngang dòng suy nghĩ của cậu bé. Nhưng lúc sau, em như nghe thấy có tiếng gì đó tựa như tiếng rên rỉ từ một phía khác của trại, chính là từ phía những bao nước được phủ cỏ qua đêm. Vì tiếng rên lặp đi lặp lại mấy lần liền, nên cậu bé đứng dậy để xem có chuyện gì xảy ra. Em bước về phía bụi cây mọc cách lều chừng vài mươi bước chân. Đêm sáng vằng vặc, nên từ xa đã có thể trông thấy hai bóng người màu đen thẫm nằm cạnh nhau và hai khẩu rêmingtơn lóe sáng trong ánh trăng. “Người da đen bao giờ cũng thế” − Em nghĩ thầm − “Phải canh nước, thứ quý giá nhất đối với chúng ta hiện giờ, ấy thế mà họ lại ngủ khì cả hai, cứ như đang nằm trong căn lều của họ vậy. A! Ngày mai thì hẳn là cái hèo tre của Kali lại có việc làm đây!”

    Nghĩ thế, em tiến lại gần và lấy chân lay lay một trong hai người lính, nhưng lập tức em lùi lại, kinh hoàng.

    Người da đen có vẻ đang ngủ kia nằm ngửa với một cái dao cắm ngập tận chuôi vào cổ họng, cạnh đó là người thứ hai, với cái cổ cũng bị cắt ngang khủng khiếp đến nỗi gần như bị rời hẳn khỏi thân mình.

    Hai túi nước biến mất, ba túi khác bị phanh thủng và bẹp gí, nằm giữa đám cỏ bị vứt ngổn ngang.

    Staś  cảm thấy tóc em dựng ngược cả lên.

    Chương 45

    Nghe thấy tiếng kêu của em, Kali chạy lại đầu tiên, theo sau là hai người xạ thủ trước đó vừa được thay gác, rồi lát sau tất cả những người Vahima và Xamburu tụ tập lại, vừa hò hét vừa hú lên tại nơi xảy ra vụ án mạng. Lộn xộn, đầy những tiếng kêu và kinh hoàng. Người ta quan tâm không mấy đến những người bị giết và đến chuyện giết người, mà quan tâm nhiều hơn tới những giọt nước cuối cùng đã bị ngấm sạch vào nền đất bỏng cháy của hoang mạc. Một số người da đen bò nhoài ra đất, dùng tay vốc từng vốc đất lên, cố hít lấy chút hơi ẩm còn sót lại. Những người khác kêu la ỏm tỏi rằng chính cái ma ác đã giết chết những người lính canh và phanh thủng các túi nước.

    Nhưng Staś  và Kali biết rõ nên hiểu chuyện ấy ra sao. Chính M'Kunđe và M'Pua không có mặt trong số những người đang gào thét quanh bụi cỏ. Trong chuyện vừa xảy ra có cái gì đó lớn hơn là một vụ giết hai người lính canh và đánh cắp hai túi nước. Việc băm nát những túi nước còn lại chứng tỏ đó là một hành động báo thù, đồng thời là cái án tử hình cả đoàn. Những tín đồ của Mdimu ác đã báo thù những người tốt. Những tên phù thủy trả thù vị vua trẻ, người đã phanh phui chuyện lừa lọc của chúng và không cho phép chúng được tiếp tục bóc lột những người Vahima lâu hơn nữa. Giờ đây, đôi cánh của tử thần đang chao lượn trên đầu cả đoàn, như những cánh diều hâu lượn trên đàn bồ câu.

    Kali chợt nhớ lại một cách quá muộn màng rằng vì đang có nhiều lo nghĩ và bận những việc khác nên đã quên không ra lệnh trói những tên phù thủy này lại, như vẫn làm từ khi chúng chạy trốn đến nay. Cũng rõ ràng là, do tính cẩu thả bẩm sinh của người da đen, hai lính canh đã đặt lưng và ngủ thiếp đi. Chính điều đó đã khiến cho công việc của lũ đểu cáng được dễ dàng và khiến chúng trốn thoát mà không bị xử tội.

    Cũng phải mất khối thì giờ thì sự lộn xộn mới lắng đi chút ít và mọi người mới thoát khỏi cơn bàng hoàng, tuy vậy, bọn tội phạm chắc là vẫn chưa đi được xa, vì đất chỗ những túi nước bị rách hãy còn ẩm và máu chảy từ thây hai người bị giết vẫn chưa đông hẳn. Staś  ra lệnh đuổi theo hai tên chạy trốn, không những chỉ để nhằm trừng trị chúng mà còn để đoạt lại hai túi nước cuối cùng. Kali lên ngựa, dẫn mươi tay súng đuổi theo. Thoạt tiên Staś  cũng muốn tham gia vào việc đuổi bắt, nhưng em nghĩ là không thể để Nel ở lại một mình trong cơn phẫn nộ và trong trạng thái kích động của những người da đen, nên em ở lại. Em chỉ bảo Kali mang con Saba theo.

    Em ở lại vì e sẽ có cuộc nổi loạn, đặc biệt là về phía những người Xamburu. Nhưng em nhầm. Nói chung người da đen dễ nổi khùng, đôi khi vì những chuyện không đâu, nhưng một khi có một nỗi bất hạnh lớn đổ xuống đầu họ, nhất là khi cánh tay không khoan nhượng của tử thần chạm tới họ, thì họ đành thúc thủ, không chỉ riêng những người được đạo Hồi dạy rằng chống lại định mệnh là vô ích, mà hết thảy mọi người đều như thế. Khi đó cả nỗi sợ hãi lẫn sự giày vò của những phút giây cuối cùng cũng không làm họ thức tỉnh khỏi cơn bải hoải xuôi tay. Bây giờ đây cũng vậy.

    Khi sự bùng nổ ban đầu qua đi, khi cái ý nghĩ rằng sẽ phải chết đã hằn sâu vào đầu óc họ, thì cả những người Xamburu lẫn những người Vahima đều lặng lẽ nằm lăn ra đất chờ chết, vì vậy có lẽ không cần phải lo họ nổi loạn, mà có lẽ nên lo ngày mai họ có chịu nhổm dậy đi tiếp hay không. Khi nhận ra điều đó, Staś  cảm thấy rất thương họ.

    Trước khi mặt trời mọc, Kali quay trở về và đặt trước mặt Staś  hai cái bao đã bị cào xé rách nát, trong đó không còn lấy một giọt nước nào cả.

    − Ông lớn! − Nó nói. − Hết nước rồi!

    Staś  đưa tay lên cái trán đẫm mồ hôi rồi hỏi:

    − Thế còn M'Kunđe và M'Pua?

    − M'Kunđe và M'Pua chết rồi! − Kali đáp.

    − Cậu ra lệnh giết chúng à?

    − Sư tử hoặc vôbô đã giết chúng.

    Rồi nó bắt đầu thuật lại chuyện đã xảy ra. Họ tìm thấy xác của hai tên tội phạm cách trại khá xa, tại chỗ chúng bị tử thần bắt gặp. Cả hai đều nằm cạnh nhau, cả hai đều có cái sọ bị vỡ nát đằng sau gáy, cánh tay bị cào xé và tấm lưng bị gặm dở dang. Kali cho rằng sư tử hoặc vôbô hiện ra trước mặt bọn chúng trong ánh trăng, thì cả hai liền úp sấp mặt xuống và van xin chúng tha chết cho. Nhưng con thú dữ tợn đã giết cả hai, rồi sau khi cơn đói đã qua, nó ngửi thấy hơi nước liền xé nát các túi đựng nước.

    − Chính Chúa đã trừng phạt chúng. − Staś  nói. − Người Vahima nên biết rằng Mdimu ác không thể cứu nổi bất cứ kẻ nào.

    Kali lặp lại:

    − Chúa đã trừng phạt chúng, nhưng chúng ta không có nước.

    − Phía xa xa trước mặt, tớ trông thấy những rặng núi về phía đông. ở đó chắc chắn có nước.

    − Kali cũng trông thấy núi. − Xin Mdimu Tốt hãy... xin cô bé hãy cầu Linh thần Vĩ đại cho một con sông hay một trận mưa.

    Staś  không nói gì hết và bỏ đi. Em trông thấy hình bóng màu trắng của Nel đang đứng trước lều. Tiếng kêu thét và tiếng hú của những người da đen đã đánh thức cô bé dậy từ nãy.

    − Có chuyện gì thế, anh Staś ?

    Cậu bé đặt tay lên đầu Nel và nói nghiêm trang:

    − Nel, hãy cầu Chúa xin nước, nếu không tất cả chúng ta sẽ chết.

    Thế là cô bé ngước khuôn mặt nhợt nhạt của mình lên trời và nhìn dán mắt vào vầng trăng bạc, bắt đầu cầu xin Đấng tối cao, người đã đưa đẩy những chòm sao trên bầu trời và đã quạt gió vào lông cừu trên mặt đất, hãy cứu vớt.

    Sau một đêm mất ngủ, ồn ào và không yên tĩnh, mặt trời bỗng nhô lên sau đường chân trời một cách bất thần, như thường khi vẫn vọt lên trong vùng nhiệt đới, một ngày ngập tràn ánh sáng bắt đầu. Trên ngọn cỏ không có lấy một giọt sương, trên bầu trời không một gợn mây. Staś  ra lệnh cho các xạ thủ tập trung mọi người lại và nói chuyện với họ một lúc. Em nói với họ rằng không thể quay lại con sông đã qua nữa, vì chính họ cũng biết rằng nó nằm cách đó năm ngày đêm đường. Nhưng không một ai biết rằng liệu phía đối diện có nước hay không. Rất có thể là ở cách đây không xa có một nguồn suối nào đấy, một con sông hay một vũng nước. Tuy không thấy có cây cối gì, nhưng thường thường, trên những vùng đồng bằng trống trải, nơi gió mang vung vãi hạt giống đi xa, cây cối cũng không thể mọc được, ngay cả bên cạnh nước. Hôm qua họ đã trông thấy mấy con linh dương rất to cùng mấy con đà điểu chạy về phía đông, đó là dấu hiệu chứng tỏ rằng phía ấy hẳn phải có một nguồn nước uống nào đó. Vậy thì, những ai không phải là kẻ ngu ngốc, những ai trong ngực có trái tim của sư tử và trâu rừng, người ấy hãy tiếp tục đi về phía trước, dù là đang khát khô cổ và mệt mỏi, chứ không chịu nằm lại để chờ lũ diều hâu hay linh cẩu tới.

    Vừa nói thế, em vừa đưa tay chỉ những con diều hâu đang quần những vòng u ám trên đầu đoàn người. Sau những lời của Staś , tất cả những người Vahima được Kali ra lệnh đều đứng cả dậy. Vì vốn đã quen tuân phục quyền lực hà khắc của nhà vua, họ không dám cưỡng lại. Nhưng nhiều người Xamburu không muốn đứng dậy, vì vua của họ là Pharu đã ở lại tại vùng hồ. Những người này bảo nhau: “Tại sao chúng ta lại phải đi đón cái chết khi mà tự nó cũng sẽ đến với chúng ta?”. Thế là đoàn người lại tiếp tục tiến lên, giảm đi gần một nửa, và ngay lúc mới lên đường đã rơi vào nỗi mệt nhọc. Suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ người ta không có lấy một giọt nước nào trong cổ họng, cũng không có lấy một chất lỏng nào khác. Ngay cả trong những điều kiện khí hậu mát mẻ hơn thì khi lao động, đó cũng đã là chuyện khó chịu đựng nổi, huống hồ trong cái lò lửa Phi châu nóng bỏng này, nơi ngay cả những người được uống nước thỏa thuê cũng bị tháo mồ hôi nhanh đến nỗi họ có thể dùng tay vớt lại nước toát ra khỏi da mình ngay vào lúc đang uống. Cũng có thể thấy trước rằng, nhiều người sẽ nằm xuống dọc đường vì kiệt sức và bị say nắng. Staś  cố gắng hết sức bảo vệ Nel khỏi bị mặt trời thiêu đốt và không cho phép cô bé được ló người ra khỏi cái bành mà trên nóc em đã dùng một tấm lụa trắng làm thành hai lớp để che. Dùng một chút nước còn lại trong cái bình cao su, em nấu lên pha chè thật đặc, để nguội đi và đưa cho Nel, không pha đường, vì vị ngọt khiến cho cái khát tăng thêm. Cô bé rơi lệ van xin em hãy cùng uống, nên em bèn đặt cái bình lên miệng − trong bình chỉ còn lại chừng vài chén nước − rồi động đậy cổ họng giả vờ uống. Lúc cảm thấy vị hơi ẩm trên môi, em tưởng như trong bụng và ngực đang có lửa cháy, và nếu như không dập tắt ngọn lửa ấy thì em sẽ gục xuống chết ngay lập tức. Trong mắt em quay cuồng những đốm màu đỏ, em cảm thấy trong hai hàm răng nhói lên nỗi đau khủng khiếp, dường như có ai đang cắm vào đó hàng ngàn chiếc kim. Tay em run đến nỗi suýt đánh đổ những giọt nước cuối cùng ấy. Tuy vậy, em chỉ dùng lưỡi hớp lấy vài ba giọt, còn lại, em dành cho Nel.

    Lại một ngày đầy khổ sở và khó nhọc nữa trôi qua, đêm đến, may thay, trời lại mát mẻ hơn. Song sáng ngày hôm sau trời lại vô cùng nóng nực. Không một hơi gió thoảng. Mặt trời như một vị hung thần trút lửa xuống thiêu đốt mặt đất khô rang. Thậm chí không có lấy một cây xương khô nào cả, chỉ có một vùng bình nguyên khô cháy, trống trải, phủ đầy những bụi cỏ xám xịt, cùng những cây thạch thảo khô khốc. Chỉ thỉnh thoảng ở tận phía xa xa vang lên những tiếng sấm nhè nhẹ, nhưng trong khi bầu trời đang nắng chang chang, những tiếng sấm ấy không báo hiệu mưa, chỉ báo nắng hạn đang kéo dài mà thôi.

    Lúc gần trưa, khi trời nóng nực kinh khủng hơn cả, cần phải dừng lại nghỉ ngơi. Cả đoàn rải ra nghỉ trong im lặng nặng nề. Kiểm lại thấy một con ngựa bị chết, và hơn mười người phu khuân vác nằm lại dọc đường. Ngay cả lúc nghỉ ngơi không một ai nghĩ đến chuyện ăn. Mắt mọi người hõm sâu, môi nứt nẻ với những cục máu khô đọng lại. Nel thở hổn hển như một con chim. Staś  đưa cái bình cao su cho Nel và kêu lên: “Anh uống rồi! Anh uống rồi!”, rồi em vội chạy trốn sang đầu kia của trại, vì sợ rằng nếu ở lại thì có thể em sẽ lấy lại bình nước hoặc sẽ đòi Nel chia nước cho mình chăng. Và đó có thể là hành động dũng cảm nhất của em trong suốt cuộc hành trình. Bản thân em đang khốn khổ vì chịu đựng. Những đốm lửa đỏ quay lượn trước mắt em liên tục. Em cảm thấy hai hàm dính chặt với nhau, đến nỗi há ra ngậm vào đều khó. Cổ họng em khô khốc, cháy bỏng, không có một tí nước bọt nào trong miệng, lưỡi cứng đờ như bằng gỗ. ấy thế mà đối với em cũng như cả đoàn, đây mới chỉ là bước đầu của những nỗi cực hình.

    Những tiếng sấm báo hạn cứ rền vang ở chân trời. Khoảng ba giờ chiều, khi mặt trời đã ngả về tây, Staś  ra lệnh cho cả đoàn đứng dậy, rồi dẫn đầu cả đoàn tiếp tục đi về phía đông. Nhưng bây giờ chỉ còn chừng bảy chục người đi cùng với em, song chốc chốc lại có một người ngã vật xuống bên gói hàng của mình để không bao giờ đứng dậy nữa. Cái nóng giảm đi chừng vài độ nhưng thực ra lại còn kinh khủng hơn. Trong bầu không khí lặng yên, hình như có hơi khí than lởn vởn. Mọi người dường như không còn gì để thở nữa, lũ súc vật cũng khốn khổ không kém. Chỉ một giờ sau khi xuất phát, lại một con ngựa nữa ngã gục xuống. Con chó Saba thở hổn hển, bụng hóp cả lại, cái lưỡi xám xịt thè ra nhưng không còn một tí bọt nào. Con King vốn quen với cái khô cằn của vùng đồng hoang Phi châu, ít nhọc nhằn hơn, nhưng cũng đã bắt đầu nổi cáu. Đôi mắt nhỏ bé của nó ánh lên những tia sáng kì lạ. Khi Staś  và nhất là Nel thỉnh thoảng nói với nó đôi lời, nó còn đáp lại bằng một thứ tiếng gừ gừ trong cổ họng, nhưng Kali vô tình đi qua ngang gần nó, nó rống lên dữ tợn và huơ vòi ra, suýt nữa thì giết chết tươi cậu bé, nếu cậu không kịp nhảy tránh về một bên.

    Mắt Kali cũng vằn máu đỏ, những mạch máu trên cổ nó căng phồng ra, môi nứt nẻ như những người da đen khác. Khoảng năm giờ chiều, nó lại gần Staś  và nói bằng một giọng khàn đặc khó khăn lắm mới thoát ra được khỏi cổ:

    − Ông lớn ơi, Kali không thể đi xa hơn được nữa. Cứ để cho đêm tới ngay chỗ này thôi.

    Staś  cố nén nỗi đau đớn trong hai hàm răng và nói một cách khó nhọc:

    − Cũng được! Dừng lại thôi. Đêm sẽ dễ chịu hơn.

    Mọi người ném phịch những kiện hàng đội trên đầu xuống đất, nhưng vì cái nóng trong người họ đã khiến cho máu đặc lại đến hết mức, nên lần này họ không nằm vật ngay xuống đất. Trái tim và những mạch máu ở thái dương họ, ở chân tay họ, đập mạnh như vỡ tung ra. Da trên thân họ khô đi, co lại và bắt đầu nứt nẻ, họ cảm thấy trong xương cốt có cái gì đó thật bồn chồn, còn trong lục phủ ngũ tạng cũng như trong họng thì có lửa đốt. Một số người đi đi lại lại vẻ đầy lo lắng bên cạnh những bọc hàng, còn những người khác thì trong ánh sáng đỏ của vầng mặt trời lặn có thể thấy họ nối nhau lẩn quẩn trong những bụi cây khô như đang muốn tìm kiếm vật gì cho tới khi sức họ hoàn toàn kiệt quệ. Khi đó họ nối nhau ngã xuống mặt đất và nằm xoài người trong cơn rung giật. Kali ngồi xệp bên cạnh Staś  cùng Nel, há hốc miệng đớp đớp không khí, giữa hai hơi thở nó lặp đi lặp lại như một lời van xin:

    Bvana kubva, nước!

    Staś  giương cặp mắt đông cứng như thủy tinh nhìn nó và nín lặng.

    − Bvana kubva, nước! − Rồi một lúc sau − Kali chết mất! Khi đó, Mêa, người không rõ vì lí do nào có thể chịu

    đựng những cơn khát giỏi hơn cả và ít đau khổ hơn tất cả những người khác, bèn tiến đến gần, ngồi xuống cạnh cậu bé, ôm chặt lấy cổ nó và cất giọng du dương khe khẽ nói:

    − Mêa muốn chết với Kali...

    Im lặng kéo dài.

    ...

    Trong khi đó mặt trời lặn hẳn và đêm bao trùm lên cảnh vật. Bầu trời ngả sang màu tím than. Chòm sao chữ thập lóe sáng ở phương nam. Những chòm sao dày đặc lấp lánh vùng bình nguyên ấy. Mặt trăng dường như nhô lên từ dưới đất tỏa ánh sáng vào bóng đêm, còn phía trời tây sáng lên ánh sáng mờ mờ nhạt nhạt của Hoàng đạo. Không khí như biến thành một bể ánh sáng to lớn duy nhất. Rồi ánh sáng mỗi lúc một rạng thêm lên. Cái bành trên lưng con King mà người ta đã lãng quên đi cùng những lều trại sáng lên như những tường nhà được quét vôi trắng ánh lên trong bóng đêm. ánh sáng rơi vào im lặng, trái đất chìm trong giấc ngủ mê mệt.

    Thế mà trong cái im lặng thanh bình này của thiên nhiên, những con người trong khu trại lại đang phải rên lên vì đau đớn và đang chờ chết. Trên cái nền bàng bạc của bóng tối hiện lên sắc cạnh những đường nét khổng lồ của con voi. Ngoài những chiếc lều ra, ánh trăng còn làm sáng lên những

    bộ quần áo màu trắng của Staś  và Nel, còn trong những bụi thạch thảo và những thân hình sẫm đen co quắp của những người da đen, đây đó vứt lỏng chỏng những bọc hàng hóa. Con Saba ngồi tựa hai chân trước trước mặt bọn trẻ, ngẩng đầu trông lên cái đĩa của vầng trăng và hú lên thê thảm.

    Trong đầu Staś  quay cuồng những mẩu ý nghĩ, nhào trộn vào nhau thành một cảm giác tuyệt vọng câm lặng, rằng lúc này không còn cứu cánh nào cả, rằng tất thảy, tất thảy những cố gắng và công sức to lớn, những chịu đựng vô song, những hành động can trường và đầy ý chí mà em đã thực hiện trong thời gian những chuyến đi kinh khủng từ Mêđinét tới Chartum, từ Chartum tới Fasoda, rồi từ Fasoda tới cái hồ chưa ai biết đến, đã không mang lại một kết quả gì hết, và giờ đây, cái kết cục chấm hết cuộc đấu tranh và sự sống đang kéo đến một cách không khoan nhượng. Đối với em, điều khủng khiếp hơn cả là ở chỗ, cái kết cục ấy lại đến chính trong đoạn đường cuối cùng này, đoạn đường mà cái đích là đại dương. Ôi, em không còn đưa được bé Nel đến bờ biển nữa, em không còn có thể đưa cô bé bằng tàu thủy tới Port Said, không còn được trao cô bé cho ông Rawlison, còn chính em thì không còn được lao vào vòng tay cha, không được nghe ông khen em đã hành động như một thiếu niên can đảm, như một người Ba Lan chân chính nữa! Hết rồi, hết cả rồi! Vài ngày nữa thôi, mặt trời sẽ chỉ gặp những cái xác chết, và sau đó sẽ thiêu đốt chúng cho đến khi chúng giống như những cái xác ướp đang ngủ một giấc ngủ vĩnh hằng trong các viện bảo tàng ở Ai Cập.

    Vì đau đớn và nóng sốt, đầu em hỗn loạn. Những ảo ảnh và ảo âm hồn mê kéo tới. Em nghe rõ tiếng bọn Sudan và bọn Bedouin thét lên: “Yalla, yalla!” trên những con lạc đà phi nước đại. Em trông thấy Idris và Gebhr. Gã Mahdi với cặp môi dày đang mỉm cười nhìn em và hỏi: “Cháu có muốn uống nước từ suối nguồn chân lí hay không?...” Tiếp đó con sư tử trên phiến đá đang giương mắt nhìn em, rồi ông Linđe đưa cho em một lọ thuốc kí ninh và bảo: “Nhanh lên, nhanh lên cháu, cô bé đang chết kia kìa!”. Rồi cuối cùng, em chỉ còn nhìn thấy khuôn mặt vô cùng thân yêu, tái nhợt, và hai cánh tay nhỏ bé đang vươn về phía em.

    Đột nhiên em rùng mình tỉnh dậy vì sát bên tai loáng thoáng tiếng thì thào nghe như một lời than vãn của Nel:

    − Anh Staś ... nước!

    Cũng giống như Kali vừa rồi, cô bé chỉ trông vào em, chờ sự cứu vớt.

    Nhưng vì mười hai tiếng đồng hồ trước đây em đã trao cho cô bé những giọt nước cuối cùng, nên lúc này em bật dậy, kêu lên thành tiếng, trong tiếng kêu đó có sự bùng nổ của nỗi đau đớn tuyệt vọng và tủi thân:

    − Nel ôi! Anh chỉ giả vờ uống thôi, chứ ba ngày nay anh không có một chút nước nào trong họng!

    Rồi hai tay ôm chặt lấy đầu, em chạy trốn để khỏi phải nhìn thấy nỗi đau đớn của cô bé. Em cắm đầu chạy như mù giữa những bụi cỏ và thạch thảo cho tới khi ngã vật vào một bụi cây vì hoàn toàn kiệt sức. Em không còn một chút khí giới nào để tự vệ. Bất kì một con báo, một con sư tử hay thậm chí một con linh cẩu lớn nào cũng có thể ăn thịt em một cách dễ dàng. Nhưng con chó Saba chạy lại, và sau khi ngửi ngửi khắp người em, con chó hú lên, như muốn gọi người cứu lấy chủ.

    Song chẳng hề có ai vội đến cứu. Từ trên trời cao, vầng trăng thản nhiên và không chút động lòng nhìn xuống. Cậu bé nằm rất lâu như đã chết. Mãi tới khi một hơi gió mát mẻ hơn chợt thổi từ phía đông tới, khiến em hồi lại. Staś  ngồi dậy, và lát sau, cố gắng đứng lên để quay về phía Nel.

    Hơi gió mát hơn lại thổi đến em lần thứ hai. Con Saba thôi hú và quay mũi về phía đông, cánh mũi phập phồng. Bỗng nhiên nó bật sủa lên một tiếng, rồi hai tiếng, bằng cái giọng trầm đứt đoạn, và nó lao đi về phía trước mặt. Một hồi lâu không nghe thấy tiếng nó, nhưng rồi lát sau tiếng sủa của nó lại vang lên từ phía xa xa. Staś  đứng dậy chuệnh choạng trên hai chân cứng đờ dõi nhìn theo nó. Những chặng đường dài dặc, cuộc sống kéo dài trong rừng, sự cần thiết phải căng thẳng tất cả các giác quan một cách thường xuyên cùng những nỗi nguy hiểm luôn luôn đe dọa đã dạy cho cậu bé chú ý đến tất cả những gì xảy ra chung quanh, nên giờ đây, mặc dù đau đớn, mặc dù trí óc không thật tỉnh táo, nhưng bản năng và thói quen khiến em chú ý ngay tới hành động của con chó. Một lúc sau, con Saba lại xuất hiện bên cạnh em nhưng có vẻ rất xúc động và loay hoay một cách lạ lùng. Mấy lần liền nó ngước mắt nhìn Staś , nó chạy vòng tròn, rồi lại lao đi, hít hít không khí và sủa về phía đám thạch thảo, rồi lại quay trở lại, và cắn lấy quần cậu bé lôi về phía ngược với trại.

    Staś  đã hoàn toàn tỉnh táo.

    “Gì thế nhỉ?” − Em nghĩ thầm − “Hoặc là con chó đã hóa điên vì quá khát, hoặc là nó cảm thấy có nước đâu đây. Nhưng mà không!... Giá như có nước gần đây thì nó đã chạy ngay tới uống và mõm nó phải ướt chứ. Nếu nước ở xa thì hẳn là nó không ngửi thấy... nước không có mùi... Còn nếu có linh dương thì chắc nó không kéo mình đi làm gì, vì ban đêm nó thường không muốn ăn. Thú dữ chắc cũng không phải... Vậy thì là cái gì?”

    Và bỗng nhiên trái tim cậu bé đập mạnh hơn trong lồng ngực.

    “Vậy rất có thể là gió đã mang lại hơi người... Có thể ở phía xa xa kia có một cái làng dân da đen nào chăng?... Có thể một cái diều đã bay được tới tận... Ôi, Đức Chúa Jêsu lòng lành, ôi, Đức Chúa Jêsu...”

    Dưới ảnh hưởng của tia hi vọng, em bỗng lấy lại được sức lực và lao ngay về phía trại, mặc dù con chó cứ cưỡng lại, bằng cách chạy chắn đường em.

    Trong trại, em trông thấy ngay cái bóng trắng của Nel, em nghe thấy tiếng nói yếu ớt của cô bé, em vấp phải Kali đang nằm trên mặt đất, nhưng em không còn để ý đến điều gì cả. Em lao đến cái gói đựng pháo hiệu, xé toạc ra, rút một cái, tay run rẩy buộc nó vào một cái cọc tre cắm xuống khe nứt trên mặt đất, đánh lửa và châm vào sợi dây ngòi nhỏ lủng lẳng dưới chân ống pháo.

    Một giây sau, một con rắn đỏ vừa kêu rít vừa bay lên cao, Staś  ôm chặt hai tay vào cọc tre để khỏi ngã và dán mắt nhìn về phía xa. Mạch ở hai tay và thái dương em đập mạnh như búa, môi em mấp máy những câu cầu nguyện khẩn thiết. Em gửi hơi thở cuối cùng của mình trong đó chứa đựng cả tâm hồn đến với Đức Chúa.

    Một phút trôi qua, rồi hai, ba, bốn phút. Không thấy gì, không thấy gì cả! Hai tay cậu bé buông thõng xuống, đầu gục xuống phía mặt đất và một nỗi tủi hận trào lên trong lồng ngực đã quá đau khổ của em.

    − Vô ích! Vô ích! − Em thì thào − Ta sẽ đến, ngồi xuống cạnh Nel và sẽ chết cùng em!

    ...

    Chính vào lúc ấy, ở xa xa trên cái nền màu bạc của đêm trăng, đột nhiên vọt lên một dải lửa rồi tóe ra thành những vì sao màu vàng rơi lả tả như những giọt lệ lớn xuống mặt đất.

    − Cứu tinh! − Staś  kêu lên.

    Thế là những người vừa như chết dở mới đây lao dậy chạy như đua nhau vượt qua những bụi thạch thảo và những bụi cỏ. Sau cái pháo hiệu thứ nhất tiếp đến cái thứ hai rồi thứ ba. Sau đó hơi gió mang lại tiếng gì như tiếng gõ mà người ta dễ dàng nhận ra đó là tiếng súng xa xa. Staś  ra lệnh cho tất cả các khẩu súng rêmingtơn đều phát hỏa, thế là từ đó cuộc đối thoại của những khẩu súng trường không ngơi nghỉ một giây, mỗi lúc càng nghe rõ hơn lên. Cậu bé nhảy lên lưng ngựa, con ngựa dường như cũng được một phép thần nào đó trả cho sức lực, và giữ chặt Nel trước yên, Staś  phi như bay về phía những thanh âm cứu tinh, xuyên qua đồng bằng. Con Saba chạy theo bên cạnh, phía sau là con King khổng lồ với những bước chân thình thịch.

    Hai trại cách nhau chừng vài cây số, nhưng vì người ta lao đến với nhau từ cả hai phía đồng thời, nên quãng đường đó chẳng đi mất bao lâu. Chẳng mấy chốc, không những chỉ nghe mà còn thấy được những phát súng bắn nữa. Lại thêm một chiếc pháo hiệu bay lên không trung, cách đấy cùng lắm chỉ vài trăm bước chân. Rồi nhiều ánh đuốc sáng bừng lên. Mặt đất hơi nhô cao che khuất chúng đi trong giây lát, nhưng khi Staś  vừa vượt qua được thì em gần như đột ngột chạm ngay vào một hàng người da đen đang cầm trong tay những bó đuốc cháy rừng rực.

    Dẫn đầu đoàn là hai người Âu đội mũ kiểu Anh và cầm súng.

    Chỉ cần thoáng qua Staś  đã nhận ngay ra đó chính là đại úy Glen và bác sĩ Clery.

    Chương 46

    C

    Chuyến đi của đại úy Glen và bác sĩ Clery hoàn toàn không nhằm mục đích tìm kiếm Nel và Staś . Đó là một chuyến đi rất đông người và được hậu cần chu đáo của chính phủ, nhằm mục đích nghiên cứu sườn phía đông bắc của dãy núi Kilima Ndaô khổng lồ, cùng với những vùng đất còn rất ít được biết đến nằm ở phía bắc rặng núi này. Mặc dù cả đại úy và bác sĩ đều biết tin về việc bọn trẻ bị bắt cóc từ Mêđinét En Phaium (vì các nhật báo Anh và Ả Rập đều đưa tin này) nhưng họ nghĩ rằng cả hai trẻ hoặc đã chết hoặc đang rên xiết trong cảnh nô lệ ở xứ sở của tên Mahdi, nơi mà không một người dân châu Âu nào trốn thoát. Ông Clery có người chị lấy ông Rawlison ở Bombay, rất yêu thích cô bé Nel trong chuyến đi tới Cairô, cảm thấy vô cùng đau đớn vì bị mất cô bé. Song cả hai ông nói chung cũng chân thành thương tiếc cậu bé cương nghị. Đã mấy lần liền từ Mombaxa, họ gửi điện đến ông Rawlison để hỏi thăm xem đã tìm thấy bọn trẻ chưa, và mãi cho tới khi nhận được bức điện cuối cùng − điện đến từ trước khi họ lên đường khá lâu − với câu trả lời mang tin buồn, thì cả hai mới mất mọi hi vọng.

     

    Thậm chí họ không hề nghĩ rằng bọn trẻ vốn bị giam ở thành Chartum xa xôi lại có thể xuất hiện ở vùng này. Tuy nhiên, thường thường về đêm, sau khi kết thúc những công việc ban ngày, họ thường trò chuyện về bọn trẻ, vì bác sĩ không sao quên nổi cô bé xinh xắn tuyệt vời nọ.

    Trong khi đó, chuyến đi của họ càng ngày càng tiến xa. Sau khi dừng chân một thời gian lâu trên các sườn phía đông của dãy núi Kilima Ndarô, sau khi đã khảo sát nguồn sông Xôpbat và Tana cùng ngọn núi Kênia, đại úy và bác sĩ quặt về phía bắc, rồi sau khi vượt qua vùng Cuaxô Nưirô lầy lội, họ tiến vào một vùng đồng bằng rộng lớn, không cư dân, chỉ có những đàn linh dương không tính xuể sinh sống. Sau hơn ba tháng đi đường, cần để cho mọi người được nghỉ ngơi một thời gian dài, vậy nên đại úy Glen − sau khi phát hiện được cái hồ nhỏ nhiều nước, một thứ nước màu nâu nâu nhưng rất lành − liền ra lệnh hạ trại tại đó và tuyên bố nghỉ mười ngày.

    Trong khi dừng chân nghỉ, hai người da trắng thường lo việc săn bắn, chỉnh lại những ghi chép về địa lí và tự nhiên, còn những người da đen thì rong chơi theo đúng sở thích của họ. Một ngày kia, bác sĩ Clery dậy sớm, và khi đến bên bờ hồ, ông trông thấy khoảng mươi người Zandiba trong đoàn đang ngước mắt nhìn lên một ngọn cây cao, lặp đi lặp lại một cách luẩn quẩn:

    Ndege? (Chim?)

    Akuna ndege! (Không phải chim! )

    Ndege? (Chim?)

    Bác sĩ bị cận thị nên bảo người về lều mang lại cho mình cái kính dã chiến, rồi nhìn qua kính lên cái vật mà những người da đen đang chỉ trỏ, và một nỗi kinh ngạc hiện lên trên mặt ông.

    − Hãy mời đại úy đến ngay! − Ông bảo.

    Song trước khi những người da đen kịp chạy đến nơi, đại úy đã hiện ra trước cửa lều vì ông đang định đi săn linh dương.

    − Trông này, anh Glen! − Bác sĩ vừa nói vừa trỏ lên cây.

    Đến lượt đại úy cũng ngửa đầu nhìn lên, lấy tay che mắt và ngạc nhiên không kém bác sĩ.

    − Cái diều! − Ông kêu lên.

    − Phải, nhưng những người da đen không biết thả diều, từ đâu đó bay lại đây mới được chứ?

    − Có lẽ có một cái làng da trắng nào hay một đoàn truyền giáo nào đang ở gần đây chăng?...

    Gió đã thổi từ hướng tây suốt ba ngày nay rồi, nghĩa là thổi từ phía vùng ta chưa biết, vùng mà hình như cũng không người như cái đồng hoang này vậy. Mà anh cũng biết đấy, vùng này đâu có làng nào, cũng có đoàn truyền giáo nào đâu.

    − Vậy thì lạ thật nhỉ...

    − Phải lấy cho được. Có thể chúng ta sẽ biết được nó xuất phát từ đâu chăng.

    Đại úy ra lệnh. Cái cây cao vài chục mét, nhưng những người da đen trong chớp mắt đã leo lên đến ngọn, cẩn thận lấy cái diều đang bị vướng xuống, đưa cho bác sĩ. Bác sĩ vừa nhìn cái diều đã bảo ngay:

    − Có những chữ gì đây này... Ta đọc xem... Rồi nheo mắt lại, ông bắt đầu đọc.

    Bỗng nhiên mặt ông biến đổi hẳn, tay run run.

    − Anh Glen, − Ông nói, − Anh hãy cầm lấy đọc lên và bảo cho tôi biết xem tôi có bị say nắng không, và trí óc tôi có hoàn toàn minh mẫn hay không.

    Đại úy cầm lấy cái gọng diều bằng tre có dán tờ giấy và đọc như sau:

    Nelly Rawlison và Xtanixoáp Tarơcốpxki. Bị đưa từ Chartum đi Fasoda.

    Rồi từ Fasoda bị đưa về phía đông sông Nin.

    Đã thoát khỏi tay bọn phiến loạn.

    Sau nhiều tháng đi đường , chúng tôi đã đến được một cái hồ nằm ở phía nam Abixinia.

    Chúng tôi đang đi về phía đông. Yêu cầu được cứu ngay."

    Ở rìa tờ giấy có một dòng ghi thêm bằng nét chữ nhỏ hơn: "Cái diều này là thứ năm mươi tư, được thả lên từ dãy núi vây quanh cái hồ chưa có tên trong địa lí. Ai nhặt được xin chuyển cho Công ty Kênh đào ở Port Said, hoặc cho đại úy Glen ở Mombaxa. Xtanixoáp Tarơcốpxki

    Khi giọng đọc của đại úy đã lặng đi, cả hai người bạn cùng im lặng nhìn nhau.

    − Cái gì thế này? − Mãi sau bác sĩ Clery mới hỏi.

    − Tôi không tin vào mắt mình nữa! − Đại úy trả lời.

    − Nhưng đây đâu phải là ảo ảnh.

    − Không phải!

    − Rõ ràng có viết: “Nelly Rawlison và Xtanixoáp Tarơcốpxki.”

    − Thật là rõ ràng.

    − Sao bọn trẻ lại có thể ở vùng này được nhỉ?

    − Chúa đã cứu thoát chúng, rất có thể là như thế.

    − Tạ ơn Người! − Bác sĩ nhiệt thành kêu lên.

    − Nhưng biết tìm bọn chúng ở đâu bây giờ?

    − Trên diều không còn viết thêm gì nữa à?

    − Còn vài chữ nữa nhưng đúng vào chỗ bị cành cây chọc thủng. Khó mà đọc nổi.

    Cả hai chụm đầu xuống tờ giấy và sau khi nghiên cứu khá lâu, họ mới đánh vần được nổi:

    Mùa mưa qua đã lâu.”

    − Thế có nghĩa là gì? − Bác sĩ hỏi.

    − Có nghĩa là thằng bé không còn tính được thời gian nữa.

    − Và bằng cách này nó muốn báo gần đúng thời gian. Anh nói phải lắm. Và như thế có nghĩa là chiếc diều này mới thả cách đây chưa lâu.

    − Nếu đúng như thế thì bọn trẻ ở cách đây không xa! Cuộc trò chuyện sôi nổi đứt đoạn còn kéo dài một chút nữa, rồi hai người bạn lại nghiên cứu cái tài liệu nọ một lần nữa, mỗi người đều nghiền ngẫm riêng mình thật kĩ mỗi lời mỗi chữ ghi trên đó. Song việc này khó tin đến nỗi giá như nó không xảy ra đúng vào cái vùng hoàn toàn không có người Âu sinh sống và cách bờ biển những sáu trăm cây số, thì hẳn bác sĩ và đại úy đã cho rằng đó chỉ là một trò đùa không phải lúc mà một bạn trẻ người Âu nào đó hoặc những đứa con nuôi của một đoàn truyền giáo nào đó đã bày đặt ra sau khi đọc tin về việc bọn trẻ bị bắt cóc qua các báo mà thôi. Song thật khó mà không tin vào chính mắt mình: Họ đang cầm cái diều thật trong tay, trên đó nổi rõ lên những hàng chữ màu đen đã hơi bị mờ đi.

    Ấy thế mà vẫn còn nhiều chuyện họ không sao hiểu nổi. Bọn trẻ kiếm đâu ra giấy để làm diều? Nếu như có một đoàn thương khách nào đó cho chúng giấy, thì hẳn là chúng đã nhập luôn vào đó và đâu cần cầu xin cứu viện nữa. Vì những lí do gì mà cậu bé không cố gắng cùng với cô bạn đồng hành nhỏ bé của mình chạy trốn sang Abixinia? Vì sao bọn phiến loạn đày bọn trẻ về phía đông sông Nin, tới vùng đất chưa có người biết đến? Làm cách nào chúng có thể thoát khỏi tay bọn canh giữ? Chúng ẩn náu ở đâu? Bằng phép màu nhiệm nào mà suốt hàng tháng trời đi đường ròng rã chúng không bị chết đói, không làm mồi cho dã thú? Vì sao những người dã man không giết chúng? Tất cả những câu hỏi đó đều không có trả lời.

    − Tôi không hiểu gì cả, tôi không thể hiểu gì cả! − Bác sĩ Clery lặp đi lặp lại. − Họa chăng đó là sự kì diệu của Chúa!

    − Chắc chắn là thế! − Đại úy đáp. Rồi ông nói thêm:

    − Nhưng cả cái thằng bé ấy nữa chứ! Vì rõ ràng đây là công lao của nó.

    − Nó đã không bỏ rơi con bé! Cầu Chúa ban phước lành cho cái đầu và đôi mắt của chú bé!

    − Xtanlây, thậm chí cả Xtanlây cũng không thể sống nổi quá ba ngày trong những điều kiện như thế.

    − Ấy thế mà bọn trẻ lại sống nổi.

    − Và chúng đang cầu cứu. Chấm dứt chuyện nghỉ ngơi! Lên đường ngay lập tức!

    Và họ làm đúng như thế. Dọc đường hai người bạn lại nghiên cứu tài liệu một lần nữa, vì họ tin rằng có thể tìm thấy trong đó lời chỉ dẫn về phương hướng mà họ cần phải đi để cứu bọn trẻ. Nhưng không cần chỉ dẫn nào hết. Đại úy dẫn đoàn đi theo đường dích dắc với hi vọng là có thể sẽ gặp một đống lửa đã tắt hoặc những dấu hiệu nào đó khắc trên vỏ cây. Họ cứ đi như thế mấy ngày liền. Không may, sau đó họ tiến vào một vùng đồng bằng hoàn toàn không có cây cối gì, chỉ phủ đầy những bụi thạch thảo cao và những lùm cỏ khô khốc. Nỗi lo lắng bắt đầu hành hạ hai người bạn. Trên cái khoảng không gian mênh mông này thậm chí có thể dễ dàng bỏ qua cả những đoàn khách thương lớn chứ chưa nói tới hai đứa trẻ con, mà theo tưởng tượng của họ, đang bò trườn ở đâu đó như hai con sâu nhỏ giữa những bụi thạch thảo còn cao hơn chúng nữa. Lại một ngày nữa trôi qua. Những cái lọ đựng giấy để lại trong các bụi cây cũng như những đống lửa ban đêm không hề giúp được gì. Đại úy và bác sĩ đôi khi đã bắt đầu thấy mất hi vọng, không hiểu liệu có tìm thấy bọn trẻ hay không, nhất là có tìm thấy chúng còn sống hay không.

    Tuy nhiên, họ vẫn tìm kiếm một cách nhiệt thành suốt mấy ngày nữa. Những đội tuần tra mà đại úy Glen phái đi sang bên trái và bên phải cho biết rằng tiếp theo đấy sẽ là vùng hoang mạc khô cằn hoàn toàn không có nước, cho nên khi tình cờ tìm thấy nước trong một khe đất, họ đành phải dừng lại để lấy nước chuẩn bị cho chuyến đi tiếp tục.

    Cái khe thực ra chỉ là một hẻm sâu chừng mươi mét và rất hẹp. Dưới lòng khe có nguồn nước nóng sủi bọt như sôi vì nó chứa axit cácbôních. Song sau khi để nguội đi, nước lại rất tốt và rất lành. Nguồn nước dồi dào đến nỗi cả ba trăm người trong đoàn cũng không thể khiến nó cạn được. Ngược lại, họ càng lấy nhiều nước bao nhiêu thì nguồn lại càng phun mạnh bấy nhiêu và khiến cho khe càng đầy hơn bấy nhiêu.

    − Cũng có thể với thời gian, vùng này sẽ thành một nơi chữa bệnh. − Bác sĩ Clery nói. − Nhưng hiện nay thì bọn thú không uống được nước này vì hai sườn khe quá dốc.

    − Liệu bọn trẻ có tìm ra được một nguồn nước tương tự như thế này không nhỉ? − Đại úy hỏi.

    − Không rõ. Cũng có thể là trong vùng này có nhiều nguồn nước. Nhưng nếu không thì bọn trẻ chết mất vì thiếu nước.

    Đêm đến. Họ đốt lên những đống lửa heo hắt mặc dù không dựng hàng rào chắn vì chẳng biết dựng bằng gì. Sau khi ăn tối, bác sĩ và đại úy ngồi trên những chiếc ghế gấp và vừa hút thuốc vừa trò chuyện về những điều đang đè nặng nhất lên trái tim họ.

    − Không có lấy một dấu vết nào hết! − Ông Clery thốt lên.

    − Mình đã định, − Glen đáp, − Phái mươi người của chúng ta đi đến biển để đánh điện báo là đã có tin của bọn trẻ. Nhưng thật mừng là mình đã không làm việc đó, vì chắc là những người này sẽ chết dọc đường, mà nếu họ có đến nơi được chăng nữa thì khuấy lên cái hi vọng hão huyền làm gì...

    − Để lại khiến cho nỗi đau trở lại...

    Bác sĩ nhấc cái mũ ra khỏi đầu lau trán đẫm mồ hôi.

    − Này, − Ông nói, − Nếu như chúng mình quay trở lại cái hồ ấy, chặt thật nhiều cây và đêm đêm đốt những đống lửa thật to thì có thể bọn trẻ sẽ thấy được đấy...

    − Nếu như chúng ở gần thì thể nào chúng mình cũng đã tìm được chúng, còn nếu chúng ở xa thì sự lồi lõm của địa hình sẽ che mất ánh lửa. Cái bình nguyên này có vẻ bằng phẳng nhưng thực ra đầy gò đống, lượn sóng như mặt đại dương. Thêm nữa, nếu đi lùi lại thì chúng mình bị mất thêm khả năng tìm ra dấu vết của bọn trẻ.

    − Anh hãy nói thẳng xem, không còn tí hi vọng nào nữa à?

    − Bạn thân yêu ơi, chúng ta là người lớn, mạnh khỏe và tháo vát, thế nhưng cậu hãy thử nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu như chúng mình chỉ có độc hai đứa rơi vào xứ này, cứ cho là có cả khí giới đi, nhưng không có lương thực và không có người nào khác...

    − Phải, phải, đáng buồn là đúng như vậy... Tôi hình dung ra cảnh hai đứa trẻ đi qua vùng hoang mạc trong một đêm như thế này.

    − Đói, khát, thú dữ...

    − Ấy thế mà thằng bé lại viết rằng chúng nó đã đi nhiều tháng ròng rã.

    − Thế nên trong chuyện này có cái gì đó vượt quá sức tưởng tượng của mình.

    Một hồi lâu trong im lặng chỉ nghe thấy tiếng thuốc lá đang ngún cháy trong nõ tẩu. Bác sĩ nhìn đăm đăm vào bóng đêm nhợt nhạt, rồi hạ giọng nói:

    − Khuya rồi, nhưng tôi không thấy buồn ngủ... Cứ nghĩ rằng bọn trẻ còn sống, vẫn đang lang thang đâu đó trong ánh trăng, giữa những bụi thạch thảo khô khốc này... mỗi mình hai đứa... hai đứa trẻ con như thế. Anh có nhớ không, Glen, cái khuôn mặt đầy vẻ thiên thần của cô bé?

    − Nhớ chứ, mình không sao quên được.

    − Ôi! Tôi sẵn sàng để cho chặt cánh tay mình giá như...

    Ông không nói hết câu, vì đại úy Glen bật dậy như phải bỏng:

    − Pháo hiệu! ở phía xa! − Ông kêu lên. − Pháo hiệu!

    − Pháo hiệu! − Bác sĩ lặp lại.

    − Có một đoàn người nào đó đang ở phía trước chúng ta.

    − Có thể là họ đã tìm thấy bọn trẻ.

    − Có thể. Mau đến với họ đi!

    − Tiến lên!

    Những mệnh lệnh của đại úy trong chớp mắt loan ra toàn trại. Những người Dandiba bật dậy. Những ngọn đuốc được thắp sáng lên ngay. Để trả lời lại tín hiệu phía xa, ông Glen cho đốt liền mấy cái pháo hiệu, cái nọ tiếp theo cái kia, rồi sau đó cho bắn mấy loạt súng. Chưa đầy mười lăm phút cả trại đã lên đường.

    Từ phía xa có những tiếng súng đáp lại. Không còn nghi ngờ gì nữa, rằng có một đoàn người Âu đang kêu gọi sự giúp đỡ vì một lí do chưa tường nào đó.

    Đại úy và bác sĩ thi nhau chạy, vừa hi vọng vừa phập phồng lo sợ. Họ có tìm thấy bọn trẻ hay không? Bác sĩ nhủ thầm trong bụng rằng, nếu như không thì chắc hẳn trên con đường tiếp theo đó, họ chỉ còn tìm thấy xác của chúng giữa những lùm thạch thảo kinh khủng này mà thôi.

    Nửa giờ sau, một cái gò nhô lên trong số những chỗ lồi lõm được nói tới trên kia đã chắn mất tầm mắt của hai người bạn. Nhưng họ đã tới gần đến nỗi có thể nghe rõ tiếng vó ngựa. Chỉ mấy phút sau, trên sườn đồi đã hiện ra một kị sĩ đang ôm giữ một vật gì đó to lớn màu trắng.

    − Giơ đuốc lên cao! − Glen ra lệnh.

    Đúng vào lúc đó, người kị sĩ nọ dừng ngựa trong vùng ánh sáng.

    − Nước! Nước!

    − Bọn trẻ! − Bác sĩ Clery thét lên.

    − Nước! − Staś  lặp lại.

    Và em gần như ném Nel vào tay đại úy rồi nhảy xuống ngựa.

    Song ngay tức khắc em lảo đảo và ngã vật xuống như chết.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. Nhà văn Triệu Xuân chăm lo bản thảo. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).

    www.trieuxuan.info

    ___

    [1]  Về những vùng bình nguyên không có nước tại miền này, xin bạn đọc hãy xem quyển sách tuyệt hay của linh mục Le Roy, giám mục xứ Gabon, nhan đề: Kilima − Njaro (Chú thích của tác giả).

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập33,786,600

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/