Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,817,467

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tiểu thuyết tư liệu - Miền đất hứa của văn học đương đại

Phan Quang

  • Thứ sáu, 18:12 Ngày 22/11/2013
  • 1. Ở Pháp có thời loại truyện dài thịnh hành hơn cả là tiểu thuyết tâm lý. Có người

    hỏi nhà văn Alphonse Daudet về hiện tượng ấy. Ông đáp: “Tiểu thuyết tâm lý ư? Tôi

    không biết. Nó không tồn tại. Ở đâu có nhiều tâm lý hơn trong Manon Lescaut của Abbé

    Prévost? Đó có phải là tâm lý tiểu thuyết? Có đúng là rất nhiều tâm lý nơi Tolstoi, mà tác

    phẩm của ông ngồn ngọn chi tiết đời thường? Ở đâu có nhiều tâm lý hơn Macbeth hay

    Hamlet của Shakespeare, mà đấy lại là những kịch bản. Nếu tiểu thuyết tâm lý tồn tại thì

    mọi tiểu thuyết trên đời đều là tiểu thuyết tâm lý tất”.

    Cho dù nhà văn chấp nhận hay không, mỗi nhà khoa học hiểu một cách, thể loại tiểu

    thuyết mới vẫn ra đời, được nhiều nhà sáng tác thực hiện và đông đảo công chúng đón

    chào. Tiểu thuyết tư liệu là trào lưu thời thượng trên thế giới ngày nay.

    Trong văn chương, việc xếp một tác phẩm vào loại này loại kia chẳng có ý nghĩa gì

    đối với giá trị đích thực của nó, nhưng tại thương trường, bất cứ cái gì góp phần làm nên

    thương hiệu, giúp cho việc quảng bá cuốn sách làm ra được các thượng đế độc giả quan

    tâm hơn thì các nhà xuất bản, phát hành không bỏ lỡ cơ hội.

    Hãy mở mạng điện tử ra, bấm nhẹ một cái vào một địa chỉ thương mại văn hóa

    phẩm, chưa kịp chớp mắt đã thấy hiện ra 24 cuốn sách chào mời, có ảnh bìa, có số trang,

    có thể thức: khổ sách bao nhiêu, bìa cứng hay bìa mềm, sách mới tranh hoặc sách người

    khác đã dùng qua, và dĩ nhiên giá cả từng loại, vv. Di con chuột sang một địa chỉ phân

    phối khác, lập tức hiện lên 25 cuốn, cùng một điểm nhấp nháy phía dưới: cần xem nhiều

    hơn nữa, xin nhấp vào đây!

    Liếc qua các tên sách, có thể hiểu tiểu thuyết tư liệu ngày nay đề cập những chủ đề

    gì, các câu chuyện xảy vào thời điểm nào: Ba tháng trong nhà tù, Ngà voi và thuốc phiện,

    Thượng Hải ngày nay, Ấn Độ hôm nay, Người con của Ramses (Hoàng đế Ai Cập thời cổ

    đại)... Đến một nhà xuất bản sách văn học lâu năm như Gallimard (Pháp) cũng nhạy bén

    với thương vụ. Hiện đang quảng cáo rầm rộ một cuốn sách ra mới mấy tháng nay, dịch từ

    nguyên tác tiếng Croatia, đề sách là một địa danh: Sonnenschein, còn danh tính nữ tác gia

    không biết đọc cách nào cho đúng theo âm tiếng Việt: Dasa Drndic.

    Chuyện kể về một cô gái người Do Thái yêu một sĩ quan Đức quốc xã, có với y một

    đứa con. Sau chiến tranh, trở thành giáo sư toán học, chị muốn tìm lại giọt máu của mình

    và cũng muốn hiểu thực tế những gì đã xảy ra trong thế chiến tại một vùng bị các nhà sử

    học hoàn toàn quên lãng. Nhà xuất bản Gallimard giới thiệu: “Tác phẩm không mang đến

    cho chúng ta các đấng anh hùng hay sự cứu rỗi, nó là con số cộng nhiều đến kinh hoàng

    những câu chuyện nhỏ liên quan đến số phận biết bao người bị chà nát bởi sự đớn hèn

    của số đông im lặng cũng như sự tàn bạo của những kẻ sát nhân. Tác giả Dasa Drndic[1]

     đã thực hiện thành công một tiểu thuyết lớn về những hệ quả của cái ác”.

    Cuốn sách hiện đang được bày bán tại nhiều nước Châu Âu và Canada. Nó lớn hay

    nhỏ, thành công đến mức độ nào, hẳn còn phải chờ sự thẩm định của công chúng và tác

    động thời gian, nhưng bán chạy với giá đắt thì quá hiển nhiên.

    2. Tiểu thuyết tư liệu, còn gọi là tiểu thuyết không hư cấu, hình thành sau chiến

    tranh thế giới thứ hai. Những bí mật về chiến tranh, diễn biến các chiến dịch lớn quyết

    định thắng bại, số phận các điệp viên huyền thoại, các đài phát thanh bí mật... Tư liệu

    kín, hồ sơ mật sớm muộn rồi cũng được giải mã, tuy nhiên nhà văn nhà báo cứ bê nguyên

    như thế mà bày ra trang giấy thì quá khô khan, hơn nữa hàng ngàn hàng vạn nhân chứng

    còn kia, sao không đoái hoài đến họ. Chiến dịch, hành quân, điệp báo, thành công, tan

    nát... rốt cuộc đều gắn với số phận con người. Vậy là rộ lên một loạt tác phẩm có thể gọi

    “xuyên quốc gia” bởi ăn khách và sớm được dịch sang nhiều thứ tiếng khác. Tại Pháp,

    Nhà xuất bản Flammarion phát hành một Tủ sách sáng tác có dịch thuật có mang tiêu đề

    chung chung nhưng thời thượng hồi bấy giờ: Leur aventure (Cuộc phiêu lưu của họ)[2]

    Đại chiến thế giới qua đi, chiến tranh lạnh xuất hiện. Bức tường Berlin sụp đổ, Liên

    bang Nam Tư tan nát thì có vụ đánh sập Tòa tháp đôi New York biểu tượng sức mạnh

    Hoa Kỳ. Tiếp đến, chiến tranh Afganistan và Irac, thế cuộc Iran và Xiri, giao tranh tại

    dải Gaza, nội tình Tunisie, Lybie, Ai Cập... Xung đột, đối đầu không lúc nào ngơi. Thêm

    vào đó, sự hoành hành của các mafia xuyên đại dương. Những số phận khổ đau, những

    chứng nhân thấp cổ bé miệng. Lệ thường, vấn đề thời sự đã có các phương tiện truyền

    thông. Nhưng những việc đã qua mà lịch sử chưa kịp vào cuộc? Nói theo cách của tạp chí

    Le Magazine Littéraire: “Bằng cách nào tường thuật cái quá khứ không chịu đi vào quá

    khứ? Văn học phải vào cuộc thôi”.

    Thoạt đầu tiểu thuyết tư liệu được coi như tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh

    thám. Năm 1950, một cuốn sách mới phát hành ở Anh làm xôn xao dư luận nước ấy. Tại

    một phiên họp Hạ viện, trả lời chất vấn của nghị sĩ, ngoại trưởng Anh Aneurin Bevin

    thừa nhận: “Nói những gì viết ra trong sách đều là tư liệu nguyên xi đánh cắp từ Đại sứ

    quán Anh tại Ankara (thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ) trong thời kỳ chiến tranh là không chuẩn xác.

    Tuy nhiên, một cuộc điều tra đã phát hiện, thực tế có một người hầu phòng của đại sứ ta

    ở Ankara từng dùng máy ảnh chụp được nhiều tài liệu tuyệt mật rồi mang bán cuộn phim

    cho bọn Đức. Tên gián điệp chắc chắn không thể làm được chuyện đó nếu đại sứ ta tuân

    thủ nghiêm ngặt chế độ bảo quản tư liệu mật đã ban hành”.

    Lời tuyên bố của ngoại trưởng làm cho cuốn sách dịch từ nguyên bản tiếng Đức,

    tác giả là một cựu tuỳ viên Đại sứ quán Anh tại Thổ Nhĩ Kỳ tên L.C.Moyzish ngay lập

    tức “cháy hàng” trên thị trường sách. Nó được dịch tiếp sang nhiều thứ tiếng khác, trong

    đó có tiếng Pháp. Tuy nhiên, nhiều nhà xuất bản cứ ngần ngại không muốn ấn hành, bởi

    tác giả không rõ do sơ xuất hay cố tình đã không cho biết thủ phạm vụ gián điệp ấy (xảy

    ra từ tháng 10/1943 đến tháng 4/1944) cuối cùng có bị trừng phạt hay vẫn đang nhởn

    nhơ ngoài vòng pháp luật; người liên quan là ngài đại sứ có phải chịu kỷ luật gì không;

    và phát xít Đức sử dụng các tư liệu mật ấy đã thu được hiệu quả như thế nào… Nói cách

    khác, tác phẩm đắt hàng ấy chưa hoàn chính, bởi chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu bắt

    buộc phải có ở một tiểu thuyết trinh thám là: tội ác (có thực hay hư cấu), động cơ, thủ

    phạm, nạn nhân, tác nghiệp (của thám tử), và cuối cùng kết luận (giải mã vấn đề nêu từ

    đầu truyện).

    Ngần ngại một chút nhưng rồi các nhà làm sách vẫn tới tấp cho ra mắt bạn đọc, bởi

    theo lời Nhà xuất bản Julliard, “câu chuyện này, không có gì còn phải nghi ngờ, là vụ

    gián điệp giật gân nhất trong chiến tranh chống phát xít, nó hé ra cho chúng ta thấy lắm

    điều kỳ lạ về hoạt động của các điệp viên trong cuộc chiến đấu ngầm của họ”.

    3. Tường thuật là nghề nghiệp báo chí. Nói văn học là nói tưởng tượng. Làm sao

    kết nối cái thực trên đời và cái thực trong đầu tác giả, bằng cách nào trần thuật cái hiện

    hữu, những sự kiện làm rúng động hoàn cầu qua nỗi đau thường nhật của những người

    không tên tuổi với những nỗi đau tang tóc, lưu đày chẳng ai biết được ngoài người trong

    cuộc? Vậy là mở ra thêm một lãnh địa nữa cho báo chí, văn học giao thoa. Tiểu thuyết tư

    liệu đàng hoàng tự khẳng định chỉ sau một thời gian ngắn. Nhiều cuốn truyện hút khách,

    mang lại lợi nhuận cao cho nhà làm sách và tên tuổi, tiền bạc cho tác gia. Nửa thế kỷ qua,

    không ít tác phẩm thuộc thể loại này nếu chưa hẳn là tuyệt tác, là phi thời gian thì ít nhất

    cũng đã để lại dấu ấn trong văn học - báo chí đương đại.

    Ở tiểu thuyết trinh thám thông thường diễn biến sự kiện (từng có thật hoặc được hư

    cấu) là chính, con người làm vai trò dẫn dắt câu chuyện, trong khi tiểu thuyết tư liệu chú

    trọng nhiều hơn đến cuộc sống nội tâm của nhân vật, và tư liệu dùng thì nhất thiết phải

    xác thực, đã từng có thực trên đời. Truyện trinh thám người ta đọc lúc đợi tàu xe hay thời

    gian chuyển dịch trên đường, lưu trú nơi đất khách; chúng góp vui trong chốc lát, đọc

    xong có thể quên luôn, trong khi những cuộc sống nội tâm và diễn biến sự kiện tại một

    tiểu thuyết tư liệu hay sẽ còn đeo bám độc giả dài lâu.

    Cuốn tiểu thuyết tư liệu nổi tiếng nhất thế giới trong nửa thế kỷ lại đây là In Cold

    Blood (tạm dịch Máu lạnh) của nhà văn Mỹ Truman Capote (1924 - 1984) do Nhà xuất

    bản Randon House ấn hành lần đầu năm 1966. Nó đã mang lại cho tác giả vầng hào

    quang chói lọi, tiếng tăm lừng lẫy toàn cầu với tám bản in lần đầu cùng sáu triệu đô la

    tiền nhuận bút (giá trị đô la 50 năm về trước). Khởi nguồn là một tin vặt 300 từ đăng trên

    nhật báo The New York Times ngày 16/11/1959 về vụ một gia đình nông dân gồm hai vợ

    chồng và hai con nhỏ bị hai người lạ mặt sát hại vô cớ xảy ra tại một làng quê hẻo lánh

    bang Kansas, Hoa Kỳ. Tác giả Truman Capote lúc này đã nổi tiếng với hơn hai chục tác

    phẩm ăn khách, đã cùng một người bạn về tận nơi quan sát hiện trường, tìm hiểu bối

    cảnh, phỏng vấn dân địa phương, cảnh sát hình sự... , và sau khi hai tên sát nhân bị bắt

    giam chờ xét xử, nhà văn được phép vào trại giam hỏi chuyện nhiều lần đến nỗi người

    làm văn và hai hung thủ gần như trở thành bạn. Hóa ra những con người có lý trí, thường

    nhật không phải không biết điều lại có thể làm những chuyện tồi tệ nhất. Phải đợi sau

    khi hai thủ phạm bị tòa án địa phương bắt đền tội, những gì Truman Capote thu thập và

    viết ra mới công bố được. Trước sau mất bốn năm thu thập tư liệu để làm nên cuốn tiểu

    thuyết và tiếp đó dựng thành bộ phim cũng hốt bạc tỉ[3]. In Cold Blood thoạt tiên in nhiều

    kỳ trên báo The New Yorker, cơ quan tài trợ tác giả, sau mới xuất bản thành sách. Tựa

    đề, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. “Máu lạnh” ở hai tên giết người hay là “máu lạnh” của

    cả cái xã hội dửng dưng với tội ác? Gần 40 năm sau khi In Cold Blood trình làng, báo

    London Sunday Times (Anh) vẫn khẳng định, cho đến lúc bấy giờ thế giới chưa có ai tạo

     nên được một tác phẩm không hư cấu nào qua mặt Truman Capote về chất lượng và mức

    độ thành công. Nhà văn Mỹ Norman Mailer (1923-2007) nhận xét: “Ông là nhà văn hoàn

    hảo nhất thế hệ chúng tôi. Ông viết những câu văn hay nhất, mỗi từ ngữ mỗi tiết tấu đều

    được ông cân nhắc thật kỹ càng”.

    Truman Capote ghi tại bìa sách: “Tiểu thuyết không hư cấu” (nonfiction novel)[4], vì vậy ông tự cho mình là nhà văn đầu tiên khởi xướng và thành công với thể loại tiểu thuyết sử dụng tư liệu và thủ pháp báo chí trong lịch sử văn chương thế giới. Trong khi đó, Bách khoa toàn thư danh tiếng của Anh Encyclopedia Britanica lại lặng lẽ xếp tác

    phẩm nhiều nhà văn lớn tuổi hơn Truman Capote và mắt bạn đọc sớm hơn In Cold Blood

    nhiều, như Chúa Cứu thế dừng chân tại Eboli của Carlo Lévi người Ý (1902 - 1975),

    từng được dịch sang 37 ngôn ngữ, hay Một ngày của Ivan Denissovich (1952), Quần đảo

    Gulag (viết 1958 - 1957)… của nhà văn Nga Alexandre Soljenitsyne (1918 - 2008) v.v...

    Học giả Pháp Philippe Dulac còn đi xa hơn. Qua Bách khoa toàn thư Encyclopedia

    Universalis ông ngược lên tới Bí mật thành Paris của Eugène Sue (1804-1857), cuốn

    truyện đăng nhiều kỳ trên báo Le Journal des Débats từ 19-7-1842 đến 15-10-1843 và

    đã gây nên một cơn sốt chưa từng có trong văn chương Pháp lúc bấy giờ. Philippe Dulac

    quả quyết Eugène Sue mới đích thực là thủy tổ của thể loại tiểu thuyết tư liệu, bởi tác

    phẩm của ông “dành ưu tiên cho thông tin trước cách viết” - cách nhìn này khác quan

    niệm của Truman Capote, Gabriel Marquez và nhiều tác giả khác. Philippe Dulac thậm

    chí còn cho Bí mật thành Paris là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử tạo nên hiện tượng nay

    gọi là “tương tác”, tức giao lưu trực tuyến giữa tác giả và người đọc. Ông dẫn chứng,

    nhiều độc giả hồi bấy giờ bị tác phẩm hút hồn, nôn nao chờ đợi kết cục câu chuyện, đã

    kiến nghị với tác giả Bí mật thành Paris nên kết thúc cuốn tiểu thuyết theo “kịch bản” do

    chính họ nghĩ ra.

    Xem ra người ta đang tranh nhau làm căn cước cho tiểu thuyết tư liệu. Cứ đà này,

    chắc chắn Trung Quốc sẽ vào cuộc, giành ngôi đầu bảng cho bộ Đông Chu liệt quốc 108

    chương hồi của họ kể chuyện thời Xuân Thu, Chiến Quốc, cách chúng ta hai ngàn mấy

    trăm năm.

    4. Một cuốn tiểu thuyết tư liệu thành công vài chục năm lại đây là của văn hào

    người Colombia Gabriel Marquez, Giải thưởng Nobel văn học 1982. Tác phẩm Nhật ký

    một cuộc bắt cóc nguyên tác tiếng Tây Ban Nha in lần đầu năm 1996, dịch sang tiếng

    Pháp cùng năm, tiếng Anh năm 1997, v.v...

    Báo chí Pháp dành cho sự kiện này nhiều giấy mực và cảm tình. Kênh truyền hình

    văn hóa Pháp - Đức Arte dành trọn một buổi tối giới thiệu tác phẩm với sự có mặt của

    tác giả được mời bay từ Mexico sang Paris chỉ để giao lưu một tối cùng khán giả truyền

    hình. Chương trình mang tên: Gabriel Garcia Marquez, nhà thuật sĩ vùng Caraibes. Tôi

    tình cờ có mặt tại Paris có xem buổi truyền hình ấy.

    Báo Le Monde đưa lên tít: “Gabriel Marquez pha lẫn ngòi bút tiểu thuyết gia với

    ngòi bút ký giả để viết nên câu chuyện bắt cóc”. Báo Libération: “Nhật ký một cuộc bắt

    cóc là tác phẩm thách thức sự phân loại. Nó là một thiên phóng sự, với nhiều tư liệu dày

    dặn, mạnh mẽ và trang nhã làm ta ngây ngất, nhưng là một thiên phóng sự giống tiểu

    thuyết hơn nhiều tiểu thuyết đích thực”. Người dẫn chương trình truyền hình kết thúc

    buổi giao lưu: “Gabriel Marquez không viết sử ký. Cuốn sách của ông là thiên phóng sự

    của một tiểu thuyết gia. Vậy mà nó vẫn là món quà đẹp cống hiến cho lịch sử ».

    Trong Lời cảm ơn in ở đầu cuốn sách, Gabriel Marquez cho biết: Ông làm tác phẩm

    này do yêu cầu của một số người trong cuộc. Nhiều người muốn nhà văn dùng uy tín và

    ảnh hưởng của mình góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh loại trừ các mafia buôn ma tuý.

    Ông đã viết được khá nhiều trang, chợt nhận ra cách làm này không ổn : « Tôi đã hủy bản

    thảo đi và làm lại từ đầu. Tôi đã tiến hành phỏng vấn trong mức độ có thể tất cả những ai

    có dính vào các sự kiện, và mọi người đều độ lượng vì tôi mà khuấy động những nỗi đau

    ai cũng muốn cho chìm sâu vào quá khứ và kể lại cho nghe toàn bộ những gì họ đã sống.

    Nỗi đau, sự kiên nhẫn và lòng phẫn nộ của họ truyền cho tôi nghị lực để, vào mùa thu của

    cuộc đời, hoàn thành được nhiệm vụ buồn bã nhất, khó khăn nhất chưa từng được giao

    phó”.

    Cuốn sách nói về các vụ bắt cóc một số nhà báo và chính khách tên tuổi nước

    Colombia do mafia ma tuý quốc tế Medellin tổ chức. Với 330 trang in (bản tiếng Pháp)

    sách chia làm 11 chương và một vĩ thanh. Độc giả thưởng thức vừa tiểu thuyết vừa phóng

    sự. Những chương mang số lẻ mô tả cuộc sống và tâm trạng các con tin trong nhà giam.

    Các chương mang số chẵn đề cập khung cảnh chính trị, các cuộc vận động ở hậu trường,

    cuộc thương thuyết tối mật giữa nhà đương cục với bọn mafia...

    Cuốn sách vào chuyện như một tiểu thuyết trinh thám bậc thầy. Căng thẳng hiện ra

    ngay từ trang đầu, dòng đầu: “Trước khi bước lên xe, nàng (bà chủ bút một tờ báo lớn ở

    Bogota) hơi nghiêng đầu nhìn lại xem có ai bám theo mình hay không. Lúc này là mười

    chín giờ năm phút, đêm đã sụp xuống trùm phủ thành phố Bogota chừng một tiếng đồng

    hồ rồi...”.

    Chiếc xe hơi chở bà chủ bút và cô trợ lý chạy qua những con đường hẹp trong khu

    phố cổ, khi chỉ còn cách nhà riêng của bà chừng vài trăm mét, xe lên dốc thì một chiếc

    taxi từ đâu vọt tới ép nó vào sát vỉa hè và chặn luôn trước mũi. Chiếc Mercedes nãy giờ

    vẫn bám sát xe bà chồm lên khóa đuôi. Ba tên cao lớn nhảy ra khỏi chiếc taxi. Một tên

    bắn một phát súng vào đầu tài xế, đẩy xác xuống đường, còn bồi thêm một phát nữa

    vào đầu. Một tên khác từ chiếc Mercedes xộc tới mở cửa xe bà chủ bút: “Bà là người

    chúng tôi tìm hôm nay. Mời bà xuống xe cho”. Bà chưa kịp phản ứng, hai bàn tay thép

    của nó đã thít chặt luôn đôi cánh tay liễu, kéo lê bà mấy bước trên hè phố, ẩy vào chiếc

    Mercedes phóng đi luôn...

    Mở đầu dữ dội vậy song kết khúc lại yên bình như tiểu thuyết đồng quê. “Trưa chủ

    nhật, Maruja (tên nhà báo vừa được trả lại tự do sau sáu tháng biệt giam) cùng chồng

    chuẩn bị dùng bữa thì có tiếng chuông bấm gọi cửa. Tưởng cậu con trai vừa đi ra bỏ quên

    chìa khóa xe hơi quay trở lại tìm, nhà lúc này không có ai, ông chủ thân hành ra mở cửa.

    Xuất hiện một chàng trai ăn mặc lịch sự, cúi đầu chào và lễ phép trao ông gói tặng phẩm

    có thắt dải nơ lụa vàng. Mở gói, hiện ra một cái túi nhỏ bằng da mềm đựng chiếc nhẫn

    vàng đặt trên nền lụa. Đấy chính là chiếc nhẫn vàng gắn kim cương bọn hung thủ đã tước

    đoạt của Maruja hôm chúng bắt cóc nàng. “Maruja không thể nào tin nổi. Nàng luồn

    chiếc nhẫn vào ngón tay và nhận ra (sau mấy ngày được trả tự do) mình đã mau chóng

    lấy lại cân, chiếc nhẫn khít ngón tay nàng vừa vặn như nàng vẫn đeo ngày trước”.

    Tác phẩm kết thúc ở đây.

    Gabriel Marquez không ghi chú cuốn sách của ông thuộc thể loại nào. Lời cảm

    ơn ba lần nhắc tới tác phẩm, ba lần ông đều gọi trống không “cuốn sách này”.

    5. Một bộ tác phẩm ba tập nổi đình đám nữa là viết về cuộc tàn sát diễn ra tại nước

    Rwanda, miền Đông châu Phi năm 1994 của nhà văn, nhà báo Pháp Jean Hatzfeld[5]

    vốn làm phóng viên chiến tranh cho nhật báo Libération từ năm 1976. Trong gần một

    phần tư thế kỷ, nhiều lần có mặt tại các cuộc xung đột đẫm máu ở Trung Đông, Châu Phi,

    Nam Tư, Sarajevo...

    Năm 1994 xảy ra cuộc tàn sát diệt chủng kéo dài ba tháng, từ đầu tháng tư đến

    tháng bảy năm ấy giữa người sắc tộc Hutu giết người sắc tộc Tutsi, do sự xúi giục của

    những phần tử chính trị kỳ thị sắc tộc và thực dân nước ngoài, làm chấn động dư luận

    toàn cầu. Ước lượng trong ba tháng có đến 800.000 người thuộc sắc tộc Tutsi (cũng có

    cả một số người Hutu ôn hòa phản đối diệt chủng) bị giết hại hết sức dã man bằng vũ khí

    thô sơ.

    Nghị quyết Hội đồng Bảo an lên án nhưng không dùng từ “diệt chủng”, Liên Hợp

    Quốc không can thiệp, nước Pháp phải đưa quân vào châu Phi. Jean Hatzfeld đi theo

    quân đội với tư cách phái viên báo chí. Ngày 4/7/1994, quân Pháp kiểm soát được thủ đô

    Rwanda, song lại để cho phần lớn những kẻ sát nhân Hutu chạy sang bên kia biên giới

    giữa Ruwanda với Zaire (Congo).

    Tình hình rối tung rối mù, phóng viên cảm thấy bất lực không thể làm tròn nhiệm

    vụ được giao. Nhưng ông không trở về Pháp mà xin nghỉ việc tòa soạn, ở lại Rwanda

    sống cùng những người vừa thoát chết khỏi cuộc thảm sát đang chui lủi giữa các đầm

    lầy ven con sông lớn, lặng lẽ nghe, lặng lẽ ghi tiếng ghi lời những gì họ kể lại. Ông dành

    bốn năm, tập trung thời gian và sức lực thu thập tư liệu. “Tác giả có biệt tài hết sức hiếm

    hoi là giúp cho những con người đã sụp đổ hoàn toàn khôi phục lại lời nói” - tuần báo

    L’Express viết.

    Cuốn sách đầu tiên về vụ thảm sát, Trong sự trần trụi của cuộc sống xuất bản năm

    2001, được Giải thưởng France - Culture trong năm.

    Tác giả vẫn ở Rwanda, tiếp tục lắng nghe và ghi chép. Lần này là tiếng nói của một

    toán đao phủ người sắc tộc Hutu vừa ra khỏi tù nhờ ăn năn thú tội. Cuốn thứ hai, Một

    mùa gặt bằng dao rựa[6], 2003, giành một lúc hai Giải thưởng văn học Pháp: Giải Femina

    và Giải Joseph - Kessel.

    Mở đầu tác phẩm, nhà văn chép lại máy câu đã in ở tập I: Năm 1994, từ sáng sớm

    thứ hai 11-4 đến cuối chiều thứ bảy 14-5, trừ chủ nhật nghỉ, trong hơn một tháng người

    sắc tộc Hutu ở xã Nyamoto đã cầm dao rựa lùng xục, rượt đuổi và chém chết những

    người hàng xóm láng giềng của mình thuộc sắc tộc Tutsi. Có tới 50 000 người trong tổng

    số 59 000 dân Tutsi xã ấy bị tàn sát. Đó là xuất phát điểm của cuốn sách này. Cái khác là

    tập I gom lời kể của những người Tutsi thoát chết, còn tập II là lời những hung thủ người

    Hutu.

    Một cuốn sách đọc lạnh xương sống. Các chương dẫn, là lời tác giả trình bày bối

    cảnh, diễn biến… xen kẽ các chương ghi những câu nói lạnh lùng của những người trong

    cuộc. Tác giả cho biết, xong việc ghi chép, ông đề nghị mọi người chụp chung tấm ảnh

    nói trước sẽ dùng in vào sách. Những tưởng bị phản đối, không ngờ mọi người chấp

    thuận dễ dàng - trừ một, anh không cãi, chỉ lãng tránh và biến mất luôn. Chín người to

    lớn khỏe mạnh ngồi sát vào nhau trên tấm phản kê bên gốc cây, tán lá cây xõa xuống sát

    đầu, người nào cũng thanh thản trong bộ áo sơ mi cộc tay trắng quần soọc trắng, thoạt

    nhìn tưởng một đội tuyển thể thao. Có một người đeo kính trắng, mặc quần dài trắng, đi

    xăng đan trắng - nghe nói anh từng làm giáo sĩ trong nhà thờ!

    Tình hình chẳng bao lâu có sự thay đổi. Chính phủ Rwanda với sự ủng hộ của nhiều

    tổ chức quốc tế, chủ trương tái hòa hợp dân tộc, đã ra lệnh ân xá cho tất cả những kẻ sát

    nhân người Hutu còn bị giam giữ trong các nhà tù hoặc đang trốn tránh ở nước ngoài, cho

    trở về làng cũ sống cuộc sống bình thường. Jean Hatzfeld trình tiếp bạn đọc tác phẩm thứ

    ba: Sách lược những con linh dương[7], 2007. Cuốn này được độc giả đón nhận còn nồng

    nhiệt hơn hai cuốn trước, giành Giải thưởng Pháp Médicis năm 2007 và Giải thưởng Ba

    Lan Ryszard Kapuscinski năm 2010 khi được dịch sang tiếng nước ấy.

    Năm giải thưởng danh giá cho một bộ tiểu thuyết! Tiếp tục rộ lên những lời phẩm

    bình, từ các nhà phê bình tên tuổi viết trên các báo lớn đến cư dân mạng qua các trang

    báo điện tử, mạng xã hội và blog cá nhân.

    Tiểu thuyết Sách lược những con linh dương mô tả cuộc sống hôm nay của những

    nhân vật đa số có mặt ở hai tập trước. Qua lời kể của họ, hiện lên cuộc đối thoại bất khả

    giữa những người thoát chết và những kẻ giết người, nỗi ám ảnh cùng những bóng ma

    lãng vãng đeo bám, sự ngờ vực lẫn nhau, cái bế tắc chẳng có cách nào hiểu nhau, tin

    nhau nổi giữa những người hàng xóm lâu đời nay bên này là nạn nhân bên kia là hung

    thủ…

    Claudine: “Ông muốn biết nhiều hơn nữa? Ông chưa chán sao! Rốt cuộc rồi tôi

    cũng bắt buộc phải tin rằng cuối cùng cái Thiện đã thắng, nhờ vậy tôi mới có cơ hội

    chạy thoát thân, tôi mới còn lại đây để kể cho ông nghe. Nhưng bố mẹ tôi, các em gái tôi,

    những người hàng xóm của tôi, họ còn đâu nữa mà kể chuyện cho ông nghe?

    Dạo ấy còn là thiếu nữ, tôi đã hiến dâng trọn vẹn niềm tin cho cuộc đời. Cuộc đời

    đã phản bội tôi. Những người hàng xóm, các nhà chức trách, những người da trắng đã

    phản bội tôi. Bị tất cả mọi người phản bội, ai mà chịu đựng nổi? Giờ tôi đã lấy chồng,

    anh ấy là người biết điều, vợ chồng tôi đã có với nhau hai con, chúng tôi sống cũng tàm

    tạm cái hiện tại, còn tương lai thì đã mất hẳn từ lâu rồi”.

    Những kẻ sát nhân nghĩ gì? Pancacre: “Mình đã phạm bấy nhiêu tội ác, mà vẫn có

    người thương hại sao? Đó là ý nghĩ đầu tiên đến với tôi khi nghe qua đài phát thanh tin

    mọi tù nhân đều được chính phủ đại xá. Tôi bị cáo buộc, tôi bị kết án, tôi được ân xá. Tôi

    chưa bao giờ xin ân xá cả. Xin làm gì cho tốn công, khi đã cầm chắc chẳng bao giờ có ai

    tha thứ cho mình!”

    Claudine: “Tuyệt nhiên chẳng có chi là nhân đạo trong việc ân xá cho chúng nó. Đó

    có thể là ý muốn Thượng đế, không phải ý muốn của tôi”.

    Trên báo La Cour Dieu (Tòa án Thượng đế), bà Viviane Montalembert, người tự

    giới thiệu là “một phụ nữ ngày nào cũng đọc Kinh Thánh suốt ba mươi năm nay”, viết

    sau khi xem Sách lược những con linh dương: “Chính phủ Rwanda đã ra lệnh ân xá hoàn

    toàn. Biết làm sao! Đất nước đang cần những người Hutu chuyên nghề canh tác để cung

    cấp lương thực cho toàn dân, lại cũng cần những người Tutsi quen công việc quản lý,

    thành thạo tại các văn phòng, trường đại học. Cuộc sống vẫn phải sống... Vậy Thượng đế

    đã làm gì tại đất nước mà tuyệt đại đa số dân chúng là tín đồ đạo Thiên chúa này? Ồ, thì

    Thượng đế cũng phải xử sự giống như Boniface thôi, một người sống sót nay đang làm

    linh mục chánh xứ Kibungo xã Nyamata, Boniface nói: “Tôi giảng đạo tại nhà thờ. Lẽ

    đương nhiên tôi phải tự kiềm chế. Tôi phải chịu đựng mỗi khi nhìn thẳng vào mặt những

    người từng săn đuổi mình, con dao bổ củi lăm lăm trong tay. Đức tin dù đã mờ nhạt thì

    tôi vẫn cứ còn đây. Nếu tôi đã không tin rằng, trong cảnh huống lúc bấy giờ, đến Đức

    Chúa Trời rồi cuối cùng cũng phải tìm mọi cách để tháo thân, thì tôi đã chẳng phải chạy

    trốn làm chi”.

    6. Ở nước ta, Ông cố vấn của Hữu Mai là bộ tiểu thuyết không hư cấu sáng giá đầu

    tiên trong văn học Việt Nam. Nó hội đủ mọi yêu cầu, đặc điểm của thể loại tiểu thuyết

    này. Tại lời “Trước khi vào chuyện”, tác giả cho biết: “Cuối năm 1969, cả Sài Gòn xôn

    xao vì mới tìm ra một bước tình báo quân sự của Việt Cộng ngay trong những cơ quan

    đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (...) Ngày 28/11/1969, chính quyền Sài

    Gòn đã cho mở phiên toà xét xử những bị can (...) Bản cáo trạng dài 23 trang đọc hết một

    tiếng rưỡi đồng hồ (...) Không một bị cáo nào chống án (…) Vụ án trở thành một vấn đề

    thời sự sôi nổi (...) Sau ngày giải phóng Sài Gòn, chúng ta đã tìm được toàn bộ những hồ

    sơ đó tại Tổng nha cảnh sát của chính quyền Sài Gòn...

    Tác giả quả quyết: “Bạn đọc có thể gặp nhiều nhân vật của cuốn sách này đang tiếp

    tục cuộc sống bình dị của họ sau những biến cố lịch sử tại nước ta cũng như ở đâu đó một

    số nước ngoài. Nếu có những sai sót về họ, tác giả rất mong sẽ được chính họ góp ý kiến

    để bổ cứu cho lần in sau nếu cuốn sách có được may mắn đó”.

    Tuy nhiên, nhà văn Hữu Mai gọi bộ sách của mình là tiểu thuyết, tiểu thuyết không

    thôi. Tại sao? “Tập hồ sơ này... được trình bày dưới dạng tiểu thuyết để cho về hình thức

    đỡ khô khan” - ông lý giải. Và tác giả đã thành công. Chỉ cần đọc chừng mấy chục trang,

    ta đã gặp luôn những con người sống động như Ngô Đình Cẩn tên lãnh chúa miền Trung

    thời Ngô Đình Diệm trò chuyện với ông cố vấn Hai Long, và nhiều người khác nữa.

    Ông cố vấn từng được đông đảo độc giả đón xem và đã tái bản nhiều lần, nay vẫn

    có không ít người muốn đọc. Tuy nhiên, ai muốn xem qua các mạng điện tử, phải bấm

    vào mục “Tiểu thuyết trinh thám”! Vậy ra Ông cố vấn là tiểu thuyết trinh thám?

    Lịch sử nước Việt Nam ta riêng một thế kỷ gần đây có biết bao kỳ tích, đó là nguồn

    chủ đề vô tận mở ra miền đất hứa cho tiểu thuyết tư liệu. Tại sao chưa có nhiều nhà văn,

    nhà báo làm như Hữu Mai? Phải chăng tiểu thuyết không hư cấu chưa định hình? Hay là

    tại những khó khăn ít tác giả dám đương đầu?

    Có một thực tế là viết tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết

    hình sự... tác giả tha hồ tưởng tượng. Muốn làm tiểu thuyết tư liệu, trước hết phải có tư

    liệu. Tạp chí Pháp Le Magazine Littéraire nói về cuốn tiểu thuyết của nữ tác gia người

    Croatia: “Đó là một bản họa đồ về cái ác. Để dựng nên bức họa đồ ấy, tác giả dựa vào hư

    cấu nhưng cũng căn cứ vào các chứng cứ lịch sử qua nhiều tấm ảnh, nhiều tư liệu chân

    xác cài xen vào các trang sách. Và, tựa một tấm bia đá sừng sững dựng lên tại chính trung

    tâm cuốn tiểu thuyết, bản danh sách chín nghìn người Do Thái bị thảm sát tại thành phố

    này trong chiến tranh”. Nhà văn, đạo diễn điện ảnh Canada Jean Daniel Lafond: “Tiểu

    thuyết tư liệu - hai từ ấy thoạt nghe đối nghịch nhau nhưng lại hòa hợp với nhau nhờ

    nội lực của tác giả muốn đưa lên sân khấu những con người, những câu chuyện, những

    địa danh có thực trên đời…”.

    Khi tác nghiệp, nếu Jean Hatzfeld dùng máy ghi âm nguyên văn lời kể của các nhân

    vật thì Truman Capote cố nhớ vào đầu rồi chép lại sau (ông tự hào, nhiều lần trắc nghiệm

    đều cho kết quả ông nhớ đúng 90% những điều nghe kể). Nhiều nhà nghiên cứu xăm xoi

    đã phát hiện có không ít chi tiết trong truyện tác giả hư cấu nên - “có hề hấn chi, bởi rốt

    cuộc đây là tiểu thuyết!”

    Sưu tầm tư liệu, một công đoạn tốn vô vàn công sức, trí tuệ mà không chắc nhà văn,

    nhà báo nào cũng có điều kiện và đủ tài năng, nghị lực để tiếp cận, hoàn thành.

    Hay là cũng có nhiều người e ngại, nếu gọi tác phẩm của mình là tư liệu tức là vô

    hình trung coi nhẹ giá trị của nó, là mời độc giả đẩy nó xuống văn chương loại ba, loại tư,

    thậm chí như tiểu thuyết ba xu? Chợt nghĩ đến câu của tác giả Nhật ký của một cuộc bắt

    cóc trả lời khán giả truyền hình: “Trong văn chương, không có thể loại lớn thể loại nhỏ,

    chỉ có tác giả tài cao hay sức mọn mà thôi”.

    10-2013

    PQ.

    Tác giả gửi wwww.trieuxuan.info



    [1] Bà Dasa Drndic sinh ở Zagreb, thủ đô nước Croatia, tốt nghiệp Trường Đại học Belgrade, Nam Tư (cũ)

     

    bảo vệ luận án tiến sĩ tại Hoa Kỳ, hiện giảng dạy tại Đại học Rijeka, Croatia. Tác giả nhiều tác phẩm văn

     

    học đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Bà cũng là dịch giả văn học từ tiếng Anh sang tiếng Croatia quê

     

    hương bà.

    [2] Xin liệt kê một số sách có sẵn trước mắt chúng tôi khi viết bài này: Tuần tra trong sa mạc của W.B.

     

    Kennedy Shaw, dịch từ tiếng Anh, Nhà xuất bản Berger - Levrault, 1948; Mật vụ Ciceron của L.C.

     

    Moyzisch, tiếng Đức, NXB Juliard, 1950; Con mèo cái, nữ gián điệp số 1 của Gordon Young, tiếng Anh,

     

    NXB Fayard, 1957; Trận hải chiến Midway, bước ngoặt chiến tranh Thái Bình Dương của Thaddeus

     

    V.Tuella, tiếng Anh, NXB Arthaud, 1962; Thống chế Rommel của Desmond Young, tiếng Anh, NXB

     

    Fayard, 1952; Điệp viên mật chống vũ khí mật của Jaques Bergier, tiếng Pháp, NXB Arthaud, 1956;

     

    Radio Đen của Sefton Delmer, tiếng Pháp, NXB Stock, 1965; Bí mật “ngày N” của Gilles Perrault, tiếng

     

    Pháp, NXB Fayard, 1964; Cuộc xâm lăng 44 (tức cuộc đổ bộ lên bờ biển Normandie của Quân Đồng

     

    Minh trong chiến tranh thế giới II nhìn từ quan điểm Đức) của Hans Speidel, tiếng Đức, NXB Berger -

     

    Levrault, 1966...

    [3] Tính đến 2006 đã có ít nhất sáu bộ phim màn ảnh rộng, nhỏ, hoạt hình… của Mỹ, Pháp… khai thác từ

    cuốn tiểu thuyết tư liệu này.

    [4] Bản dịch tiếng Pháp của Raymond Girard, Nxb Gallimard, 1966 ghi bên dưới tên sách: “Câu chuyện có

    thực về một vụ tàn sát nhiều người và những hậu quả của nó”.

    [5] Ông sinh năm 1949 tại Madagascar, thời ấy còn là thuộc địa Pháp.

    [6] Từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm là mùa gặt ở Rwanda. Nhưng mùa gặt năm ấy, người Hutu hầu hết là

    nông dân, bị kích động hận thù sắc tộc, đã không thu hoạch cây lương thực bằng liềm hái mà lao vào gặt

    đầu người Tutsi hàng xóm bằng cây dao rựa vẫn dùng phát hoang bổ củi hằng ngày.

    [7] Linh dương là loài thú rừng có linh khiếu chạy trốn rất nhanh khi nghe có động.

     

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,817,468

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/