Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,817,277

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Thời gian không đổi sắc màu (6)

Phan Quang

  • Thứ ba, 18:34 Ngày 22/10/2019
  • BÁO CHÍ KHÔ KHAN Ư?                                                          

     Trên đời ai cũng có một dòng sông. Với Trương Đức Minh Tứ đó là con sông Hiếu tưới mát vùng đất anh chào đời, ven sông về phía thượng nguồn thuở thanh bình có Chợ Phiên Cam Lộ một tháng mấy phiên đông vui sát bên đường 9, điểm giao thương miền núi vùng xuôi của tỉnh Quảng Trị và cả một vùng mấy tỉnh miền Trung. Sông Hiếu là dòng sông quê nhà thơ Chế Lan Viên - những ruộng đói mùa những đồng đói cỏ/ những đồi sim không đủ quả nuôi người. Và đương nhiên trong Minh Tứ còn có con sông “Bến Hải ngày ấy bây giờ”, có dòng Thạch Hãn “Cõi thiêng Thành cổ”, có sông Ô Lâu tắm mát “một vùng văn vật”: bên này sông là Quảng Trị, bên kia sông là Thừa Thiên, Quảng Trị ra đời vị đại khoa đầu tiên của Đàng Trong, tiến sĩ Bùi Dục Tài (1477-1518), Tổng bí thư Lê Duẩn (1907-1986) ngọn đèn pha hai trăm nến[1] của Nam Bộ; Thừa Thiên là quê hương Nguyễn Tri Phương (1800-1873) vị đại thần yêu nước, Nguyễn Đình Chiểu  (1822-1888) nhà thơ đâm mấy thằng gian bút chẳng tà…

    Anh không chỉ trở lại thăm những nơi từng xảy ra những cuộc chiến đấu oai hùng, như núi Hồ Khê nơi bất cứ người dân nào đào móng xây nhà cũng gặp hài cốt liệt si, nay là “những rừng thông mới trồng, những đường cày vỡ vạc các trang trại kinh tế”. Anh thăm Khe Sanh chiến trường lần đầu đột ngột xuất kích lần đầu tiên trong chiến tranh chống Mỹ những chiếc “xe tăng Việt cộng” làm quân Mỹ ngỡ ngàng hoảng loạn, nay có “Bảo tàng chiến tranh - khát vọng hòa bình”. Anh về xã Cam Tuyền chia sẻ nổi đau truyền kiếp do chất độc màu da cam của Mỹ gây nên cho dân ta. Anh viếng “Làng Bích La”, một làng quê ven sông Thạch Hãn cách Thành cổ chỉ một thôi đường, mà riêng tộc Lê Văn của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn thời trước đã có ít nhất năm vị đại khoa cùng bao võ tướng. Bích La là nơi ra đời họa sĩ Lê Bá Đảng, người từng bị phát xít Đức bắt, sau chiến tranh trở thành một danh họa của châu Âu đương đại…

    Minh Tứ không chỉ hoài niệm chiến tranh, anh viết nhiều hơn về hiện tại: “Đông Hà, đường lên đã mở”, “Đường 9 thời hội nhập”, “Trầm tích Gio Linh”… Anh về huyện Gio Linh của những du kích thời chống Pháp, nơi đây một số chiến sĩ bị địch bắt chém đầu bêu ở chợ để hù dọa dân làng. Bà mẹ hay tin, nghẹn ngào không nói một câu/ mang khăn gói đi lấy đầu (con trai về mai táng)[2]. Gio Linh hôm nay “hối hả tiến về phía trước” nhưng người dân vẫn nhớ những tấm gương chiến đấu kiên cường… Bất kỳ đến vùng đất nào, điều anh quan tâm trước hết vẫn là con người gắn kết quá khứ vào hiện tại để nhìn về tương lai.

     

    Minh Tứ và tôi thuộc hai thế hệ xa nhau nhưng cùng nhau sẻ chia tình cảm đối với quê hương chung, cùng cảm nhận chất khảng khái người dân Quảng Trị. Đọc Minh Tứ tôi thấy rõ anh viết về Quảng Trị hay hơn, sâu hơn, xúc động hơn mình nhiều. Tôi viết về quê hương chủ yếu qua hoài niệm, thực tại nông choèn, trong khi văn Minh Tứ ngồn ngộn thực tại hôm nay và dĩ vãng chưa xa.

    Hiện tại, dưới cái nhìn của những người làm báo, trước hết là thời sự. Hiện tại trong Minh Tứ kế thừa dĩ vãng, anh “ngoảnh lại quá khứ mà vui cho hiện tại”, anh nhìn thấy “lịch sử đồng hành cùng tương lai”. Có lẽ do vị thế của anh tại tỉnh nhà, suy nghĩ về công việc của quê hương, Minh Tứ kín đáo: “…Phải xây dựng làm sao cho ai đến đây cũng cảm nhận dược thông điệp rằng dòng sông này, mảnh đất này không chỉ từng là vết chém, là nỗi đau chia cắt mà còn là dòng sông của đoàn tụ, là nơi chứng minh cho một điều hiển nhiên rằng nơi đây không chỉ biết cầm súng đánh giặc giỏi mà còn năng động sáng tạo trong làm ăn, biết đi lên từ một quá khứ bi hùng. Có như thế thì người Việt Nam mỗi lần hành hương về bên dòng Bến Hải không chỉ ngậm ngùi với những giọt nước mắt khổ đau mà còn có cả những giọt nước mắt hạnh phúc, cho dù năm, dù tháng, dù bao nhiêu nước đã chảy qua cầu”.

     

    Có người cho báo chí lúc nào cũng khô khan, chỉ có văn học mới gợi cảm. Bởi thông tin báo chí, tức là thông tin về thực tại, lúc nào cũng bị ràng buộc trong khuôn khổ cập nhật và thông qua cái nhìn lý trí, trong khi trí tưởng tượng và sự hư cấu của người làm văn học là vô biên. Tôi có chút băn khoăn: Báo chí khô khan ư? Vâng, nhưng báo chí cũng có thể gợi cảm nếu nhà báo biết cách làm. Các bậc tiền nhân Đông Tây, mà nổi bật trong các ngài là nhà lãnh đạo cách mạng đồng thời là nhà báo Vladimia I. Lênin. Ông quả quyết, hoạt động báo chí cũng như khoa học phải biết dựa vào trí tưởng tượng, “ngay cả việc phát minh ra tính vi phân và tính tích phân cũng không thể có được nếu không có trí tưởng tượng”. Có điều tưởng tượng trong báo chí khác với tưởng tượng trong văn học. Tưởng tượng trong báo chí không được phép bịa đặt, thêm thắt, lấy không làm có; trí tưởng tượng nơi nhà báo hiện lên các dòng chữ nhờ cái nhìn đậm tính nhân văn, sự đồng cảm với tâm tư, ước vọng của người dân. Báo chí phát hiện và phản ánh cuộc sống với những sự kiện vừa mới nảy sinh, hiện đang tiến triển, những vấn đề tồn tại nơi đời sống và trong tự nhiên tạo hứng khởi cũng như làm bức xúc mọi người. Báo chí góp phần phân tích, xử lý các vấn đề ấy. Xét đến cùng, thời cuộc có những yếu tố ngẫu nhiên, song thời cuộc bao giờ cũng lấy hoạt động của con người làm nhân tố chính. Tưởng tượng nơi nhà báo là nhìn thẳng vào thực tại, mô tả thực tại đúng bản chất, đồng thời nhìn thấy cái đằng sau thực tại ấy, nhìn xa hơn những gì đang hiển hiện trước mắt, thấy được những cái mà người vô cảm không sao nhìn thấy. Nói cái nhìn, đương nhiên nhiên là “cái nhìn của của tôi”, có điều cái tôi trong báo chí không phải là cái tôi hoàn toàn mang tính riêng tư, nó hài hòa cùng cộng đồng.

    Một lần Minh Tứ trở lại núi Hồ Khê nhân dịp làm lễ dựng bia tưởng niệm. Sau khi các nhà lãnh đạo dân và quân phát biểu dứt lời, “những nén nhang mà cái đại biểu cùng chúng tôi vừa dâng lên bia bỗng rực cháy. Ngọn lửa lan sang cả những lễ vật, hương hoa. Ngọn lửa bừng cháy trong sự ngỡ ngàng của bao nhiêu người…”. Có người cho là chẳng qua lúc ấy tình cờ nổi lên đúng lúc một làn gió núi; có người lại tin ấy là sự linh ứng của các liệt sĩ hy sinh tại chiến trường này, trong khi tác giả ngẫm ngợi: “Các anh đã nằm sâu trong lòng đất mẹ quê hương, nhưng hình như các anh vẫn còn đâu đây, dõi theo những nghĩa cử ân tình của đồng chí, đồng đội, đồng bào”. Không quá triền miên với suy tư, anh trở lại ngay với thực tại: “Núi Hồ Khê trong phút chốc yên lặng đến kỳ lạ, chỉ có tiếng rì rào trên những ngọn lá thông non. Tôi ngước nhìn lên, trên trời, những tia nắng yếu ớt của mùa đông bỗng vụt sáng. Những đám mây màu trắng lững lờ trôi. Đàn én chao lượn. Một mùa xuân ấm áp về giữa đất trời, trong lòng người Quảng Trị sâu nặng nghĩa tình”.

    Trí tưởng tượng của người viết báo thể hiện ở những suy tư, luận bình đúng lúc, đúng nơi, đúng hướng. Xem Bảo tàng Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh, tình cờ Minh Tứ gặp một người khách nước ngoài “dáng người dong dỏng cao, tác phong nhanh nhẹn”. Đó là ông Shodosima Masanori, Trưởng ban thư ký Hội Hữu nghị Nhật - Việt thành phố Osaka. Người Nhật Bản từng phải gánh chịu khổ đau vô cùng tận bởi chiến tranh. Người khách nước ngoài ấy xem bảo tàng xong, xúc động thốt lên: “Hy vọng đừng có cuộc chiến tranh nào như thế này nữa trên trái đất này”. Minh Tứ viết: “Hôm đó, tôi đã nói với ông: Người ta nói hãy khép lại quá khứ để nhìn về tương lai. Tôi nghĩ quá khứ có thể khép lại, nhưng bài học thì không thể lãng quên. Bảo tàng này không chỉ là nẻo tìm về quá khứ để tự hào về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc chúng tôi mà còn là nơi thắp lên khát vọng hòa bình cho nhân loại”.

     

    NHÀ BÁO VÀ ĐẠO ĐỨC BÁO CHÍ

     

    100 bản quy ước đạo đức báo chí trên thế giới  là công trình thứ hai của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Trường Giang về đạo đức nghề báo, tiếp nối và bổ sung cuốn trước của chị, bàn về vấn đề này riêng ở nước ta[3].

    Tác giả đã công phu sưu tầm và biên dịch nhiều quy ước đạo đức từ những nguồn khác nhau, và cuối vùng chọn 100 bản để nghiên cứu, phân tích từ đó đề xuất kiến giải của mình. “Một trăm” cũng như “Nghìn lẻ một” không phải là những con số cụ thể mà là khái niệm về sự nhiều, phong phú, đa dạng, ẩn hiện, nhiều chiều…, “100 bản quy ước” đủ tiêu biểu cho các cách thể hiện của loài người về một vấn đề nóng hổi.

    Báo chí từ khi ra đời đến nay luôn được coi là giá trị xã hội. Théophraste Renaudot, Chủ nhiệm tờ La Gazette, nhà sáng lập báo chí Pháp, gần bốn trăm năm trước từng có câu: “Nhà sử học (có đủ độ lùi) phải thể hiện đúng sự thật. Nhà báo (thông tin thời sự) viết không sai là tốt lắm rồi”. Như vậy ông đã đặt ngang một loại hình văn hóa non trẻ đang định hình với môn khoa học có từ thời thượng cổ. Ngày nay, nhiều học giả và nhà báo lớn Tây cũng như Đông, bức xúc trước mặt trái của bức gấm thêu nhiều màu sắc là báo chí thời tin học, đã kêu gọi mọi người hãy ứng xử với báo chí như một giá trị xã hội, tức giá trị văn hóa, tinh thần trước hết của quốc gia, dân tộc mình và của cả nhân loại.

    Đạo đức báo chí là một phần đạo đức xã hội. Nó thể hiện những giá trị chung được toàn thể loài người không phân biệt môi trường sinh sống, chính kiến, niềm tin, truyền thống... cùng nhau chia sẻ, mặt khác phản ánh những đặc thù tiêu biểu cho văn hóa, tâm linh, lý tưởng, niềm tin của quốc gia, dân tộc nơi nền báo chí ấy ra đời.

    Nói như vậy là nhìn nhận một thực tế khách quan: so sánh quy ước đạo đức báo chí của nhiều quốc gia, chúng ta nhận ra nhiều nét tương đồng, đồng thời thấy  những khác biệt có khi sâu sắc, thậm chí đối lập. Trong thời đại ngày nay, với nhịp độ đổi thay nhanh như vũ bão, tiềm ẩn nhiều biến cố khó lường, hệ thống giá trị xã hội của mọi quốc gia, dân tộc đều chuyển xoay đến chóng mặt. Có những giá trị xã hội tồn tại từ lâu nay không còn được số đông công nhận, trong khi những giá trị mới phù hợp hơn lại chưa định hình. Trong bối cảnh ấy, Quy ước đạo đức nghề nghiệp báo chí Việt Nam được Đại hội VI Hội Nhà báo thông qua năm 1995 và Đại hội VIII sửa đổi đến nay đã gần 20 năm. Từ bấy đến nay, đất nước ta có những bước tiến lớn trong hòa bình ổn định, thế giới xuất hiện nhiều khủng hoảng và biến động làm rung chuyển không ít thể chế chính trị, tạo nên xung đột đau lòng, trong khi quá trình hội nhập hóa toàn cầu cứ tiếp tục đà lăn của nó. Đạo đức xã hội đổi thay, tất yếu đạo đức nghề nghiệp cần được điều chỉnh. Muốn cho Quy ước đạo đức báo chí của ta thực sự đi vào cuộc sống, có cống hiến thiết thực vào việc nâng cao chất lượng, hiện đại hóa báo chí nước nhà, giữ vẹn hình ảnh tốt đẹp của người làm báo cách mạng trong lòng nhân dân ta, nhất thiết không thể không cùng nhau điểm lại những cái được, có mang lại hiệu quả dù mới ở bước đầu, cùng những cái chưa được, bất cập, lỗi thời, từ đó đề xuất biện pháp phát huy vai trò, tác dụng của Quy ước đạo đức báo chí hiện hành với những điều chỉnh, bổ sung cần thiết. Dù nhà báo ai cũng bận rộn trăm công nghìn việc hằng ngày, thiết nghĩ vấn đề trên không thể không được quan tâm đúng mức, bởi sớm hay muộn rồi chúng ta cũng phải làm nếu không muốn để cho những điều tâm huyết thể hiện tại Quy ước đã thông qua dần dà biến thành giáo điều cách xa cuộc sống.

    Theo nhận thức của tôi, giá trị và cống hiến của công trình 100 quy ước đạo đức báo chí trên thế giới của Phó Gíao sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Trường Giang là ở chỗ này. Cần cù và nghiêm túc, tiếp cận vấn đề bằng so sánh luận, tác giả đã tập hợp, phân loại, đối chiếu, phân tích các bản quy ước khác nhau, tìm ra những tương đồng và dị biệt với cái nhìn khách quan của một nhà khoa học. Từ đó rút ra những nhận xét và đề xuất những kiến giải của mình với tâm nguyện góp phần vào việc hoàn chỉnh một bản quy ước đạo đức phù hợp với hoàn cảnh đất nước hiện nay và yêu cầu của báo chí ta trong tương lai gần. Trong quá trình làm việc, tác giả đã tham bác, lắng nghe và tiếp thu nhiều ý kiến của bạn bè, đồng nghiệp, nhằm hoàn chỉnh công trình với mức cố gắng cao nhất. Công trình 100 quy ước đạo đức báo chí trên thế giới nhờ vậy vừa là đóng góp khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn.

    Đạo đức nghề nghiệp báo chí là chủ đề rộng lớn, bao quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, công trình nghiên cứu của một tác giả dù cố gắng đến mức nào vẫn khó tránh khỏi thiếu sót, bất cập, thiết nghĩ rồi đây còn phải trông chờ ý kiến các nhà khoa học và độc giả chỉ bảo. Dù sao bất kỳ ai muốn có sẵn trong tay những tư liệu cần thiết và quý hiếm, giúp thêm dữ liệu để nghĩ suy, không thể không cậy đến công trình này của một nhà báo trăn trở với nghề đồng thời là một nhà giáo đang chung tay đào tạo đồng nghiệp mới. Xin đơn cử thí dụ: Nhiều nước hiện nay quan niệm giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc là trách nhiệm hàng đầu của báo chí, là nghĩa vụ của mọi nhà báo, vì vậy đã quy tắc hóa vào quy ước đạo đức báo chí của họ. Trong tình hình không ít cơ quan báo chí và người làm báo nước ta, bao gồm những người làm các mạng điện tử và người dắt dẫn các chương trình mang tính đại chúng, đang sử dụng tiếng Việt một cách xô bồ, liệu chúng ta có nên cùng nhau suy ngẫm nhiều hơn nữa về câu chuyện này?                                                                                                                                                                                                                                 

    CÁ LÓC, CẢ QUẢ, CÁ TRÀU

    Việt Nam thế kỷ X[4] không phải là một cuốn sách la liệt tư liệu. Như lời tác giả thưa với bạn đọc ngay từ đầu, với hơn 250 trang sách (chính xác: 272 trang in), ông không có tham vọng trình bày thêm tư liệu mới, cũng như không muốn lặp lại những điều các tác giả phương Tây khác đã nói, đã viết quá nhiều về chủ đề Việt Nam, nhất là từ sau thất bại của Mỹ năm 1975, nhiều tới mức ông gọi là một sự lạm phát. Tuy nhiên, ông đặt vấn đề: Trong quả núi hỗn độn sách báo ngôn từ ấy - và thời gian sau còn thêm các sản phẩm nghe nhìn - người ta phô bày nhiều tư liệu cổ kim, song tính từ ngày thực dân Pháp chiếm Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, có ai trong số các nhà Đông phương học lỗi lạc nhất ở phương Tây tiên đoán hay ít ra có dự cảm về cuộc Cách mạng tháng Tám 1945? Trước năm 1954 có nhà sử học Pháp nào - trừ bốn, năm người là cùng - dám khẳng định cuộc “chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất” (tức kháng chiến chống Pháp 1946-1954 của nhân dân ta - PQ) sẽ kết thúc bằng thắng lợi quân sự của người Việt Nam; và trước năm 1975, cuộc sụp đổ của Nguyễn Văn Thiệu được nhiều người thấy trước song có có nhà sử học nào (ở phương Tây) tiên đoán sự tan rã thảm hại của quân đội Sài Gòn, đạo quân hùng mạnh nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ? Vẫn theo tác giả, trong rừng sách báo ấy, chẳng còn lại gì ngoài vài ba tác phẩm: Viêt-Nam, Nghiên cứu xã hội học về một cuộc chiến tranh của học giả Paul Mus, Lịch sử Việt Nam của nhà sử học Philippe Devillers và Hồ Chí Minh của nhà báo, nhà văn Jean Lacouture? Và ngược dòng lịch sử lên xa hơn ít nữa, có Đóng góp vào lịch sử quốc gia Việt Nam của Jean Chesneaux, Nước Việt Nam, lịch sử và văn minh của Lê Thành Khôi, và Hiện tượng dân tộc Việt Nam của Paul Esoart. Tổng cộng đúng nửa tá.

    Sở dĩ như vậy vì các tác giả phương Tây chưa nhận thức ba khái niệm cơ hữu làm nên lịch sử Việt Nam đương đại là Truyền thống, Chủ nghĩa thực dân và Cách mạng, từ thực tế ấy nhân dân Việt Nam kiến tạo bản sắc của mình (nền dân chủ và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam biểu hiện như thế nào?), tìm kiếm sự cân bằng trong bối cảnh mở rộng giao lưu, hội nhập (nền văn hóa mới sẽ ra sao?) và con đường phát triển của một nước đang bị chi phối đồng thời bởi vai trò của khoa học, hậu quả cuộc chiến tranh hủy diệt do Mỹ để lại, cũng như bởi nhu cầu cấp bách của đời sống nhân dân sau khi chiến tranh kết thúc.

    Điều cực kỳ quan trọng, điểm mấu chốt để độc giả Việt Nam hôm nay hiểu sâu giá trị cuốn sách và cảm thông tấm lòng của tác giả đối với đất nước ta, là tác phẩm được viết năm 1978 (sách xuất bản quý 1 năm 1979). Những người tuổi ngoài 40 hẳn còn nhớ, thời gian ấy cả nước thiếu lương thực, thiếu hàng tiêu dùng, làn người di tản bằng thuyền lục tục rời bỏ quê hương xứ sở, các thế lực thù địch bên ngoài cũng như ngay trong biên giới tìm mọi cách bôi nhọ hình ảnh những người vừa làm nên lịch sử, khôi phục sự vẹn toàn bờ cõi... Tác giả khẩn thiết kêu gọi các nhà trí thức phương Tây chớ nên mang theo định kiến xuất phát từ “những cuộc cãi vã trong nội bộ chúng ta” hoặc những “câu hỏi chúng ta tự đặt ra với nhau” để tiếp cận, để tìm hiểu các vấn đề của nước Việt Nam đương đại.

    Tác giả viết: Ngày nay (1977-1978), chế độ Việt Nam mới đang huy động mọi sức lực của mình giành chiến thắng trong trận chiến mới: giải quyết vấn đề lương thực. Các học giả phương Tây có biết chăng, đất nước bị tàn phá và thiếu ăn ấy, đang phải gánh chịu hậu quả của hai triệu người chết trong chiến tranh, của năm triệu người tàn phế hoặc mang thương tật, của hai, ba mươi vạn người nghiện ma túy, bằng con số ấy nữa gái điếm, một triệu trẻ em mồ côi, ba triệu người thất nghiệp. Họ có biết chăng, trong ba năm qua, mấy ngàn người Việt đã ngã xuống trong khi tháo gỡ bom mìn chưa nổ trên đồng ruộng? Thế mà người Việt Nam đã ân xá cho nhiều chục vạn tù binh chiến tranh (người của quân đội Sài Gòn cũ) lần lượt trở về cuộc sống dân sự? Đúng là hiện ở Việt Nam vẫn còn có một số trại cải tạo tập trung, song những người còn trong các trại ấy là tướng lĩnh và đầu đàn của chế độ cũ đã phạm tội ác chiến tranh, mà giá vào thời khác, những người ấy đã bị đưa ra tòa để kết án treo cổ như phương Tây chúng ta từng làm tại Tòa án quốc tế Nuremberg sau năm 1945. Ở các trại giáo dục cải tạo, gái điếm và người nghiện hiện được dạy cách sống sao cho ra sống, dạy họ biết lao động và biết hy vọng. Xin đừng ai bị ám ảnh bởi cụm từ “giáo dục cải tạo” như cách hiểu của xưa nay ở phương Tây.

    Phương Tây có biết chăng, trong sự nghiệp tái thiết đất nước, Việt Nam hiện đang khan hiếm nghiêm trọng cán bộ tại chỗ, bởi một phần rất lớn tinh túy những người yêu nước ở lại miền Nam là đã bị cái gọi là chiến dịch Phượng hoàng của Mỹ tìm mọi cách diệt tận gốc. Cái chiến dịch Phượng hoàng ấy, các tác giả của nó ngày nay chắc còn mang trong ký ức nỗi hối hận day dứt cho đến cuối đời, thì những người chiến thắng lại cố quên đi hận thù. Đã không có cuộc báo thù lấy máu trả nợ máu, cũng như đã không có cuộc tắm máu sau chiến thắng mà năm 1975 bao nhiêu người ở đâu đó từng mang ra để rêu rao, hù dọa.

    Trong chương kết luận ngắn gọn, tác giả kêu gọi: Thôi, chớ nên lợi dụng nỗi đau của những người phải bỏ nước ra đi để khoét sâu nỗi đau của một dân tộc đã trải qua quá nhiều đau khổ vì chiến tranh. Phải hành động, và hành động nhanh. Phải giúp đỡ họ. Phải đàm phán với những nhà lãnh đạo mới của nước Việt Nam. Bởi ở nước này, mọi sự đang chuyển biến nhanh. Chắc chắn sau một thời kỳ chuyển tiếp từ ba đến năm năm (sau khi đã giải quyết về cơ bản những vấn đề cấp bách nhất), Việt Nam sẽ tiến mạnh trên con đường mới. Về phần mình, tác giả dè dặt: Cuốn sách này sẽ chỉ có ích nếu nó giúp được phương Tây tự đặt ra những câu hỏi, để tự mình đi sâu nghiên cứu thực tế phức tạp ở nước Việt Nam ngày nay, để thấu hiểu những vấn đề mà các nhà lãnh đạo nước ấy đang đặt ra và giải quyết. Dư luận phương Tây hãy thôi đi những lời phán xét hấp tấp cũng như thái độ khoan dung thiên vị. “Mong sao cuốn sách này sẽ đồng thời gợi nên ở độc giả yêu cầu suy ngẫm và tìm hiểu thêm thông tin”.

    Xin được nhắc lại: những dòng tâm huyết trên được tác giả viết năm 1978.

    Tôi quen tác giả Pierre-Richay Féray trong một dịp khá bất ngờ. Nhânt cuộc thăm cáp nhà nước Việt Nam, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp có mời nhiều nhà doanh nghiệp và trí thức Pháp cùng tham gia. Tại lễ chiêu đãi do Chủ tịch nước ta chủ trì, ba người Việt Nam và tôi được bố trí ngồi cùng bàn với bốn người bạn Pháp. Nghe giới thiệu loáng thoáng: hai ông chủ ngân hàng lớn, vị phụ trách quỹ ODA của Pháp dành cho nước ngoài - ông này ít lâu sau sang làm đại sứ ở nước ta - và một nhà sử học. Tôi chăm chú nhìn vị ngồi ngay bên cạnh. Khác với làn da trắng trẻo quen thuộc của người châu Âu, ông này nước da ngăm ngăm tựa người Bắc Phi song khuôn mặt lại bầu bĩnh mang nét gì rất Á Đông. Chẳng có cách nào hỏi danh tính vị ngồi cùng bàn tốt hơn là chìa danh thiếp của mình ra trước. Ông đáp lễ. Nhờ vậy, tôi được biết đấy là Tiến sĩ khoa học Pierre-Richard Féray, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về Đông Á đương đại có trụ sở tại thành phố , đồng thời là giảng viên Trường đại học thành phố này.

    Hình như cảm thấy tôi đang cố tìm hiểu về cái tên gợi chắc hẳn gợi nên cái gì đó, ông nói tiếp: “Vợ tôi là Yveline, Yveline Féray tác giả cuốn Vạn Xuân”. À ra thế, chồng nhà văn nước ngoài viết tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, một tác phẩm ngồn ngộn tư liệu và làm xôn xao dư luận. Tôi nhớ một lần ghé Nhà xuất bản Ngoại văn thăm anh Nguyễn Khắc Viện. Anh chìa ra cuốn sách khổ lớn, cày cộp, chữ lại nhỏ li ti: “Cho ông mượn. Chắc ông chưa đọc”. Rồi tiếp luôn: “Mình đọc mà cảm thấy xấu hổ. Một đề tài hay như thế, viết về một nhân vật kiệt xuất như thế, trong bối cảnh lịch sử đầy kịch tính như thế, không ông bà nhà văn nào của nước ta khai thác, lại để cho một người phụ nữ nước ngoài”.

    Tôi nói ấn tượng của mình về cuốn sách. Ông cảm ơn, cho biết sách đã tái bản, đã dịch và xuất bản bằng tiếng Việt. Tôi nói, tôi không chỉ đánh giá cao văn tài của bà, mà còn khâm phục làm sao bà khai thác được nhiều tư liệu lịch sử về nước tôi đến vậy. Là nhà sử học, chắc ông có giúp bà? Ông đọc được tiếng Việt?

    - Tôi mang hai dòng máu trong người. Cha tôi là người Pháp, mẹ tôi là người Việt, tôi sinh ra và có thời sống tại Campuchia. Hồi mẹ tôi còn sống, bà chỉ nói độc tiếng Việt với tôi. (À ra thế. Cho nên mới có nét mặt Á Đông và nước da rám nắng từ bé này - tôi nghĩ thầm). Từ ngày mẹ tôi mất đi, tôi chưa hề thưởng thức ở bất kỳ đâu món cá lóc ngon như tự tay bà chế biến.

    - Ông có biết cá lóc tiếng Bắc gọi là gì? - Tôi cố tình trắc nghiệm trình độ Việt ngữ của ông bạn mới quen.

    - Cá quả.

    - Thế tiếng miền Trung? - tôi dấn tới.

    - Cá đô hoặc cá tràu. Tuy nhiên hình dáng con cá có hơi khác.

    Mãn tiệc, bắt tay nhau, P-R. Féray nói:

    - Tôi muốn thay mặt vợ tôi, tặng ông một bộ Vạn Xuân. Tiếc là sáng mai, sáu giờ sáng, tôi đã phải cùng đoàn ra sân bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này thì quá muộn. Nếu ông vui lòng ngày mai ghé khách sạn, tôi gửi sách lại ở quầy lễ tân.

    Hôm sau, tôi đến khách sạn Sofitel Métropole. Cô lễ tân đưa cho một gói buộc vội vàng bằng sợi giây chun, trong có hai tập Vạn Xuân khổ sách bỏ túi[5] Kèm theo cuốn Việt Nam thế kỷ XX của ông.

    Đã lâu, tôi không gặp lại người bạn mang hai dòng máu trong người. Tuy cũng có đôi dịp ghé Nice song tiếc không thu xếp được để đến thăm ông bà. Chỉ được biết bà Yveline, sau nhà chiến lược, nhà thơ Nguyễn Trãi và nàng Thị Lộ, đã viết về một nhân vật kiệt xuất khác, vào một thời đại khác: danh y Hải thượng Lãn Ông, nhan đề Ông Lười. Hóa ra bà vẫn say mê đề tài lịch sử Việt Nam.

     

    LŨY TRE, CỔNG LÀNG, GIẾNG XÓM

     

    Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, công trình chuyên khảo đồ sộ của nhà địa lý học nổi tiếng thế giới Pierre Gourou[6] nguyên tác bằng tiếng Pháp xuất bản lần đầu năm 1936, ngay lập tức trở thành một tài liệu tham khảo không thể thiếu đối với bất kỳ ai muốn nghiên cứu địa lý nhân văn Bắc Bộ và Việt Nam, hơn thế, cho những ai muốn hiểu rõ đất nước và con người Việt Nam.

    Hơn ba phần tư thế kỷ đã qua kể từ khi sách ra đời. Đất nước Việt Nam đã trải qua bao biến thiên sâu sắc. Người nông dân Bắc Bộ đã đổi đời. Châu thổ Bắc Kỳ đạt được nhiều thành tựu mà bản thân tác giả với tất cả sự nhạy bén khoa học và trải nghiệm thông thái của mình không thể nào dự báo hết. Vậy mà từ bấy đến nay, vẫn chưa có công trình nào của các nhà khoa học Việt Nam hoặc của người nước ngoài vượt qua được, thậm chí ngang tầm Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ về nguồn tư liệu thực tiễn, công phu tiếp cận cuộc sống tại chỗ và những kiến giải mang tính khoa học. Ngày nay, bất kỳ ai muốn tìm hiểu sự chuyển động của vùng này trong thế kỷ qua và tương lai của nó những thập niên tới, không thể không tìm đến tác phẩm của Pierre Gourou. Đúng như Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn khẳng định trong Lời giới thiệu bản dịch tiếng Việt, “sau hơn bảy mươi năm nó vẫn còn mang tính thời sự”.

    Tác giả P.Gourou khiêm tốn cho rằng, thực hiện công trình nghiên cứu địa lý “do một người làm” về một châu thổ rộng đến 15.000 km2 và đông những sáu triệu rưởi dân (số dân hồi ấy) là quá sức. Thật ra, ông bắt đầu tìm hiểu châu thổ từ mười năm trước, 1927. Để dựng nên tác phẩm lớn này, ông đã tập trung toàn lực trong sáu năm, từ 1930 đến 1935. Công trình dày 670 trang (bản tiếng Pháp) có nhiều hình họa, ảnh, sơ đồ, biểu đồ, thống kê..., mở đầu bằng chương dẫn nhập giới thiệu Môi trường vật chất (địa hình, khí hậu, nước và hiểm họa của nó) trước khi đi vào hai phần cốt lõi: Dân số học (mà tác giả gọi là Cư dân nông thôn Đời sống kinh tế xã hội (phương tiện sống của nông dân Bắc Kỳ), gồm nhiều chương, trước khi Kết luận, phần nào cũng có nhiều nhận xét sâu và phát kiến mới.

    Về dân số học, sau khi khái quát lịch sử định cư của người Việt tại châu thổ Bắc Kỳ, tìm hiểu mật độ dân số và sự vận động dân số qua các thời kỳ, tác giả đi sâu nghiên cứu làng mạc và nhà cửa vùng đồng bằng sông Hồng vào những năm 30 thế kỷ trước. Theo chúng tôi, hai phần này hết sức lý thú. Ít có công trình nào trước hoặc sau ông mô tả vừa khái quát vừa chi tiết đến vậy quang cảnh xóm thôn, nhà cửa cư dân miền Bắc nước ta hồi đầu thế kỷ XX. Căn cứ vào thực địa, Pierre Gourou phân làng châu thổ Bắc Kỳ làm mấy loại: trước hết, làng mạc xây dựng trên các nơi đất cao nhằm tránh lụt lội, gồm ba mô hình phổ biến: làng trên các giồng chạy ven sông, làng ven đồi và làng trên các giồng ven bờ biển. Bên cạnh ba mô hình chính ấy, còn có mấy loại khác nữa rải rác nhiều nơi: làng lập trên vùng đất nơi có con sông đào chảy qua cánh đồng thấp; làng trên bãi bồi ven các con sông; và cuối cùng và muộn màng về sau là làng khai hoang lấn biển.

    Thống kê của tác giả cho biết quy mô trung bình của làng Bắc Bộ thời ấy là 210 hecta. Trong tổng số bảy ngàn làng vào những năm 1930, chỉ có bốn trăm năm mươi làng diện tích rộng hơn 500 hecta. Dân cư bình quân khoảng 910 người một làng, và số đơn vị mà cư dân vượt quá năm nghìn người chỉ có 58 làng cho toàn châu thổ, v.v… Những con số ấy cho phép ta mường tượng khá chuẩn xác một làng Việt Nam điển hình vùng đồng bằng sông Hồng trước năm 1945.

    Pierre Gourou là tác giả đầu tiên phân tích kỹ cấu trúc và tác dụng của các bộ phận cấu thành cái làng, mà ông gọi là “các thành phần” của làng Việt Nam. Từ luỹ tre (mà ông coi là thành luỹ bảo vệ chống những tai họa đến từ bên ngoài, đồng thời là ranh giới thiêng liêng của cộng đồng làng xã), cổng làng (được ông mô tả như một kiến trúc đẹp nổi lên vững chãi giữa luỹ tre nhẹ nhàng), lối chính vào làng và đường đi trong làng (không phải hình thành một cách tuỳ tiện mà thường theo một sơ đồ nhất định từ đầu), ao làng và giếng xóm (những công trình không thể thiếu phục vụ sinh hoạt cộng đồng), và các kiến trúc công cộng thuộc đời sống tâm linh như đình làng, đền thờ thành hoàng phần đông là những danh nhân, võ tướng có công với đất nước hoặc một vị thần người bản địa trở thành linh hiển, chùa thờ Phật, các văn chỉ, võ miếu, đến các nhà thờ họ, nhà thờ chi (cùng một họ - tiếng miền Trung gọi là phái), các miếu cô hồn, ngoài ra có thể kể các điếm canh nhằm mục đích bảo vệ an ninh cho làng xóm, phòng và chống lũ lụt...

    Tác giả có nhiều kiến giải thật đặc sắc về phong tục, tập quán vùng châu thổ sông Hồng. Xuất phát từ điều luật cơ bản bất thành văn phổ biến ở Việt Nam là “phép vua thua lệ làng”, nói về cái luỹ tre, ông viết: “Cùng với việc bảo vệ chống những tai họa đến từ bên ngoài, lũy tre còn là một ranh giới thiêng liêng của cộng đồng làng xã, dấu hiệu của cá tính và tính độc lập của làng. Vào thời loạn lạc, khi một làng đã tham gia vào cuộc nổi dậy, (chống lại nhà vua) hoặc cho những kẻ phiến loạn làm nơi náu ẩn, hình phạt đầu tiên (do lệnh triều đình sau khi cuộc nổi dậy bị đập tan - PQ) là bắt làng phải phá bỏ luỹ tre. Đấy là một vết thương lớn đối với lòng tự trọng của mọi người trong làng, một dấu hiệu nhục nhã; cái làng bị phạt tự cảm thấy là như một con người bị lột quần áo và bỏ trần truồng giữa đám đông ai cũng có trang phục. Về đời sống xã hội và tính cộng đồng: Dưới biểu hiện tẻ nhạt và nghèo nàn, cuộc sống trong làng rất sôi động và phong phú; nó đem lại cho người dân lợi ích và sự đam mê”... “Một nét quan trọng của đời sống xã hội trong làng là sự kiểm soát tuyệt đối của công luận đối với đời tư mỗi người. Làng là một cộng đồng mà sự trong sạch về mặt đạo lý đòi hỏi mọi người phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của người dân đối với làng về phong tục, tập quán, và các nghĩa vụ về tôn giáo, tín ngưỡng, (chẳng hạn) chỉ cần thất hiếu với ông bà cha mẹ là chính quyền làng có thể can thiệp và phạt vạ. Do sự bình yên của đời sống làng xã phụ thuộc vào sự phục tùng của mọi dân làng vào lẽ phải, và làng nào cũng có một niềm hãnh diện chung đòi hỏi mọi người không dược để tên tuổi của làng mình bị hoen ố. Về các hội hè và trò chơi giải trí, ông lý giải: “Lễ hội là dịp để người dân quê được “tái tạo” (cuộc sống); các trò chơi đa dạng như đấu vật, kéo co, đua thuyền, hát ghẹo, thi nấu cơm... làm cho người dân quê vui thú... Còn về lễ tết gia đình thì các sinh hoạt ấy biểu hiện qua các đám ma, đám cưới, ngày kỵ giỗ ông cha...”. Từ những nhận thức và mô tả như trên, tác giả đi đến kết luận: Làng Việt Nam là một cộng đồng tự trị, tự giải quyết lấy các mâu thuẫn nảy sinh giữa các thành viên với nhau, tự đứng ra thu thuế nộp cho Nhà nước theo chỉ tiêu được giao. Một khi xã đã hoàn thành các nghĩa vụ như trên đối với chính quyền (trung ương) thì còn lại nó có thể tự cai trị, từ đó mà ra “phép vua thua lệ làng”.

    Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ là một trong số tác phẩm hiếm hoi đã mô tả và trình bày rất chi tiết về kiến trúc nhà cửa của cư dân châu thổ Bắc Kỳ. P. Gourou đã dành tới hơn 150 trang sách riêng cho một chương này. Từ việc mô tả “các loại hình xã hội về nhà cửa”, phân tích “các thành phần (bộ phận) của ngôi nhà”, tác giả đi đến những kết luận mang tính lịch sử về sự phát triển của ngôi nhà người Việt vùng châu thổ sông Hồng và so sánh nhà của người Việt ở châu thổ với nhà cũng của người Việt ở miền núi, ông có những phát hiện và kiến giải vô cùng lý thú, không chỉ cho lớp hậu sinh chúng ta ngày nay mà tôi nghĩ có lẽ cả những người Việt Nam thuộc các thế hệ trước cũng chẳng mấy ai biết thật tường tận như ông Tây này. Ông tốn nhiều công sức tái hiện các kiểu nhà qua nhiều tranh đồ họa và ảnh minh họa. Với những bức vẽ kỹ thuật chi tiết về kiến trúc, từ sườn nhà, các kèo nhà, tường vách đến các khuôn cửa, cánh cửa, đến gian bếp có hai mái rạ dành cho khói bếp thoát khói ra ngoài mà không lan tỏa trong nhà, v.v... Theo chúng tôi, các hình vẽ kỹ thuật chuẩn xác và tinh tế về ngôi đình làng Đình Bảng (Bắc Ninh): hình nhìn mặt trước, hình cắt dọc, cắt ngang, hình nhìn thấu thị... đến nay vẫn xứng đáng được đăng tải trên bất kỳ tạp chí chuyên ngành nào về kiến trúc, và là một tư liệu quý góp phần giới thiệu sớm công trình tiêu biểu nay đã được xếp hạng là Di tích Lịch sử Quốc gia.

    Phần nói về Đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn ta cũng phong phú. Đặc biệt là các chương nói về chế độ sở hữu ruộng đất, giá cả và cách thức chuyển nhượng ruộng đất thời ấy, các chế độ lĩnh canh, tín dụng ở nông thôn cùng tệ nạn cho vay nặng lãi tràn lan mọi nơi; về tình hình lao động nông thôn và công nghiệp làng xã. Hết sức lý thú chương sách khá dài tác giả dành cho chợ nông thôn với vai trò, quy mô và cơ chế hoạt động đặc thù của nó. Những ghi chép tại chỗ của ông cụ thể và sống động tới mức gây kinh ngạc cho các nhà nghiên cứu dã ngoại mọi thời, và quý báu xiết bao cho những ai ngày nay muốn hiểu sinh hoạt người nông dân Bắc Bộ hồi đầu thế kỷ trước. Những trang tác giả viết về Chợ Om (thuộc làng Tương Chức, tỉnh Hà Đông cũ) là một thí dụ sống. Cả phiên chợ chỉ có bốn người bán rau (mỗi mẹt hàng trị giá không quá hai hào), bảy người bán muối (tổng số vào khoảng ba tạ muối), ba hàng bán đậu phụ, bốn hàng bán cá, ba chị bán thịt, tám bà hàng cau, bốn bà bán thuốc lào, một người đàn ông và mười người đàn bà bán gạo, ngô (tổng cộng hàng hóa khoảng ba mươi tạ), tám chị bán hoa quả, bánh ngọt, bốn chị bán vỏ rễ, lá trầu không, một bà bán vôi ăn trầu, hai người bán trứng gà, trứng vịt... Tác giả kết luận: Tổng cộng một phiên chợ Om có khoảng một trăm người mua và bán; toàn bộ số hàng đem ra bán ở phiên chợ trị giá không quá bốn trăm đồng (bạc Đông Dương những năm 1930); số hàng bán được (trong một phiên chợ) dĩ nhiên thấp hơn con số đó”.

    Tại phiên chợ, ngoài chức năng mua bán lương thực, thực phẩm là chính còn có thêm bốn anh thợ cắt tóc, một người bán rong đồ gốm, ba ông bán thuốc Nam (hai thầy lang Việt, một thầy lang Tàu), hai người bán hàng mã, một bác thợ rèn, một ông thầy bói. Ngoài ra, còn có “tám bà hàng xén bày trước mặt hàng lặt vặt gồm chỉ khâu, khuy áo, xà phòng, những hộp kem bôi mặt nhỏ nhập cảng từ Pháp bán cho những cô nàng trẻ ở nông thôn thích làm dáng...”. Rốt cuộc, mấy nhân vật quan trọng nhất trong phiên chợ về mặt kinh tế là “ba bà hàng vải, ăn vận sạch sẽ và cầu kỳ, bà nào cũng có người giúp việc đi theo gánh vải”. Đến trưa, khi bắt đầu tan phiên chợ, “những người bán hàng đóng gói hàng hoá không bán được cùng những thứ họ vừa mua hoặc trao đổi hiện vật với nông dân tại chỗ, trở về làng mình hoặc chuyển sang một chợ làng khác qua những nẻo đường đất nhỏ lầy trơn, mà chỉ với thói quen và sự nhẫn nại của người nông dân Bắc Kỳ, người ta mới có thể bước đi thoải mái, với một cái gánh nặng trên vai như thế”...

    Pierre Gourou không chỉ say mê nghiên cứu châu thổ Bắc Kỳ, ông thật sự yêu mến vùng đất này. Đọc ông, tôi nghĩ không có tấm lòng quý yêu và trân trọng, không thể viết nên những trang chân thực mà trữ tình đến vậy: “... Nét nên thơ và vẻ đẹp của châu thổ lộ ra trước mắt những ai chịu khó đi tìm, lần theo các con đê và những con đường nhỏ vào những mùa khác nhau, đi sâu vào các xóm làng (...) Một công trình kiến trúc với mái nhà uốn cong, những cây đa rễ chùm tỏa bóng, soi xuống mặt nước của một cái ao tròn, tạo ra sự hài hòa tinh tế và thanh bình, khiến cho bầu không gian đục đục do những đám khói từ các ngôi nhà trong làng bốc lên càng trở nên sâu thẳm... Một dược mạ với rặng cây ăn quả, vượt lên trên cao là ngọn những cây cau; màu xanh tươi mát của những cây non nổi lên trên nền cây xanh thẫm được tô điểm bằng những tia nắng xuyên qua, dáng vẻ thanh tao của những tàu lá cau... Chưa hết: Vẻ hùng tráng của cảnh quan sông nước; mặt nước mênh mông, bằng phẳng và gợn sóng trôi chầm chậm về phía chân trời, tùy từng lúc mà điểm tô màu đỏ xậm, hồng nhạt hoặc xám lam; một khóm tre, các đám cỏ trên thân đê, bộ lông vàng của một con bò làm nổi thêm sắc thái đỏ quạch của nước phù sa; đôi khi những tương quan cực kỳ tinh tế được tạo ra giữa màu hồng của sông nước và những mái rạ màu xám cũ kỹ của một làng ven sông”. Đọc những dòng trên của nhà khoa học, bất giác tôi liên tưởng tới các truyện ngắn của Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn viết về thôn quê Bắc Bộ thời trước.

    Tác giả dành những trang cuối sách nói về “nền văn minh nông dân châu thổ Bắc Kỳ”, một nền văn minh đã ổn định từ lâu trong sự hài hoà về vật chất và thẩm mỹ với những điều kiện tự nhiên ở đó. Ông lo lắng trước những tai họa mà nền văn minh châu Âu ngay từ thời ấy đã và đang mang đến tàn phá văn hóa châu thổ Bắc Kỳ. Để đi tới kết luận khái quát: “Chỉ có nền văn hoá cổ truyền này, thích nghi từ từ với những đòi hỏi mới, mới có thể mang lại cho một dân tộc dễ có cảm tình và nghèo khổ đến tận cùng ấy, cái phần hạnh phúc họ đáng được hưởng; ngoài những cái đó ra (áp đặt nền văn minh châu Âu), chỉ có thể đưa đến hỗn loạn và tuyệt vọng mà thôi “.

     

    Thạc sĩ sử học và địa lý học, tiến sĩ quốc gia về văn học, Pierre Gourou là con người mà cuộc đời dài bằng cả thế kỷ XX. Ông sinh năm 1900, mất năm 1999, thọ tròn bách tuế, nếu theo cách tính tuổi của người Việt Nam ta. Ông khởi nghiệp nghiên cứu khoa học ở Việt Nam với công trình Bắc Kỳ (1931), sớm nổi bật cùng hai tác phẩm lớn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (1936) và Sử dụng ruộng đất ở Đông Dương (1940). Về Việt Nam, còn có thêm Nhà ở Việt Nam - miền Tây và miền Trung Trung Kỳ (công bố cùng năm 1936)... Rồi từ các công trình về Đất và người ở Viễn Đông (1940) về Châu Á (1953), ông lần lượt cho ra đời tiếp nhiều biên khảo về các nước Ruanda-Urundi (1953), Congo (1955) và về Châu Phi nói chung (1970), về Châu Mỹ nhiệt đới (1971), mở rộng hơn nữa: Thế giới nhiệt đới (1982)... Tác phẩm lớn cuối cùng xuất bản năm ông 84 tuổi, dày 300 trang: Lúa và văn minh (1984).

    Pierre Gourou là một nhà bác học bách khoa. Qua các tác phẩm của ông, người đọc thấy, bên cạnh nhà địa lý nhân văn hiểu biết sâu sắc các môn dân tộc học, xã hội học, dân số học, nhân học, địa lý tự nhiên, là một nhà nông học, một nhà sử học... Là Viện sĩ thông tấn Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, ông là một trong những nhà khoa học nước ngoài mà mọi công trình nghiên cứu đều hướng vào mục tiêu góp phần giúp các nước nghèo vượt qua khó khăn để phát triển.

    Người viết bài này, nhiều năm gắn bó với nông nghiệp và nông thôn, từ lâu coi cuốn sách của Pierre Gourou là một tư liệu tham khảo gối đầu giường. Công trình nghiên cứu kinh tế, văn hóa, xã hội nước ta thời trước không nhiều. Ngoài mấy tác phẩm rất cơ bản của Lê Quý Đôn, Trịnh Hoài Đức... và muộn hơn, của Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh,  sách xuất bản bằng tiếng Pháp trông bộn bề thật đấy song không ít cuốn đơn thuần là những ghi chép của các quan cai trị về vùng đất họ nắm quyền, các công trình mang tính khoa học đích thực có thể đếm trên đầu ngón tay. Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ là một trong số tác phẩm quý hiếm này. Nó không chỉ cung cấp cho người đọc tư liệu đáng tin cậy mà còn gợi mở suy nghĩ. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, viết về đồng bằng sông Cửu Long, nhờ học thầy Pierre Gourou trong cách mô tả và phân loại làng ở châu thổ Bắc Bộ, chúng tôi mới dám tự tin hạ bút: “Làng xóm trải dài theo tuyến là đặc điểm của sự bố trí dân cư các vùng đất mới. Nó khác với các vùng con người sinh sống đã hàng nghìn năm, như đồng bằng châu thổ sông Hồng... Ở đồng bằng sông Cửu Long, các điểm dân cư không có nhiều dạng đến vậy. Làng mạc nhìn chung đều xây dựng men theo các tuyến giao thông hoặc sông ngòi, từ máy bay nhìn xuống, nhiều nơi làng mạc trông mỏng như những đường viền... Ở nhiều nơi làng thoạt tiên là một dãy nhà trở mặt ra kênh. Sau nhà là ngôi vườn khá rộng, sau vườn là ruộng đồng bát ngát. Đi xa hơn nữa sẽ gặp hoang vu, có nghĩa ai có sức lao động thì còn có thể tha hồ vỡ hoang thêm... Những nơi giáp nước hoặc ở ngã ba ngã tư đường bộ, dân cư trù mật, dần dần mọc lên quán xá, chợ búa... Những nơi khai khẩn đã lâu đời, dân cư đông đúc dần, thì đến ngày nay đương nhiên một số thôn ấp cũng có dạng quây quần chứ không đơn thuần theo đơn tuyến (vì đất thổ cư hiếm dần, hoặc do nhu cầu phát triển nhanh các thị trấn) nhưng chắc chắn lúc đầu cũng từ một dạng cơ bản là tuyến mỏng mà phát triển nên”[7]

    Tác phẩm của P. Gourou lưu hành không rộng ở nước ta. Theo tôi được biết, cuốn Người nông dân... in lần đầu thoạt tiên hầu như chỉ có ở Thư viện Quốc gia (Hà Nội), không rõ Thư viện Khoa học (Hà Nội) ra đời sau, có bản in lần đầu hay không. Cuối những năm 1960, tôi nhận được từ Pháp một người bạn gửi cho cuốn sách của Pierre Gourou vừa tái bản. Bản in lần này có lời bạt ngắn của chính tác giả. Ông nói, nhờ các chính sách của Chính phủ Việt Nam (dân chủ cộng hòa), châu thổ Bắc Kỳ hiện đang có nhiều đổi thay cơ bản đáng khích lệ. Đụng đầu với các làng xã mang trong chúng những đặc điểm cổ truyền và với đức tính kiên nghị của con người Việt Nam, cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ chắc chắn sẽ nếm mùi thất bại... Lời khẳng định của một nhà khoa học hiểu biết sâu sắc đất nước ta, thốt lên trong hoàn cảnh thủ đô Hà Nội cùng cả nước đang kiên cường đánh trả các cuộc không tập leo thang ngày càng dữ dội của quân đội Mỹ, làm xúc động lòng người. Và thật vui, hôm nay được đọc lại tác phẩm của Pierre Gourou bằng tiếng Việt, cho dù có muộn màng một chút, khi mà “dự báo chính trị” của ông về cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành hiện thực ba chục năm nay rồi.

     

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thời gian không đổi sắc màu. Tập Phê bình – Tiểu luận của Phan Quang. NXB Văn học, 6-2017.

    www.trieuxuan.info



    [1] Thời kháng chiến chống Pháp, người dân và cán bộ Nam Bộ thích gọi đồng chí Lê Duẩn là “ngọn đèn pha deux cents bougies – 200w”

    [2] Lời nhạc Phạm Duy.

    [3] Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo, Nxb Chính trị quốc gia, 2011.

    [4] Nhà xuất bản Đại học Pháp, Paris, 1979.

    [5] Ở Pháp, loại sách bỏ túi (Livres de Poche) chuyên in lại những tác phẩm  nổi tiếng. Khổ sách tiện dụng (vừa bỏ túi áo), giá lại rẻ, số lượng sách phát hành do đó thường rất lớn.

    [6] Nguyễn Khắc Đạm, Đào Hùng, Nguyễn Hoàng Anh dịch, Đào Thế Tuấn hiệu đính, 2003.

    [7] Phan Quang. Đồng bằng sông Cửu Long, in lần đầu 1981, Nxb. Văn hóa, Hà Nội.

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,817,277

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/