Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập39,916,196

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thầy lang

TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz

  • Thứ ba, 15:53 Ngày 13/06/2017
  • Chánh án nhăn mặt.

    - Đoạn đó đối với vụ án không quan trọng.

    - Tôi muốn chỉ ra rằng Kosiba thường có tới hai mươi bệnh nhân mỗi ngày, theo tính toán của nhân chứng bác sĩ Pawlicki.

    Người ta đọc đoạn đã được chỉ, sau đó người bào chữa lại quay về phía nhân chứng.

    - Khi trả lời câu hỏi của người chưởng lý ông có nói rằng ông đã ba lần có mặt trong phòng của Kosiba, trong đó có một lần được mời đến.

    - Đúng thế.

    - Người ta gọi ông đến để làm gì?

    - Đến để thăm hai người bị trọng thương sau tai nạn mô tô.

    - Ai gọi ông?

    - Một gã Wojdyłło nào đó, mà sau này tôi được biết rằng đó chính là kẻ gây ra vụ tai nạn.

    - Nhưng theo đề nghị của ai mà y mời ông?

    - Hình như theo đề nghị của Kosiba.

    - Bác sĩ có nhớ rằng Kosiba đã giải thích cho ông ra sao hay không khi mời ông đến?

    - Có. Hai người bị trọng thương. Ông ta khẳng định rằng một mình không thể giải quyết nổi.

    - Kosiba có van nài bác sĩ hãy cứu sống lấy cô gái kia không?

    - Có, nhưng tôi xem tình trạng của cô ta là tuyệt vọng. Tôi chỉ tiêm một mũi trợ tim.

    - Kosiba có xin bác sĩ cho phép sử dụng dụng cụ của bác sĩ để mổ cho cô gái bị thương không?

    - Có, nhưng không một bác sĩ nào ở địa vị của tôi có thể thực hiện yêu cầu ấy.

    - Phải chăng cũng không bác sĩ nào muốn mổ cho một cô gái sắp chết chỉ vì xem qua tưởng rằng phẫu thuật không cứu nổi người bệnh?

    Bác sĩ Pawlicki đỏ bừng mặt.

    - Ông không có quyền nhục mạ tôi!

    - Tòa bác bỏ câu hỏi ấy - chánh án nói.

    Trạng sư gật đầu.

    - Điều gì đã khiến bác sĩ nghĩ rằng tình trạng của người bị thương là vô vọng?

    - Đó là một ca dập đáy hộp sọ! Mạch gần như mất hẳn.

    - Thế bác sĩ có biết rằng thầy lang Kosiba tiến hành phẫu thuật đã cứu được nữ bệnh nhân không?

    - Tôi có biết.

    - Làm thế nào để giải thích nổi việc ấy?

    Bác sĩ nhún vai.

    - Một trong những trường hợp đáng kinh ngạc nhất trong đời chữa bệnh của tôi. Tôi nghĩ rằng dù sao đó cũng chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên hết sức lạ lùng mà thôi.

    - Khi bác sĩ đến chỗ cối xay, thầy lang có thông báo cho bác sĩ chuẩn đoán của ông ta không?

    - Có.

    - Phải chăng các sĩ không thấy rằng: Antoni Kosiba biết cách chuẩn đoán chính xác và đã tiến hành thành công một ca mổ cực kỳ nguy hiểm, đã chứng tỏ có một tài năng phẫu thuật lớn?

    Bác sĩ ngần ngừ.

    - Đúng thế. Tôi phải trung thực thừa nhận rằng trong nhiều trường hợp, điều đó khiến tôi ngạc nhiên.

    - Cảm ơn. Tôi không hỏi thêm nữa - Trạng sư gật đầu và mỉm cười nhìn viên chưởng lý.

    Tiếp đó người ta đọc lời khai của một số nhân chứng do người bào chữa mời lần lượt theo nhau xuất hiện. Ra trước tòa để làm chứng có ông lão chủ cối xay bột, con trai ông ta, ông bà Czyński, cuối cùng là một loạt các cựu bệnh nhân của Antoni Kosiba.

    Lời khai của họ có nội dung gần giống nhau: tôi bị ốm, tôi bị tật nguyền đe dọa, ông ấy đã cứu chữa cho tôi, ông ấy không hề đòi tiền công. Một số người khác còn khai rằng được thầy lang cho thêm vài thứ này khác, rằng cả vùng đều biết ông ta không hề vụ lợi. Cả ông Czyński cũng khai điều đó: thầy lang đã không chịu nhận của ông một trăm zloty, mặc dù đối với ông ta đó là cả một số tiền lớn và ông ta hoàn toàn xứng đáng được hưởng.

    Lời khai của ông lão Prokop Mielnik thật xúc động, ông kết thúc bằng những lời nói sau:

    - Chính Đức Chúa đã đưa ông ấy đến nhà tôi, bằng cách ấy đã ban tặng cho một kẻ có tội là tôi, ban cho gia đình tôi và mọi người xung quanh một ân huệ lớn. Tôi biết rằng ông ấy được Chúa phái đến chứ không phải loài quỷ dữ, thông qua việc ông ấy không bao giờ trốn tránh lao động, thứ mà Chúa hằng yêu. Ông ấy có thể đòi hỏi tôi mọi thứ, ông ấy có thể cứ ngồi sau lò sưởi, không làm gì hết, chỉ ăn và ngủ. Nhưng ông ấy không phải loại người như thế. Ông ấy là người đầu tiên làm bất cứ việc gì, dù đó là việc tinh vi hay vất vả. Làm cho đến xong, cho được việc mới thôi. Mà người thì đâu còn trẻ trung gì nữa. Vì thế chúng tôi kính xin tòa cao minh tha cho ông ấy ra vì lòng ca ngợi Chúa, vì lợi ích của mọi người.

    Mái đầu bạc của ông lão cúi xuống chào thật thấp, viên chưởng lý nhíu mày, còn tất cả những người có mặt đều nhìn bị cáo.

    Nhưng Antoni Kosiba vẫn ngồi dửng dưng, đầu cúi xuống. Ông không hề nghe thấy những câu hỏi khéo léo của chưởng lý, những đợt phản kích của người bào chữa, những lời khai của các nhân chứng. Ông chỉ bừng tỉnh trong một thoáng ngắn ngủi bởi cái giọng khẽ khàng, run run của Marysia. Khi ấy ông ngước mắt lên, mấp máy cặp môi không thành tiếng, để rồi lại chìm vào nỗi thờ ơ.

    “Ta chẳng còn gì hết - ông nghĩ thầm - không có gì chờ ta nữa hết”

    Trong khi đó, trong bục khai đang đứng nhân chứng qua trọng nhất, người mà lời khai được trạng sư Korczyński lưu tâm nhất. Vả lại cũng chẳng riêng gì trạng sư, cả các vị quan tòa cũng như toàn thể cử tọa đều chờ sự xuất hiện của ông trong một nỗi căng thẳng. Một nhà khoa học trứ danh sẽ lên tiếng, một nhà giải phẫu tuyệt vời, đồng thời cũng là người số một trong y giới, persona gratissma, gần như là người đại diện cho cả thế giới, một đại diện chính thức, là chủ tịch đồng thời là người bảo trợ.

    Những ai chưa quen ông hoặc chưa được thấy ông bao giờ cũng phải hình dung giáo sư Dobraniecki đúng như thế mà thôi. Một người đàn ông cao lớn, ở tuổi tráng niên, thân hình hơi phì, có khuôn mặt trông nghiêng tuyệt diệu của một con đại bàng, cùng vầng trán cao. Từ mỗi cử chỉ của ông, từ mỗi lời ông nói, từ cái nhìn đầy trang trọng đều toát ra vẻ tự tin, vẻ tự tin mà chỉ duy cảm giác về giá trị của bản thân, cái giá trị được mọi người thừa nhận và chính thức hóa bằng địa vị trong cuộc đời, mới cho người ta có được.

    - Có chừng mươi người nhờ tôi, với cương vị là một nhà giải phẫu - ông mở đầu - khám nghiệm tình trạng sức khỏe của họ. Họ đã từng có hồi chịu những chấn thương hay những căn bệnh nghiêm trọng, rồi sau đó, được chữa bằng liệu pháp giải phẫu do một thầy lang vườn tên là Kosiba tiến hành. Việc khám nghiệm và chiếu bằng thiết bị Rơngen đã chứng tỏ những điều sau đây.

    Đến đây giáo sư bắt đầu kể tên các nhân chứng vừa khai lúc nãy, mô tả thương tích, đánh giá mức độ nguy hiểm của chúng cùng việc đánh giá những liệu pháp giải phẫu đã được tiến hành và kết quả điều trị. Ông đưa ra nhiều tên Latinh, nhiều thuật ngữ ngành y và nhiều danh từ chuyên môn.

    - Tóm lại, tôi phải khẳng định rằng - giáo sư kết luận - trong tất cả những trường hợp vừa trình bày, việc giải phẫu đã được tiến hành hoàn toàn chuẩn xác, với một sự hiểu biết căn bản về giải phẫu học không thể nghi ngờ và đã tránh cho nạn nhân khỏi cái chết hoặc những tàn tật vĩnh viễn.

    Viên chánh án gật đầu.

    - Theo ngài giáo sư, làm thế nào để giải thích được sự việc một người hoàn toàn không hề có học thức, lại có thể thực hiện những ca mổ táo bạo như vậy mà vẫn đạt kết quả mỹ mãn?

    - Chính tôi cũng tự đặt ra cho mình câu hỏi ấy - giáo sư  Dobraniecki trả lời - giải phẫu học về bản chất là khoa học thực nghiệm, dựa trên kinh nghiệm và quan sát của hàng nghìn thế hệ. Thoạt kỳ thủy của những phép giải phẫu bắt nguồn từ thời tiền sử xa xôi. Các nhà khảo cổ đã biết đến những công trình khai quật từ thời đồ đồng, thậm chí từ thời đồ đá cũ, những công trình cho phép khẳng định ngay từ thời bấy giờ người ta đã biết ghép các xương gãy, đã tiến hành cắt các chi, vân vân. Vì vậy, tôi nghĩ rằng trong số nông dân đã từng quen thuộc với cấu tạo cơ thể của gia súc, cũng có thể xuất hiện những nhà quan sát tinh anh khác thường, và dần dần họ giúp đỡ được tất cả mọi người thông qua tích lũy kinh nghiệm trong các trường hợp thực tiễn nhỏ nhặt và ít phức tạp.

    - Nhưng ở đây - viên chánh án lên tiếng,- ngài giáo sư đã xác đinh rằng phần lớn các trường hợp lại là tổn thương phức tạp và nguy hiểm kia nữa mà.

    - Đúng thế. Vì vậy, phải thừa nhận rẳng tôi hoàn toàn ngạc nhiên. Vị thầy lang không những chỉ có kinh nghiệm thôi, mà phải có một tài năng xuất chúng…

    Ông ngẫm nghĩ rồi nói thêm:

    - … Có trực cảm… Phải, trực cảm giải phẫu, một thứ rất hiếm khi gặp. Bản thân tôi trước đây chỉ biết mỗi một nhà giải phẫu cũng chắc tay và có trực cảm giống như thế mà thôi.

    - Chắc tay có nghĩa là gì?

    - Chắc tay? Trước hết là những vết mổ chính xác.

    - Xin cảm ơn - chánh án nói - Các phía có muốn hỏi gì nữa không?

    Viên chưởng lý lắc đầu, còn trạng sư Korczyński kêu lên:

    - Tôi có. Ngài giáo sư có tìm thấy ở một trong số những bệnh nhân của Kosiba được ngài khám có vết tích của sự nhiễm trùng hay không?

    - Không.

    - Cảm ơn. Tôi không hỏi thêm gì nữa.

    Giáo sư cúi chào rồi ngồi xuống hàng ghế đầu cạnh ông bà Czyński. Đến lúc này, ông mới đưa mắt nhìn lên ghế bị cáo lần đầu tiên. Ông thấy một người râu ria, cao to nhưng gầy, nom chưa đến sáu mươi tuổi.

    - Thì ra cái ông lang ấy đấy - ông nghĩ thầm. Ông đã định quay đi thì tự nhiên ông thấy xử sự của bị cáo thật đáng suy nghĩ.

    Antoni nhìn ông bằng ánh mắt chăm chú và hầu như mê man. Trên môi thầy lang xuất hiện nụ cười khó hiểu, phân vân và dò hỏi.

    - Người gì mà lạ thế không biết - giáo sư nghĩ thầm trong bụng và quay mặt đi. Nhưng một lát lâu sau ông lại buộc phải nhìn thầy lang. Nét mặt gầy gò của ông ta vẫn không hề thay đổi, còn đôi mắt thì hình như dán chặt vào giáo sư.

    Dobraniecki nóng nảy sửa lại dáng ngồi trên ghế và bắt đầu nhìn lên viên chưởng lý, người đang mở đầu bài phát biểu của mình. Ông ta nói với giọng đơn điệu và có thể chính điều đó đã tước đi ấn tượng mạnh mẽ của các lý lẽ của ông, tước mất sự uyển chuyển của những câu ngắn, cụ thể, thản nhiên nhưng rõ ràng là rất lôgic của ông.

    Viên chưởng lý thừa nhận rằng bản án của phiên tòa sơ thẩm - đối với những người sống bằng tình cảm có thể được coi là quá hà khắc. Ông ta thừa nhận rằng bị cáo Kosiba không thuộc loại tồi tệ nhất trong bọn bịp bợm. Thậm chí ông ta còn thừa nhận rằng có thể bị cáo hành nghề này do thúc đẩy của những động cơ cao thượng nữa.

    - Nhưng ở đây chúng ta không đại diện cho lòng từ thiện - ông nói tiếp - Chúng ta là những đại diện của pháp luật. Chúng ta không được phép quên rằng bị cáo đã vi phạm pháp luật…

    Giáo sư Dobraniecki cố tập trung chú ý vào những lời dẫn giải của chưởng lý, nhưng một cảm giác không thể chịu nổi đã không để cho ông yên: ông cảm thấy trên gáy mình có ánh mắt của cái ông Kosiba kia. “Hắn muốn gì ở ta nhỉ? - Ông thầm nổi cáu trong óc - Nếu như bằng cách ấy hắn muốn bày tỏ lòng biết ơn mình về những lời khai thì…”

    - Chắc hẳn ở đây có những hoàn cảnh giảm án - người buộc tội tiếp tục - Nhưng chúng ta không thể coi nhẹ sự kiện. Ăn cắp bao giờ cũng vẫn là ăn cắp. Việc giấu giếm đồ vặt ăn cắp được…

    Không. Không tài nào tập trung chú ý nổi trong những điều kiện thế này. Đôi mắt của người kia có một tác động từ tính nào đấy. Dobraniecki gần như giận dữ quay lại nhìn chính ông ta và thật sự ngạc nhiên: thầy lang ngồi cúi đầu. Trước mặt ông ta, trên hàng lan can chắn, hai bàn tay to tướng của ông ta đang buôn thõng.

    Đột nhiên trong óc giáo sư nảy sinh một giả thuyết hoàn toàn vớ vẩn: “Đã có lúc nào đó ta gặp con người này”

    Trí nhớ bắt đầu hoạt động. Giáo sư tin vào trí nhớ của mình. Chưa bao giờ nó phản bội ông. Và giờ đây, sau một hồi lâu, ông đi đến chỗ tin rằng đã có một lúc ông bị ảo tưởng về sự giống nhau không cốt yếu nào đó. Chắc ông ta giống một bệnh nhân thoáng qua nào đó, từ nhiều năm trước. Vả chăng, ông cũng không có thì giờ suy nghĩ lâu hơn về điều ấy, vì trạng sư Korczyński đã đứng dậy và chất giọng nam trung lanh lảnh như tiếng kim loại của anh đã vang lên, tác dụng như dòng điện.

    - Thưa quí tòa! Một vị thần số mệnh mù lòa cùng một sự hiểu lầm nào đó đã khiến cho con người kia phải có mặt trong phòng này, trước cái diễn đàn này. Đây không phải là chỗ của ông ta, và phiên tòa này không phải là thứ xứng đáng để đánh giá những hành vi của ông. Vào lúc này, lẽ ra Antoni Kosiba phải ở trong giảng đường lớn của một trường đại học tổng hợp của chúng ta, lẽ ra ông ta không phải chờ bản án mà chờ được người ta trao bằng tiến sĩ danh dự của ngành y học.

    - Ồ không, thưa tòa, không phải trí tưởng tượng đã nâng tôi bay bổng đâu! Tôi không hề tìm những hiệu quả của thuật hùng biện. Tôi hoàn toàn không muốn đề cập đến những chuyện khó tin. Còn nếu như hôm nay việc trao tặng ông học vị tiến sĩ là một chuyện khó tin, thì chỉ vì rằng ở đây luật pháp của chúng ta đã có một điều khiếm khuyết. Đó là việc nó đã dùng những chuẩn mực khác nhau cho các nghề nghiệp có trách nhiệm như nhau. Thưa quý tòa, chúng ta không thể đồng ý với việc giao phó một mạng người cho một thầy thuốc khi kiến thức và kĩ năng của người đó không được đảm bảo bằng viện y khoa. Nhưng chúng ta lại không ngần ngại giao phó cho một kỹ sư chế tạo một cái máy bay hay xây một cái cầu. Trong khi đó, học vị kỹ sư và tất cả những điều có liên quan với nó thì ai cũng có thể được nhận, dù cho người đó không hề học ở các trường bách khoa, nếu qua công việc của mình chứng tỏ rằng mình đầy đủ kiến thức và kỹ năng để hành nghề ấy. Liệu ở đây tôi có phải nêu ra tên của những nhà khoa học được mọi người công nhận, những người đang chia sẻ kiến thức của mình cho hàng nghìn sinh viên các trường đại học bách khoa, còn chính họ thậm chí không hề có bằng phổ thông?

    Tiếc thay, nhà lập pháp không vận dụng những khả năng ấy cho nghề thầy thuốc. Vì nếu thế, bản ghi tốc ký của vụ án hôm nay đủ để cho Antoni Kosiba đạt được học vị tiến sĩ. Còn bằng chứng nào tốt, còn bằng chứng nào hùng hồn, chứng minh cho kiến thức và kỹ năng của ông hơn những bằng chứng được tập hợp trong hồ sơ vụ án, hơn lời khai của những nhân chứng, những người xuất hiện không chỉ với tư cách nhân chứng mà còn là những vật chứng cụ thể, những tư liệu sống về khả năng của bị cáo.

    Họ xuất hiện nơi đây giống như Lazar  được ông bảo rằng: Hãy dậy đi và hãy đến để làm chứng cho sự thật, hãy đến để trỏ tay vào người ơn của mình mà kêu lên: chính là kẻ này đấy! Chúng tôi vốn tàn tật, Người cho chúng tôi đi lại, chúng tôi vốn đau yếu, Người chữa lành cho chúng tôi, chúng tôi có lẽ đã chết rồi, Người bảo chúng tôi sống lại!

    Song ngài chưởng lý lại nhìn thấy tội lỗi ở chỗ Antoni Kosiba không có bằng cấp mà lại dám cứu người đồng loại. Vậy phải chăng, nếu một khi ông ta lao xuống nước cứu một người đang chết đuối, ông ta cũng nhất thiết phải có bằng chứng chỉ tốt nghiệp trường bơi lội?

    Tôi không phải là một kẻ mị dân và tôi đứng đây hoàn toàn không phải bảo vệ cho nghề thầy lang. Nhưng cũng chính vì thế, tôi càng kịch liệt chống lại cái thủ pháp được người buộc tội sử dụng. Mà cái chính là người ta đã đưa ra đây hai sự thật có vẻ hoàn toàn tình cờ. Thứ nhất, Antoni Kosiba là một thầy lang, và thứ hai - thầy lang là những kẻ lừa đảo chuyên sử dụng xảo thuật và ảo thuật, phù phép, phù chú, trừ tà, cùng những lời trống rỗng khác. Xin lỗi! Trong sự ghép chung ấy chứa một điều man trá, vì qua hồ sơ vụ án chúng ta đã biết rằng bị cáo không bao giờ, không một trường hợp nào, sử dụng đến sự mê hoặc.

    Dưới ánh sáng của hồ sơ ấy cùng sụp đổ hoàn toàn lời buộc tội Kosiba hành động vì mục đích kiếm lợi. Còn nếu như lời nghị tội nhìn thấy trong hoạt động của ông có yếu tố tội phạm ấy lại bị tan biến đi chẳng khác chi một làn sương mù, thì môtíp duy nhất mà chúng ta có thể công nhận được chỉ có thể là sự si mê. Phải, thưa quí tòa: con người kia là một kẻ si mê. Ông ta mắc phải một chứng si mê giúp đỡ những người đang đau đớn, giúp đỡ không công, mà hơn nữa, còn đánh đổi bằng chính tự do của mình, bằng cái giá chịu mang tiếng một kẻ phạmtội, bằng cái giá chịu lãnh nhận chiếc phản cứng của nhà tù và chỗ đứng nhục nhã trước vành đai móng ngựa này.

    Ở đây tôi sẽ không dừng lại lâu để bàn đến vấn đề Antoni Kosiba có phải là thầy thuốc tốt hay xấu. Nhưng nhân chứng đã nói thay tôi, đã nói thay tôi trước hết là con người danh tiếng nhất của ngành giải phẫu nước ta, người là một ý kiến của ông cũng đã đủ để là chứng chỉ có giá trị nhất. Tôi cũng sẽ không lợi dụng hoàn cảnh thuận tiện để nhấn mạnh rằng bác sĩ y khoa Pawlicki, như lời khai của chính ông ta, chưa hề có một trường hợp nào được bệnh nhân của ông thầy lang đến xin cấp cứu, ngược lại chính ông thầy lang đã cứu cho hai người mà bác sĩ Pawlicki đã đành bỏ vì chịu bó tay. Trường hợp thứ nhất ông đã chữa cho khỏi tật nguyền, còn trường hợp thứ hai, ông đã chữa cho khỏi chết.

    Thưa các ngài quan tòa, tôi muốn nói đến lỗi lầm lớn nhất của Antoni Kosiba, tôi muốn nói đến cái điều mà lời buộc tội đã đẩy lên bình diện thứ nhất, tôi muốn đến những điều kiện vệ sinh trong căn buồng mà thầy lang đã dùng để tiến hành các khoa phẫu thuật. Chính tôi đã từng đến căn phòng ấy và tôi phải thừa nhận với ngài chưởng lý rằng: những nhân chứng mà ngài mời đến đã khái quát hóa một cách quá chừng mực về những điều kiện phản vệ sinh tại căn phòng đó. Họ đã quên nói thêm rằng cái cửa sổ có những khe hở, qua đó gió có thể lùa vào, rằng trên mặt sàn cong vênh kia có những vết nứt và hơi ẩm bốc lên, rằng trần nhà bị dột, rằng lò sưởi phả ra khói trong phòng, rằng trong phòng không những không thiếu gì rác rưởi, mạng nhện và bụi mà còn có lũ gián sinh sống nữa! Tôi cũng đã nhìn thấy những dụng cụ mà Kosiba dùng để mổ. Đó là những thứ đồ sắt cũ kỹ, mòn vẹt và hoen gỉ, đã sứt sẹo và cong vênh, được chằng buộc bằng dây thép với dây thừng. Trong một căn phòng như thế, với những thứ như thế, dụng cụ như thế, Kosiba đã mổ cho mọi người.

    Nhưng, nói có Chúa lòng lành, đã có một ai đó trong số những người được mổ bị chết đâu? Đã có một ai bị nhiễm trùng đâu kia chứ!

    Trong phòng xử này tôi thấy mặt của mươi vị bác sĩ xuất sắc và dày dạn kinh nghiệm, và tôi xin hỏi họ: Đó là công của Kosiba hay là tội? Tôi xin hỏi họ: Chính sự kiện mà một người nào đó đã thực hiện ngần ấy ca mổ nguy hiểm trong những điều kiện khủng khiếp nhường kia nên chống lại hay bênh vực cho người ấy? Phải chăng, chính vì thế mà người ấy đang bị nhận bốn bức tường của một nhà giam hay một phòng mổ bằng sứ và pha lê?

    Tiếng xì xào khá to lan khắp phòng, khi nó đã lặng đi, trạng sư Korczyński nói tiếp:

    - Còn có một lời buộc tội nữa đè nặng lên con người tuổi tác kia, kẻ mà cho tới nay trong đời chưa hề có một vết hoen ố nào, kẻ nào mà cảnh sát vốn hay nghi ngờ cũng sẵn sàng tin mà không ngần ngại: ông đã ăn cắp. Vâng. Ông bị lôi kéo bởi ánh sáng lấp lánh của các dụng cụ giải phẫu chính xác sáng choang, và đã ăn cắp chúng. Quả thực, thoạt tiên ông cũng đã cố nài mượn những dụng cụ ấy, nhưng khi gặp phải sự cự tuyệt thẳng thừng ông đã đánh cắp. Nhưng ông làm chuyện ấy để làm gì? Cái gì đã đẩy con người trung thực kia đến chỗ phạm tội? Trong tình thế nào và với những động cơ như thế nào ông động vào tài sản của người khác?

    - Bởi vì chính trong gian phòng kia lúc ấy có một cô gái đang hấp hối, trên bàn, một cuộc đời hé nở đang chìm dần vào vực thẳm của cái chết, còn ông, Antoni Kosiba cảm thấy, biết được, và hiểu rõ rằng: không có những dụng cụ sáng choang kia, ông không thể nào giúp cô một cách có kết quả. Tôi thử hỏi: Antoni Kosiba phải hành động sao đây? - Trạng sư lướt ánh mắt sáng rực khắp phòng.

    - Ông phải hành động sao đây? - Anh kêu lên - Mỗi người chúng ta sẽ hành động sao đây khi ở vị trí của ông? Chỉ có thể tìm được một câu trả lời thôi: - Mỗi người chúng ta sẽ làm cái điều mà Antoni Kosiba đã làm, mỗi chúng ta đều sẽ đánh cắp những dụng cụ kia! Lương tâm sẽ bảo mỗi chúng ta rằng đó là nghĩa vụ của mình, là nghĩa vụ đạo đức!

    Trạng sư đấm tay xuống bàn và im lặng một hồi lâu.

    - Ở nước Áo ngày xưa - anh nói tiếp - có một loại huân chương đặc biệt cho giới quân đội. Nó dùng để tặng thưởng cho những hành vi kì lạ, cho việc bất tuân thượng lệnh, cho việc vi phạm kỉ luật, cho việc phản kháng chống lại quân kỉ. Đó là một loại huân chương cao quý nhất và ít được tặng thưởng nhất, nhưng lại là phần thưởng đáng tự hào hơn cả. Giá như tòa án Ba Lan có quyền định đoạt không chỉ hình phạt mà cả phần thưởng, thì một chiếc huân chương vì đã vi phạm luật pháp như thế hẳn phải sáng bừng lên trên ngực Antoni Kosiba khi ông từ phòng xử án này bước ra.

    Nhưng bởi phần thưởng như thế, tiếc thay, không tồn tại, nên xin hãy để phần thưởng dành cho ông ta là điều này sao cho mỗi một người trung thực đều xem là vinh hạnh được siết chặt bàn tay lam lũ và nhem nhuốc, nhưng lại chính là bàn tay sạch nhất trên thế giới này!

    Korczyński cúi chào rồi ngồi xuống.

    Giáo sư Dobraniecki không khỏi ngạc nhiên khi nhận thấy biểu hiện của nỗi xúc động hiện lên trên nét mặt anh cùng hàng mi hạ xuống. Chính ông cũng xúc động như cử tọa. Một trong các vị quan tòa thỉnh thoảng lại đưa ra một ngón tay uốn cong khẽ lau khóe môi. Người thứ hai ngồi nhìn cắm mặt vào giấy tờ.

    Cái kết luận trắng án hầu như đã có thể đoán trước, hơn nữa viên chưởng lý không có lời phản bác lại.

    - Bị cáo được quyền phát biểu - chánh án nói.

    Ông Antoni Kosiba không nhúc nhích.

    - Ông được phép nói lời cuối cùng - trạng sư Korczyński khẽ lắc lắc khuỷu tay ông.

    - Tôi không… không có gì để nói. Tôi thì sao cũng được…

    Rồi ông ngồi xuống.

    Giá có ai lúc ấy đưa mắt nhìn giáo sư Dobraniecki chắc đều phải kinh ngạc. Giáo sư đột nhiên tái mặt, ông làm một động tác như định vùng đứng lên khỏi ghế ngồi, miệng ông há ra.

    Song không một ai để ý đến điều ấy. Tất cả mọi người đều đứng dậy vì các vị quan tòa đi nghị án. Sau khi họ bước ra, những tiếng trò chuyện ồn ào râm ran khắp phòng, nhiều người vây quanh Korczyński, chúc mừng anh đã tiến hành một cuộc bào chữa tuyệt vời. Một số người ra hành lang hút thuốc.

    Giáo sư Dobraniecki cũng theo chân họ. Tay ông run bắn lên khi rút hộp thuốc ra. Ông tìm đến một chiếc ghế nhỏ đặt trong góc xa xa và nặng nề ngồi phịch xuống.

    Phải. Ông đã nhận ra người ấy, bây giờ ông đã biết chắc chắn: thầy lang Antoni Kosiba là giáo sư Raphał Wilczur!

    - Chính cái giọng nói ấy!

    Ôi, không bao giờ ông quên được giọng nói ấy. Thì đã bao nhiêu năm ông từng nghe nó vang lên kia mà. Thoạt đầu, với tư cách là sinh viên y khoa trẻ măng, sau đó với tư cách một người tập sự, rồi một bác sĩ mới hành nghề được một nhà khoa học lớn cưu mang. Sao ông ấy không nhận ra ngay những đường nét ấy nhỉ! Sao ông không nhìn thấy chúng dưới bộ râu nhọn kia!

    Mà thôi! Ngay cả trước đó, trước khi ông thấy Antoni Kosiba, ông cũng thật ngu ngốc biết bao khi chỉ biết ngạc nhiên ngắm nhìn những dấu vết trên các bệnh nhân của ông ta! Ông không tài nào hiểu nổi làm sao một ông lang vườn lại có thể thực hiện một cách thiên tài đến thế những ca mổ mà chính ông, giáo sư Dobraniecki này cũng phải ngần ngại!

    - Lẽ ra ngay lập tức ta phải nhận ra có bàn tay của ông ta ở đây! Ta thật ngu ngốc!

    Thật ra, ông cũng còn những dấu vết theo hướng này kia mà. Trong số những người được khám có cô gái được mổ vì dập đáy hộp sọ. Giáo sư Dobraniecki cũng hơi suy nghĩ về cái họ của cô: Wilczurówna, nhưng vì vội vã ông không nghĩ đến việc hỏi kỹ cô gái. Vả chăng cái họ ấy cũng hay gặp, chính ông cũng có vài bênh nhân họ Wilczur. Song cần phải cân nhắc chứ. Tuổi của cô  Wilczurówna hình như cũng phù hợp với tuổi của con gái giáo sư Wilczur. Khi cùng mẹ biến mất khỏi chân trời Warszawa cô mới… bẩy tuổi. Phải, thế là rõ…

    - Không thể là chuyện tình cờ! Thầy lang Kosiba… và cô gái ấy…

    Giáo sư vứt điếu thuốc chưa châm rồi lau trán. Trán ông ướt.

    - Thế là ông ấy không chết, không bị giết chết!

    Ông ấy đã ẩn náu ở vùng biên thùy này dưới lốt một nông dân với cái tên xa lạ, ông ấy ẩn náu cùng đứa con gái, thế nhưng tại sao cô ấy lại đổi họ nhỉ? Tại sao chính nơi đây cha con ông lại phải đóng vai hai người xa lạ?

    Lúc này ông sực nhớ lại lời cô gái nói với ông trong khi khám:

    - Bác Antoni dành cho tôi nhiều hy sinh hơn cả những gì có thể chờ đợi từ một người bác ruột.

    Vở hài kịch ấy để làm gì nhỉ? Nào, cả bố cô ta nữa chứ! Chỉ cần đứng dậy và nói: Tôi có quyền mổ xẻ và chữa bệnh. Tôi không phải là thầy lang Kosiba. Tôi là giáo sư Raphał Wilczur. Ông ấy sẽ được tự do ngay. Vậy tại sao ông ấy cứ cố sống cố chết bám lấy cái lốt giả của mình? Ông ấy có thể xưng họ tên thực của mình ngay từ phiên tòa sơ thẩm, ấy thế mà lại chịu nhận bản án ba năm tù.

    Nếu giáo sư Dobraniecki không hiểu kỹ người sếp cũ cũng là người thầy học của mình như ông đã hiểu chắc ông có thể nghĩ rằng giáo sư Wilczur bị một tội phạm hay một tội ác nào đó bắt ông phải mai danh ẩn tích. Nhưng giờ thì ông chỉ nhún vai nếu có ai đưa ra cho ông một ý nghĩ tương tự như thế.

    Không, ở đây chắc phải ẩn náu một điều bí mật nào đó, sâu xa hơn.

    Sống lại trong trí nhớ ông thật sinh động những ngày ấy, những ngày đầu tiên sau khi giáo sư mất tích. Phải chăng cuộc chạy trốn kia của phu nhân Beata cùng cô con gái, rồi sự biến mất tiếp sau đó của giáo sư Raphał Wilczur, chỉ là một vở kịch được sắp đặt? Vậy thì những môtíp của nó là cái gì mới được chứ? Họ để lại tài sản, địa vị, vinh quang của ông - tất cả. Rồi đi trốn, nhưng nhằm mục đích gì kia chứ?

    Lý trí vốn lạc quan của Dobraniecki không chấp nhận nổi một sự  lý giải nào không thể xây dựng trên tiền đề logic nào đó, không thể được giải thích bằng những động cơ hành động bình thường của con người ta. Song lúc này ông không có thời gian để giải những câu đó. Chỉ một lát nữa thôi bản án sẽ được tuyên bố. Dĩ nhiên, đó là bản án không kết tội, nhưng biết đâu cũng có thể sẽ là bản án có kết tội.

    - Nghĩa vụ của ta là phải khai báo ngay cho luật sư và đòi lập lại phiên tòa để ta khai nhận ra thầy lang Kosiba là ai.

     Dobraniecki cắn môi lặp đi lặp lại:

    - Đúng, đó là nghĩa vụ của ta.

    Nhưng ông vẫn không nhúc nhích. Những ý nghĩ muốn đi mau quá, những hậu quả dựng lên đột ngột trong tưởng tượng của ông.

    Trước khi quyết định, cần phải phân loại, lựa chọn và sắp xếp tất cả một cách tỉnh táo và có cơ sở… À, và phải thấy trước hậu quả nữa. Ông không thích, ông không biết hành động một cách mù quáng dưới tác dụng của các xung động.

    “Trước hết cần phải bình tĩnh” - ông tự nhủ mình với cái giọng văn thường dùng để trấn an những con bệnh tâm thần.

    Ông rút một điếu thuốc, chăm chú châm lửa. Ông thấy rằng thuốc đã quá khô, rằng hôm nay ông ít hút thuốc hơn hẳn ngày thường và nên tự hạn chế đến hai mươi điếu mỗi ngày. Những động tác đơn giản kia và những suy nghĩ rất phụ ấy khiến ông lấy lại thăng bằng, và đã có kết quả ngay tức khắc: ông sực nhớ lại một chi tiết vô cùng quan trọng, chi tiết mà cho đến nay ông vẫn chưa hề tính đến, chi tiết làm thay đổi tình tiết về căn bản. Trong khi xử án, thầy lang Kosiba đã mỉm cười với ông, rõ ràng đã mỉm cười với ông!

    - Ông ấy ngắm nhìn mình như ngắm nhìn một người rất quen nào đó, không sao nhớ lại được. Và ông ấy hoàn toàn không hề che giấu là đang cố gắng nhận ra mình! Cái đó có thể có nghĩa gì nhỉ?

    Nó chỉ có thể có một nghĩa vụ duy nhất: giáo sư Wilczur không sợ bị phát hiện ra dưới cái vỏ thầy lang. Giáo sư  Wilczur không sợ! Vậy thì tại sao ông ấy không dừng phiên tòa lại một bằng một lời tuyên bố đơn giản rằng ông ấy chính là  Wilczur? Để giải đáp điều này cũng chỉ có một câu trả lời:

    - Ông ấy không biết mình là ai.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thầy lang. Tiểu thuyết của Tadeusz Dołęga-Mostowicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên tác tiếng Ba Lan. NXB Hội Nhà văn. Bản in lần thứ 19, tháng 7-2017.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập39,916,197

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/