Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,818,029

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện ngắn

Tết giữa rừng

Vũ Hạnh

  • Thứ sáu, 10:55 Ngày 13/11/2015
  • Cha tôi, qua đời chưa được một năm thì mẹ tôi đã giữ vẹn chữ tòng. Chỉ còn mình tôi ở lại với cái gia tài khá lớn. Mấy chú bác tôi vốn là những người giàu có, tự cho đầy đủ kinh nghiệm trong việc quản trị bạc tiền, nên sau một ngày bàn cải sôi nổi bên cạnh quan tài mẹ tôi, thỏa thuận chia xẻ cái gia tài kia ra làm nhiều phần không mấy đều nhau để cùng gánh vác giúp tôi. Sau cùng, chỉ còn lại mỗi mình tôi. Ông nào cũng thấy cáng đáng gia tài là việc nặng nhọc lắm rồi, nay phải nuôi thêm một đứa cháu nữa là điều ngoài sức tưởng tượng. Có ông bảo rằng tôi là đứa trẻ học hành thông minh, sau này chắc có sự nghiệp lớn lao, và sợ mình không đủ sức nuôi dưỡng một loại tài năng như thế nên dành cái hân hạnh ấy cho một ông khác. Rốt cuộc, ông nào cũng đều đồng ý với nhau như vậy cho nên vấn đề của tôi trở nên hết sức khó xử.

    Cuối cùng, cần phải ra về êm xuôi, người ta quyết định gởi tôi qua phía bên ngoại cho được trọn tình, lấy cớ là tôi giống mẹ như đúc. Và tôi được gởi cấp tốc lên nhà người cậu buôn bán ở tận miền nguồn.

    Ngày tôi mới đến, cậu mợ tiếp tôi như tiếp đón một món hàng quá thời. Suốt trong bữa ăn đầu tiên, thỉnh thoảng tôi gặp cậu tôi liếc về phía tôi một cách vội vàng. Sau đó, lức ngồi xỉa răng, ông gọi tôi lại màbảo:

    - Tao đã có dịp coi kỹ tướng mày trong lúc ăn rồi. Mầy có tương lai khá lắm.

    Rồi ông trầm ngâm, chĩa cái tăm lên gần mũi ngửi xem đồ ăn khơi được trong các kẽ răng giam giữ đã quá hạn chưa. Lát sau, ông tiếp:

    - Nhưng tướng của mày chỉ khá trong sự buôn bán chứ theo con đường chữ nghĩa thì không nước non gì đâu. Kể ra như vậy cũng tiện, vì ở miền này không có trường học.

    Rồi ông hạ gịong thân mật:

    - Thôi, ở đây học buôn học bán với cậu, con à.

    Từ đó, tôi thành một thứ hề đồng lẽo đẽo theo sau cậu tôi, tập sự bán buôn. Tôi còn nhớ rõ một dịp cuối năm, cả nhà đang lo chưng dọn để chờ Tết đến thì có tin từ phố Hội đưa lên giá trà cao vọt bất ngờ. Cậu tôi là một tay buôn sành sõi và ông hiểu kỹ lời ông bà dạy “có gan làm giàu” nên không bỏ qua một cơ hội nào thuận tiện để mà thủ lợi. Bởi thế, ông quyết đi vào các vùng có trà để đặt giá trước. Còn bốn ngày nữa là Tết nên bà mợ tôi tỏ ý hết sức phân vân. Sau cùng, trước viễn ảnh một món lời to sụ, bà ta không muốn ngăn cản đến lần thứ hai. Nhưng khi cậu tôi bước ra khỏi cửa, bà còn một hai ba bốn dặn dò là phải về trước chiều ba mươi để đưa ông bà. Cậu tôi quả quyết sẽ về sớm hơn, để tắm tất niên.

    Cậu tôi dẫn tôi qua nạn sông Trầu, sang miền sông Tranh rồi thẳng lên Râm, đây là đất nước đồng bào thiểu-số, công việc bán mua đổi chác có mòi chắc ăn nên ông tỏ ra hết sức vui vẻ. Trên con đường về, ông cũng không quên nhân tiện ghé buôn Cà Đum để hỏi mật ong. Và ông lại nhớ ghé buôn Cà Đoi để hỏi đổi nếp. Trời mưa, nước suối lên đầy, chúng tôi đi đến Cà Đoi thì trời đã chiều. Theo dự tính, phải đến từ nửa buổi. Chúng tôi đành ngủ lại buôn, để sáng ngày sau về sớm.

    Tôi nằm trên mặt nhà sàn, bên cạnh bếp lửa, băn khoăn thao thức, trong khi cậu tôi ngáy như cưa gỗ. Gần sáng, khi tôi bắt đầu thấy cần phải ngủ, thì ông cậu tôi thấy cần phải dậy. Cậu tôi xăm xúi đi trước, còn tôi khập khà khập khiễng theo sau trên đường đá dốc, chứa chan oán giận trong lòng. Khi trời sáng hẳn, chúng tôi đi khỏi buôn đã khá xa và gặp một dòng suối nhỏ. Cậu tôi đứng yên trên bờ hồi lâu, lẩm nhẩm tính toán có vẻ như đang thương lượng giá cả với mấy cục đá bên suối, rồi bảo:

    - Mình phải đi tắt mới về kịp được. Hôm nay là ba mươi rồi, cứ theo đường cũ thì mất hai ngày ròng rã, vị chi mồng một mới về tới nhà. Tao biết một con đường khác băng qua Cà Cuống gần lắm.

    Rồi ông hăm hở đi trước, tôi lại lếch thếch theo sau. Cứ thế chúng tôi qua đèo xuống dốc, lên dương, liên miên chẳng dứt. Những khi gặp đấu đường mòn, cậu tôi nhìn ngang nhìn dọc tỏ vẻ quan sát như người thông thạo, rồi dừng lại chờ cho tôi đến kịp cùng đi. Nhưng khi dấu mòn đã hết, phải bươn bả trong rừng sâu thì cậu tôi cứ xăm xăm lướt tới, không nhớ tôi đang bê bết theo sau. Chúng tôi luồn lõi trong những lùm cây khuất bóng mặt trời, băng đủ mọi chiều mà vẫn không tìm thấy một lối đi sáng sủa. Người tôi mồ hôi dầm dề, lớp này chưa ra khỏi lỗ chân lông có lẽ lớp khác đã túa ra rồi. Cậu tôi cũng mệt chẳng kém, nhưng hễ khi nào quay lại chờ tôi thì ông đã có thì giờ lau sạch mồ hôi trên mặt và đã có dịp thở mạnh vài phút trước rồi, nên trông diện mạo cũng còn giữ vững nếp nhà. Tôi cứ định bụng mỗi khi đến kịp sẽ bảo ông nên dừng lại để ăn, bởi vì ruột đói cồn cào, nhưng chưa mở miệng đã thấy ông vội quày quã bước đi. Ban đầu, tôi muốn kêu lại nhưng sự nhọc mệt và cơn giận tức bỗng dưng nổi lên khiến tôi im lặng. Tôi đâm hờn dỗi, tự nghĩ rằng mình sẽ đi, đi mãi, không nói một câu, không kêu một tiếng, đi cho đến khi ngã chúi xuống đường bất tỉnh, để xem ông cậu vô tình liệu tính thế nào. Do đó tôi chăm chú bước những bước liều lĩnh, tuy mắt rưng rưng muốn khóc mà ruột càng ngày càng đau thắt lại. Sau cùng, trong chuyến đi đua không định trước này cậu tôi bỏ cuộc. Lúc tôi đến kịp thì thấy ông ngồi rũ người bên một hố nước, thở hào thở hển, hai tay bải hoải chìa đủ mười ngón để ôm lấy cặp đầu gối run run, mồ hôi nhễ nhãi khắp mình, lem luốc mặt mày. Nói không sợ tội, quả thực lúc ấy lòng tôi thoáng một ý mừng và dù đã bết-xà-lết tôi vẫn giả bộ đi luôn. Cậu tôi phều phào kêu lên, gần như hụt hơi:

    - Nghĩ đã! Biết đâu mà đi?

    Tôi quay trở lại chậm chạp, cố dấu tình trạng rũ liệt của mình. Cậu tôi giở gói xôi ra, bẻ làm hai phần không được đều nhau, đúng theo tỉ lệ tuổi tác mỗi người, rồi chia cho tôi một cục. Trong suốt thời gian ngồi ăn, hai cậu cháu tôi có vẻ như chưa từng quen biết nhau lần nào. Mỗi người yên lặng ăn rất siêng năng, cẩn thận, chỉ sợ bàn tay run run sơ ý để xôi rơi vãi xuống đất. Tôi ăn rất nhanh nhưng cứ sợ xôi chóng hết. Sau cùng, chúng tôi nhìn lớp lá chuối còn lại trên tay một cách tính toán, tưởng chừng có thể nuốt luôn đi được, nếu không vì chút tự ái của những con người văn minh giữ lại.

    Khi đã uống xong một mớ hố cho thật khẳm bụng, tôi mới bắt đầu lai tỉnh và nhìn rõ nơi chúng tôi lạc vào. Cây rừng chằng chịt lau lách, dây lao giăng trải mịt mù, có lẽ chúng tôi đã vào một nơi sâu nhất rừng già. Cậu tôi cũng đã khỏe lại cho nên bây giờ ông ta có đủ tinh thần để mà hốt hoảng một cách hoàn toàn. Ông ta nhớn nhác nhìn quanh, nhìn quất rồi leo lên một tảng đá khá cao để định hướng đi. Ông kêu từ trên cao vót:

    - Trời đã xế rồi!

    Tiếng kêu như một lời than tuyệt vọng khiến tôi cũng thấy bàng hoàng. Và ông vội vàng tuột xuống, tuột mau đến nỗi lăn nhào người tới, rớt nằm chỗng kềnh ở giữa bụi cây. Tôi cố nín cười hết sức khó nhọc và dọn rất gấp bộ mặt chí hiếu chạy đến nâng cậu tôi dậy. Hai cậu cháu tôi nhìn nhau một cách khó hiểu, không biết ai ngượng hơn ai, rồi cậu tôi lại vội vã bước đi. Chúng tôi theo dòng nước chảy đổ xuống sườn dốc, không mong lạc đến một chốn Thiên-thai mà chỉ mong gặp bất cứ một xóm thôn nào hẻo lánh. Dần dần, dòng nước khuất sâu trong những lùm cây, chỉ còn nghe tiếng róc rách, rồi tiếng rì rầm mơ hồ như muôn ngàn chuyện âm thầm bí mật ở trong lòng đất. Thỉnh thoảng, chúng tôi phải dừng bước lại, lắng nghe. Nhiều lúc, tiếng nước yếu ớt chìm dần, hòa hợp với bao âm thanh vọng lại từ xa của chốn rừng sâu như muôn dòng suối đổ dồn một lượt. Rồi gió chiều nổi lên, cây cối xạc xào rúng lạnh. Cậu tôi leo đá, rẽ cây, lao mình nhào tới như phải đuổi theo kẻ thù trước mặt, còn tôi hối hả, vội vàng như phải trốn thoát kẻ thù đang đuổi sau lưng.

    Sau cùng, tiếng nước mất hẳn. Chúng tôi dừng lại, tưởng như tim mình ngừng đập. Tôi cố lắng nghe, nhưng chỉ vọng lại tiếng rừng vào lúc hoàng hôn dồn dập theo cùng sắc tối tiến ra từ các khe sâu, hốc thẳm chập từng mảnh đen trong các chòm lá dày đặc âm u. Màu xanh xa xôi ngả sang sắc tím. Thỉnh thoảng, vượt khỏi lùm cây rậm rạp, y như hy vọng mong manh thoi tóp nơi lòng. Chúng tôi lại đi, âm thầm đẩy những bước chân hồi hộp. Không ai dám mở lời nói tiếng nào, tưởng như lời nói đã thành cấm kỵ. Những tiếng vượn hú kéo dài, rền rĩ, vọng lại từ xa chuyền sang những tiếng hú khác gần hơn, gấp hơn, đệm những lời kêu cứu hốt hoảng của con chim lớn lướt qua, vỗ cánh xào xạc. Muôn ngàn côn trùng âm ỉ bắt đầu sống dậy từ trong lòng đất. Hai cậu cháu tôi, không ai bảo ai, cùng chùn bước lại. Kẻ thù bây giờ không chỉ trước mặt, sau lưng mà đã vây bủa chung quanh. Mỗi lần gặp một cành gai bấu áo giật lại, tôi bỗng hoảng hốt như bị bàn tay núi rừng giữ lấy. Qua mỗi bước chân khua động lá khô xào xạc, tôi có cảm tưởng như nghe văng vẳng tiếng rít của loài rắn độc, tiếng gầm của giống hùm beo, sau mỗi lá cành lay chuyển như có hình bóng chập chờn của bầy thú dữ rình mồi. Lo sợ, kinh hoàng càng ngày càng tăng, đến độ thần trí hoang mang không biết mình đang suy nghĩ những gì.

    Cậu tôi không còn cái vẻ nhớn nhác linh hoạt mà chỉ là một bóng dáng thiểu não, đầu cúi gầm, chân quờ quạng, như đang bận tâm vì bao nhiêu nỗi lo lắng trong lòng. Cứ mỗi bước chân tiến tới, tôi có cảm giác đi sâu vào chốn hiểm nghèo, xa dần sự sống loài người. Và sự khiếp đảm nhường dần cho sự tuyệt vọng thảm thiết. Theo bóng hoàng hôn rũ xuống, sự chết dường như lảng vảng khắp nơi.

    Một lúc, tôi tưởng mình không còn bước được nữa, cậu tôi đã vượt qua một lùm gai rậm rạp và khuất dạng hẳn. Tôi muốn kêu lên nhưng cổ nghẹn lại, nước mắt chảy dài xuống má, vẽ râu quanh miệng, biết rằng khóc lên thành tiếng sẽ làm tiêu tan chút ít cố gắng cuối cùng. Tôi cố dõi theo lá cành lay động. Núi rừng đã dấu mất người cậu yêu quí của tôi rồi! Tôi sợ hãi, hốt hoảng tưởng như điên cuồng. Bỗng một tiếng kêu thét ở phía trước:

    - Đây rồi!

    Tôi bương gai, nhào tới. Cậu tôi đang đứng yên lặng giữa lùm cây rậm. Tôi phập phồng hỏi:

    - Có thấy nhà ai hở cậu?

    Ông vẫn lặng thinh, cúi đầu nhìn quanh chăm chú, lỗ mũi hô hấp một cách tích cực, dáng điệu thận trọng như người phù thủy đang làm phép màu. Tôi cũng đứng im, hồi hộp, chờ đón một hiện tượng lạ. Sau phút âm thầm, cậu tôi ngẩng lên nhìn tôi, nói bằng một giọng vui mừng, nét mặt tràn đầy tin tưởng:

    - Tao nghe có mùi phân người!

    Một mùi phân người? Tôi hỏi vội vàng:

    - Ở đâu?

    Cậu tôi đảo người, ngửi quanh một vòng:

    - Nghe ở đâu đây, gần lắm.

    - Hay là phân của thú rừng?

    Ông ta xì một tiếng lớn, đáp lại:

    - Phân người khác hẳn với phân loài thú, tao biết rõ mà!

    Cậu tôi nói bằng một giọng chắc chắn, có vẻ hết sức tự hào về kiến thức mình. Tôi còn tỏ ý hoài nghi:

    - Biết đâu là của người ta đi lên đốn củi từ lúc sớm mai hay từ hôm qua, nay đã về rồi…

    Ông ta gắt lên:

    - Không, một mùi phân mới! Mày chẳng biết c… gì cả!

    Trong đời, tôi bị mắng mỏ nhiều lần, lần nào cũng thấy oan uổng, trừ mỗi lần này.

    Cậu tôi vẫn giữ vững niềm tin tưởng trong khi lỗ mũi hoạt động không ngừng:

    - Hãy gắng tìm xem. Mày vốn thấp người, dễ ngửi thấy hơn tao nhiều. Có phân, thì thế nào cũng có người.

    Chúng tôi quờ quạng vừa hít vừa tìm trong các bụi cây chung quanh. Bóng chiều bắt đầu loạng choạng nên mắt và mũi của tôi phải mở rộng hết chu vi trong cuộc săn tìm. Một chốc, tôi bỗng reo lên:

    - Đây rồi!

    Cậu tôi lách gai, nhào đến:

    - Đâu? Ở đâu?

    Giữa một vòm cây tương đối khoảng khoát, trên một phiến đá bằng phẳng, một bãi phân người ngự trị uy nghi, cuộn thành những khúc chặt chịa. Cậu tôi cúi sát người xuống như muốn khảo sát cho thật tường tận dấu vết biểu hiện của kẻ đồng loại trong chỗ xa xôi và hẻo lánh này. Đến khi biết rằng không còn hoài nghi gì nữa, ông từ từ đứng thẳng lên, thành khẩn trang nghiêm, mắt vẫn không rời tảng đá. Tôi cũng đứng không nhúc nhích, yên lặng chiêm ngưỡng linh vật mà cậu tôi đặt vào đấy tất cả hy vọng cứu thoát. Không khí rừng già tự nhiên mất hẳn cái vẻ đe dọa rùng rợn ban chiều và chúng tôi thấy dần dần vững tâm như bước vào miền quen thuộc. Bãi phân bây giờ như mất hết mùi hôi thối, mất hết cả vẻ ghê tởm của chất cặn bã hằng ngày mà trở thành một chứng tích thiêng liêng về những sinh hoạt con người. Cứ thế, chúng tôi yên lặng rất lâu, trong lòng rưng rưng một nỗi cảm động khôn tả.

    Sau cùng, cậu tôi ngẩng lên nhìn tôi, nói bằng một giọng hết sức hiền từ:

    - Con ạ, mình không đến nỗi gì đâu, đừng đi xa nữa mà lạc. Cứ chờ nơi đây mà theo dấu đèn tìm đến nhà người.

    Phút chốc, núi rừng tím đậm đặc lại, khói đá mờ mịt dâng lên. Giữa cảnh đen thẫm mênh mông, xa xa dưới một triền dốc, bỗng thấy le lói hiện lên một vệt lửa dài.

    Không biết đã mất bao nhiêu thì giờ qua những cây bụi um tùm, chằng chịt, chúng tôi dõi theo ánh lửa chập chờn trước mặt, âm thầm xông tới, nghe gai cào sướt da thịt, áo quần sột soạt như bị xé tung từng mảnh. Mỗi lúc ánh lửa lớn dần, chúng tôi thấy rõ một đống củi cháy rừng rực soi sáng nhóm người lố nhố bên kia suối nước phản chiếu ánh hồng. Đến gần, cảm thấy đuối sức, không dám liều lĩnh vượt qua dòng nước trong đêm, chúng tôi ngồi phệt bên bờ. Cậu tôi cố gắng kêu lên:

    - Bà con cho tôi hỏi nhờ một chút!

    Những tiếng rì rầm dừng lại, đám người tản ra. Tôi kịp trông thấy một con trâu lớn lông cạo nham nhở, loang lỗ những vệt đen trắng, nằm chổng bốn vó.

    Một người che tay lên mắt, nhìn qua, hỏi lớn:

    - Ai đó?

    Cậu tôi gắng gượng đứng dậy, nói sang:

    - Chúng tôi lạc đường, nhờ bà con cho nghỉ tạm đêm nay.

    Một người trẻ tuổi có vẻ linh hoạt, vớ lấy bó đuốc châm vào đống lửa cho cháy sáng lên rồi cầm thêm cây lao nhọn, soi đường cho người đứng tuổi tay cắp dáo dài, từ từ lội qua. Hai người rọi đuốc nhìn ngắm chúng tôi một lát, bấy giờ tôi mới có dịp thấy rõ cái vẻ tang thương cùng cực của cậu cháu tôi, và trông rõ hơn sắc diện gân guốc mấy người vừa gặp.

    Người đứng tuổi sau khi nhìn chăm chú vào tôi, quay sang bảo người trẻ tuổi:

    - Do mây lò ma do mân bo muôn ỏ mơ chọ mơ (1).

    Cậu tôi vốn từng quen thạo những lối nói lái trong sự trao đổi bán buôn nên hiểu ngay là những kẻ “lái mo”, vội vàng đáp lại:

    - Đúng rồi! Chúng tôi là những dân buôn ở chợ.

    Và ông bắt đầu kể lể chuyến đi khó nhọc vừa rồi, không quên khéo léo thêm rằng ông không đem theo tiền bạc.

    Người đứng tuổi mỉm cười, nói:

    - Được, ta biết. Nếu quả dân làng giả dạng mò lên tìm trâu thì ta đã lụi cho một lưỡi dáo này rồi. Thôi, theo ta mà sang bên này.

    Rồi họ thong thả lội về, chúng tôi theo sau, biết rằng mình lạc vào một ổ cướp nhưng thấy vững dạ khác thường. Đến nơi, người trẻ và người đứng tuổi xúm lại phụ lực với mấy người kia. Không ai tỏ vẻ ngờ vực, bàn tán gì hết. Sự đột nhập của chúng tôi có vẻ như hạt cát nhỏ rơi xuống mặt bể. Chúng tôi tự dọn lấy một chỗ nằm bên lửa và chỉ phút chốc cậu tôi chìm trong giấc ngủ mệt mề. Tôi nằm dài người lên lớp lá tươi, cơ thể rã rời, tê nhức. Dần dần được hơi lửa ấm, tôi ngủ thiếp đi.

    Khi tôi lơ mơ tỉnh dậy, đống lửa đã tàn quá nửa, có lẽ đêm đã về khuya nên sương xuống nhiều, lộp độp rơi trên lá cành. Thỉnh thoảng, thừa dịp ánh lửa nguội tàn hơi núi lạnh lẽo len vào rồi lại đột ngột bị một cành khô bùng cháy xua đi. Một mùi thơm tỏa khắp nơi và tôi để ý thấy những lụi thịt rất dài nhỏ nước lèo xèo trên đống than hồng bươi thành vạt rộng, hai người đang chụm một cái nồi lớn khói tuôn nghi ngút, còn những kẻ khác bó gối yên lặng chung quanh bếp lửa. Sau một giấc ngủ, bây giờ tôi mới có đủ tỉnh táo để nhìn rõ hơn. Họ gồm sáu người suýt soát lứa tuổi như nhau, trừ người trẻ tuổi ban nãy là kẻ nhỏ nhất. Họ mặc đồ đen, ngắn cỡn, tóc mọc khá dài, đôi người trên cằm râu đã lún phún. Người trẻ tuổi kia xem chừng hơn tôi chỉ độ vài tuổi nhưng đôi má hóp nên trông già dặn hơn nhiều.

    Tôi cố lắng nghe để biết họ nói với nhau những gì, nhưng họ như không còn gì để nói cho nhau nghe nữa. Nhớ lại bãi phân lúc chiều, tôi lẩn thẩn tự hỏi rằng trong những người này, ai là tác giả. Tự nhiên tôi thấy mến họ, thương họ một cách lạ lùng. Những khuôn mặt khắc khổ, gân guốc kia không có chút gì gọi là dữ dằn, độc ác như tôi đã từng quan niệm kẻ cướp theo lối miệng người mô tả. Tôi chỉ thấy đó là những biểu hiện của một sức sống mạnh mẽ khác thường, vì họ đem niềm hy vọng lại cho chúng tôi và sự chở che giữa chốn rừng già hiểm ác, hoang vu. Trong cảnh yên lặng nặng nề, một người vut nói:

    - Bây giờ có lẽ đã giao-thừa rồi!

    Giọng nói như niềm luyến tiếc xa xôi, vọng lên cô độc giữa đêm khuya vắng. Không một người nào hưởng ứng. Cái Tết ngoài kia, sau lớp núi rừng dày đặc, đã thành viễn ảnh mơ hồ, có lẽ chỉ nên hoài niệm trong lòng hơn là nói lên bằng miệng. Khung cảnh trở lại im lìm. Chỉ có tiếng nước réo sôi sùng sục trong nồi, tiếng củi nổ dòn lách tách. Không biết bao lâu tôi đã thiếp dần trở lại thì nghe tiếng người gọi dậy. Cậu tôi thức giấc từ bao giờ cùng với mọi người ngồi quây quanh nồi thịt lớn, trước mặt đầy những lá rừng chồng chất ngang dọc những lụi thịt nướng đen ngòm. Người trẻ tuổi quay lại tôi, bảo rất ôn tồn:

    - Xuống suối rửa mặt cho tỉnh người đi, rồi đón năm mới.

    Khi tôi chen vào tìm một chỗ ngồi trong đám người kia, tôi nhận thấy cậu cháu tôi không khác xa họ bao nhiêu. Núi rừng đã giúp hóa trang suốt ngày hôm nay, để cho chúng tôi dự buổi tiệc này, bằng một bộ mặt và những quần áo hợp với hầu hết quan khách.

    Người đứng tuổi ban nãy có vẻ là đầu bọn, bợ ra từ trong bụi rậm một cái hũ lớn bịt kín, vừa nghiêng về phía cậu tôi, vừa nói:

    - Đã mấy năm rồi mới được ăn Tết với người phường chợ. May cho các người chiều nay bọn ta đã bắt con trâu về kịp. Thôi thì cứ việc ăn no, uống say rồi mai dậy sớm, bọn ta chỉ đường mà về kẻo người ở nhà nóng ruột đợi chờ. Nhớ đừng bép xép nói đi nói lại điều gì ở đây với lũ tuần vệ dưới làng mà có ngày phải oan mạng. Thôi, ăn đi! Uống ta! Ở đâu cũng là Tết cả.

    Anh ta chia cho mỗi người một chiếc gáo dừa:

    - Ăn uống cũng trong cái này, bà con. Chén này cũng chẳng tồi đâu, rượu có thuốc độc thì nó sẽ sôi lên đấy.

    Không ai mời mọc ai nữa, bắt đầu xáp trận. Cậu tôi hình như cho rằng thịt trâu là món bổ dưỡng nên gắp hăng hái lạ thường. Về mặt tửu lượng, ông cũng nhân dịp tỏ cho mọi người thấy ông bản lĩnh cao cường không kém một ai, kể cả đầu nậu bọn cướp. Sau cùng, mọi người ngật ngà, ngật ngưỡng, đảo những chiếc đầu bù xù thành nhiều vòng tròn loạn xạ rồi ngã lăn ra trên đất. Cậu tôi cố giữ phần thắng về mình, gắng vẽ thêm một vòng tròn cuối cùng mới chịu chấm dứt một cách oanh liêt, đầu úp trên hai cánh tay xếp chéo, một chân duỗi thẳng gác lên mình một tên cướp.

    Tôi không thể uống được rượu, nhưng nhìn mọi người nằm lăn ra ngủ một cách ngon lành say sưa, trong lòng vẫn thấy thèm thèm. Và nghe điệu ngáy càng ngày càng cao biến thành thứ giọng đe dọa, tôi đâm sợ hãi không sao ngủ được. Tôi mò dậy, nghiêng hũ rượu, cầm chiếc gáo dừa vét lấy những giọt cuối cùng, rồi cố thu hết can đảm, nhắm mắt nín thở, trút ộc vào miệng. Cổ họng tôi như bị xé toạc ra, dòng rượu càng vào sâu trong gan ruột nung đốt rần rật khắp cả cơ thể. Đầu tôi hoa lên, tôi phải chống cả hai tay xuống đất để tự bảo mình không phải là kẻ nhượng bộ dễ dàng. Cuối cùng, thấy rằng khó lòng đương đầu với một địch thủ quá mạnh, tôi phải đảo một vòng tròn, nhưng mới vẽ được nửa vòng thì đã theo gót cậu tôi, ngã gục trên bãi chiến trường.

    Tôi nhớ hình như tôi đã giật mình thức dậy một lần nào đó, và thấy lờ mờ gã trẻ tuổi ngồi ủ rũ cạnh đống lửa tàn. Gã thẫn thờ nhìn vào trong đêm dày, rồi gã thở dài, lấy chiếc que nhỏ bươi bươi trong mớ than hồng. Sau cùng gã cứ ngồi im như thế rất lâu, chong một sự sống cô độc giữa chốn rừng đêm u uất, cho đến khi tôi ríu mắt, chìm trong giấc ngủ nặng nề.

    Lúc chúng tôi thức dậy, mặt trời đã xuyên vòm lá, điểm từng chấm vàng lỗ chỗ trên đất bừa bãi lá héo, củi tàn, xương trâu và thân người. Nghe khua động, người đầu nậu, người trẻ tuổi và vài người nữa cùng tỉnh giấc. Người đầu nậu gấp cánh tay chấm xuống đất để kê đầu lên rồi ngoảnh về phía các người gần đấy, nói bằng một giọng ngái ngủ:

    - Lấy thịt cho cha con ông ấy ăn no bụng để lên đường. Ở đây ngày Tết nhưng hết gạo rồi. Cũng chẳng có một chiếc bánh. Nhưng về ngoài chợ, các người chẳng thiếu thức gì.

    Một người lại gần đống củi âm ỉ lửa tàn bưng cái nồi thịt đến một gốc cây, giở vung, ra dấu cho cậu cháu tôi lại ăn. Biết rằng mọi sự khách sáo ở đây trở thành lạc điệu, chúng tôi rút đũa có sẵn trong nồi, ngoan ngoãn chấp hành. Một lát, người đầu nậu hỏi:

    - Ai chịu dẫn họ đi ra đầu rừng?

    Gã trẻ gật đầu ra dáng tình nguyện, rồi đi lại một bụi rậm lôi ra chiếc rựa cán dài.

    Bấy giờ, người đầu nậu quay về phía cậu tôi, nghiêm nghị bảo lớn:

    - Này ông lái, kiểm tra tiền bạc trước khi lên đường, kẻo có mất mát đồng nào lại nghĩ ta đã đòi tiền rượu thịt.

    Cậu tôi ấp úng, luống cuống trả lời ông chỉ đem theo số tiền rất nhỏ nhưng đã đặt cọc hết rồi. Nghe thế, anh ta nhếch mép, gần như mỉm cười:

    - Tiền nhiều, tiền ít ta không cần biết làm gì. Hồi hôm, nhìn qua dáng dấp của anh, ta cũng biết là hạng có máu mặt. Nhưng anh đã đến nhờ vả bọn ta, thì bọn ta phải giúp đỡ. Không mất đồng nào đấy chứ? Lần sau thì nhớ cẩn thận, lỡ gặp giữa đường vào dịp bọn ta túng quẫn thế này chắc cha con anh khó mà thoát được.

    Anh ta nói những câu này một cách chậm rãi, giọng đặc sệt vì buồn ngủ. Sau cùng anh ta lim dim đôi mắt, nói tiếp:

    - Thực ra sống trong bọn người tự hào lương thiện như cha con ngươi mới thường xuyên bị mất cướp, còn sống ở trong bọn cướp là chúng ta đây mới thực an toàn.

    Bỗng anh ta lồm cồm ngồi dậy, chống thẳng hai tay lên đất, chồm người về trước, giương mắt đỏ ngầu nhìn cậu cháu tôi một lát khá lâu, mỗi lúc vẻ mặt lại càng lộ vẻ căm giận khác thường. Tôi cúi mặt xuống, cảm thấy những miếng thịt nguội thật là khó nuốt. Phải chăng câu nói mới thốt ra từ cửa miệng anh ta đã vụt khêu lên bao nỗi oán hờn ấp ủ từ lâu ở trong gan ruột như rừng cỏ tranh héo khô bùng cháy khi gặp một đóm lửa tàn? Lúc tôi lấm lét nhìn sang, anh ta vẫn còn chăm chắm ngôi nhìn như thế. Có lẽ cái nhìn ấy không để thấy chúng tôi mà để soi mói tìm về một thế giới nào trong cậu cháu tôi. Bỗng anh chúm miệng, nhướng cổ khạc một tiếng lớn, nhổ ra trước mặt. Giọng anh trở nên hằn học lởm chởm như bộ lông nhím bắt gặp kẻ thù:

    - Khốn nạn cho những lũ người tự hào lương thiện xưa nay! Hừ! Lương thiện! Xé rách túi áo chúng ra để xem tiền bạc moi lấy từ ngõ ngách nào? Hay là mồ hôi nước mắt của ai? Móc lưỡi chúng ra xem nói những gì? Hay toàn những lời gian ngoa, vu cáo để che đậy sự xấu xa, thối nát hơn là rác mục trong đầu óc chúng? Đập cho vỡ sọ chúng ra thử xem chứa đựng những gì, ngoài những mưu mô độc ác để mà thủ lợi? Hừ, lương thiện! Lương thiện! Nhai xương chúng bay cho hả dạ này…

    Anh đứng vùng dậy. Đang nhai, tôi vội ngậm lại, nín thở. Cậu tôi rón rén rút lui đôi đũa từ một nồi thịt, tỏ vẻ thành tâm, kính cẩn của kẻ phục tùng thiên mệnh.

    Người đầu nậu khệnh khạng lại một gốc cây, vớ lấy chiếc rựa. Cậu tôi buông đũa, co một gối lên, không biết chuẩn bị chạy trốn hay là van lạy.

    Tôi nhìn cậu tôi cầu cứu, nhưng cậu tôi đã quay nhìn nơi khác rất nhanh. Tôi biết chuyến này nếu phải mở một đường sống thì ông cậu tôi sẽ lại sốt sắng đi trước và giao cho tôi nhiệm vụ theo sau để mà cản hậu. Bất giác, tôi liếc nhìn vào nồi thịt, cảm thấy rõ rệt trưa nay tôi sẽ nằm gọn trong đó, cùng chung số kiếp với trâu.

    Nhưng người đầu nậu không đi về phía chúng tôi. Anh ta tới một bụi cây, vung rựa chặt ngang chặt dọc như kẻ điên cuồng. Cuối cùng, mệt lả, anh ta ném rựa xuống đất, hào hển đi lại chỗ cũ, nằm xuống, nhắm đôi mắt lại. Lát sau, anh ta lại ngẩng đầu lên, lim dim quay mặt về phía chúng tôi, ôn tồn:

    - Thôi, đi về, nên nhớ những lời ta dặn hồi hôm mà ăn nói cho cẩn thận, đừng để phiền nhiễu bọn ta. Chẳng phải ta sợ đứa nào động chạm, nhưng ta không muốn cha con các ngươi đổi ân làm oán.

    Rồi anh ta ngả đầu xuống, nhắm mắt lại, hơi thở dần dần điều hòa trong một giấc ngủ bình yên.

    Ăn xong, gã trẻ tuổi cầm rựa đi trước, cậu cháu tôi lại lúc thúc theo sau. Suốt đoạn đường dài, anh ta lầm lì cất bước, chúng tôi không ai nói gì, âm thầm luồn lõi trong những lối đi nhỏ hẹp dọc theo triền núi um tùm. Nhiều lần tôi muốn gợi chuyện, hỏi người dẫn đường vài câu để ghi lại ít kỷ niệm nhưng không biết nói thế nào, đành phải làm thinh. Lâu lắm, chúng tôi mới đến ven rừng. Cảnh vật bắt đầu thay đổi, quang đãng hơn nhiều. Người trẻ tuổi dừng lại cạnh một tảng đá và đưa tay chỉ về phía trước mặt:

    - Các người có thấy khe nước kia không? Ở đằng xa kìa… Ấy đó, cứ theo bờ khe bên mặt mà đi thì sẽ gặp một đồng ruộng dọc theo mấy dãy đồi rang. Băng hết đồng ruộng thì đổ ra một con sông, tiết này lội được. Qua sông là miền Bình-Huề, ở đấy không thiếu người ở.

    Anh ta lặp lại thêm một lần nữa để cho cậu tôi nhẩm theo, rồi bảo:

    - Từ đây ra chợ Việt-An phải một ngày đường ròng rã. Thôi, các người lo đi về cho kịp tối.

    Cậu tôi cám ơn, nhưng gã đứng im không đáp. Tôi cứ ngập ngừng không nỡ rời chân, tự nhiên bỗng thấy ngẹn ngào. Giữa gã tuổi trẻ và tôi nảy sinh một niềm quyến luyến, chẳng rõ vì đâu. Nếu không biết thêm chút gì về gã, tôi sẽ xót xa chừng nào, bởi vì mãi mãi từ đây cho đến trọn đời, chắc gì tôi còn được gặp lại gã một lần thứ hai. Tôi ấp úng:

    - Anh…

    Gã nhíu mày, hỏi:

    - Có gì?

    Tôi cố gắng lắm mới thốt lên lời:

    - Chào anh… Tại… sao mà… anh lên đây?

    Gã cười:

    - Tai đâm họng người ta, biết chưa? Đâm họng là thế này này…

     Gã khoa lưỡi rựa, dừng ngang ở tầm cổ tôi, khiến tôi hốt hoảng lùi lại. Gã phá lên cười rồi lại nín lặng đột ngột.

    Tôi mất hết sự hào hứng để nói thêm nữa nhưng còn đánh bạo một câu cuối cùng:

    - Thế… anh có nhớ nhà không?

    Gã trừng mắt lên, mím môi lại, rồi bỗng chỉ về phía trước, quát lên:

    - Đi đi! Ông già đang đợi dưới kia.

    Câu nói dõng dạc như một lệnh truyền và gã bỗng nhiên có vẻ oai phong của một tướng lĩnh. Tôi không dám chào, vội vàng cắm đầu rảo bước. Dưới kia, cậu tôi đứng chờ, dáng điệu nôn nả.

    Đi được một quãng, tôi mới quay đầu nhìn lại. Bây giờ gã trẻ tuổi ấy ngồi trên tảng đá, dựa đầu vào một cánh tay chống lên trên gối, dáng điệu thẫn thờ. Đã khá xa rồi quay lại, tôi còn thấy gã ngồi nguyên như thế. Tôi bỗng nhớ lại hình ảnh của gã mà tôi bất chợt giữa hai giấc ngủ, trong lúc đêm khuya, và lòng bâng khuâng tự hỏi không biết người trai trẻ kia đang nghĩ ngợi gì?

    VH.

    Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.

    www.trieuxuan.info

     



    (1) Câu này nói lái lại từng hai tiếng, thành ra: “Đây mo mo dân mo buôn mo mo chợ mo”. Bỏ tiếng mo, có nghĩa: “Đây là dân buôn ở chợ”. Tiếng mo hay bất cứ tiếng nào, có thể được dùng như một loại tiếng “chìa khóa” do một số người ước định với nhau để ghép vào câu nói lái để khi bàn riêng với nhau những điều cần phải che dấu kẻ khác. Lối này ngày xưa phổ biến trong một số tỉnh miền Trung giữa một số người buôn bán và trong nhiều hạng bất lương. Họ nói lái quen và mau đến nỗi ở trong sinh hoạt thường ngày vẫn thích trao đổi ý tưởng bằng cách nói lái. Tương tự như kiểu một số trí thức quen dùng ngoại ngữ để nói chuyện riêng.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,818,029

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/