Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập33,786,677

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Quỷ Vương

Vũ Ngọc Tiến

  • Thứ bảy, 13:00 Ngày 30/03/2019
  • Khang nhớ lại, mỉm cười đắc ý. Hóa ra phe Huy Hùng còn nuôi tham vọng nuốt gọn  doanh nghiệp Bil- Kel, tiếp tục làm ăn với các lão bản bên kia biên giới. Lòng vả cũng như lòng sung, Hùng và Quyền cũng một duộc cả thôi. Thây kệ đời, miễn sao ta đạt được ý đồ. A Hứa, A Trương là hai cái mỏ vàng vô tận do bà Xuân nhiều năm gây dựng quan hệ. Lúc này nó đang giúp ta cao giá với Hùng và Du nên ta tương kế tựu kế, ép Du phải báo cáo Hùng thực hiện bằng được yêu cầu tiên quyết ấy. Vài ngày nữa cầm trong tay tờ công văn đểu kia ta mới chịu giới thiệu cho Du làm quen với cấp dưới của A Trương trước, đợi vợ chồng Uy đi Mỹ trót lọt, ta mới cho Du làm quen tiếp với cấp dưới của A Hứa. Có tờ công văn truy nã thằng nhà văn ất ơ Thào Chú này, ta sẽ nhờ A Hứa bút phê vài chữ, đóng dấu công an Côn Minh rồi gửi đi Hồng Kông cho người của hắn lo sẵn thủ tục Visa xuất cảnh sang Mỹ có mà oai như nắng. Người của A Hứa trong Tổng hội người Hoa ở California muốn giúp cả gia đình ta nhập quốc tịch cũng sẽ rất thuận lợi. Uy ơi, đương lúc đắm đò giật mẹt tao lại vớ được cái phao cứu sinh là tập đoàn Bil- Kel của mày! Đời thật oái oăm nên mới là cuộc đời, mày ạ!...

    Huy Hùng đến thăm Ông Cụ, đem theo danh sách nhân sự dự kiến cho nhiệm kỳ tới, vừa được Ban chấp hành thông qua. Một việc làm theo nghĩa kính lão đắc thọ chứ anh thừa biết vương quốc tỉnh K không còn Thái thượng hoàng nữa rồi. Ông Cụ tiếp anh gượng gạo, hờ hững cầm tờ giấy xem lướt qua, nhưng vẫn lên giọng bề trên nhắc nhở:

    - Dự kiến là một chuyện, nhưng khi ra đại hội các đồng chí cần phải nêu cao tinh thần đoàn kết, dân chủ bàn bạc, kiên quyết phát hiện và loại trừ những kẻ thoái hóa, biến chất.

    - Vâng thưa bác, chúng cháu hiểu và sẽ chấp hành. Bác còn ý kiến chỉ đạo nào nữa xin cho biết, cháu xin lắng nghe ạ!

    Ông Cụ gật đầu tỏ ý hài lòng, đọc lại bản danh sách, chợt nghiêm giọng nói:

    - Hình như trong số này có cậu Bình bên “Mặt trận” cần nghiên cứu lại. Nó là thằng chuyên phá bĩnh, làm sao giữ được đoàn kết nội bộ.

    - Thưa bác, Ban lãnh đạo mới của tỉnh nhà cần có sự chuyển giao thế hệ. Ông Bình là cựu chiến binh, anh hùng lực lượng vũ trang, có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo nên chúng cháu giữ lại làm việc nửa nhiệm kỳ để kèm cặp lớp trẻ như cậu San, cô Phụng và nhiều người khác.

    - Tôi chỉ nêu ý kiến cá nhân, còn tùy tập thể quyết định…

    Cuộc trò chuyện nhạt dần. Chủ và khách đều nhìn nhau giữ ý nói lời xáo rỗng. Huy Hùng xin phép về, được Ông Cụ phá lệ tiễn ra tận cổng. Anh lên xe cười khẩy thầm nghĩ, Ông Cụ là tay lõi đời trong nghề tổ chức vẫn không nhận ra lão Bình đã quá tuổi vẫn được mình ưu tiên cho làm Chủ tịch “Mặt trận” thêm nửa nhiệm kỳ chỉ là để ngồi giữ ghế cho Du. Cậu ấy mới về, lại quá trẻ không thể đưa vào cơ cấu vội. Chờ ông Bình nghỉ hưu mình đưa Du vào ghế ấy sẽ đương nhiên bổ sung vào Ban thường vụ, sau đó mới cho Du rẽ ngang sang làm Phó chủ tịch tỉnh êm ru. Hùng về đến nhà đỏ đã thấy Du ngồi trực sẵn ở cửa phòng. Anh tươi cười hỏi:

    - Chú chờ anh đã lâu chưa? Có việc gì quan trọng mà nom nhớn nhác thế?

    - Có hai việc gấp cần xin chỉ thị của anh.

    - Thôi vào nhà uống chén nước cho ấm bụng rồi hãy nói.

    Du theo sếp vào phòng, tất bật vừa pha trà vừa nói:

    - Bên công an vừa gọi điện sang báo cáo, thằng Tùng xoăn đã tự ra đầu thú, nhận hết tội về mình trong hai vụ án với bà Thơ và nhà báo Quang Huy. Thằng này gan cóc tía, lì lợm nên anh em bên đó kiên trì đấu tranh cả ngày vẫn một mực khai tự nó làm hết, không liên quan gì tới ông Uy và tứ trụ triều đình của Bil- Kel. Anh San cũng đã cho người thẩm tra kỹ, xác nhận cả hai vụ án ông Uy đều có chứng cứ ngọai phạm rõ ràng.

    - Dẫu sao ở thời điểm này tỉnh K đang cần ổn định mọi mặt chính trị và kinh tế nên bắt được thủ phạm cũng rất tốt. Thế còn việc thứ hai?

    - Thưa anh, dưới Hà Nội điện lên thông báo đã liên hệ xong với bệnh viện bên Mỹ và sứ quán ở Hà Nội. Các anh ấy giục ta đưa ông Quyền đi càng sớm càng tốt. Về phía gia đình ông Quyền, cô Dung đang bệnh lại vướng con nhỏ nên ông Uy đã viết đơn lên tỉnh xin ta cho phép cả hai vợ chồng đi theo chăm sóc bệnh nhân. Việc gấp lắm, anh nên cho chỉ thị để có hướng giải quyết.

    Hùng ngả người vào thành ghế, bóp trán suy nghĩ. Du nhìn anh nín thở chờ đợi. Căn phòng ắng lặng, chỉ nghe tiếng máy điều hòa chạy đều. Hùng bỏ thuốc đã được hơn một tháng giờ lại thấy thèm. Anh nhoài người ra phía trước, khều bao thuốc ba số trong ngực áo của Du, lấy ra một điếu. Du nhanh nhẩu bật lửa. Anh châm thuốc rồi đứng dậy, lững thững ra hành lang rít liền mấy hơi, mắt đăm đăm nhìn sang bên nhà xanh. Vở kịch đối phương bầy ra khá hoàn hảo. Chắc hẳn đây lại là độc chiêu cuối cùng của Khang tham mưu cho Uy. Thôi thì ta cho vở kịch ấy hạ màn có hậu một chút để lấy tiếng nhân đức với dư luận tỉnh K và cũng đỡ vướng bận, dành thời gian lo nhiều việc khác. Anh em Quyền đi rồi, chắc Khang cũng bí mật chuồn khỏi K qua đường Côn Minh, từ đó bay đi Hồng Kông làm thủ tục sang Mỹ. Ngân hàng sẽ xiết nợ tập đoàn Bil- Kel, niêm phong tài sản thế chấp gồm tòa nhà 9 tầng với đầy đủ trang thiết bị văn phòng hiện đại và 3 khu mỏ đang khai thác. Giá trị tài sản hữu hình của nó không lớn, nhưng thương hiệu Bil- Kel vẫn còn rất có giá đối với các lão bản bên kia biên giới. Ta đã bàn với Du để ông bác ruột cậu ấy đang làm chủ một doanh nghiệp có tiềm năng lớn ở Nha Trang về đây mua lại Bil- Kel với giá bèo từ ngân hàng là ổn thỏa, kín kẽ. Bề ngoài nó góp phần giữ cho kinh tế tỉnh K không bị xáo động, bên trong nó sẽ là doanh nghiệp sân sau của ta và Du, tiếp tục làm ăn lâu dài với A Hứa, A Trương… Hùng quay vào phòng nói với Du:

    - Chú lên lịch cho anh sáng mai làm việc với cậu San, cô Phụng. Ta cần nhanh chóng khép lại hai vụ án điểm để lấy thành tích chào mừng đại hội và lễ kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh K sắp tới.

    - Thưa anh, còn vụ đưa ông Quyền đi chữa bệnh thì sao?

    - Ta ra đòn với Quyền như thế đủ rồi, tha bổng cho Uy lấy chút âm đức về sau, Du ạ! Để vợ chồng Uy đủ điều kiện làm Visa đi Mỹ, bên công an phải viết báo cáo lên tỉnh, xác nhận đã loại Uy ra khỏi diện nghi vấn trong chuyên án. Sau đó, anh sẽ bút phê vài chữ vào đơn của vợ chồng Uy để chú mang hồ sơ xuống Hà Nội nhờ các đồng chí ở Trung ương can thiệp cho họ nhanh chóng đưa anh trai đi chữa bệnh. Tống khứ của nợ ấy đi rồi, chú gọi điện cho ông bác trong Nha Trang bay ra gặp anh bàn cụ thể từng bước phương án mua lại tập đoàn Bil- Kel. Anh em mình phải quyết tâm không để sản xuất, kinh doanh của tập đoàn bị ngừng trệ lâu, gây mất ổn định xã hội trong tỉnh nhà, chú hiểu không?...

    Thùy Dung từ ngày tiễn Quyền và vợ chồng Uy đi Mỹ ở sân bay về suốt ngày câm lặng, ủ rũ. Nàng vật vờ đi lại trong biệt thự như cái xác không hồn. Uy đã giấu chị dâu bệnh tình của anh trai đến phút chót nên nàng càng ân hận không được chăm sóc Quyền những ngày cuối cùng ở Hà Nội. Đêm nào cũng vậy, chờ các con ngủ say, Dung thập thững ra vườn, ngồi xuống thềm nhà bát giác, bên khóm cây phù dung nức nở khóc thầm. Số kiếp ta rồi cũng như hoa phù dung sớm nở tối tàn chăng? Ta đã đánh mất tình yêu với Dân, cha bỏ nhà lên chùa, giờ lại sắp mất chồng, một mình bơ vơ mẹ góa con côi, chẳng còn thiết sống. Đêm nay Dung cay đắng nhớ lại trước khi đi, Uy đến nhà kể rõ tình trạng hiểm nghèo của Quyền khiến nàng bàng hoàng ngã quỵ xuống sàn nhà, kinh ngạc và đau đớn, trợn mắt gào to, trách móc em chồng. Lòng nàng như có kim đâm, muối xát. Uy đỡ chị dâu ngồi dậy, khóc lóc phân trần rằng đó là ý của Quyền. Ngẫm kỹ thấy Quyền rất nặng tình với mình, hết lòng chăm lo sức khỏe của vợ càng khiến Dung ân hận vì bao năm hờ hững với tình yêu của chồng. Nàng tự đẩy chồng ra xa, khiến anh phải tìm kiếm niềm vui xác thịt với Xuân chứ trong lòng Quyền có lẽ chỉ có mình Dung làm vợ. Hương có lần bảo, đàn ông như Quyền cũng không dễ gặp ở đời đâu, đã làm vợ người ta thì phải hết lòng mới giúp chồng tránh xa mọi thứ cạm bẫy cả trong tình yêu lẫn trong sự nghiệp. Từ lâu, Dung đã lờ mờ nhận ra anh em Quyền đang dấn khá sâu vào nhiều vụ việc mờ ám, nhưng nàng chỉ thoáng lo sợ mà không tìm hiểu, can gián. Nếu sớm biết nghe lời khuyên của Hương, có thể Dung đã làm được điều gì đó cho Quyền biết chọn điểm dừng. Hôm ở sân bay, nhờ có Du liên hệ trước với an ninh, Huy Hùng ngồi xe đưa Dung ra tận chân cầu thang đưa tiễn Quyền và vợ chồng Uy. Nàng nhìn trong ánh mắt, nghe những lời động viên trơn tuột của con người ấy thấy rờn rợn, nhưng vẫn phải nắm chặt tay ông ta nói lời cám ơn chân thành. Linh cảm người vợ xui khiến nàng ngờ ngợ rằng, Huy Hùng chính là kẻ gây ra căn bệnh hiểm nghèo của chồng. Cái bàn tay ấy cứ ám ảnh nàng một nỗi sợ không sao lý giải bởi nó mềm nhũn, lành lạnh cứ như muốn truội ra khỏi tay mình. Nghĩ về bàn tay của Hùng, chợt Dung nhớ ra chiếc va ly nặng của Uy mang đến cho mình mấy hôm trước. Uy vừa khóc vừa dặn dò: “Trong tài khoản cá nhân của chị hiện có 300 triệu, còn chiếc va ly này là tấm lòng vợ chồng em để lại cho chị làm vốn nuôi dạy các cháu nên người. Chị phải phân tán cất giấu thật kỹ hoặc tốt nhất mang lên chùa gửi cụ giáo chôn giấu cho an toàn, chị ạ!” Trụ sở tập đoàn, nhà cửa của Uy, ông Khang, bà Xuân đều đã bị chính quyền tỉnh thu giữ, niêm phong chờ ngân hàng phát mại. Chiếc va ly kia mình đang đau buồn, rối trí nên chưa kịp mở ra, chắc cũng là của phi pháp không thể giữ làm của riêng. Dung nghĩ vậy và thầm nhủ sẽ giao nộp cho chính quyền. Sáng dậy, nàng gọi điện cho Du báo tin. Lát sau Huy Hùng và Du cùng đến nhà, dẫn theo mấy người bên Sở công an. Họ mở va ly kiểm đếm rồi ghi biên bản đưa cho Dung ký. Nàng sững người kinh ngạc vì khối tài sản quá lớn gồm 100 cây vàng và 200 ngàn đô. Công an và Du mang chiếc va ly đi rồi, Huy Hùng còn ngồi nán lại ở phòng khách uống nước. Anh đưa cho Dung 2 hộp thuốc ngoại đặc trị bệnh viêm tuyến lệ, ánh mắt nhìn rất lạ, xoáy vào gương mặt và lồng ngực người đẹp khiến nàng bối rối. Hùng nấn ná, ân cần hỏi thăm sức khỏe Dung và việc học hành của lũ nhỏ. Trước lúc ra về anh nói:

    - Tập đoàn Bil- Kel thiếu nợ ngân hàng rất nhiều, tỉnh đang chuẩn bị tiến hành phát mại tài sản thế chấp và mấy ngôi nhà vắng chủ của lãnh đạo tập đoàn. Chị Dung đã có công khai báo số tài sản vừa nãy là thành tích lớn, tỉnh sẽ ghi nhận. Còn số tiền trong tài khoản cá nhân của chị, chúng tôi đã bàn và quyết định cho chị giữ lại để tiêu dùng và làm vốn.

    - Thế còn ngôi biệt thự này bao giờ tôi sẽ phải dọn đi?

    - Ấy chết! Đó là tài sản riêng của anh chị, không liên quan gì đến nợ nần của tập đoàn anh Uy. Anh Quyền là cán bộ lãnh đạo có nhiều công lao đóng góp cho tỉnh nhà. Chúng tôi sao dám có ý nghĩ này khác, tổn hại đến uy tín của anh ấy. Thời gian anh Quyền đi vắng chữa bệnh, tỉnh vẫn giải quyết lương và mọi chế độ cơ mà.

    - Vâng, cám ơn các anh đã quan tâm!

    - Nếu chị Dung có nhu cầu, tỉnh cũng sẽ sẵn sàng bố trí công tác cho chị ở Văn phòng ủy ban tỉnh hoặc các Sở, Ngành nào chị muốn. Ngoài ra, bất cứ lúc nào cần đề đạt nguyện vọng gì, chị Dung có thể trực tiếp gặp tôi, đừng ngại...

    Huy Hùng lên xe vẫn còn ngoái nhìn bóng Dung đứng bên mép đường. Lòng anh thầm nghĩ, quả là người đẹp càng buồn càng quyến rũ. Bỗng nhiên anh liên tưởng đến câu chuyện lịch sử, trong cuốn sách mỏng mua ở cố đô Huế, viết về những bà vợ của vua Gia Long. Lịch sử oái oăm du đẩy hai nàng công chúa cành vàng lá ngọc con vua Lê Hiển Tông là Ngọc Hân và Ngọc Bình vào Phú Xuân làm vợ hai vua Tây Sơn là Quang Trung và Quang Toản. Khi vua Gia Long chiếm được thành Phú Xuân, hành hình dã man Quang Toản và các tướng lĩnh Tây Sơn, nhưng ông lại mê mẩn trước sắc đẹp của Ngọc Bình, tuyển nàng làm phi. Bởi thế dân gian có câu ca: “Phú Xuân chuyện thật như đùa- Một bà lại lấy hai vua làm chồng.” Huy Hùng thấy lâng lâng một cảm giác khó tả của người thắng cuộc trong trận chiến quyền lực ở K…

    Bắt tay tiễn Hùng lên xe, Dung vẫn còn cảm thấy ớn lạnh, ghê sợ bàn tay và ánh mắt ấy. Trực giác mách bảo nàng bàn tay của Hùng dính máu. Nàng rảo bước lên lầu vào phòng tắm, khỏa thân dưới vòi hoa sen vặn hết cỡ tẩy sạch tà ma bóng quỷ, quên đi tất cả. Tắm xong, Dung thay quần áo, tìm chiếc điện thoại gọi lên chùa Sùng Miên định tâm sự với cha. Thiền sư trụ trì trả lời, thầy giáo Hạnh đã về Hà Nội chăm sóc trò Hiếu Dân bị cấp cứu ở bệnh viện ung bướu. Nàng tái người, hớt hải gọi điện cho Hương mấy lần không được, lòng thảng thốt, đứng ngồi không yên. Khoảng một tiếng sau Hương gọi lại, nghẹn ngào báo tin cho bạn:

    - Dung ơi! Anh Dân sắp đi rồi, muốn gặp mày lần cuối.

    Nàng òa khóc, trách móc Hương qua nước mắt:

    - Sao mày ác thế, không báo tin sớm, để bây giờ mới nói?...

    - Cụ giáo nhà mày ngăn tao không cho nói. Tao cũng nghĩ anh Dân may ra còn trụ được vài tuần nên sợ mày đang khốn khổ vì vụ ông Quyền đột ngột đổ bệnh, nếu báo thêm tin của anh Dân nữa mày sẽ không chịu nổi.

    - Anh Dân bị cấp cứu lâu chưa?

    - Ngay sau hôm cùng tao đến bệnh viện thăm ông Quyền, gặp mày ở đó. Có lẽ đêm ấy anh Dân thức trắng, cố viết xong chương của đề tài về cha con Mạc Đăng Dung nên gần sáng mệt lả đi và đột quỵ  May mà tao đến sớm, kịp đưa đi cấp cứu.

    - Nếu mày báo sớm, tao còn được ở bên Dân vài ngày. Đau quá, Hương ơi!...

    Dung buông máy, đấm ngực gào khóc như người điên. Giời ơi! Sao tôi khổ thế này? Bao nhiêu sự việc khủng khiếp cứ ùa đến tới tấp như một cơn lũ quét, chẳng thà ông giời cho tôi chết quách cho rồi. Uy giấu bặt bệnh tình của Quyền, cha và Hương cũng giấu kỹ chuyện Dân bị cấp cứu, biến tôi thành đứa ngốc, con đàn bà bội tình bạc nghĩa. Sao các người cứ thương xót tôi kiểu ấy, khác nào bóp nát quả tim yếu ớt này, hở giời?... Nức nở hồi lâu, Dung cắn răng đứng dậy thu xếp vài thứ vặt vãnh. Nàng dặn dò chị giúp việc đưa đón lũ nhỏ và trông coi nhà cửa rồi gọi xe đưa mình xuôi về Hà Nội. Dọc đường ngồi xe, nàng bồn chồn lo không kịp nhìn mặt Dân lần cuối. Xe đến bệnh viện, Dung chạy một mạch đến bệnh phòng, lao người ôm chặt lấy Dân khóc nấc từng hồi thảm thiết. Dân vẫn còn tỉnh táo để nhận ra gương mặt người yêu. Nàng vừa khóc vừa ghé tai vào gần miệng, nghe anh thều thào nói:

    - Anh sắp… sắp đi… đi rồi, chỉ chờ gặp mặt em… em thôi.

    -  Đừng nói gì hết, anh phải sống, mất anh nữa em làm sao sống nổi.

    - Số phận bắt chúng mình phải thế. Em… em phải mạnh mẽ lên mà nuôi con, chăm sóc thầy Hạnh thay anh nữa, Dung nhé!... Đề tài anh viết xong rồi… Em chép vào USB đem về biên tập rồi in ra tặng cho khoa sử trường cao đẳng Sư phạm hai… hai tỉnh K và Y.

    - Thế còn việc hậu sự?- Hương chen vào khóc to và hỏi.

    - Nhờ thầy và hai em đem anh đi hỏa táng, mang bình tro cốt về K chôn sau chùa Sùng Miên để anh được ở bên thầy.

    Dân cố gượng nói câu cuối cùng rành mạch từng tiếng rồi từ từ nhắm mắt, buông thõng đôi tay xuống giường… Lễ tang của Dân diễn ra nhanh gọn vì bố mẹ anh đã qua đời, bà chị cả bị tai nạn giao thông nằm liệt giường hơn một năm, chỉ có mấy đứa cháu từ tỉnh Y về lớ ngớ chẳng biết gì. Mọi việc đều do Hương thay mặt gia đình, chủ động bàn với ông Viện trưởng của Dân lo liệu chu đáo. Hôm sau Dung thuê xe cùng thầy Hạnh và Hương mang bình tro cốt về K. Dọc đường mưa rơi xối xả, giông gió tơi bời. Dung về đến K, thành phố ngập nước, đường xá sụt lở khắp nơi nên chưa thể đưa Dân lên chùa Sùng Miên. Ba người quyết định nghỉ lại ở biệt thự Hoa phù Dung chờ tan mưa bão. Họ ngồi ở phòng khách im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng về Dân, về cuộc đời và số phận của Dung. Chợt trên màn hình TV, cô phát thanh viên đưa tin mưa lớn liên tục nhiều giờ, xảy ra lũ quét ở vài nơi. Khu du lịch sinh thái bản Phìn bị bùn đất trôi xuống, vùi lấp mấy dãy nhà sàn; còn ở mỏ sắt bản Chiềng, hàng triệu khối đất đá bất ngờ trụt lở, đè lên phân xưởng nghiền quặng. Đường lên cửa khẩu quốc tế bị tắc nghẽn vì nhiều đoạn hư hỏng nặng. Tổn thất về vật chất khá lớn, ước độ vài chục tỷ đồng, nhưng rất may toàn tỉnh không có tổn thất về người… Thầy giáo Hạnh lại gần bình tro cốt sụt sùi, nói nhỏ với trò: “Dân ơi! Ông Trời nổi giận với người tỉnh K nên mới ra nông nỗi này…” Ngoài trời mưa vẫn rơi, gió vẫn gào thét không dứt. Từ trong ảo giác, Dung thấy nàng Lệ Thanh và chàng nho sinh Bùi Trụ đang ngơ ngác tìm nhau giữa cánh rừng già thâm u trên đỉnh núi Hoàng Liên cao vợi. Bệnh viêm tuyến lệ dường như tái phát khiến hai hốc mắt nàng nhức nhối và cay rát, nước mắt giàn giụa chảy không sao cầm lại được. Dung nhắm nghiền đôi mắt cho đỡ đau nhức, thầm nhủ lòng, ta đành đợi hai trăm năm nữa may ra được gặp lại Dân trong kiếp luân sinh khác vậy thôi! Có một sự thật TV không nói và Dung không hề biết. Người dân bản Phìn khi khắc phục hậu quả cơn lũ quét, họ đào bới lớp bùn đất trôi từ trên núi xuống đã tìm thấy một bình chì nặng chừng 60 kg. Công an đã kịp thời đến lập biên bản, niêm phong bình chì chờ chuyên gia đến thẩm định trong đó chứa vật thể gì để điều tra làm rõ…    

    Hà Nội 7/2015

    VNT          

                     

                                          Vài điều chú giải                                   

    1- Các triều vua thời Lê sơ (1427- 1527):

    Lê Thái Tổ: Tên thật là Lê Lợi là vị anh hùng dân tộc, có công lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đánh đuổi giắc Minh, cứu dân tộc khỏi nạn đồng hóa, Bắc thuộc lần thứ hai. Ông sinh năm 1385 và mất năm 1433, sáng lập ra triều Lê, ở ngôi gần 6 năm (1427- 1433), thọ 49 tuổi.

    Lê Thái Tông: Tên thật là Lê Nguyên Long, sinh 11/1423 và mất 8/1442, là con thứ của Lê Lợi lên ngôi lúc 11 tuổi, ở ngôi được 9 năm (1433- 1442). Cái chết của ông lúc còn rất trẻ mới 20 tuổi đã kéo theo thảm án Lệ Chi Viên đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, gây nhiều tranh cãi trong giới sử gia sau này.

    Lê Nhân Tông: Tên thật là Lê Bang Cơ, sinh 9/5/1441 mất 3/10/1459, lên ngôi lúc 3 tuổi, ở ngôi 17 năm (1442- 1459) thì bị anh cùng cha khác mẹ là Lê Nghi Dân ám hại cùng với một vị trung thần Đào Biểu.

    Lê Thánh Tông: Tên thật là Lê Tư Thành, sinh 20/7/1442 mất 30/1/1497, ở ngôi lâu nhất thời Lê sơ được 37 năm và là triều đại thịnh trị nhất trong các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Sau khi ông chết đã để lại khoảng trống quyền lực khiến nước nhà rơi vào giai đoạn 30 năm ly loạn vô cùng rối ren, dân chúng thống khổ.

    Lê Hiến Tông: Tên thật là Lê Tranh, sinh 10/8/1461 mất 24/5/1504, ở ngôi được 7 năm (1497- 1504). Ông là vị vua được các sử gia khen ngợi là nhân từ, yêu thích văn học, tiết kiệm tiêu dùng, thận trọng hình phạt, nhưng chết sớm lúc mới 43 tuổi, để lại một lũ con cháu ngu hèn như bầy chó lợn, đất nước chìm trong nội loạn.

    Lê Túc Tông: Tên thật là Lê Thuần, con trai thứ ba của Lê Hiến Tông với bà Nguyễn Thị Hoàn, sinh 1/8/1488 mất 7/12/1504 hưởng dương 16 tuổi, ở ngôi vẻn vẹn có 6 tháng (từ tháng 6 đến tháng 12/1504) nên không có gì đáng nói.

    Lê Uy Mục: Tên thật là Lê Tuấn, anh cùng cha khác mẹ với Lê Túc Tông, sinh 5/5/1488 mất 1/12/1509, ở ngôi được 5 năm (1504- 1509). Sử chép rằng, ông là vị vua hoang dâm, tàn bạo, hậu thế gọi là quỷ vương có sách còn nói sứ thần nhà Minh xem mặt nói ông tướng quỷ. Uy Mục không chăm lo chính sự, hằng đêm cùng cung nhân uống rượu, khi say thì giết tất cả. Việc triều chính đều rơi vào tay lũ ngoại thích và hoạn quan, cung đình nhơ nhuốc. Ông giết cả bà nội là Thái hoàng thái hậu đến anh em, chú bác trong hoàng tộc và các quan đại thần Đàm Văn Lễ, Nguyễn Quang Bật, chèn ép Nguyễn Văn Lang… Đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, tranh giành quyền lực cuối cùng Uy Mục bị giết vào tháng chạp năm 1509.

    Lê Tương Dực: Tên thật là Lê Oanh, cháu nội của Lê Thánh Tông, con thứ của Kiến vương Lê Tân, sinh 25/6/1495 mất 7/4/1516, ở ngôi được 7 năm (1509- 1516) do các đại thần Nguyễn Văn Lang, Lương Đắc Bằng phò giúp, từ Tây Đô kéo về kinh thành giết vua Uy Mục, suy tôn ông lên ngôi lúc 14 tuổi. Những năm đầu mới lên ngôi, ông làm được một số việc hữu ích là nhờ sự trợ giúp của các quan đại thần như Lương Đắc Bằng, Bùi Xương Trạch, Vũ Quỳnh, Lê Tung… Tuy nhiên từ năm 1514 ông trở nên đổ đốn dâm loạn và độc ác, giết hại 11 vương công quý tộc, gian dâm với các phi tần của các đời vua trước, bị hậu thế gọi là Trư vương tức vua lợn. Có sách nói sứ thần Hy Tăng nhà Minh coi mặt phán ông có tướng lợn, gọi là Trư vương, nhưng cũng có nhiều sử gia không tin và cho rằng ông bị lũ gian thần và tay sai giặc Minh mê hoặc đưa vào con đường trụy lạc. Tương Dực còn sai Vũ Như Tô xây cung điện 100 nóc và một công trình lớn khác là Cửu Trùng Đài khiến quốc khố suy kiệt, dân chúng khốn khổ vì sai dịch, tạo mầm cho sự phiến loạn. Sự kiện này khơi nguồn cảm xúc cho nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết nên kiệt tác kịch Vũ Như Tô… 4/1516 ông bị quyền thần Trịnh Duy Sản giết chết, đưa cháu ruột ông là Lê Y lên ngôi.    

    Lê Chiêu Tông: Tên thật là Lê Y, cháu ruột Lê Tương Dực, con trai lớn của Cẩm Giang vương Lê Sùng, sinh 10/1506 mất 12/1525, lên ngôi năm 1516 do Trịnh Duy Sản dựng lên, tại vị được 6 năm (1516- 1522). Trong 6 năm trị vì ông đã phạm hai sai lầm lớn: lần thứ nhất nghe lời bọn nịnh thần, nghi ngờ và giết hại Trần Chân nên các tướng dưới quyền ông này nổi loạn; lần thứ hai âm mưu ám hại Mạc Đăng Dung, nhưng việc bại lộ phải theo Trịnh Tuy chạy vào Tây Đô, cuối cùng bị Mạc Đăng Dung bắt giam và giết chết năm 1525.

    Lê Cung Hoàng: Tên thật là Lê Xuân, chắt nội của vua Lê Thánh Tông, con thứ của Cẩm Giang vương Lê Sùng, sinh 26/7/1507 mất 12/1526, ở ngôi được gần 5 năm (1522- 1526), nhưng thực chất chỉ là quân bài do cha con Mạc Đăng Dung dựng lên, không hề có thực quyền, đến 4/1527 viết chiếu nhường ngôi cho họ Mạc và bị giết vào 12/1527.  

    2- Các triều vua Minh tương ứng với thời Lê sơ:

    Minh Tuyên Tông: Tên thật là Chu Chiêm Cơ, ở ngôi 1425- 1435 và là người đã phải cắn răng đến bật máu chấp nhận cho Vương Thông ký hòa ước thực chất là đầu hàng nghĩa quân Lam Sơn, tạo điều kiện cho Lê Lợi lên ngôi ở Thăng Long (1426), kiến tạo nên vương triều họ Lê. Ông nội của hắn là Chu Đệ phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, còn Chu Chiêm Cơ là kẻ ký hiệp ước đầu hàng nghĩa quân Lam Sơn. Vì vậy trước khi chết (31/1/1435), hắn để lại di chiếu nhắc nhở các triều vua Minh đời sau phải thường xuyên tìm cách làm suy yếu nhà Lê, chờ cơ hội xâm chiếm nước ta một lần nữa.

    Minh Anh Tông: Tên thật là Chu Kỳ Trấn, con trai của Minh Tuyên Tông với một cung nữ được vua sủng ái. Chu Kỳ Trấn ở ngôi vua hai lần: lần thứ nhất vào 2/1435- 9/1449, tương ứng với hai triều vua Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông; lần thứ hai vào 2/1457- 2/1464, tương ứng với những năm đầu triều vua Lê Thánh Tông. Sở dĩ có hai lần lên ngôi vua như vậy vì ông này có 8 năm bị quân Mông Cổ bắt làm tù bình nên em trai là Chu Kỳ Ngọc lên thay lấy đế hiệu là Minh Đại Tông.  

    Minh Hiến Tông: Tên thật là Chu Kiến Thâm, con trai của Minh Anh Tông từng bị chú là Chu Kỳ Ngọc truất ngôi Thái tử sau lại được cha mình khôi phục và lên ngôi kế vị. Ông này trị vì được 23 năm (1464- 1487), tương ứng với thời kỳ cực thịnh của triều đại vua Lê Thánh Tông ở nước ta nên dù muốn cũng không dám đánh Đại Việt. 

    Minh Hiếu Tông: Tên thật là Chu Hữu Đường, trị vì được 18 năm (1488- 1505), tương ứng với 10 năm cuối triều Lê Thánh Tông và thời gian trị vì của các vua Lê Hiến Tông và Lê Túc Tông.  

    Minh Vũ Tông: Tên thật là Chu Hậu Chiếu, con trai của Minh Hiếu Tông, trị vì được 16 năm (1505- 1521), tương ứng với các triều vua Uy Mục, Tương Dực và Chiêu Tông. Đây là giai đoạn vô cùng suy thoái, mục nát đến cực độ của thời Lê Sơ, nhưng ở phương Bắc dưới triều Minh Vũ Tông là ông vua hoang dâm, tàn ác nên trong nước cũng rất rối ren,  điển hình là vụ nổi loạn của thân vương Chu Thần Hào (1519- 1520), vua Minh không dám mạo hiểm đem quân xâm lược nước ta.

    Minh Thế Tông: Tên thật là Chu Hậu Thông là con của Hưng vương Chu Hữu Nguyên vì vua Minh Vũ Tông ốm chết, không có con nối dõi. Ông lên ngôi từ 1521- 1567, các sử gia Trung Quốc còn gọi là triều vua Gia Tĩnh, đất nước khá thái bình thịnh trị. Thi hào Nguyễn Du mở đầu truyện Kiều bằng hai câu lục bát “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh- Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”, chính là nói về triều đại này. Tuy nhiên 10 năm đầu do phải tiếp quản cơ đồ mục nát của Minh Vũ Tông nên vua tôi nhà Minh dù biết họ Mạc cướp ngôi nhà Lê cũng không dám đem quân chiếm nước ta, chỉ hù dọa, chèn ép vua Mạc Đăng Dung.    

    3- Về lai lịch một số nhân vật lịch sử:

    Thái hoàng thái hậu Trường Lạc: Tên thật là Nguyễn Thị Hằng, con của quan Thái úy Nguyễn Đức Trung, quê ở làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn- Thanh Hóa. Năm 1460 bà được tuyển vào cung làm vợ vua Lê Thánh Tông, được phong Hoàng hậu giữ cung Trường Lạc nên còn gọi là Hoàng hậu Trường Lạc. Bà sinh ra Thái tử Lê Tranh, sau nối ngôi cha làm vua Lê Hiến Tông, khi cháu nội lên ngôi là vua Lê Túc Tông bà trở thành Thái hoàng thái hậu Trường Lạc. Năm 1505, bà bị chính đứa cháu nội khác là Lê Uy Mục giết hại.

    Nguyễn Văn Lang là con trai Nguyễn Đức Trung người làng Gia Miêu, em trai bà Nguyễn Thị Hằng cũng là em vợ vua Lê Thánh Tông. Sử sách còn chép ông là cha của Nguyễn Hoằng Dụ và là ông nội của Nguyễn Kim (1468- 1545), người khởi sướng việc phò Lê diệt Mạc, kiến tạo nên triều Lê trung hưng sau này. Năm 1509, ông đem quân từ Tây Đô về giết Uy Mục, tôn Lê Oanh làm vua Tương Dực. Để trả thù cho chị gái, ông đã chỉ huy cuộc hành quyết Uy Mục hết sức dã man, bị đời sau chê trách. Con trai Nguyễn Hoằng Dụ sau này cũng là kẻ nổi loạn dưới triều vua Chiêu Tông rồi ốm chết ở Thanh Hóa. Riêng trường hợp Nguyễn Kim sử chép là con Nguyễn Hoằng Dụ, nhưng gần đây theo khảo cứu của TS Đinh Công Vĩ thì không phải như vậy mà là con của Nguyễn Văn Lưu, cùng họ khác chi với Nguyễn Hoằng Dụ ở Gia Miêu- Thanh Hóa.

    Trịnh Duy Sản người làng Thủy Chú, xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân- Thanh Hóa, là cháu nội của danh tướng Trịnh Khắc Phục. Theo gia phả tướng Trịnh Khắc Phục (làng Vân Đô, huyện Đông Sơn- Thanh Hóa), một khai quốc công thần tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, ông có 8 người con trai, trong đó người con thứ Trịnh Trọng Ngạn sinh ra Trịnh Duy Sản và hai em Duy Thận, Duy Đại. Năm1509, ông về phe với Văn Lang giết vua Uy Mục, lập vua Tương Dực. Sau khi Văn Lang chết, ông trở thành một quyền thần khét tiếng, tước Mỹ Huệ hầu và đến năm 1516 giết vua Tương Dực, lập vua Chiêu Tông. Các sử gia đời sau kết tội ông là kẻ mở đầu cho sự rối loạn cuối thời Lê sơ, dẫn đến nhà Lê mất về tay nhà Mạc, nhưng công bằng mà nói nhà Lê đã quá mục nát, thối rữa từ năm 1504 dưới thời Lê Uy Mục rồi. Tháng 11/1516, ông chết bí hiểm trong chiến dịch vây đánh quân “tam đóa” của Trần Cao.

    Trần Chân sinh năm 1470, người làng La Khê, huyện Từ Liêm- Hà Nội. Ông vốn là thuộc tướng của Trịnh Duy Sản, sau khi Sản chết lên nắm hết binh quyền, được phong Quận công, tước Thiết Sơn bá, sau bị vua Chiêu Tông lập mưu giết chết (7/ 1518). Các tướng dưới quyền ông như Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Áng… lấy cớ trả thù cho chủ tướng kéo quân về kinh đô nổi loạn.

    Nguyễn Quang Bật người xã Bình Ngô, huyện Siêu Loại, nay thuộc địa phận thôn Thượng Vũ, xã An Bình, huyện Thuận Thành- Bắc Ninh. Ông sinh năm 1464, đậu Trạng Nguyên khoa thi năm 1484 triều Lê Thánh Tông, đứng hàng thứ 7 trong Tao đàn “nhị thập bát tú” do vua sáng lập. Triều vua Hiến Tông được thăng chứ Đô ngự sử đài. Năm 1505 bị Uy Mục đầy đi Quảng Nam cùng với Đàm Văn Lễ và bị hoạn quan Nguyễn Nhữ Vi dìm chết ở sông Lam.

    Đàm Văn Lễ người xã Lam Sơn, huyện Quế Dương nay là huyện Quế Võ- Bắc Ninh. Ông sinh năm 1452, đậu Tiến sĩ khoa thi năm 1469 triều Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 1505 bị Uy Mục sai Nhữ Vi dìm chết ở sông Lam cùng với Nguyễn Quang Bật.

    Vũ Quỳnh người làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang- Hải Dương. Ông sinh năm 1452, đậu Tiến sĩ năm 1479 triều Lê Thánh Tông, làm quan qua nhiều triều vua, năm 1511 thời vua Tương Dực, với cương vị sử quan, ông là tác giả bộ “Đại Việt thông giám thông khảo” có nhiều nét mới so với “Đại Việt sử ký toàn thư” do Ngô Sĩ Liên soạn trước đó.

    Lê Tung người làng Yên Cừ, huyện Thanh Liêm- Hà Nam. Ông tên thật là Dương Bang Bản vì có nhiều công lao được vua ban cho họ vua và đổi tên thành Lê Tung. Năm 1484, ông thi đậu Tiến sĩ triều Lê Thánh Tông; thời vua Tương Dực ông là tác giả bài viết nổi tiếng “Đại Việt thông giám tổng luận” đánh giá rất cao bộ sách sử của Vũ Quỳnh.

    Lương Đắc Bằng người làng Hội Triều, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa, nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm 1472, đậu Bảng nhãn năm 1499 triều Lê Hiến Tông là người văn võ toàn tài, giúp Nguyễn Văn Lang thảo hịch kể tội Uy Mục, lập vua Tương Dực. 10/1510 ông dâng vua Tương Dực “Trị bình thập tứ sách”, được các học giả Phan Kế Bính, Trần Trọng Kim đánh giá rất cao. Sau vì can gián vua Tương Dực không được, ông cáo quan về dạy học ở làng Hội Triều và nghiên cứu “Thái ất thần kinh”. Học trò ông có những người rất nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm. Con trai ông là danh tướng Lương Hứu Khánh theo Nguyễn Kim sang Lào để lập căn cứ, đợi thời cơ về nước phò Lê diệt Mạc.

    Bùi Xương Trạch người làng Định Công, quận Hoàng Mai- Hà Nội. Ông sinh năm 1451 và mất năm 1529 thọ 79 tuổi, đậu Tiến sĩ khoa thi năm 1478 triều Lê Thánh Tông. Thời Lê Hiến Tông ông rất được trọng dụng, được phong Thượng thư bộ Binh, Tế tửu Quốc Tử Giám, tước Quảng Văn hầu. Qua các triều vua Túc Tông, Uy Mục, Tương Dực ông vẫn giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám. Năm 1520 triều vua Chiêu Tông, ông mới nghỉ hưu lúc đã 70 tuổi. Năm 1527 vua Mạc Đăng Dung vẫn muốn ông ra làm việc để thu hút các sĩ phu trong nước theo nhà Mạc. Con trai cả của ông là Bùi Trụ làm quan cho nhà Mạc tới chức Tán lý, Thượng thư. Con thứ ba của ông là Bùi Vĩnh đỗ Bảng nhãn năm 1532 triều Mạc Thái Tông, cũng làm quan cho nhà Mạc. Sử chép, năm 1551 Bùi Trụ và các em đã bỏ nhà Mạc vào xứ Thanh theo nhà Lê. Có lẽ vào thời điểm đó triều đình Mạc Phúc Nguyên đã đổ đốn, xa rời lý tưởng ban đầu của Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh nên Bùi Trụ mới thất vọng bỏ đi chăng?...   

    4- Một vài hư cấu, điều chỉnh so với chính sử:

    Lệ Thanh vốn tên thật trong sử sách ghi là Lê Thị Thanh, quê xã Sa Lung, châu Minh Linh, nay thuộc làng Sa Trung, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, nhưng có sách lại ghi Thanh quê ở tổng Sa Lung, nay thuộc huyện NamTrực, tỉnh Nam Định. Gia đình mắc tội nên nàng bị bắt làm nô tỳ trong cung được vua Uy Mục thấy xinh đẹp tuyển làm phi rất mực sủng ái. Lại có sách chép khi Uy Mục còn là hoàng tử Lê Tuấn theo học quan vương phó (thầy dạy các hoàng tử) nàng cũng đến học nên đem lòng yêu, khi lên ngôi thì tuyển làm phi. Sau khi Uy Mục bị giết, Vũ Tá hầu Phùng Mại lại ép nàng hầu hạ vua Tương Dực… Vì những lẽ trên, tác giả đã hư cấu thành nhân vật Lệ Thanh, con thầy đồ Vọng và là người yêu của nho sinh Bùi Trụ. Nàng bị bắt vào cung làm nô tỳ, sau thành nô lệ tình dục cho hai ông vua quỷ dâm dục Uy Mục và Tương Dực.

    Về năm sinh của Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh: Sử ghi Đăng Dung sinh năm 1483, còn Đăng Doanh sinh năm 1490 là rất vô lý. Theo tìm hiểu của tác giả, Đăng Doanh tham dự vào chính trường khá sớm (1509), làm rể của tướng Trần Chân và bà vợ họ Trần sinh ra Mạc Phúc Hải năm 1516… nên năm sinh của Doanh vào 1490 là chính xác. Vì vậy năm sinh của Đăng Dung không thể là 1483  mà ít nhất phải là 1473. Truyện viết theo lo gic này để triển khai các tình tiết.

    Về việc Chiêu Tông gọi Nguyễn Hoằng Dụ về triều: Theo sử sách năm 1518 vua Chiêu Tông xuống chiếu cùng lúc gọi cả Đăng Dung và Hoằng Dụ về triều dẹp loạn, nhưng vai trò của Hoằng Dụ rất mờ nhạt, sau chết bệnh ở Thanh Hóa. Vì vậy để các sự kiện lịch sử giai đoạn này đơn giản hóa và đề cao cha con họ Mạc, tác giả có chút điều chỉnh, coi như Hoằng Dụ đã bị bệnh chết ở Thanh Hóa từ sau khi Trần Chân liên kết với Trịnh Tuy, đánh cho thua trận trong vụ biến loạn năm 1516, ông đã phải trốn chạy trong rừng phía Tây Thanh Hóa và chấm dứt vai trò lịch sử từ đó.

    Về việc các sử gia kết tội Mạc Đăng Dung: Theo sách sử trong nước có 2 sự kiện được cho là Đăng Dung hèn hạ đầu hàng, cắt đất dâng cho giặc Minh diễn ra vào năm 1528 và 1541. Ở sự kiện năm 1528 có thấy ghi trong sử đời Minh, nhưng theo lý giải của tác giả ở chương 11 thì đó là mưu kế thâm độc của vua tôi nhà Minh, ép Đăng Dung thừa nhận một việc đã rồi xảy ra từ thời Lý. Trong tình thế khắc nghiệt, ông đã phạm sai lầm ký vào chiếu thư phúc đáp Minh Thế Tông, song khó có thể kết tội ông dâng đất cho giặc. Có lẽ nỗi dằn vặt về sai lầm này đã khiến ông 1 năm sau nhường ngôi cho con trai Mạc Đăng Doanh khi bản thân mình còn đang rất sung sức. Ở sự kiện năm 1541, không thấy trong sử đời Minh chép quá cụ thể như sử Việt(?!) Sẵn có tư tưởng coi nhà Mạc là Ngụy triều, sử gia các triều vua Lê trung hưng tùy tiện kể tội Đăng Dung cùng bá quan văn võ lên tận biên giới tự trói mình đầu hàng giặc và nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước...dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu của nhà Minh... e rằng có sự vu khống. Nó quá mâu thuẫn với sách sử của nhà Lê - Trịnh dù đầy tinh thần thù hận với nhà Mạc; chính Lê Quý Đôn cũng buộc phải thừa nhận một sự thực thái bình thịnh trị dưới triều vua Mạc Đăng Doanh (1529- 1541): "Mạc có lệnh cấm các xứ Trong, Ngoài người ta không được cầm giáo, mác và binh khí hoành hành ở đường xá. Ai trái thì Pháp ty bắt. Từ ấy, người buôn bán và người đi đường đều đi tay không, ban đêm không có trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng đi kiểm soát một lần, hoặc có sinh đẻ cũng không thể biết là vật của nhà mình. Trong khoảng vài năm, đường xá không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, thường được mùa to, trong cõi bình yên". Đất nước trong hoàn cảnh như thế, dù Đăng Doanh mới chết (1541), con là Mạc Phúc Hải lên thay, nhưng bên cạnh vua vẫn còn Thượng hoàng Đăng Dung nên ta có quyền tin ông không mù quáng, hèn hạ đầu hàng giặc. Từ thời Lê trở về trước, các động chủ người Mông, Dao, Tày, Nùng ở miền biên viễn vẫn thường ngang nhiên cát cứ và rất giảo hoạt xu thời, lúc theo ta lúc theo Tầu nên đất đai của họ cũng vậy. Tác giả không đề cập sự kiện năm 1541 vào trong cuốn sách này, nhưng về mặt tư tưởng ủng hộ ý kiến của PGS.TS Đinh Khắc Thuần, không cho đây là sự thật lịch sử vì lúc đó (1541) nhà Mạc đã ổn định được đất nước, thế và lực đã mạnh lên rất nhiều so với thời điểm năm 1528.

    Đánh giá về Dương Kinh: Đây là lần đầu tiên trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam xuất hiện một đô thị ven biển có tầm vóc sánh với kinh đô Thăng Long. Nó là dấu mốc quan trọng cho thấy vào thời nhà Mạc, dân tộc ta bắt đầu có ý thức phát triển kinh tế hướng ra biển Đông, mở rộng ngư trường và giao thương trên biển. Vấn đề này theo thiển nghĩ của tác giả có lẽ cần được nghiên cứu đầy đủ và nghiêm túc.

    Về đạo Phật ở Việt Nam: Có một thực tế đang diễn ra khá sôi động ở nước ta hiện nay là phong trào trùng tu hoặc xây mới chùa chiền, khôi phục các sinh hoạt tín ngưỡng tại chùa khiến ta có cảm giác dường như đạo Phật đang được chấn hưng? Tiếc rằng đó chỉ là bề nổi, còn thực chất bên trong lại là biểu hiện mới của sự biến tướng và suy thoái bởi nhiều nơi chỉ chạy đua xây dựng chùa thật to, vừa tốn kém vừa sai với quy chế bảo tồn di tích lịch sử. Hoạt động tín ngưỡng tại chùa cũng mang màu sắc mê tín, cầu tài cầu lợi, xa lạ với phép tu thân, dưỡng tâm theo giáo lý nhà Phật. Vì vậy ở chương 9, thông qua nhân vật thiền sư Kiến Phúc, tác giả dụng công làm sống lại những điều căn cốt trong tư tưởng đạo Phật thời Trần bằng thứ ngôn ngữ giản đơn, dễ hiểu. Chương này có đôi chỗ tác giả tham khảo bộ sách 5 tập “Lịch sử triết học phương Đông” của Nguyễn Đăng Thục- NXB thành phố Hồ Chí Minh, 1991 và cuốn “Chùa Vĩnh Nghiêm với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử” do NXB Thông Tấn kết hợp với Bảo tàng tỉnh Bắc Giang ấn hành năm 2012.

    Về cuốn “Lịch sử Thủy lợi Việt Nam”: Đây là kết quả  sưu tầm, hệ thống hóa nguồn tư liệu hết sức phong phú, được biên soạn công phu với sự đóng góp của nhiều thế hệ các nhà khoa học ngành Thủy lợi nước ta (NXB Thời Đại- 2014). Tác giả đã trân trọng lược trích, sử dụng một vài sự kiện điển hình đưa vào tác phẩm, hy vọng cuốn “Lịch sử Thủy lợi Việt Nam” sẽ là nguồn tư liệu quý bổ sung vào sách giáo khoa môn Sử sắp tới.

    5- Một vài địa danh cổ cần nói rõ:

    Bến Thái Cực: Nay thuộc phố Hàng Đào vì thời đó con sông Hồng lượn vào tận đó, sau mới bị bồi đắp và đổi dòng chạy dọc theo phố Bạch Đằng như hiện nay.

    Cửa Bắc Thần: Nay thuộc phố cửa Bắc.

    Cửa Đại Hưng: Nay thuộc phố Cửa Đông

    Cầu Dừa: Nay là Ô Chợ dừa

    Kẻ Noi: Tên nôm của làng Cổ Nhuế, nay là phường Cổ Nhuế, quận Tây Hồ- Hà Nội.

    Làng Hạc: Nay thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa.

    Phường Đông Hà: Nay là khu vực quanh phố Hàng Chiếu

    Phường Hòe Nhai: Nay thuộc khu vực các phố Hòe Nhai, Yên Ninh, Nguyễn Trường Tộ

    Phường Bích Câu: Nay thuộc khu vực các phố Cát Linh, Phan Phu Tiên, Đoàn Thị Điểm, các làng An Trạch, Hào Nam.

    Nhà Bắc Sứ: Thời Lê sơ triều đình có hai nhà quán dịch, nhà Bắc Sứ ở phố Quán Thánh, dùng đón tiếp sứ thần nhà Minh và tiếp nhận thư từ, tấu biểu từ các tỉnh phía Bắc; còn nhà Nam Sứ ở phố Ngõ Trạm gần chợ Hàng Da, dùng đón tiếp các sứ thần phương Nam và tiếp nhận thư từ, tấu biểu của các tỉnh miền Nam gửi về.

    Lăng Vĩnh Hưng: Nay thuộc phố Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai- Hà Nội.

    Đất Thanh Đàm: Nay thuộc xã Thanh Trì, huyện Thành Trì, gần đây đổi Khu sinh thái Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai- Hà Nội

    Làng Bồ Đề: Nay thuộc quận Long Biên- Hà Nội

    Huyện Nghi Dương: Nay thuộc huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

    Khu phố thị Lỗ Minh: Nay thuộc quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng

    Phố thị Do Nha: Nay thuộc phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền- Hải Phòng

    Phố thị An Quý: Nay thuộc phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân- Hải Phòng

    Phủ Kinh Môn: Nay gồm cả thành phố Hải Phòng và một phần của tỉnh Quảng Ninh.

    Chùa Vọng Phúc: Nay thuộc địa phận thôn Mỹ Lộc, xã Tiên Thắng, huyện Tiên Lãng- Hải Phòng. Chùa được xây dựng từ thời Lý, đến thời nhà Mạc được trùng tu trong quá trình xây dựng Dương Kinh. Năm 1947, chùa bị đốt cháy do chính sách tiêu thổ kháng chiến. Hiện nay chùa được sư Minh quyên góp xây mới rất to đẹp, nhưng quá tốn kém với 700 khối gỗ nhập khẩu từ Philipine và khoảng 1000 khối đá xanh, đổi tên là chùa Thắng Phúc, bên bờ sông Văn Úc, gần bến đò An Tháp còn gọi là bến Sứa.  

    Phủ Thượng Hồng: Nay là tỉnh Hưng Yên

    Huyện Thủy Đường: Nay là huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

    Huyện Quế Dương: Nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

    Xứ Bồn Man: Nay là tỉnh Xiêng Khoảng của Lào có cửa khẩu thông với Việt Nam ở xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn- Nghệ An. Còn Lão Qua là tên gọi thời đó của nước Lào. Thời Lê sơ, xứ Bồn Man do các tù trưởng bộ tộc người Lào Sủng cai quản và thường đem quân sang quấy rối nước ta ở miền Tây xứ Thanh-Nghệ. Các vị tù trưởng ở Bồn Man cũng đã giúp đỡ Nguyễn Kim lập căn cứ chống lại nhà Mạc.    

    6- Một vài đại từ nhân xưng cổ giới có học hay dùng:

    Gia phụ, gia mẫu chỉ bố mẹ của mình

    Bá phụ, bá mẫu dùng khi người trẻ nói về bố mẹ của bạn

    Lệnh đường dùng khi người cao tuổi nói về bố mẹ đang sống của người trẻ

    Thần nhi dùng cho con cái vua khi xưng danh với vua cha hoặc hoàng  hậu, phi tần

    Bào huynh, bào đệ chỉ anh hoặc em ruột mình.

    Hiền tế chỉ con rể

     7- Vài chú giải khác:

    Các thuật ngữ FOB, CIF thường dùng trong ngành ngoại thương chỉ giá bán hàng tại cảng nước chủ hàng hoặc giá bán hàng tại cảng nước ngoài do khách mua chỉ định khi mở thư tín dụng (LC)

    Cục Biên mậu, thương nhân ở cửa khẩu phía Bắc nước ta khi giao dịch với bạn hàng hay gọi bằng tiếng Trung Quốc là “Pien mao chúy” có nghĩa là Cục quản lý mậu dịch biên giới do họ thiết lập ở Vân Nam, Quảng Tây.

    Những câu thơ về hoa phù dung của Hoàng Phủ Ngọc Tường lấy từ nguồn bài “Dù tháng dù năm” trong tập “Người hái hoa phù dung” (NXB Thuận Hóa, 1995) còn đoạn trích bài ký “Hoa bên trời” lấy trong tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (NXB Trẻ, 2002)

    Bài thơ “Bên ao” do Trần Trọng Kim dịch từ nguyên bản tiếng Hán của Bạch Cư Dị là “Trì thượng” gồm 4 câu: “Tiểu oa sinh tiểu đình- Thâu thái bạch liên hồi- Bất giải tàng tung tích- Phù bình nhất đạo khai”. (Nguồn: Cuốn “Thơ Đường”, NXB Đồng Nai 2005)

    Hai bài thơ “Tư gia tướng sĩ” của Lê Thánh Tông và “Tụng giá Tây chinh phụng họa bài thơ Tư gia tướng sĩ” của Lương Thế Vinh lấy nguồn tư tuyển tập thơ “Ngàn năm thương nhớ” dày hơn 2.000 trang, do Gia Dũng biên soạn nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội (NXB Hội nhà văn, 2004)

    Bài thơ “Cùng qua một chuyến đò” của Lương Hữu Khánh dịch từ nguyên bản chứ Hán là “Nho tăng đồng chu” lấy nguồn trong cuốn “Giai thoại văn học Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi (NXB Văn học 1962)

    Hết.

    Nguồn: Quỷ Vương. Triệu thuyết lịch sử của Vũ Ngọc Tiến. NXB Hội Nhà văn, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập33,786,678

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/