Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,164,644

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện ngắn

Mụ Tư Cò

Vũ Hạnh

  • Thứ tư, 10:45 Ngày 02/11/2016
  • Gia đình bà bảy vào ở miếng đất khi nó còn là bãi hoang chen chúc đủ loài cây dại. Một người Hoa kiều mua để cải táng ngôi mộ tổ phụ, cần người coi mộ và coi miếng đất. Bà Bảy nhờ một người con lấy chồng Hoa kiều có mối liên hệ cách bảy tám đời với người chủ đất, giới thiệu để nhận cái nhiệm vụ đó. Quyền lợi được hưởng là nhà bà ở khỏi trả thuế đất hàng năm và gia đình bà có thể trồng trọt ở đấy để hưởng hoa lợi.

     Một số gia đình sau đó đã được bà Bảy cho đến tạm trú. Trước nhà bà bảy, dưới một bụi tre rậm rạp là vợ chồng của Tư Cò ẩn núp trong một mái tranh xiêu vẹo. Tư Cò sống bằng nghề xích lô đạp, là người nghèo nhất xóm này. Mái nhà của họ một bên gác lên thành mộ, một bên treo vào bụi tre nhưng thấp đến phải chui vào chứ không thể đứng hay khom người mà vào được. Đó là tiệm hút rẻ tiền cho nhiều dân nghiện trong xóm, thừa cơ đêm tối, lẻn vào kéo đỡ ít hơi cho đã cơn ghiền. Buổi sáng, khi lão Tư Cò chệch choạng đẩy chiếc xích lô cũ kỹ ra ngõ thì mụ Tư Cò vẫn còn nằm ngay thẳng cẳng đến ngoài chín giờ mới dậy. Rồi mụ lảo đảo bước như người say, ra một tiệm nước đầu ngõ, dùng món bánh mì, xíu mại và cà phê sữa, rồi vừa xỉa răng quếch quác vừa lảo đảo về. Mụ gầy còm, hom hem, da trổ đồi mồi sủi lên từng về trong thật gớm ghiếc nhưng cái miệng mụ trong cơn giận dữ có một năng lực phi thường. Theo người lối xóm, mụ hay giận dữ và duyên cớ nào cũng làm cho mụ nổi sùng lên được. Có người hiểu lai lịch mụ, cho biết trước kia mụ là con gái nhà giàu, xinh đẹp, thích chuyện ăn chơi đua đòi, lần lược bị bọn Sở Khanh móc hết tiền của rồi bỏ bê mụ, dẫn mụ đến cảnh đàng điếm khốn cùng. Lúc xuân sắc đã phai tàn, đeo cảnh nghiện ngập, phải đi xin ăn ở nơi bạn bè lối cũ, nhưng của bố thí đầy vẻ khinh bạc làm sao nuôi được nhiều ngày! Một vài nhân tình ngày trước, khi mụ quay lại, có kẻ còn muốn khạc nhổ vào sự tàn phế của mụ. Nhưng cuộc chiến tranh Việt Pháp càng ngày càng bùng nổ mạnh, bọn Tây Lê Dương kéo sang càng đông, mụ lại kiếm được thị trường và từ sĩ quan trụt xuống binh lính, từ lớp da trắng chuyển sang da đen, mụ lại có rượu, có thuốc suốt trong mười năm dân tộc đổ máu, phơi xương để quét những nhân tình mụ về quê cha chúng. Khi tên Lê Dương cuối cùng về nước thì mụ gá nghĩa với lão Tư Cò, một gã ma cô ngày xưa dắt mối cho mụ. Lão Tư Cò về ở nơi đây là nhờ người chồng bà Bảy đã ủng hộ ngầm, để ông có chỗ lui tới hút xách cho tiện.

    Tất nhiên bà Bảy không ưa mụ Tư. Cái cảnh chồng bà mỗi bữa chui vào trong cái chòi nát tối tăm ở dưới bụi tre trước nhà để nằm hút với một con điếm già không gây nơi bà chút ghen tức nào, nhưng làm cho bà nhờm ghớm. Tha là nó nằm ở đâu khuất mắt. Nhưng đuổi mụ Tư ra khỏi cái xào huyệt ấy là chuyện khó lòng. Bà Bảy, dù có thừa sự hỗn ẩu vẫn không sao đối địch lại với một con điếm có nanh, có sừng. Mỗi lần bà Bảy muốn chửi xa gần vài câu cho hả cơn giận là mụ Tư Cò chui ra khỏi lều và phạch áo, vén quần, xông đến trước cửa nhà bà Bảy chửi lại bằng đủ danh từ tục tĩu nhất trần gian này và hỏi một cách sống sượng: “Tao có hiếp thằng chồng già mi đâu mà mi nổi ghen, hở con đĩ chó?” làm cho bà Bảy tức trào cả người, run lên bần bật, mặt xám miệng câm, không sao có thể mở môi để nói nửa lời. Tiếng “con đĩ chó” ném vào cuộc đời thủy chung đầy rẫy khổ đau của bà nặng nề hơn chiếc búa tạ giáng xuống ngọn lá cỏ non, và chỉ có sự chịu thua ở đây mới có ý nghĩa tồn tại của một thanh danh.

    Nhưng bà Bảy không phải là người có thể ẩn nhẫn nuốt nhục trước một người đàn bà khác, khi đó là kẻ bà coi dơ hơn dòi bọ. Nhờ sự buôn bán giao thiệp hay ngồi lê la trò chuyện đó đây, bà biết được một địch thủ lợi hại của mụ Tư Cò, đó là mụ Bích. Mụ này cùng chung tiền kiếp với mụ Tư Cò, biết gốc gác mụ và đã từng làm chủ chứa qua nhiều chế độ. Trong cuộc cạnh tranh nghề nghiệp, mụ Bích đã có nhiều lần sai bọn em út đánh đòn hội chợ mụ này, đã từng buộc mụ hạ xuống nước nhỏ lạy xin mụ Bích tha cho mạng sống. Tây về nước rồi, mụ Bích cũng lâm vào cảnh bơ vơ và không tiên liệu được nổi tình hình là Mỹ sẽ kéo qua đây nên mụ đã hối hả quơ gấp một người chăm sóc ngựa đua ở gần Phú Thọ để gởi nhờ cái xuân tàn, và để cho thằng Rờ Nê, con trai của mụ, có người cha hờ. Khi bà Bảy nghe tin mụ Bích xục xạo tìm chỗ đất rộng để cho Tám Béo, chồng mụ, mở mang chuồng ngựa, bà liền sốt sắng cho mụ dời về ở cạnh nhà mình. Mụ Bích hiển nhiên là một loại thần hộ mệnh cho bà và cái biện pháp “lấy độc trị độc” xem ra kết quả khá tốt. Vợ của Tư Cò như cúp đuôi trước uy thế mụ Bích. Mụ này tự biết mình cũng đã hết thời rồi nên không hống hách quá độ, cốt giữ cho cái uy thế tàn tạ khỏi bị sứt mẻ nhiều hơn.

    Một buổi sáng nọ, nhiều người còn trong giấc ngủ thì ở nhà mụ Tư Cò chiếc xích lô đạp cũ kỹ chở một bó chiếu từ từ tiến ra. Không phải là lão Tư Cò ngồi đạp mà mụ Tư Cò đẩy xe một cách chậm chạp, vụng về.

    Ông Sáu Lửa uống cà phê sớm trở về, mới bước vào ngõ thấy vậy kêu lên:

    - Chở cái gì đó ba Tư?

    Mụ Tư dừng lại, một tay chỉ vào bó chiếu, một tay quệt ngang đôi mắt, trả lời bằng giọng thiểu não:

    - Ông Tư nhà tôi đó mà.

    - Trời đất! Giả chết rồi sao?

    - Dạ…

    - Chết hồi nào vậy?

    - Đâu hồi khuya nay. Đang ngủ tôi nghe tiếng nấc. Tôi dậy, không có đèn lửa tôi quơ tay qua phía ổng thì thấy ổng lạnh ngắt rồi. Tôi lay một hồi, ổng không cụ cựa. Rờ tay lên mũi thì nghe im xò. Hết thở.

    - Giả đau cái gì?

    - Hôm kia đi xe mắc cưa, về nhà cứ ho sù sụ, tối rên hư hử, kêu lạnh, sáng dậy không nổi. Nhưng đến nửa buổi thì phải đạp xe.

    - Sao không biểu giả nằm nhà?

    - Có biểu, nhưng đâu có nghe. Lúc này ế lắm, đạp thấy mồ tổ mà chẳng có khách. Mấy lần định đi dinh điền nhưng tôi không chịu.

    - Thì bán cái gì ăn đỡ, chớ đã cảm mạo mà còn xông pha ngoài nắng thì bứt ngay liền, chịu sao cho nổi?

    - Còn gì mà bán được đâu. Ăn sạch, hút sạch cả rồi?

    - Bây giờ đem chôn ở đâu?

    - Bó sơ sơ lại, đem lên nghĩa địa xin gởi ở trên nhà xác cái đã.

    - Đâu được. Đừng có tưởng dễ. Ở Sài Gòn này sống không có tiền đã khó mà chết không tiền lại càng khó hơn. Mụ chở lôi thôi ngoài đường cảnh sát nắm cổ bỏ bót thì rầy rà lắm. Rồi lại khui xác lão ra, khám lên, khám xuống, còn tội cho lão thêm nữa.

    - Chớ biết làm sao? Chẳng lẽ để ông ta nằm thối trong nhà?

    - Đẩy lão trở về cho lão nằm đó một bữa nữa đi. Rồi báo cáo với liên gia, xong lên nghĩa địa Đô Thành xin đất thí trước. Đâu vô đó rồi, mới chôn cất được. Chết mà không có giấy tờ thì để thúi rục thành dòi chớ ai cho chôn.

    Mụ Tư đứng lên, thở dài. Hóa ra thằng chồng của mụ tới chết mà còn rắc rối. Bây giờ mụ mệt rã rời, mà chuyện giấy tờ thì mụ không quen.

    - Nhờ bác giúp hộ cho cháu. Cháu không biết liệu làm sao. Chẳng là ở đây cháu không có ai bà con, thân thích. Bây giờ thằng chồng của cháu nó không sống nữa, cháu nhờ…

    - Đ… mẹ, cũng mệt đó nghe. Để coi thử nào!

    Ông Sáu Lửa gãi sau ót, rồi nói về mình:

    - Mẹ cha, thất nghiệp đã lâu, nay cái thằng Cọt Ti Ni ở dưới Khánh Hội gọi xuống không lẽ lại không lo đi… Thôi, ừ, để đó.

    Rồi ông Sáu Lửa lôi mô bi lết cà tàng xành xạch chạy đi lo việc chôn cất Lão Cò.

    Cũng kể từ đó, mụ Tư lâm cảnh túng thiếu cùng cực. Có ngày không ăn được miếng cơm nào, mụ ngủ mê mệt trong chòi nhỏ, đôi lúc tỉnh dậy bò ra ngồi ở gốc me trước nhà bà Bảy, đầu ngoẹo một bên, mồm chảy dãi ra, cặp mắt nhắm nghiền. Thỉnh thoảng, một đôi dân hút chui rúc vào chòi với mụ, và mụ lại soạn bàn đèn dọc tẩu ra hầu hạ khách. Được bữa no nê, mụ lại tỉnh táo, phe phẩy đi ra ngoài đường, lượn một đôi vòng mới trở về nhà. Nhưng các khách ghiền dần dần xa mụ để tìm một địa điểm khác có lẽ vui hơn và ít tốn hơn. Mụ Cò mỗi ngày mỗi hốc hác thêm, da nổi sần sùi gớm ghiếc. Bây giờ mụ ngửa tay xin tất cả mọi người trong xóm và ai cũng muốn cho mụ một lần để có cái cớ về sau từ chối một cách quyết liệt.

    Nằm lì ba ngày không có hột cơm trong ruột, mụ Cò bỗng nhớ lão chồng của mụ khi hồi còn sống có nói về những bạn quen của lão bán máu ở dưới bệnh viện Đồn Đất. Một buổi sáng nọ, mụ gượng ngồi dậy thất thểu tìm xuống bệnh viện. Con đường không xa nhưng mụ đi gần nửa buổi mới đến, vì phải ngồi nghỉ ở các gốc cây ven bờ đại lộ.

    Dưới những cây me rợp bóng mụ thấy rải rác từng nhóm đôi ba người ngồi. Cũng có vài kẻ ngồi riêng một mình, ra chiều tư lự. Nhìn cái vẻ mặt khô rốc, áo quần xốc xếch của họ, mụ đoán họ là lớp người bán máu ở đây.

    Mụ sán lại một thiếu phụ xanh xao, gợi chuyện làm quen:

    - Này, chẳng là tôi cứ đau rề rề, tôi muốn xin vào nhà thương nằm có được không, hở chị?

    Thiếu phụ nhìn mụ Tư Cò như nhìn một thứ quái vật, rồi nói:

    - Răng lại không được? Cứ hễ có tiền là vô, chớ răng không được?

    - Nói chi có tiền. Tôi có cắc bạc nào đâu, nghèo chết đây mà.

    - Vậy thì tìm nhà thương thí, chớ vô chỗ ni sao lọt. Đây là chỗ cho nhà giàu chữa bệnh. Ở đây đâu có chữa cho những bọn không tiền.

    - Vậy hả? Tôi đâu có biết. Bây giờ khổ quá, thiệt đi hết nổi. Từ sáng đến giờ chưa có miếng nào trong bụng. Bà chị chờ ai đó vậy?

    - Chờ khách.

    - Ủa, buôn bán gì mà chờ khách?

    - Tôi có hơn chi chị mô. Tụi tui ở ngoài miền Trung bị bắt đưa vô mấy sở dinh điền trên Ban Mê Thuộc. Chồng con tui đều bị sốt rét rừng chết hết. Tui trốn mà đi xuống đây. Đói quá, có người bảo xuống tại đây bán máu. Chớ có vốn liếng chi đâu mà làm ăn chừ?

    - Bán được chuyến nào chưa chi?

    - Chưa, mới ngồi hôm qua bị cảnh sát đuổi chạy tới, chạy lui mấy lượt, chẳng thấy ai hỏi han đến. Đói xé ruột gan đây nè.

    - Chị có nghe nói giá cả sao không?

    - Cũng không nhứt định, vì còn tùy người. Nhưng có mấy chả ngồi ở đằng tê cũng chuyên bán máu để sống, các chả dặn là mỗi lít năm trăm. Đứa nào phá giá, các chả đâm liền.

    - Ôi, ai mà phá giá làm chi. Đồng nghiệp với nhau cả mà!

    Bỗng người thiếu phụ kêu lên:

    - Cảnh sát đó tề!

    Hai người cảnh sát cưỡi mô bi lết từ xa đi tới. Đến gần cổng của bệnh viện cả hai dừng lại, dựa xe nơi lề rồi xách dùi cui lăm lăm tiến tới chỗ mấy người ngồi. Thiếu phụ bảo mụ Tư Cò:

    - Đi xuống dưới tê. Không thì họ xúc đó bà!

    - Xúc thì xúc chớ. Xúc thì nuôi cơm, chớ sợ nỗi gì?

    - Thôi đi, đừng có nghĩ rứa mà lầm. Mấy chả bị xúc nói nó nhốt đói gần chết mới thả, chớ có cơm nước chi mô. Có thằng cha gì hôm kia nói có được ăn cơm dĩa một lần. Nhưng ăn xong rồi họ bắt trả tiền. Nó đâu có một cắc nào, bị đánh một trận quá chừng.

    Thiếu phụ đứng lên, rẽ xuống con đường chạy thẳng trước cổng bệnh viện. Mấy người cảnh sát tiến đến các nhóm tụ tập, đưa dùi cui lên dọa dẫm:

    - Ê, đi chỗ khác mau, cấm tụ tập trước bệnh viện.

    Một người đàn ông có râu lún phún trả lời:

    - Bọn tôi ngồi ở ngoài đàng chớ có tụ tập trước bệnh viện đâu?

    - Mày còn bướng hả? Đi ngay!

    Người kia đứng yên, hai tay chóng nạnh, vẻ mặt gườm gườm nhìn viên cảnh sát.

    - À! Thằng này chì ta. Được lắm.

    Vừa nói người cảnh sát quất một cây dùi cui vào lưng của gã. Gã hét:

    - Tại sao mà lại đánh tui?

    - Tao bảo mày đi mà còn cứng đầu là tao đánh đó.

    Vài người trong bọn của gã đi về hướng khác.

    - Thôi mà, ở đó lý sự làm chi cho khổ.

    - Cái đời dân chủ mà sao ngang ngược quá ta. Chẳng coi nhân vị vào đâu hết cả.

    - Lạy ông nội đi. Còn khuya mới có dân chủ. Lại còn nhân vị, nhân vẹo. Tránh đi cho rồi, không lại khốn đốn bây giờ.

    - Nhưng mình ngồi đây chớ mình có làm chi đâu.

    - Biếy vậy, nhưng họ đã không cho ngồi thì mình hãy đi. Lát nữa, họ không còn đứng ở đây thì mình lại đến, mất gì. Chỉ tại ba thằng viết báo làm hại tụi mình. Nó làm phóng sự điều tra chi đó, ở trên các chả hay ra nên bắt dẹp đuổi bọn mình.

    Một người góp thêm:

    - Cái bọn ký giả nhiều khi chúng bất nhân lắm.

    - Đi mày!

    Mấy người bạn gã kéo gã về hướng mà người thiếu phụ đã đi. Mụ Tư thừa lúc đôi bên sừng sộ đến ngồi sau một gốc me đủ lớn để che khuất mụ. Mụ đã đói lả, không còn hơi sức xê dịch nơi khác.

    Mụ nghe một người cảnh sát hằn giọng:

    - Đ… mẹ, mấy cái thằng này! Coi bộ ba đá lắm nghen.

    Người kia lên tiếng:

    - Được rồi. Mình xuống kia uống cà phê rồi quần trở lại. Hễ thấy tụi nó còn lảng vảng đây là cứ cho xe cây đến, xúc mẹ nó đi cho xong.

    Tiếng xe hai người xa dần. Mụ Tư ló đầu ra xem. Con đường trở nên vắng vẻ hơn. Một vài người bán hàng rong chậm chạp đi qua. Chỗ xe nước mía gần đấy có mấy nữ sinh mặc đầm từ trong thư viện của Văn hóa Pháp bước ra ghé lại. Đôi chiếc xe nhà lặng lẽ quanh vào cổng chính bệnh viện. Lá me lất phất theo cơn gió thổi rụng đầy mặt đường.

    Mụ Tư chống vào gốc me ngồi dậy. Bây giờ chỉ còn có mụ độc quyền bán máu ở đây. Ít nhất cũng được mười phút hay nửa giờ. Mụ phải cấp tốc tranh thủ khách hàng. Nếu để chậm trễ, chỉ lát nữa thôi là mụ không sao giật mối cho lại đám người ban nãy.

    Mụ lọm khọm đến sát cửa bệnh viện, dáo dác nhìn quanh. Chẳng thấy ai ra vẻ cần đến mụ. Bỗng một tắc xi chạy đến. Lại một con bệnh đi vào nhà thương.

    Nhưng xe ngừng lại gần mụ. Một người đàn ông gầy gò vào trạc bốn mươi bước ra, và một người nữa trẻ hơn, gầy gò không kém, ra theo. Chiếc xe chạy đi, cả hai đứng trên lề đường hút thuốc.

    Người lớn tuổi hơn quay sang người kia:

    - Thôi, anh cứ tìm mua, nửa lít càng tốt. Tôi thì… thôi vậy.

    Người trẻ tuổi hơn đáp lại:

    - Việc gì anh ngại. Tôi có đủ tiền đây mà.

    - Không phải về chuyện tiền nong. Tôi có nói chuyện với anh hồi nãy rồi đó. Chỉ vì…

    - Mình có uống máu đồng bào đâu mà anh sợ. Mình cũng không ép buộc họ lấy máu, hay cắt cổ họ. Mình mua đàng hoàng. Họ giúp cho mình mà mình cũng giúp cho họ. Nếu không thì họ cũng phải tìm bán cho một kẻ khác.

    - Thà là họ bán cho những kẻ khác. Nhưng dù mua bán sòng phẳng chăng nữa mà lấy máu người khốn khổ cho vào cơ thể của mình, coi nó bất nhẫn làm sao.

    - Vậy cứ để họ và mình cùng chết mà chẳng ích gì cho ai được cả. Có lẽ anh cố chấp quá.

    Người lớn tuổi hơn nín lặng, không trả lời lại.

    Người kia bước tới ít bước, ra dáng tìm tòi:

    - Lạ quá, mấy hôm người ta ngồi đông lắm mà. Sao hôm nay vắng vẻ thế?

    Mụ Tư ra khỏi gốc cây, tiến tới:

    - Thưa ông…

    - Bà hỏi cái gì?

    - Tôi bán máu.

    - Trời ơi, gầy nhom như bà…

    - Tôi gầy vậy chớ dư máu nhiều. Chính ông bác sĩ bảo thế.

    - Thật à?

    - Tôi không dối đâu. Tôi cần bán lắm. Nếu không bán được thì tôi sẽ chết.

    Người đàn ông trẻ nhìn mụ Tư Cò với chút thương hại pha lẫn nhờm gớm. Rồi quay về phía người lớn tuổi hơn:

    - Anh nghĩ thế nào?

    - Anh cứ mua đi. Tôi sẽ chạy chữa cách khác.

    Người kia quay về phía người đàn bà đang lấm lét nhìn về các ngả đường, sợ lớp đồng nghiệp kéo lại đoạt mất mối hàng.

    - Tôi ngại là bà ít máu quá đi.

    - Trời! Tôi cam đoan mà. Muốn mua bao nhiêu cũng được, đừng ngại.

    - Tôi chỉ cần độ nửa lít mà thôi.

    - Vậy thì dư xài, khỏi lo. Một lít tôi cũng có đủ, nói gì nửa lít.

    - Bà tính bao nhiêu?

    - Thầy cho ba trăm. Thầy coi, ba trăm chưa ăn được một tuần lễ. Có nhiều nhặn gì đâu thầy?

    - Ừ, thì ba trăm.

    - Thầy bao luôn xe nghe thầy?

    - Tôi đưa bà lên Chợ Rẫy, nhưng chuyến về thì tùy bà.

    - Được rồi. Thầy kêu tắc xi kia kìa. Ê! Tắc xi!

    Chiếc xe dừng lại. Người đàn bà lên phía trước, hai người đàn ông phía sau:

    - Cho chúng tôi lên Chợ Rẫy.

    Chiếc xe khởi chạy, đến ngã tư Hồng Thập Tự và Công Lý, người lớn tuổi nói:

    - Cho tôi xuống đây.

    Xe dừng lại.

    - Thôi anh đi nhé. Tôi xin về trước.

    Hai người bắt tay rồi xe lại chạy. Mụ Tư thấy đói và mệt. Gần tới Chợ Lớn thì mụ đã ngủ thiếp rồi, ngả người ra cái băng xe, đầu ngoẹo một bên.

    - Xuống đi bà ơi!

    Người tài xế gọi làm mụ giật mình, xô cửa bước ra. Người đàn ông chờ bên đường.

    Cả hai đi vào trong cổng, theo một lối rộng ở giữa, thẳng vào bên trong bệnh viện. Bóng cây che rợp, mát mẻ, mụ Tư nhớ lại một thời xa xưa mụ đã có lần đi dạo như thế với gã tình nhân khi mụ dưỡng bệnh ở đây.

    Theo bảng chỉ dẫn, hai người rẽ vào tay mặt, đến một dãy nhà hơi thấp nằm ở cuối khu. Người đàn ông bảo mụ Tư đứng ở ngoài, rồi gã xô tấm cửa ngăn vào trong.

    Một lát, mụ Tư được gã gọi vào.

    Ở ngay giữa phòng có chiếc bàn nhỏ, một người có tuổi mặc bờ lu trắng, đầu chụp mũ vải màu trắng đang gồi sục sạo trong đống ống chích. Sau lưng người này có một cái kệ sắp đầy những lọ màu đỏ chắc là chứa các loại máu. Bên trái và bên phải là những tủ lớn đóng kín không biết chứa chấp những gì. Một mùi nồng nồng, hăng hắc bốc tỏa đây đó khiến mụ Tư Cò nhớ các vết thương, các mụt ghẻ lở. Bỗng mụ cảm thấy lợm giọng, buồn nôn. Từ sáng, mụ chưa có một chút gì bỏ bụng.

    Nhưng vừa lúc ấy, cửa phòng sịch mở. Một người đàn bà béo tròn, son phấn lòe loẹt dìu một đàn ông to bự, ăn mặc sang trọng, ì à, ì ạch đi vào. Sau lưng có một cô gái khá xinh, mặc đầm, đưa cánh tay ra đỡ hờ người đàn ông này đang thở mệt nhọc.

    Người mặc bờ lu ngừng tay sục sạo ống chích, ngước lên cung kính:

    - Chào cụ.

    - Không dám, chào ông, nhà tôi lại mệt quá rồi.

    Người mặc bờ lu hối hả kéo ghế:

    - Xin mời cụ ngồi. Ấy, để cụ dựa vào ghế này. Mời cụ bà và cô ngồi.

    Ông ta kéo ghế sột sột, mấy lần tưởng xô ngã mụ Tư Cò để có chỗ rộng đặt ghế cho ba người kia.

    - Lại tăng huyết áp cao độ. Cụ mệt là phải. Để tôi sẽ lấy bớt ra. Tôi lấy bây giờ.

    Người đàn ông to mập với hai mà sệ, cổ bạnh, bụng lớn tay chân béo ụ đang thở phì phì. Da thịt ông ta đỏ tươi, tưởng chỉ bấm nhẹ là máu sẽ vọt ra ngay. Tất cả nơi người đàn ông là sự no nứt, là sự dồn tụ tất cả những gì màu mỡ béo tốt.

    Người đàn bà son phấn hẳn là vợ ông ta, nói bằng một giọng kéo dài:

    - Ông xem, mới có năm ngày thôi đấy. Mấy lúc phải là nửa tháng hay cũng mười ngày.

    Người mặc bờ lu vội vã tiếp lời:

    - Dạ vâng, chuyến này áp huyết tăng mau chắc là cụ nhà dùng nhiều đồ bổ dưỡng quá. Tôi đã thưa với cụ bà…

    - Ồ, ông ấy đã bớt cả thịt lẫn rượu kia đấy. Ông liệu cho lấy máu đi, kẻo nhà tôi mệt.

    - Vâng, vâng, kể ra cụ ông làm ơn cho nhiều người lắm, không có những người như là cụ đây làm sao mà có đủ máu cung cấp cho biết bao nhiêu người bệnh. Mỗi tháng, riêng mỗi mình cụ đã cho bệnh viện trên ba lít máu. Kể ra, đó cũng là một hy sinh.

    Rồi quay lại phía mụ Tư và người đàn ông đã đưa mụ đến:

    - Các người ra ngoài chợ một lát nghe. Việc của cụ đây gấp lắm, không thể trì hoãn.

    Người đàn ông lặng lẽ đi ra phía cửa, vẻ mặt lầm lì cố nén một sự khó chịu. Mụ Tư cũng bước theo sau. Ra ngoài, mụ nghe dễ thở hơn nhiều nhưng quá mệt mỏi vì cơn đói dài khiến mụ ngồi quỵ xuống dưới mặt thềm.

    Một lát khá lâu, cánh cửa sịch mở, người đàn bà và cô gái dìu người đàn ông to béo ra chiếc xe hơi Huê Kỳ đậu sát mé hiên. Cả ba lên xe một cách nặng nhọc. Cánh cửa đóng lại và người tài xế chực sẵn nổ máy cho lướt đi trên con đường đá cuội mát mẻ.

    Mụ Tư ngước mắt nhìn theo cho đến khi chiếc xe kia mất hút sau mấy dãy nhà. Nhưng người đàn ông đã vẫy bàn tay ngoắt mụ rồi đẩy cửa bước vào trong.

    Người nhân viên bây giờ mới nhìn mụ Tư, có vẻ bây giờ mới thấy rõ mụ:

    - Ốm quá, làm gì có máu.

    Mụ Tư nài nỉ:

    - Tôi chỉ bán có nửa lít thôi mà.

    - Đâu được. May lắm là bà cho lấy độ phần tư lít.

    - Ông cứ rút thêm. Tôi chịu được mà.

    - Chúng tôi biết việc mà chúng tôi làm. Bà đừng có cãi.

    Mụ quay sang người đàn ông để dò xem ý của gã:

    - Thầy tính làm sao?

    Gã đáp:

    - Thì được bao nhiêu cũng tốt. Chờ sốt ruột quá.

    Mụ chìa tay về phía người nhân viên:

    - Thôi thì ông cứ lấy đi.

    Người nhân viên hất làm ra dấu cho mụ săn tay áo lên, vẻ mặt anh ta có vẻ nhờm gớm về những cáu ghét đóng đen trên lớp vải đã cũ nhàu. Bàn tay run rẩy, lật bật, mụ lôi ngược tay áo lên một cách chậm chạp.

    - Mau lên.

    Người nhân viên giục, lộ vẻ sốt ruột.

    Mụ Tư chìa cái cánh tay khẳng khiu, lớp da mốc cợi lộ rõ những đường gân xanh. Rồi mụ quay đầu nhìn về nơi khác để khỏi trông thấy mũi kim đâm vào. Khi nghe đau nhói, mụ cau mặt lại, rồi nhắm đôi mắt tưởng như tất cả sự sống ở trong người mụ cuồn cuộn thoát ra từng luồng.

    Mồ hôi của mụ chảy giọt xuống từ hai bên thái dương. Mụ nghe như người teo lại, nhẹ đi, tim đập liên hồi, không biết bao lâu nhưng mụ cảm thấy dài dặc, nặng nề, bứt rứt khó chịu.

    Tiếng người nhân viên:

    - Xong rồi.

    Mụ quay đầu lại nặng nhọc, đưa mắt lờ mờ nhìn cái bình máu đang được người nhân viên cầm đưa lên.

    Người nầy nói:

    - Một phần tư lít. Độ một xị thôi.

    Mụ nói bằng giọng yếu ớt:

    - Ông lấy ở tay bên kia thêm một xị nữa. Tôi muốn bán chừng nửa lít.

    Người nhân viên cười:

    - Tay nào cũng là máu của bà cả, cũng lấy từ trong người bà. Lấy nhiều, chịu không nổi đâu.

    Người đàn ông đưa mụ tới, lộ vẻ phàn nàn:

    - Chà, ít quá! Ông có thể nhường cho tôi nhiều hơn cái số ấy không?

    Người nhân viên lắc đầu:

    - Nhường cách nào được? Số máu dự trữ ở đây bắt đầu khan hiếm. Người ta đã đánh đá nhau dữ dội khắp các miền quê, máu không đủ cung ứng cho bệnh viện. Ông hãy bằng lòng bấy nhiêu. Rồi sau sẽ tìm người khác mua thêm.

    Người nhân viên lật cái toa của người ấy ra xem, tiến lại chiếc tủ, mở lấy một chai máu nhỏ đưa ra.

    - Đây, phần máu của ông. Loại A.

    - Xin cám ơn.

    - Ông để cho tôi làm các giấy tờ.

    Người nhân viên ngồi bàn hí hoáy ghi vào một đống sổ sách và trên nhiều mảnh giấy rời. Đoạn trao cho người đàn ông:

    - Xong rồi, ông có thể về.

    Mụ Tư vịn ghế đứng lên, cúi lượm chiếc nón đặt ở góc phòng, lặng lẽ theo người đàn ông ra ngoài. Mụ thấy mệt mỏi choáng váng, và bỗng căm giận người nhân viên nọ nên không muốn chào.

    Ra ngoài, người đàn ông kia dừng lại, đặt cái bình máu xuống thềm và móc ví ra:

    - Tưởng là nhiều nhặn, nào dè ít quá, thật là mất công. Đây, tôi trả tiền. Bao nhiêu vậy hả?

    - Ông cứ tính đi.

    - Chỉ có một xị, vậy là một trăm.

    - Một lít sáu trăm kia mà.

    - Năm trăm là hết giá rồi. Vậy một phần tư là một trăm hai mươi lăm đồng. Tôi trả tiền. Tôi trả thêm năm đồng nữa cho bà đi xe.

    Mụ không trả lời, uể oải ngồi xuống bậc thềm, lưng dựa vào cây trụ vôi, cảm thấy buồn ngủ. Người đàn ông chìa tiền trước mặt mụ. Một lát mụ mới nhìn thấy. Cái gì cũng trông cũng lờ mờ không có góc cạnh gì hết.

    Mụ đưa tay cầm số bạc, nắm lại thật chặt và khi mụ chống hai tay vào cây trụ vôi đứng dậy trên hai đầu gối run run thì người đàn ông đã cầm chai máu đi khá xa rồi.

    Mụ Tư Cờ nhét tiền vào túi, cẩn thật đậy lên trên một lớp khăn, rồi mới lê bước ra ngõ. Tới đường nhìn lớp người qua kẻ lại, xe cộ nhộn nhịp, mụ thấy bớt được mệt mỏi. Nghĩ mình đã có tiền trăm trong túi, mụ cũng vui vui.

    Mụ đi lại trạm xe buýt, đứng chờ. Bây giờ ruột đói cồn cào, chịu đã hết nổi. Phải ăn cái gì cho khỏe rồi mới về nhà. Mụ Tư toan lê bước vào một quán hủ tiếu ở ngã ba đường nhưng lại cảm thấy xây xẩm phải vịn vào một cột đèn gần đấy. Tiếng ồn mỗi lúc một tăng báo hiệu chiếc xe đã dừng chỗ trạm. Mụ cố mở mắt nhưng mở không nổi. Trong nỗi mệt mỏi mụ bỗng hốt hoảng ngỡ mình hóa đui mù. Nhưng chính là sự tê liệt do đói, do mệt, do sự căng thẳng vừa qua gây nên. Mãi một lúc sau mụ mới hé được đôi mắt. Người ta chập chờn lên xuống, tiếng nói tiếng cười ồn ào. Mụ lết về phía tiếng động, miệng kêu:

    - Cho đi… cho tôi đi với.

    Mụ nghe có người nắm mạnh cánh tay của mụ kéo lên. Rồi mụ bị đẩy vào một đám đông gồm đủ loại người đang chen chúc đứng, bấu tay lên các thanh sắt chạy ngang trên đầu. Tiếng xúp lê thổi. Xe rồ máy chạy. Những cái thân người va đập vào nhau. Một đôi tiếng hét, một vài tiếng cười. Rồi tiếng khàn khàn của người bán vé vang lên.

    Hơi người nồng nặc càng làm mụ Tư xây xẩm. Một lát, mụ nhớ là tiền của mụ đang ở trong cái túi áo bà ba. Ở trên xe buýt không thiếu những bọn móc túi. Hoảng hốt, mụ Tư đưa bàn tay xuống sờ nắn túi áo. Mấy tờ giấy bạc cuộn lại còn nằm nguyên đấy, ép sát dưới lớp mù xoa chôn kỹ bên trên. Một chút vui mừng thoáng dậy trong đầu. Mụ giữ nguyên cái bàn tay bóp chặt mấy tờ giấy bạc, cảm thấy vững tâm hơn bao giờ hết. Mụ có thể sống cả tuần với số tiền này rồi tìm kế khác để xoay xở nữa.

    - Tới rồi! Chợ Sài Gòn đây bà con!

    Người bán vé chỏi miệng la trong lúc xe từ từ vòng bùng binh và đỗ hẳn lại. Người ta ùn nhau, lục đục bước xuống.

    Mụ Tư bị lớp người ở phía sau xô đẩy và mụ cố gượng lại rất khó nhọc để khỏi ngã nhào về trước. Nhiều lần mụ chửi:

    - Quỷ hà! Làm gì mà cứ thúc đại vào mông con người ta thế.

    Nhưng mụ bỗng nhớ là mụ đã già, đã cằn cỗi rồi, và quá xơ xác tiêu điều như một bóng ma giữa cái sinh hoạt luôn luôn cuồng nhiệt của Sài Gòn này.

    Xuống được dưới đất mụ phải ngừng lại để thở, rồi lết lại nơi nhà trạm ngồi nghỉ, chờ đợi chuyến xe Hòa Hưng mới về tới bến.

    Lại cái quang cảnh nhả vội người ra, nuốt vội người vào. Mặt trời đãlên đỉnh đầu, ánh nắng chói chang, không khí hừng hực sức lửa trong cái toa xe như một lồng nhốt chật hẹp phơi giữa nắng trưa.

    - Chạy thôi bác tài!

    - Trời nóng thấy mồ, chạy đi.

    - Đông nghẹt rồi mà. Chờ cái gì nữa!

    Người tài xế xếp một cánh tay trên vô lăng, một tay cầm cái mũ kết quạt quạt, mong kiếm một chút hơi mát bé nhỏ phất lên da mặt. Nhưng ông ta cũng mệt mỏi, đờ đẫn, không buồn trả lời mọi người.

    Cuối cùng xe cũng chuyển bánh. Mụ tư đã lên tìm được chỗ ngồi, bây giờ có thể dựa ngửa ra sau, cặp mắt lim dim nghe sự di chuyển đưa đẩy mình về một cõi lơ mơ, chập chờn. Không biết bao lâu, mụ đã ngủ thiếp, rồi lạc vào trong thế giới đầy những ma quái và những xô xát kinh hoàng.

    - Hòa Hưng!

    Tiếng người bán vé hét lên:

    - Tới Hòa Hưng rồi, bà con. Hòa Hưng đây…!

    Mụ Tư choàng mắt với nỗi nặng nhọc như cũ. Khi tỉnh người lại người ta xuống xe đã hết. Đây là trạm cuối, người ta sắp sửa quay đầu.

    Người lơ la lên:

    - Xuống đi chớ bà!

    Mụ Tư càu nhàu:

    - Chớ ai thèm ở lại đây làm gì.

    Mụ đưa tay nắn lại tiền, yên tâm là nó vẫn còn. Mụ lại lạch bạch đi về ngã rẽ con đường vô xóm. Sự mệt làm cho cơn đói êm đi nhưng nó biến thành một nỗi rã rời khắp cả châu thân. Mấy lần mụ muốn tạt vào một tiệm hủ tiếu hoặc một tiệm cơm nhưng dằn lòng được. Đã về tới đây, tội gì mà chui vào đó. Rán một chút nữa tới quán Hai Xỏn hãy ăn. Ăn ở đầu ngõ có lợi: cho bà con ở lối xóm biết mình có tiền. Sau đó thanh toán sòng phẳng với lão Hai Xỏn là cái cơ hội để có thể ăn chịu được về sau vào lúc thiếu hụt.

    Mụ Tư tới quán Hai Xỏn thì hai đầu gối gần rụng. Nhìn quanh mụ lấy làm tiếc vì lúc xế trưa, quán chẳng có người, chỉ có mỗi mình chủ quán đang ngồi ngủ gục trên cái ghế gỗ. Nếu có người ta ra vào tấp nập, mụ Tư ăn uống sẽ ngon hơn nhiều.

    - Cho tô hủ tiếu, ông Hai.

    Hai Xỏn mở to cặp mắt, nhưng vừa thấy mụ lại sụp mí xuống.

    - Cho lẹ lên đi, đói bụng quá rồi.

    Hai xỏn lại mở mắt nhìn lần nữa, giọng mụ Cò nghe hách quá. Ở Sài Gòn này khi đã đổi giọng là tất có chuyện. Cái mụ đói rách, ăn chịu, ăn thiếu lâu nay bây giờ hẳn đã có tiền rồi chắc? Nhưng mụ làm gì mà có tiền được? Nhan sắc không còn, làm đĩ ai thèm? Sức khỏe không có, ăn trộm đâu nổi? Vậy mụ có tiền thật không? Đó là chuyện đáng dè dặt.

    Mụ Tư Cò chừng hiểu ý:

    - Có tiền đây mà, không ai thèm ăn chịu đâu.

    Nói xong mụ vỗ bạch bạch lên cái túi tiền của mụ. Ông Hai Xỏn vẫn nghi ngờ. Biết đâu là giấy nhật trình chứ tiền bạc gì.

    Mụ Cò lôi cái khăn ra một cách thận trọng và kéo từng tờ giấy bạc vuốt lại thẳng thắn trên cái đùi vế gầy lép. Đó là một cách trả lời gián tiếp mối ngờ vực của Hai Xỏn. Mụ ủi giấy bạc bằng da tay khá chậm chạp và làm cho ông chủ quán không sao biết được là mụ hiện có bao nhiêu, nhưng nhất định phải có nhiều. Hai Xỏn ngạc nhiên:

    - Giàu có dữ ta!

    - Xì! Giàu gì mà giàu. Có mấy trăm bạc mà đủ thiếu gì.

    - Nhét đầy hai túi mà có trăm!

    - Giấy lộn trong đó, ông ơi!

    - Giấy lộn đó liệng ra khối người lượm.

    - Nè, cho người ta ăn đi chớ cứ đứng đó nói hoài, kỳ hông?

    Hai Xỏn đứng dậy, kéo dép lệt bệt lại chỗ bếp lửa. Ông ta quơ cái vá lớn hốt bánh bỏ vào rồi thọc xuống thùng nước sôi để nhúng cho mềm. Mụ Cò đã cất hết tiền vô túi, ngồi nhìn chăm chăm các động tác của ông Xỏn mà mụ cảm thấy lâu lắc quá chừng.

    - Ông nội này làm hủ tiếu còn châm hơn rùa.

    Hai Xỏn nhăn răng coi bộ như cười nhưng không thành tiếng.

    - Đó, ăn đi.

    Ông ta đặt mạnh cái tô xuống trước mặt mụ Cò, rồi gác ngang lên đôi đũa đã được nhúng vào nước sôi trước đó.

    Mụ Tư như con mèo đói vồ mồi, chợp tô hủ tiếu kéo sát vào mình rồi cúi đầu xuống ngoáy đũa lia lịa lùa vào trong cái cổ họng mở rộng. Vừa thổi sì sụp vừu húp, vừa nhai lỏng chỏng, vừa nuốt ừng ực, mụ đẩy một hơi hết liền nửa tô. Mụ ngẩng đầu lên, trán ửng mồ hôi, nước mắt giàn dụa vì miếng ớt cay, đưa cái cánh tay dơ hầy quệt ngang dưới mũi vừa hít nước mũi rồn rột, mụ nói:

    - Cho một xị đế, ông Hai. Rồi làm tiếp một tô nữa.

    - Được rồi. Bữa nay tụi em tui ở Cần Giuộc có đem lên loại đế này, uống đã hết sức. Lâu lâu, say một bữa cho tới chữ.

    Mụ Cò lại cúi xuống bát hủ tiếu. Nước mắt nước mũi lại túa dài ra. Đũa mụ ngoáy lia ngoáy lịa mấy vòng, tô hủ tiếu đã sạch quẹt chỉ còn lỏng bỏng một ít nước cặn. Mụ bỏ đũa xuống mặt bàn, bưng cái tô lên húp một tiếng sột rất mau, không hiểu là tiếng húp nước hủ tiếu hay húp nước mũi.

    - Nhậu lần, rồi tôi làm tiếp.

    Mụ Tư Cò đổ ồng ộc ra ly rồi đưa lên nốc. Cơ thể cuả mụ như một khoảng trống đang cần thu hút tất cả những gì có thể thu vào. Cái đói thật cồn cào, cái khát cũng quá vồ vập, tưởng như ăn vào bao nhiêu cũng không sao thỏa mãn được.

    Bây giờ mụ uống đến ly thứ ba. Phải say một bữa cho không thấy trời đất nữa rồi về ngủ cho đã đời đến tận sáng mai. Từ trước đến nay mụ vẫn nhậu rượu nhưng uống rất ít, mỗi lần cao hứng làm hai phần ly, hoặc đến nửa ly là cùng. Uống xong ba ly mụ thấy choáng váng. Xị đế còn chừng một ly nữa là cạn sạch. Tô hủ tiếu đã làm xong. Hai Xỏn bưng lại, đặt trước mặt mụ và nói:

    - Coi bộ nước nhậu bà Tư cũng tươi quá mà.

    Mụ không trả lời, cúi xuống ngoáy đũa.

    - Chà! Ăn nhậu ngon lành quá ta!

    Hai Xỏn ngó ra thấy thằng Rờ Nê đứng dán ngoài cửa ngó vào. Thằng Nê -người ta quen bỏ bớt cái chữ Rờ- con của mụ Bích bây giờ đã lớn, nhiều lần Tám Béo muốn cho nó nghỉ nghề nài(1). Mụ Cò ngẩng lên, thấy nó lờ mờ qua cặp mắt đã đỏ ngầu vì rượu. Mụ vừa nhồm nhoàm nhai ngốn vừa hỏi:

    - Nê đó hả mậy?

    - Ừ, tui đây bà Tư. Coi cái mặt bà đỏ khiếp.

    - Mới… uống có mấy… ly nhỏ… Uống rượu không mày?

    - Thôi đi, đừng có xúi dại. Ai mà biết rượu chè đâu.

    - Mày hiền quá mà!

    Mụ nhai ngấu nghiến. Hai Xỏn vừa đốt điếu thuốc vừa hỏi:

    - Ăn thêm nữa không?

    Mụ đáp không ngẩng đầu lên:

    - Cho một tô nữa.

    Thằng Nê nhăn hàm răng cười:

    - Ăn mấy tô rồi bà Tư?

    - Mới có hai mà.

    - Nhiều tiền dữ ta!

    Hai Xỏn nói vào:

    - Chà, hôm nay thì bà “cổ tại”(1).

    Thằng Nê nheo mắt:

    - Nhiều không?

    - Hai Xỏn chỉ tay vào túi, gật gật đáp lại:

    - Nhiều mà.

    Mụ Tư đã ăn xong tô hủ tiếu thứ ba, thấy trong người bớt trống rỗng và nghe bị đốt rần lên bởi cái chất rượu hăng nóng lạ thường. Mụ rót phần rượu còn lại ra ly nhắm mắt nốc cạn. Đầu mụ choáng váng, mụ tưởng mình đang quay như chong chóng.

    - Bao nhiêu…?

    Mụ líu cả lưỡi và hỏi như đang mê ngủ.

    - Ba tô hủ tíu là mười lăm đồng. Xị đế năm đồng là hai chục.

    Mụ lật đật giở chiếc khăn, lôi mấy tờ giấy bạc. Có ba chục lẻ, đi xe hai chặng mất ba đồng rồi, vậy còn hai mươi bảy đồng cả thảy. Trả đi hai chục còn đúng một trăm lẻ bảy.

    - Cho bảy đồng thuốc bao xanh.

    Mụ lôi tất cả số lẻ đặt hết lên bàn. Như vậy còn chẵn một trăm. Mụ hơi lo lắng về sự tiêu pha quá trớn của mình. Một trăm sẽ bảo đảm mụ sống được mấy ngày trong khoảng đồng tiền khan hiếm, sinh hoạt trở nên quá khó khăn?

    Mụ Cò loạng choạng đứng dậy, đưa tay run run vịn vào chiếc bàn gần đấy, bước ra phía cửa. Cặp mắt của mụ nhìn thấy mọi vật chập chờn. Bây giờ như có ba, bốn thằng Nê đang đứng trước mặt.

    - Tổ sư mày, Nê… Để cho bà đi.

    Tiếng thằng Nê nghe xa vời:

    - Ơ hay, bà chửi ai đó? Đường bà, bà đi, đứa nào cản trở bà đâu.

    - Tao nói… tao nói… Tiên sư cha chúng…

    Mặt mụ đỏ như mặt trời mọc. Cặp mắt mụ mở trợn trừng, môi mụ lắp bắp run run, lưỡi mụ líu lại.

    Trời vẫn còn trưa, nắng gắt, không một tí gió. Oi nồng bao phủ khắp nơi. Mụ Cò loạng choạng bước ra ngoài đường, tưởng như mình đi giữa một lò lửa. Hơi nóng của rượu trong người xông lên hừng hực.

    - Tiên sư cha chúng… cứ tưởng là bà không tiền…

    Mụ lại chửi rủa líu tíu trong họng, loạng choạng bước tới nghe như có tiếng người ở đâu đó xì xồ.

    - Tiên sư cha chúng…

    Rồi Mụ vấp vào cục đá, nhào tới, hai tay quơ đùa không khí rối loạn, cái thân xác mụ nằm lăn kềnh trên mặt đường. Trong cơn lơ mơ mụ nghe có tiếng chân bước rón rén, tiếng người thì thầm quanh quẩn. Rồi mụ chìm trong cơn mê. Mụ thở nặng nề, miệng nói lảm nhảm.

    Không biết mụ nằm bao lâu rồi lại lơ mơ tỉnh giấc, ngơ ngác nhìn quanh. Đầu óc vần vù nhức nhối, hai vai ê ẩm, cả người mệt mỏi, mồ hôi ướt đẫm, mụ hé mắt ra đã vội nhắm lại. Ánh sáng chói chang dổ xuống từng luồng.

    Mụ cố chống tay khó nhọc, ngồi dậy. Từ ruột nghe quặn từng cơn, cổ họng buồn nôn. Mụ toan đứng lên nhưng phải ngồi xuống ôm ngục mửa thốc ra cả mặt đường. Hủ tiếu và rượu quện lại trong chất nước vàng sền sệt.

    Mụ ngồi ọe mửa một lát mới thấy tỉnh táo phần nào, nhưng ruột quặn thắt và ngực tức ran.

    Nhìn đống đồ ăn vãi ra ngoài đất, mụ tiếc quá chừng. Ba tô hủ tiếu mửa sạch, một xị đế cũng tiêu luôn. Cơn đói dai dẳng không dung nạp kịp một lần bao nhiêu món đồ khó chịu dồn vào trong cái dạ dày yếu đuối.

    Bây giờ thì phải cố gắng lết về. Mụ gượng chống tay, đứng dậy, thấy cái khăn tay thòi lòi ở ngoài túi áo. Chợt tỉnh, mụ kéo vội nó ra ngoài thọc mấy ngón tay run rẩy vào trong. Không có gì hết.

    Trời ơi, mụ Cò giũ mạnh chiếc khăn, trợn mắt dớn dác nhìn quanh. Mặt đất khô cằn, đây đó điểm những lá khô, bã mía, tàn thuốc, những que tre nhỏ để ghim các miếng cà rem.

    Không có một tờ bạc nào, không có gì hết. Mụ lùa cả hai bàn tay vào hai túi áo trống rỗng, sục sạo một cách tuệt vọng, rồi rờ rẫm khắp cả mình mẩy tưởng như còn sót đâu có một chỗ chưa mò tìm tới.

    Rồi Mụ ngẩn người, cặp mắt đờ đẫn nhìn chung quanh. Đoạn mụ đứng im, không thấy gì nữa. Và mụ òa lên, khóc rống như một đứa bé bị đòn oan ức.

    Mụ Còn khóc lớn một hồi rồi bắt đầu chửi.

    Tiếng chửi của mụ nhập nhèm nước mắt nhòe ra, đôi lúc nghe như giọng cười cố ý ở trong tuồng tích nào. Vài người trong xóm ló đầu ra nhìn. Thấy mụ, ai nấy thất vọng thụt vào. Mụ Cò chửi bới, khóc lóc, màn ấy chẳng có gì là đặc sắc.

    Một người đi đường đứng lại, ngắm nghía một lúc, rồi như ghê tởm cảnh ấy, vội đi rất mau. Một người đàn ông cút kít đạp chiếc xe qua:

    - Ê, cái gì mà khóc lóc vậy?

    Mụ hãm bớt tiếng hu hu, ngước nhìn người kia, trả lời:

    - Nó lấy sạch tiền tôi rồi.

    - Mất hết bao nhiêu?

    - Chỉ có một trăm rưởi thôi.

    Mụ đã kịp thời thêm vào năm chục để cho món tiền lớn hẳn, như thế mới xứng với sự khóc lóc, chửi bới giữa đường dưới nắng. Biết đâu người ta lại không cảm động cho mụ cái số lẻ kia thì cũng đỡ thiệt phần nào.

    - Một trăm rưởi à?

    Người đàn ông bỗng gằn giọng hỏi lại.

    - Dạ…

    Tiếng dạ của mụ thật làbi thảm.

    - Khéo vẽ chuyện lắm. Làm gì mà mất đến một trăm rưởi. Tiền đâu nhiều thế?

    Rồi ông ta cút kít dạp xe đi vội, ra vẻ bực tức như mình bị lừa.

    Mụ Cò đã dứt tiếng khóc, loạng choạng lê bước về nhà.

    Ngủ vùi mấy hôm, mụ mới ngồi dậy, đầu nặng, bụng đói. Mụ đưa cánh tay khẳng khiu lên nhìn, rồi kéo ống quần để coi da thịt ống chân. Gầy tép, khô cằn, không còn máu đâu để bán. Và không chắc gì xuống nổi nơi đó để tranh được mối với đám người kia.

    Khi mụ lê bước ra khỏi ngôi chòi, mụ gặp con Nhiễu đi qua. Năm nay con bé đã lớn, trổ mã dễ coi, mái tóc óng mướt, cặp mắt long lanh, đôi môi đỏ hồng, ngực cũng bắt đầu nở nang, eo lưng thắt lại cho hông trùm ra. Mụ Bích đứng ở đầu ngõ, thấy con bé đi ngang qua, nói với bà Bảy đang xách nước ở chỗ giếng:

    - Coi cái con Nhiễu, nó lớn quá cỡ.

    - Biết rượn rồi đó. Tối nào cũng rỡn rật rật với bọn “cô bồi” trong xóm.

    - Cái nghề con gái mới lớn nó vậy. Lấy chồng, có đôi mặt con là xệ xuống liền.

    - Đàn bà mau già quá há!

    - Bởi làm đàn bà nó khổ đủ thứ.

    - Làm đàn ông ở thời này cũng khốn đốn lắm. Cái thì đi lính, cái thì ở tù. Còn bọn ôn hoàng dịch lệ xóm này sao mà không ai chịu hốt đi giùm, để nó phá làng phá xóm chịu không có nổi.

    Bà bảy bắt trớn câu chuyện, để gàu ở trên thành giếng, chống nạnh như phân bua với mụ Bích:

    - Bà coi, hai cây khế nhà này trái thôi vô kể mà tôi có ăn được trái nào đâu. Hôm qua có bọn “cô bồi” xóm dưới kéo lên, sáng nay có bọn “cô bồi” xóm trên kéo xuống, tự leo lên để bứt hết. Nó làm như là của cha tụi nó không bằng.

    - Sao bà không la chúng nó?

    - La cho chúng đốt nhà đi phải không? Bây giờ sư sãi đấu tranh, lính tráng gì xúm vào hết ba cái chùa lớn, ở đây cái lũ ôn con này nó hoành hành chẳng coi ai ra gì hết.

    Mụ Bích chặc lưỡi:

    - Đây rồi, con Nhiễu nó lớn, nó lại dễ coi, thôi thì bọn quỷ nó có cho mình ngủ yên được đâu. Mà mấy hôm nay chúng nó kéo đi hết trơn, xóm mình mới vắng hoe đó.

    - Chúng kéo đi đâu?

    - Xuống ở dưới chùa Xá Lợi. Ối chào, thiên hạ kéo đi đông cả hàng ngàn, hàng vạn. Mấy cái ông sư coi vậy mà cứng ghê ta, lính và cảnh sát đàn áp cách mấy cũng không có sợ. Lựu đạn cay thả mịt mù, dùi cui họ đánh có kể ai đâu. Vậy mà thiên hạ cứ nhào vô, đồ đạc rớt thôi vô số, giày dép bỏ lê bỏ lết đầy đường.

    Mụ Tư Cò nghe được câu chuyện trao đổi bên giếng giữa mụ Bích với bà Bảy. Mụ liền bỏ bụng câu nói sau cùng và mụ vào nhà rửa mặt, tém lại đầu tóc, lựa bộ áo quần tươm tất mặc vào. Rồi nén cơn đói và cơn thèm thuốc cào cấu, mụ cố lê bước đến chùa Xá Lợi.

    Đến trưa, mụ Cò đi về với cái giỏ xách khá nặng. Trong giỏ đầy ắp giày dép, có cả những đôi guốc sơn còn mới. Những lúc đàn áp, người bị khủng bố bỏ chạy hất văng các món đồ mang dưới chân thì mụ Tư Cò liều mạng xông vào để lượm. Đôi lúc mụ cũng hứng được đôi cây dùi cui tưởng gẫy xương sống nhưng mụ cắn răng, lết vào với một tinh thần bất chấp nguy hiểm để mà thủ lợi. Nhưng trong các cái lộn xộn như vậy, những chiến lợi phẩm thu được lại không có giá. Một phần giày dép đã bị hư hại, chiếc này lộn với chiếc kia nên lượm được nhiều mà ghép thành đôi chẳng được bao nhiêu.

    Những lúc bình thường đồng bào các giới vì lòng căm thù chế độ nhà Ngô kéo đến nghe các Thượng tọa, Đại đức thuyết giảng, bỏ dép ở ngoài bước cả vào trong thì mụ Tư Cò có dịp lựa chọn bằng thích. Mụ cũng bỏ dép, một đôi dép đã vẹt gót và đáng cho vào thùng rác, ở bên đống giày, đống guốc la liệt và nhắm nhía lần đôi nào vừa ý. Rồi mụ vào trong, thành khẩn chắp tay lên ngực, lim nhim nghe thầy thuyết giảng. Thỉnh thoảng mụ quay sang người bên cạnh, bình phẩm “Thầy Thích Thiện Hoa nói nghe được quá, hả cụ?” hoặc là “Thầy Thích Hộ Giác sao mà trẻ vậy, có phải không cô?”

    Rồi mụ rón rén đi ra với tất cả lòng thành kính trên mặt, vừa đi vừa niệm mô Phật khi gặp bất cứ một ai. Đến chỗ bậc thềm, nơi đề giày dép, mụ Tư tiến đến một đôi vừa ý, mang vào hết sức tự nhiên, nhẹ nhàng bước ra. Đến một chỗ vắng mụ bỏ vào giỏ. Rồi lại quay vào, quay ra, ít lượt như thế. Trước khi thiên hạ giải tán ra về mụ đã có năm bảy đôi thật là lý tưởng để bán giá hạ cho các chị em trong xóm mang chơi.

    Suốt mùa tranh đấu của chị em Phật tử chống lại ông Ngô Đình Diệm mụ Tư Cò bỗ trở nên no đủ nhờ có nguồn lợi giày dép dồi dào. Thỉnh thoảng có người bắt gặp mụ mang đôi dép của mình, kêu lên:

    - Trời đất, bà mang lầm rồi.

    Thì mụ Tư Cò làm vẻ sửng sốt, rồi cười xuề xòa:

    - Xin lỗi, xin lỗi. Cứ nghĩ đâu đâu mà chẳng để ý gì cả, thật là tệ hại, xin cô cảm phiền.

    Rồi mụ vội vã nhả đôi dép ra, trao lại cho chủ, vừa làm bộ đi vòng quanh tìm kiếm đôi dép của mình. Cố nhiên là mụ tìm ngay được một đôi khác cũng giống như thế, mang vào:

    - Đây rồi. Đây rồi, thế mà tìm mãi, khốn khổ cho tôi.

    Đôi dép của mụ rõ ràng là tốt hơn nhiều, không ai có ý nghĩ xấu về sự nhầm lẫn vừa qua. Nhưng rồi mọi việc ở trên đời này phải bước tới đoạn kết thúc. Ông Diệm, ông Nhu, một tối bỏ chạy khỏi dinh, đã bị đâm chết. Đoạn kết những kẻ độc tài thường rất bi thảm. Trong số những người còn tin ông Diệm vẫn chưa chịu chết, và còn mong mỏi như vậy, phải kể đến mụ Tư Cò. Sao mà chết gấp như vậy? Đâu có dễ dàng thế được? Phải còn sống thêm để cho thiên hạ đấu tranh nữa chớ? Thiên hạ phải đi hội họp, cầu nguyện, đọc kinh nghe các thượng tọa, đại đức thuyết giảng, bỏ giày bỏ dép cho mụ Tư Cò lựa chọn với chớ.

    Rồi mụ Tư Cò không thể sống sót nhiều ngày sau khi ông Diệm qua đời. Một số chị em trong xóm lại tiếc thương mụ về khoản giày dép từ đây không được đem bán với giá đại hạ như trước. Một sáng, mụ không dậy nữa. Suốt ngày hôm ấy, chẳng ai hay biết. Ai mà có thể hay biết được sự sống chết của mụ Tư Cò?

    Nhưng vào lúc tối một người bạn ghiền của mụ đã đến tìm mụ. Gã đã trôi dạt nhiều năm lên mạn Cao Miên, làm ăn chẳng khấm khá nổi nhưng người ta vẫn thích mặc áo gấm về làng. Áo gấm của gã là một hộp thuốc hiệu hai Con Rồng. Gã mang đến mụ vì nghe tin lão Tư Cò qua đời, mụ Cò còn đấy, có thể nhờ đến bàn tay thành thạo của mụ tiêm thuốc và nằm bên nhau nói chuyện tâm tình rỉ rả một đêm cho ấm cõi lòng.

    Lúc gã bước đến thì cái chòi mụ tối tăm, im lặng như một nhà mồ. Gã lại bước ra, gặp vợ Hai Đỉnh xách nước ở giếng, lão hỏi:

    - Bà Tư còn ở đây không, hở bác?

    - Vẫn ở đấy mà.

    - Tôi thấy tối mò…

    - Ngủ ở trong đó chớ gì.

    Người đàn ông trở vào, gọi khẽ:

    - Chị Tư!

    Gã gọi lớn hơn:

    - Này chị Tư Cò!

    Vẫn không có tiếng trả lời.

    - Chị Cò! Chị Cò!

    Gã đập bạch bạch vào cửa, gọi lớn liên hồi, nhưng chẳng có ai đáp lại. Gã liền sờ soạng tìm chỗ cái liếp che tạm, chui vào. Bên trong không có tiếng ngáy, không nghe hơi thở. Gã chạm bàn tay vào một cái xác lạnh ngắt quắt queo. Giật mình, gã rụt tay lại, nhưng rồi gã lay thực mạnh. Mụ Cò đã chết, đã chết từ lúc nào rồi.

    Người đàn ông hoảng hốt chun vội ra ngoài, không quên giữ chặt hộp thuốc cho khỏi rơi mất. Gã muốn im lặng đi luôn, coi như không có việc gì xảy ra. Gã nào dính líu gì đến cái chết mụ Tư đâu? Nhưng lúc ban nãy, gã có gặp một người đàn bà bên giếng, đã hỏi về mụ Tư Cò, và khi gã chun vào đấy có thể là mụ đã nhìn thấy rồi. Nay mai biết mụ Tư Cò đã chết, người ta có thể nghi ngờ cho gã.

     Gã tiến về chỗ ánh đèn, tìm đến cửa ngõ, gọi vào:

    - Bác ơi!

    Mụ Bích nhìn ra:

    - Gì đó?

    - Thưa cái căn nhà trước đây là của chị Cò?

    - Đúng rồi.

    - Tôi gọi cửa mãi mà vẫn không thấy ai hết. Chắc là chị ấy đi chơi đâu rồi. Phiền bác có gặp nói hộ có lão Hai Toản đến thăm. Mai mốt rãnh rỗi, tôi sẽ ghé lại, cám ơn bác ạ.

    Gã bịa cái tên Hai Toản theo đúng truyền thống cho địa chì mà mà người Sài Gòn vẫn quen dùng đến. Rồi không kịp đợi mụ Bích trả lời, gã bước một mạch ra ngõ, luồn vào hẻm tối, lủi qua lối khác, tim vẫn còn đập thình thịch.

    Qua một ngày sau, không ai thấy mụ Tư Cò thấp thoáng. Lại một ngày nữa nữa trôi qua và bầy chó xóm đã thấy chui rúc vào lều mụ Tư giành nhau gầm gừ. Nhiều người nghe mùi hôi thối, tanh tưởi xông lên. Ai cũng đoán mụ Tư Cò đã chết nhưng không ai dám bước vào. Người ta lại nhờ đến ông Sáu Lửa và ông Sáu Lửa lại nhờ đến rượu. Có rượu làm một lực lượng đồng minh, ông Sáu hùng hổ chui vào rồi ông hùng hổ chui ra, lấy tay khoát lia lịa trên mặt mũi mình, nhăn nhó một cách thảm hại. Mụ Tư Cò đã chết, đã thối và không ai đủ can đảm để lo những việc như thế. Ông Lửa nói lớn:

    - Phải báo cáo gấp.

    Ông lại khịt mũi:

    - Thối quá!

    Và ông nôn ọe chạy về một mạch.

    1966

    VH.

    Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Triệu Xuân tuyển chọn. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.

    www.trieuxuan.info



    (1) Nghề cỡi ngựa đua.

    (1) Cổ tại: Tiếng lóng của du đãng, nghĩa là có tiền

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,164,644

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/