Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,532

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Một chặng đường bút mực

Vũ Hạnh

  • Thứ sáu, 11:24 Ngày 05/02/2010
  • Năm 1955, tôi tổ chức biểu tình đòi hiệp thương để thống nhất đất nước thì bị bắt và giam giữ ở nhà lao quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Sau mấy tháng chịu tra tấn khá ác liệt, tôi bị còng tay đưa ra lao xá Hội An để chờ ngày an trí tại Côn Đảo. Lợi dụng sự mâu thuẫn gay gắt giữa quận trưởng và chi trưởng công an Thăng Bình, tôi được tự do vào cuối năm 1956, vội chạy gấp vào Sài Gòn chọn báo chí làm phương tiện để tiếp tục đấu tranh. Kế hoạch thoát khỏi lao tù lần này, tôi đã thuật lại trong hồi ký Cái tết nhớ đời đăng trên đặc san Công An Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999.

     

    Kể như suốt thời chống Mỹ, tôi là cơ sở ở nội thành Sài Gòn với mỗi nhiệm vụ là chống văn hóa địch. Cấp trên chỉ định cho tôi “đóng vai một người quốc gia có đôi chút tiến bộ”. Để bảo vệ tôi, và bảo vệ tổ chức, tôi được hoạt động đơn tuyến dưới sự lãnh đạo của Khu ủy ở vùng giải phóng, thông qua một cán bộ hoạt động bán công khai, và chỉ thỉnh thoảng ra mật khu để học tập tình hình trong vài ngày.

    Sau một năm tiếp xúc với nhiều báo, qua các bút hiệu Minh Hữu, Nguyên Phủ..., tôi chọn tạp chí Bách Khoa làm mảnh đất chính cho việc cầm bút, ký dưới các truyện là Vũ Hạnh và các tiểu luận, phê bình là Cô Phương Thảo. Ban đầu, tạp chí này là nội san của một tổ chức gọi là Bách Khoa Bình Dân, nhằm mục đích phổ biến kiến thức rộng rãi trong quần chúng do một nhóm trí thức của “tổ hợp trí tuệ” (brain trust) được Mỹ đào tạo đưa về để ủng hộ Ngô Đình Diệm. Sau này tờ báo phổ biến công khai, mở rộng nội dung, tập trung nhiều trí thức lớn của chế độ, được xem là một tạp chí vào loại đứng đắn và uy tín nhất. Ông Huỳnh Văn Lang, chủ nhiệm tạp chí là người công giáo miền Nam, quê ở Trà Vinh. Ông là một trí thức nghiêm túc, thâm trầm, tỏ ra khiêm tốn trong mọi giao tiếp. Thực tế điều hành tạp chí là ở hai người, một là ông Hoàng Minh Tuynh, trí thức công giáo di cư không thuộc đội ngũ từ nước ngoài về giữ phần chủ bút, tính tình hào hoa, có phần lãng mạn, sẵn sàng bỏ nhiều thì giờ cắt xén các bài trên đủ báo chí ngoại quốc, kết lại từng mục, để trao cho các anh em cộng sự khai thác tư liệu; hai là ông Lê Ngộ Châu trí thức miền Bắc di cư, nhưng là Phật tử, lo phần trị sự. Sau khi Diệm đổ, ông Huỳnh Văn Lang không còn vai trò chủ nhiệm, ông Hoàng Minh Tuynh mở tuần báo Mai để độc lập tác chiến thì ông Lê Ngộ Châu trở thành chủ tờ Bách Khoa. Là người tinh tế, nhạy bén trong xử sự và nhân hậu với anh em cộng tác, ông Lê Ngộ Châu nghe đâu trước kia là một đảng viên Cộng Sản nhưng vì bất bình với chính sách cải cách ruộng đất nên đã di cư vào Nam. Có lẽ đó là nguyên nhân để ông ủng hộ nhiệt tình quan điểm xã hội trong các bài tôi phê bình.

    Từ 1957 đến 1975, cộng tác với tờ báo này tôi đã lần lượt vào tù cả thảy 4 lần. Ở tòa soạn, thỉnh thoảng tôi gặp ông Phạm Ngọc Thảo thường viết về các đề tài quân sự, và trong lần tôi bị bắt đầu tiên, tại Sài Gòn, ông Lê Ngộ Châu đã nhờ ông Thảo, bấy giờ là tỉnh trưởng Bến Tre, can thiệp với thiếu tướng Nguyễn Văn Là, tổng giám đốc công an ngụy để tôi sớm được tự do. Hồi ấy, tôi không hề nghĩ ông Thảo là điệp viên của Cách mạng hoạt động trong lòng địch.

    Năm 1958, tôi viết truyện ngắn Bút máu như một tuyên ngôn trước hết là với chính mình đồng thời để phản ứng lại đội ngũ bồi bút đông đảo bấy giờ. Tôi mượn tên một bạn tù có nhân cách tuyệt vời đã chung sống ở nhà lao Hội An, là Vũ Hạnh làm bút hiệu để tăng thêm phần trách nhiệm của mình đối với ngòi bút. Sau khi Bút máu được đăng tải thì một ngày nọ, thiếu úy an ninh của quân đội ngụy là Lương Minh Đức, một bạn học của tôi trước Cách mạng, ở trường Chấn Thanh - Đà Nẵng - tìm tôi để cho biết rằng ngoài Bắc in lại truyện này, đồng thời cảnh cáo nếu tôi có truyện thứ hai được ở ngoài ấy đăng lại thì an ninh sẽ không để tôi yên. Chừng một năm sau tôi viết truyện Người nữ tỳ, đúng hơn là một kịch - truyện, đăng trên Bách Khoa. Chủ đề rất lớn, song có lẽ tôi đã dấu quá kỹ cái chủ đề này qua những ngôn từ bóng bẩy, và cũng có lẽ vì tôi bất tài nên những người đọc khó cảm nhận được. Qua Người nữ tỳ tôi muốn nói đến một lớp trí thức tôi đòi cho những chế độ bất công, bạo tàn, và vì quyền lợi, ảo vọng - hay vì sợ hãi - họ đã từ chối cái nguồn gốc thực của mình để mà chết sống cho chế độ ấy. Kịch-truyện này vừa đăng xong thì ông bạn học ngày nào là Lương Minh Đức lại đến tìm gặp cho biết là tôi sẽ phải vào tù lập tức, nếu ở ngoài Bắc in lại. Song tôi thừa hiểu ngoài Bắc chẳng phải mất công để làm việc ấy.

    Bấy giờ nỗi băn khoăn lớn của tôi là tìm kiếm được quần chúng đông đảo để ủng hộ mình, do đó phải viết thế nào cho có được nhiều người đọc, mà không thoát ly mục đích đấu tranh. Hẳn những câu chuyện nói về đồng quê cũng như núi rừng sẽ được độc giả thị thành ưa thích vì những sắc màu xa lạ. Tôi thử viết Miếng thịt vịt tả một cảnh nghèo cùng cực của những người dân sống vùng đất cát, nơi gia đình tôi lánh giặc trong thời chống Pháp. Chừng mấy ngày sau, kịch tác gia Vi Huyền Đắc đăng trên một tờ nhật báo lời nhắn mời tôi đến gặp tại nhà, bởi tôi đang sống lang thang, không dễ gì gặp. Ông đón tiếp tôi niềm nở, tỏ ra thích thú vì truyện tôi viết, theo ông, có nhiều kịch tính. Tôi không hề nói cho ông được biết là thời chống Pháp tôi từng là trưởng đoàn kịch nhiều năm, kiêm luôn soạn giả, đạo diễn và diễn viên chính.

    Tiếp đó, tôi viết một truyện đường rừng vào dịp cuối năm, nhan đề Cái Tết giữa rừng kể lại câu chuyện tình cờ được nghe từ nhỏ về hai cha con đi lạc trong núi rừng sâu đang khi bóng ngả về chiều, giữa lúc lo sợ, hoang mang bỗng gặp được bãi phân người, vui mừng cảm thấy sắp được cứu thoát, vì đã có phân ắt hẳn có người... Không ngờ truyện được đón nhận ngoài sự mong ước. Ông Thiên Giang, người đồng hương ở Đà Nẵng, hoạt động Cách mạng và chịu tội tù nhiều năm vừa là nhà giáo và nhà nghiên cứu, chồng của nữ sĩ Vân Trang - về sau, cả hai vợ chồng ra vùng giải phóng - đã gởi lá thư để ca ngợi tôi rất là nồng nhiệt, gọi tôi là “Maxime Gorki của Việt Nam” khiến tôi thật sự mắc cở. Nhưng thú vị hơn, là lúc bấy giờ có những trí thức ở trong “tổ hợp trí tuệ” đã thấy thất vọng về tập đoàn gia đình trị họ Ngô, và trong số ấy có chủ nhiệm tờ Bách Khoa. Ông Huỳnh Văn Lang lầm tưởng tôi viết truyện này để ám chỉ Diệm, coi Diệm như một cục phân đã trở thành thứ cứu rỗi cho một số người lạc lối hoang mang nên ông đã dành cho tôi rất nhiều cảm tình. Ông khen tôi viết sâu sắc, hợp với tình hình chính trị và nhiều năm sau mối cảm tình ấy vẫn còn đậm đà. Khi nghe con gái của tôi là Phương Thảo - mười lăm tuổi - bị bắt khi làm giao liên cho Thành Đoàn, ông đã ân cần hỏi tôi để hỗ trợ tiền lo lót cho cháu sớm được tự do. Nhưng tôi không nhận sự giúp đỡ này. Về sau, ông là phe nhóm được Mỹ tin cậy giao cho nhiệm vụ tổ chức lực lượng lật đổ ông Diệm - như ông đã viết khá rõ trong tập hồi ký của mình - nhưng vào giờ chót người Mỹ đã giao việc ấy cho lớp quân nhân để chắc ăn hơn.

    Truyện đường rừng đầu tiên đem lại những kết quả tốt khiến tôi chú tâm vào mảng này. Nhất là vào thời kháng Pháp, những năm về sau tôi đã nghỉ dạy để tham gia đoàn Văn nghệ Thanh niên Xung phong phục vụ chiến trường Tây Nguyên, trong tổng đội 204 của ông Lê Văn Chắc, nên tôi tích lũy được nhiều tư liệu về lĩnh vực này. Thanh niên Xung phong, vào giai đoạn ấy thật là cực kỳ gian khổ, nhưng lại là nguồn vốn quí cho tôi sáng tác.

    Khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời vào năm 1960, anh Vũ Tùng ở Khu ủy nhắn bảo tôi sớm chọn một bí danh để giới thiệu trên đài, trong vai phụ trách báo chí nội thành. Thấy sống ở trong kiềm kẹp của địch, ngoài sự can đảm cũng cần có chút may mắn khi trải qua các hiểm nghèo, tôi lấy tiếng Anh là lucky, có nghĩa may mắn, để đặt bí danh là Hoàng Lục Kỳ. Anh Vũ Tùng cho rằng “Lục Kỳ” không được dễ nghe, nên đã đổi lại là Hoàng Thanh Kỳ.

    Để chào mừng sự ra đời của Mặt Trận và để tránh sự kiểm duyệt của chế độ Diệm, tôi mượn bối cảnh núi rừng viết một truyện dài đăng báo hằng ngày nói lên tinh thần bất khuất của các dân tộc đoàn kết chống bọn xâm lược và giành thắng lợi cuối cùng. Đó là tiểu thuyết Lửa Rừng, hay Truyện nàng Y-Kla phải mấy năm sau mới in thành sách, và đã tái bản nhiều lần.

    Theo chỉ thị từ trên tôi phải hoạt động trong nhiều lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Tôi gia nhập Trung tâm Văn Bút (Pen Club), một tổ chức có hệ thống quốc tế, từ những ngày đầu mới thành lập ở Sài Gòn để mượn diễn đàn này mà đấu tranh văn hóa. Tôi thừa hiểu lãnh đạo Hội không thích để tôi đăng đàn diễn thuyết vì nghi ngờ tôi có quan hệ với Cách Mạng nên tôi đã ngầm vận động để buộc Hội phải công bố chương trình sinh hoạt có tính cố định, trong đó mỗi tháng tổ chức diễn thuyết một lần. Người ta hăm hở đăng đàn để nói lan man trong mấy tháng đầu, còn thì về sau đến ngày qui định, không ai có gì để diễn thuyết nữa, bắt buộc Hội phải “cầu cứu” đến tôi đặng lấp cái khoảng trống đó, và tôi thì đã sắp sẵn một số vấn đề vì biết trước rằng nhất định sẽ được gọi đến. Tất cả vấn đề mà tôi trình bày đều chứa đựng một ý mới nhằm phản ứng lại thực trạng sinh hoạt văn hóa thời ấy. Với chủ đề Cái hậu trong tác phẩm văn chương, tôi nhằm vạch rõ dụng ý vì sao chế độ bấy giờ loại bỏ quyển Nhị Độ Mai khỏi chương trình học, chỉ vì tác phẩm này đã có sự kết thúc, không theo công thức quen thuộc của nhiều tác phẩm cổ điển là mượn thế lực thần bí can thiệp. Ở Nhị Độ Mai, chính là quần chúng sĩ tử náo loạn trường thi mang lại công lý cho tác phẩm. Với chủ đề Trường hợp hai Nguyễn Du trong Đoạn trường Tân Thanh, tôi phản bác sự đề cao các quan điểm phong kiến của nhiều nhà nghiên cứu lúc bấy giờ, chứng minh những gì là giá trị tích cực và mang sắc màu dân tộc trong truyện Kiều. Đa số các bài thuyết trình của tôi, sau đó đều đăng trên tạp chí Bách Khoa. Trong cuộc thi viết kịch bản do Văn Bút tổ chức, là thành viên ban giám khảo tôi đã tìm cách vận động nhiều thành viên khác để giải nhất được trao cho tác phẩm Bức tranh lõa thể của cô Kim Cương, vì các lý do: vở này có nội dung chống đối sự đồi trụy hóa trong văn học nghệ thuật là vấn đề nổi cộm lúc bấy giờ, và qua sự vận động ấy việc trao giải sẽ làm cho cô Kim Cương thêm cảm tình với lực lượng Cách mạng. Mỗi năm, Văn Bút quốc tế đều có cuộc họp, hoặc hội thảo các vấn đề về sáng tác, khi thì ở Pháp, ở Nhật, ở Ba Lan hay Hoa Kỳ, v.v... và tôi thường được đề cử trong đoàn tham dự, song luôn bị ngành công an ngăn chặn. Lý do: hoạt động Cộng Sản, không được xuất ngoại.

    Tôi cũng giữ một vai trò cốt cán trong Hội đồng bảo vệ thanh thiếu nhi và có chân trong Hội Bạn trẻ Việt Nam mà tờ Hồn Trẻ là cơ quan ngôn luận. Các tổ chức này đều nhằm chống các biểu hiện lai căn, nô dịch và suy đồi trong đời sống tinh thần của giới trẻ. Ngoài viết bài cộng tác với Hồn Trẻ, tôi cho ra đời các quyển Cha mẹ bơ vơ, Tuổi trẻ nổi loạn để hưởng ứng các sinh hoạt của các tổ chức trên đây.

    Vào những năm cuối của thời Diệm-Nhu, các sách “võ hiệp kỳ tình” đủ loại đã được tung ra ở trên thị trường, cũng như sau khi Diệm - Nhu đã bị loại bỏ được một thời gian các loại sách chưởng càng ngày càng xâm nhập nhiều, chiếm một vị trí đáng kể ở trên hàng sách báo. Nhận thấy hầu hết các loại sách này mang đậm tính cách cá nhân chủ nghĩa và tuyên truyền cho bạo lực, hoang đường, tôi lấy bút danh là Hoàng Thiên Lý viết một số truyện võ hiệp để phản ứng lại. Từ 1961 đến 1966, các truyện Bốn bể anh hùng, Anh hùng mặt sắc, Nữ hiệp kén chồng, Kiếm đao ba thước, Giang hồ ngàn năm… của Hoàng Thiên Lý đã được xuất hiện trên tờ tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy và tờ nhật báo Đất Tổ.

    Năm 1964, sau khi Diệm Nhu bị lật đổ và bị giết, chính phủ của quân nhân lên thay thế. Thiếu tướng an ninh Đỗ Mậu, bấy giờ làm phó thủ tướng đặc trách văn hóa, xã hội đã tổ chức cuộc họp lớn tại trường Quốc gia âm nhạc do ông chủ trì. Theo như báo chí bấy giờ ghi nhận, “cuộc họp có mặt gần đầy đủ các nhân vật đại biểu cho giới văn hóa Sài Gòn”, để nghe đại diện của văn phòng phó thủ tướng là giáo sư Phạm Đình Ái trình bày “đề án tổ chức Đại hội Văn hóa và thành lập Viện Văn hoá Việt Nam”. Chỉ mười ngày sau, trên tờ tạp chí Bách Khoa số 178 ra ngày 1/6/1964, tôi đã viết một bài dài 17 trang để đánh đổ đề án trên.

    Tôi vạch rõ sự thiếu thực tế của đề án, sự phiến diện trong nhận định tình hình văn hóa, sự yếu kém trong nhận thức từng bộ môn, và đáng phàn nàn là “giáo sư Phạm Đình Ái trong khi hô hào văn học phải có tính cách tranh đấu đã quên nhìn thấy bao nhiêu năng lực đấu tranh của các người làm văn hóa miền Nam trong những năm qua. Những sự tranh đấu của họ không phải là cuộc phát biểu nồng nhiệt trên các diễn đàn đặc biệt an toàn, mà là nhà tù, trại giam, chia ly, tang tóc. Bao nhiêu tờ báo đã bị đóng cửa, bao nhiêu con người đã bị giày xéo, bao nhiêu kẻ phải đào vong, vất vả xứ người? Có ai đã đếm được những sinh mạng thiệt thòi, những tài sản bị phá tán và những cuộc đời đã bị làm cho suy mòn, kiệt quệ này chưa? Cho đến những sáng tác phẩm ra đời, giáo sư cũng không rõ được những công trình nào đã bị chặt đầu, chặt tay, moi móc ruột gan cho phù hợp với ý muốn chế độ, và còn biết bao công trình bị giam giữ lại để cho mất tính thời gian, khiến tác giả chúng thối chí ngã lòng? Đáng lẽ giáo sư nên bỏ chút ít thì giờ điều tra sinh hoạt của phòng kiểm duyệt trong mấy năm qua, ông sẽ được gặp vô số oan hồn tác phẩm và những thi hài nghệ thuật trên khắp cánh đồng văn hoá mà ông nhận thấy tiêu điều...” (Bách Khoa, số 178, trang 43).

    Bài báo, dài 17 trang này, xóa tan quan điểm chỉ huy văn hóa, và đập tiêu luôn ý đồ lập Viện Văn hóa Việt Nam. Vài hôm, sau khi bài báo ra đời, ông phó thủ tướng đã cử đổng lý văn phòng đến tòa soạn của tạp chí Bách Khoa xin một cuộc hẹn với tôi. Trong buổi gặp gỡ, ông cho biết phó thủ tướng nhờ tôi góp ý để soạn thảo một đề án mới cho thích hợp hơn. Tôi đã trả lời, rằng là nhà báo tôi chỉ nói lên một số nhận xét về cái đề án đã được trình bày, còn sự vạch đường chỉ lối là việc của nhà chính trị, và điều này ngoài khả năng của tôi.

    Năm 1965, khi Hoa Kỳ chuẩn bị đổ quân ào ạt vào miền Nam, ở trên nhận định rằng sự kiện này sẽ làm tổn thương đến tinh thần dân tộc chúng ta, do đó khuyên tôi nên viết những gì đề cao tinh thần dân tộc để mà gián tiếp đánh Mỹ. Đồng thời, trong những điều kiện đặc biệt như thế, ở trên cho phép tôi được “sô vanh” ít nhiều, mặc dầu quan điểm vị chủng vốn xa lạ với Cách mạng. Trong một tuần lễ, tôi viết xong quyển Người Việt cao quý, lấy tên tác giả là A.Pazzi, người Ý để dễ kiểm duyệt, và mượn tên người ngoại quốc cho sự ca ngợi chúng ta được dễ nghe hơn. Thoạt đầu, tôi viết thử một chương ngắn ca ngợi “đôi mắt và nụ cười người Việt”, đăng trên nhật báo Đất Tổ để xem phản ứng ra sao, và tác động đã ngoài sự chờ đợi. Người ta vồ vập, bàn tán, thích thú, vì có được người nước ngoài ca ngợi quá cỡ như thế, rồi tự ngẫm lại thấy rằng mình cũng đáng... ca ngợi thật! Thế là chỉ mấy ngày sau, quyển sách gần 100 trang ấy - thật chỉ có nghĩa như tờ truyền đơn dông dài - đã được hoàn tất, cho đem in ngay vừa làm thủ tục để xin giấy phép. Chỉ sau hai tuần, sách đã in xong thì cũng đúng hạn giấy phép được cấp, kịp thời in vào ở cuối trang chót. Tác phẩm đáp đúng tâm lý đông đảo quần chúng bấy giờ nên được tái bản liên tục, chỉ trong vài năm đã in lại trên mười lần. Ngay ở trong tù, sách cũng được các anh em chuyền đọc. Dĩ nhiên, bấy giờ chẳng mấy ai biết tôi là tác giả.

    Có lẽ, nên kể thêm vài sự kiện trong nhiều sự kiện mà quyển Người Việt cao quí là nguyên nhân chính. Sau ngày Giải phóng không lâu, tôi gặp học giả Trần Văn Giàu trên một đường phố, ông cười bảo tôi: “Cậu đá giò lái mình nhé!”. Tôi đáp: “Tôi đâu vô lễ như thế, sao anh Sáu lại nói vậy?” “Ông bèn trả lời: “Thì mình có viết một bài, trích dẫn lời A. Pazzi, gởi ra tờ báo Văn nghệ Trung ương. Ở đó gởi vào cho biết A. Pazzi chính là cậu”. Bấy giờ, theo đồng chí Trần Trọng Tân - trưởng ban tuyên huấn thành phố - kể lại, đồng chí Lê Duẩn ghé vào thành phố Hồ Chí Minh nói với đồng chí như sau: “Quyển Người Việt cao quý của tay Pazzi nào đó viết khá quá”. Đồng chí Trần Trọng Tân trả lời: “Tay Pazzi ấy là cơ sở nội thành”. Và đề nghị tôi gởi tặng đồng chí Lê Duẩn hai quyển sách ấy.

    Khoảng năm 80, anh Viễn Phương và tôi đi dự họp văn nghệ ở Huế, lúc về có ghé thăm Hội Văn nghệ Quảng Nam Đà Nẵng. Chủ tịch hội là nhà văn Phan Tứ, trong khi tiếp chuyện có nói:

    - Mình tìm hiểu A. Pazzi của quyển Người Việt cao quý đã lâu mà vẫn chưa biết cụ thể. Gần đây, đi họp quốc tế có nhờ đồng chí Enzo Roscani, ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Ý về nước tìm hộ gốc gác ông này, nhưng đồng chí đã trả lời là tìm không ra. Vậy ở thành phố Hồ Chí Minh có ai biết được ông ta rõ không?

    Anh Viễn Phương đã cười đáp:

    - Hôm nay tôi đưa ông ấy đến gặp ông đây.

    Thực ra, khi đặt cái tên Pazzi tôi không ngờ đó là tên có thật. Mãi sau 1975, khi Bộ Văn hóa nhờ các anh em văn nghệ sắp xếp, phân loại các sách lưu trữ, tình cờ lật tờ Historia (tôi không còn nhớ số mấy) có bài nghiên cứu lịch sử, nhan đề: “Cuộc âm mưu khởi loạn của dòng họ Pazzi” (La conjuration des Pazzi), Pazzi là một dòng dõi quí tộc thế lực ở Ý, vào khoảng thế kỷ XV. Tưởng tượng nhiều khi vẫn không vượt khỏi sự thực khiến tôi xúc động và suy nghĩ nhiều về việc sáng tác. Sau ngày Giải phóng, anh Mai Văn Tạo - nhà văn - rủ tôi đi về Châu Đốc để anh thăm viếng gia đình người chị. Trời gần tối thì chúng tôi đến nơi, đó là một ngôi nhà tranh đơn sơ dựng tạm bên đường ở một quãng vắng bên ngoài thị xã, có lẽ đã phải di dời ra đây để tránh đạn bom. Một người đàn bà cao tuổi, đen đúa hẳn vì tháng ngày dang nắng dầm mưa, với bộ quần áo sờn mòn ra đón chúng tôi. Anh Tạo giới thiệu:

    - Bà chị tui đó. Chị Huỳnh Thị Liễu.

    Anh Mai Văn Tạo vốn là họ Huỳnh, nhưng vì hoạt động Cách mạng đã phải thay tên đổi họ nhiều lần, và một thời gian khá dài anh mang họ Nguyễn, ông Nguyễn Thanh Tân.

    Chị Liễu vui vẻ:

    - Tụi bây chắc chưa ăn tối. Ở đây cơm mắm không thiếu, để tao đi vo thêm vài lon gạo.

    Anh Tạo tiếp lời, vừa chỉ vào tôi:

    - À, giới thiệu cho chị biết... Anh bạn này là Vũ Hạnh.

    Lập tức, người chị mở to đôi mắt kêu lên:

    - Có phải Vũ Hạnh viết quyển Người Việt cao quí đó không?

    Anh Tạo cười đáp:

    - Đúng đó.

    Chị Liễu không giấu được vẻ mừng rỡ, tiến đến đưa tay nắm chặt vai tôi:

    - Mừng lắm! Mày ghé thăm vợ chồng tao, là mừng lắm đó.

    Rồi chị vội quay về phía sau nhà, gọi to:

    - Ông ơi! Bỏ công việc đó, đi vô trong xóm kiếm gấp cho con cá lóc bự bự đem về nướng trui đãi thằng Vũ Hạnh! Mau lên!

    Tôi rất cảm động, đứng lặng, không ngờ một người phụ nữ nông dân lam lũ ở giữa đồng vắng nơi một vùng đất xa xôi cận kề biên giới, đã đọc quyển sách tôi viết và bày tỏ niềm yêu thích như vậy. Tôi cảm thấy rõ quyển sách chưa xứng với sự tiếp nhận nhiệt thành đến thế. Về sau, tôi được nghe biết chị Liễu còn là một người phụ nữ dũng cảm lạ thường.

    Lại vài năm sau, anh Mai Văn Tạo rủ tôi cùng về Châu Đốc thăm gia đình chị. Anh vẫn muốn đi cùng tôi, có lẽ vì mối cảm tình sâu sắc nối kết giữa những con người văn nghệ, vì từ ngày trước Giải phóng khi anh còn ở trong rừng U-Minh và tôi sống giữa đô thành bị chiếm, mặc dù chưa gặp mặt nhau lần nào nhưng anh đã làm sẵn một bài thơ để ca ngợi tôi và cất sẵn đó, đợi ngày gặp gỡ, sau năm 75 mới đem trao tặng. Xin phép ghi lại bài thơ như một kỷ niệm tuyệt vời giữa những con người cầm bút, một thời chinh chiến:

    Chưa một lần được nắm tay anh

    Lòng đã mến yêu

    Qua trang sách bập bùng ánh lửa.

    Có phải?

    Khi đôi cánh cuộc đời không thấy nữa

    Khi tiếng nói con người bị cài then khóa cửa

    Thì lời thơ, tiếng nhạc vút lên cao

    Dọn đường bay cho viên đạn, mũi dao.

    Những trang sách hay niềm đau xứ sở?

    Giấy mực nào nói hết nghĩa yêu thương.

    Dòng chữ của anh tiếng súng chiến trường.

    Tôi muốn gọi tên anh - người dũng sĩ!

    Ngọn lửa bạo tàn thiêu nổi sách anh đâu

    Bền bỉ với thời gian trang sách mãi mãi tươi màu.

    Khánh Hưng

    (Cà Mau, 6-1974).

    Lần này, chúng tôi ra khỏi Long Xuyên thì trời vừa tối. Anh Mai Văn Tạo bảo tôi ghé một vùng quê, quẹo vào một con đường đất để anh thăm một người cháu làm chủ tịch xã đã lâu chưa gặp lại nhau. Đến ngõ, tôi dừng xe lại, bảo anh:

    - Thôi anh vào thăm, tôi đợi ngoài này. Xe mình vào loại cà tàng, lỡ hỏng dọc đường thì mệt. Đường về Châu Đốc còn xa.

    Anh gật đầu, đi vào nhà. Sau nghe kể lại thì khi anh nói những lời giã từ, bảo là cần phải đi gấp vì có anh bạn Vũ Hạnh đợi chờ ngoài đường, thì ông chủ tịch hỏi ngay:

    - Ông Vũ Hạnh viết Người Việt cao quí đó hả?

    Anh Tạo gật đầu, thế là ông ta vội vã chạy ra nài nỉ mời tôi vào nhà. Ông nói:

    - Bây giờ đã tối, nếu đi thì phải dùng bữa ở nơi quán xá dọc đường. Xin cho tôi được hân hạnh mời ông nán lại để dùng bữa tối. Tôi bảo người nhà làm gấp, để cho quí vị lên đường khỏi trễ.

    Rồi ông gọi lớn, bảo bắt con gà trống thiến trộng nhất ra làm thịt ngay, đồng thời bắc nồi cháo để tranh thủ thì giờ. Đoạn, sau khi rót nước, mời thuốc, ông chủ tịch xã mặc áo dài đen, đội chiếc khăn đóng, thắp hương đốt đèn lên trên bàn thờ, trịnh trọng đem xuống một cuốn sổ lớn, cầm bút ghi chép. Xong, ông mới trình bày:

    - Tôi phải ghi vào gia phả của gia đình tôi, là ngày tháng này có ông Vũ Hạnh ghé đến thăm nhà để cho con cháu về sau biết được sự may mắn ấy.

    Lần này, tôi thật sững sờ. Tôi không hề đánh giá cao quyển sách tôi viết mà tôi vẫn xem chỉ là một truyền đơn dài. Nó không có một giá trị nghiên cứu, không được thực hiện công phu, nhưng rõ ràng nó đã được tiếp đón quá xa, quá cao, so với dự tưởng của người cầm bút. Hẳn ở nơi mỗi con người Việt Nam có những nỗi niềm u uất bao đời về cái thực trạng bị nhiều thế lực ngoại bang giày xéo, khiến phải sống trong căm phẫn âm thầm chỉ chực vùng lên với niềm khát khao vô tận về một vinh quang rực rỡ của quê hương này, đã khiến cho mỗi kích thích vào tâm sự đó được cháy bùng lên, mà cuộc Cách Mạng Tháng Tám tiếp đến hai cuộc kháng chiến đã từng chứng tỏ. Và trường hợp này, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Khu-ủy mà người đại diện là ông Trần Bạch Đằng đã sớm kịp thời gợi ý cho tôi đề cao dân tộc khi Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, và tôi chỉ đáng tự hào ở sự nghiêm chỉnh chấp hành. Nhưng cũng qua đó tôi thấy được sự đòi hỏi lớn lao về mặt văn học nơi nhiều con người đáng yêu mà ta chưa hề được gặp, và tôi cũng cảm nhận được thắm thía rằng hầu hết người cầm bút chúng tôi vẫn còn quá đỗi cách xa với những tâm tư, khát vọng chân thực của số đông đảo quần chúng làm nền cho dân tộc này.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,534

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/