Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,410

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Khách viễn phương - người là ai (2)

Vũ Hạnh

  • Thứ hai, 09:07 Ngày 22/06/2015
  •  

    Nhưng nếu chỉ trích nho sĩ Nguyễn Du là một việc làm lạc điệu, đồng thời bất công, bất kính đối với tiền nhân, bởi lẽ vai trò nho sĩ có những giá trị nhất định ở trong lịch sử (bao nhiêu anh hùng liệt nữ ngày xưa chẳng nhờ ý thức hệ ấy góp phần tạo nên đấy sao?) thì sự ca ngợi những ý thức hệ đã cũ mòn rồi lại là một việc lỗi thời. Vẫn còn những sách giảng văn tự biến thành những đền thờ nguy nga chiêu hồn các xác chết ấy và quan niệm rằng các biểu hiện ý thức hệ phong kiến ở trong Nguyễn Du là những đặc trưng của một thiên tài. Không, đó chẳng phải là những gì thuộc về giá trị sáng tạo đích thực của một Nguyễn Du thi hào và cũng không phải là phần lớn lao, kiêu hãnh của một Nguyễn Du dân tộc. Vậy những phần vẻ vang ấy của Nguyễn Tố Như thể hiện trong những điểm nào? Và cái chiều cao, chiều rộng cùng cái chiều sâu của thiên tài ấy ra sao, là những vấn đề căn bản cần được trao đổi, xác định.

    Nguyễn Du thiên tài là một Nguyễn Du đã vượt ra khỏi hàng rào kẽm gai của ý thức hệ phong kiến để mà đi vào đau khổ của đời, nói lên được những sự thực sâu xa về đời, quí báu về người.

    Ngay cái tên sách Đoạn Trường Tân Thanh đã hé cho ta gặp gỡ được con người ấy. Nguyễn Du lên cao khỏi cái tên đề Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân để nhìn vào cái bản chất đích thực của vấn đề mình bày tỏ, vấn đề đoạn trường, hầu góp một tiếng nói mới về sự đoạn trường. Trong suốt tác phẩm, Nguyễn Du đã thể hiện cái thực tại bi đát của Kiều là một nạn nhân bi thảm của một chế độ vô loài. Gạt bỏ Đạm Tiên với cái bóng ma ẩn hiện hoang đường, gạt bỏ cả bà Đạo Cô với lời tiên tri huyền hoặc, chúng ta sẽ lại đối diện với một cuộc sống quằn quại não nề mà mỗi đau khổ là một tố cáo và mỗi cảnh ngộ là một vấn đề.

    Vấn đề nàng Kiều chung qui là tấn bi kịch của một con người có đầy đủ các điều kiện để sống cuộc đời hạnh phúc lý tưởng, nhưng bị một xã hội xấu không ngừng vùi dập xuống đống bùn nhơ và con người ấy không ngừng vươn lên để tìm cuộc sống yên ổn, xứng đáng cho mình. Tất cả tấn bi kịch ấy khởi từ ba trăm lượng vàng mà tên tri huyện đã bắt nộp đủ để chuộc mạng sống cho cha và em của Kiều. Ba trăm lạng vàng, đó là trọng tâm vấn đề nàng Kiều và sức nặng của ba trăm lạng ấy là cái định mệnh đích thực của Kiều. Ở đây không còn có danh từ nào huyền bí và che đậy nữa, chỉ có mỗi sự tham ô của bọn cầm quyền. Nếu Kiều có đủ số vàng, nàng không phải bị bán mình. Nhưng “đồ tế nhuyễn, của riêng tây” trong gia đình nàng đã bị chính bọn sai nha vơ vét sạch rồi. Nếu sống trong một chế độ không dung sự bán buôn người, Kiều không phải sa vào bước lạc loài. Từ một duyên cớ nhỏ nhặt có thể vu cáo những người lương thiện, chế độ ấy phải nuôi sẵn trong mình những sự nhũng nhiễu của bọn ta sai và sự buôn người của lũ bất lương. Người ta không thể chỉ nhìn đơn giản ba trăm lạng vàng làm cho nặng túi nhà quan là tiền của gia đình Kiều. Số vàng ấy là giá mạng đời Kiều, nhưng là vàng của tên Mã Giám Sinh và mụ Tú Bà. Muốn hiểu xuất xứ của số vàng ấy phải đếm bao nhiêu cuộc đời thiếu nữ bị đẩy vào vòng trụy lạc lưu manh và sự dung túng của bọn cầm quyền.

    Bên cạnh con người nho sĩ luôn luôn qui sự đau khổ của Kiều về lẽ bạc mệnh, về bản chất nàng, thì con người nhân bản của Nguyễn Du đã khiến cho ta xúc động sâu xa về một nguyên nhân xã hội, một thứ xã hội với những loại hạng con người cụ thể, trong một không khí đen tối, ngột ngạc khác thường.

    Đọc hết Đoạn Trường Tân Thanh, chúng ta nhìn thấy rõ ràng xã hội mà Kiều phải sống là của hai tầng lớp người rõ rệt: một lớp cầm quyền vô lương và lớp lưu đãng vô lương. Hai lớp hạng này là có uy thế hơn cả, nương tựa vào nhau để sống trên sự đau khổ của một lớp người lương thiện.

    Về cái tầng lớp bên trên, con người nhân bản Nguyễn Du đã thể hiện được những nét rất đậm qua những nhân vật tiêu biểu trong hàng quan lại. Có ba vị quan ở trong tác phẩm thì cả ba người đều đã trị dân theo một kiểu cách ngược đời: vị quan thứ nhất mượn cớ vu oan của tên vô lại để xua một lũ sai nha đầu trâu mặt ngựa ồ ạt xông vào vét sạch của cải lương dân, rồi treo ngược đầu một người già nua và một thiếu niên lên trên rường nhà để tra tấn rất dã man, biến cái nhà dân thành phòng khai thác, bất chấp dư luận, coi thường công lý, giày xéo lên trên sinh mạng con người. Nguyễn Du đã tả cái cảnh suốt ngày gia đình nạn nhân không ngớt xuống lời van lạy và sự làm ngơ giả điếc của bọn lang sói sai nha, khiến cho đá cũng nát gan huống nữa là người. Tất cả sự đánh đập này không phải là để phát hiện chân lý -bởi lẽ không có chân lý hoặc chính nghĩa nào lại được phát sinh bằng sự bạo tàn- mà chỉ là để đòi tiền. “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” đó là lời than của Nguyễn Du trên cả trăm năm về trước. Nhưng phía sau đồng tiền ấy, là cả cuộc đời một người vẹn toàn vụn nát, cả một tình duyên lý tưởng vỡ tan, cả một cuộc sống gia đình nứt rạn suy đồi. Vị quan thứ hai, tri phủ Lâm Tri, xử kiện thật là hết sức hồ đồ. Chỉ căn cứ vào một lá đơn thưa, không cần xét hỏi, ông đã phán rằng:

    Một là cứ phép gia hình,

    Hai là cứ việc lầu xanh phó về.

    Và khi Kiều thà chịu sự cực hình chứ không quay lại lầu xanh, thì ông hạ lệnh cho bọn sai nha tra tấn thẳng tay. Rõ ràng quan lớn chỉ muốn cho dân làm điếm mà thôi. Cuối cùng, nếu Kiều không gợi được cái mặc cảm văn chương và cái chính sách tình cảm cá nhân ngoài thì là lý, song trong là tình ở nơi lòng quan, thì nàng còn chịu tơi bời, oan khốc tới đâu?

    Vị quan thứ ba trong tác phẩm, là Hồ Tôn Hiến, một kẻ đại diện triều đình, đã được nhà vua đặt hết tin tưởng trong việc cầm binh dẹp giặc, vậy mà cư xử như phường hèn hạ vô lương. Nếu đem so sánh đoạn thơ trân trọng giới thiệu họ Hồ từ lúc ban đầu với những sự việc về sau mà y đã làm, chúng ta không khỏi nhận thấy một điều trái ngược rõ ràng. Là một Tổng đốc trọng thần kinh luân gồm tài, họ Hồ đã nuốt lời hứa với kẻ đầu hàng Từ Hải. Chữ tín là một trong năm lẽ thường của sự đối đãi giữa người ngày xưa, thế mà họ Hồ cũng không giữ trọn. Quả Hồ Tôn Hiến, kẻ có địa vị tuyệt cao trong hàng quan lại, còn ở dưới mức người thường một bậc. Trong buổi tiệc mừng rầm rộ về sự gạt lừa thắng thế, gã bắt vợ người tử trận hầu đàn. Đó là cung cách xử sự của phường thảo khấu lục lâm, chỉ biết có sự thắng thế vũ phu, quên hẳn giá trị của người mà mình đã từng cho đem lễ nhiều nói ngọt để cố thuyết hàng. Rồi giữa tiệc rượu đang nồng, gã đi xa hơn, phán bảo người đàn kia hãy làm vợ mình. Nguyễn Du đã không ngần ngại bày tỏ một sự ngạc nhiên:

    Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!

    Bây giờ không phải là mặt cao sang của viên tổng đốc trọng thần, mà chỉ là thứ mặt sắt vô tri đã biết động tình. Cái bộ mặt sắt đen sì ta đã từng gặp ở viên tri phủ Lâm Tri(1), và hẳn phải có đậm đà nơi tên tri huyện đã nuốt ba trăm lạng vàng. Cái mặt sắt ấy của Hồ Tôn Hiến đã không còn liêm sỉ nữa, đó là một loại mặt dạn mày dày. Và cái “hương lửa ba sinh” mà gã xin Kiều nối giữ cho mình, đã không kéo dài quá một đêm say. Thỏa mãn trên người đàn bà ấy rồi, gã thấy xấu hổ. Và gã nhớ lại địa vị, tư cách của mình. Sau khi giết chồng, đoạt vợ, gã chợt nhớ mình “phương diện quốc gia”. Những sự hối hận của phường thô bạo, gian ngoan thường có mục đích củng cố cho sự gian ngoan thô bạo. Cho nên để gỡ sự tình bê bối của mình, gã mới “quyết ngay một bài”, là đem gán Kiều cho kẻ thổ quan, một sự lấp liếm quỉ quyệt để che tội lỗi của mình. Nhưng nếu ta biết rằng Kiều trước đó đã xin được về quê quán với lời yêu cầu thống thiết “hơi tàn được thấy gốc phần là may” rằng Kiều “trong mình nghĩ đã có người thác oan” thì sự gả ép Thúy Kiều là một hành động tàn nhẫn vô lương cùng cực. Nguyễn Du vẽ nên một mẫu quan lại cao cấp không có tình người đã chà đạp lên tất cả nguyên tắc luân lý cũng như quan niệm nhân đạo ở đời, miễn là bảo vệ được mình, được cái địa vị, quyền lợi và cái bề mặt của mình, khiến ta nhớ đến Hoạn Thư với tất cả những thủ đoạn thâm độc của nàng để tự cứu lấy thể diện. Có ba vị quan ở trong tác phẩm, theo ba thứ hạng địa vị khác nhau thì cả ba người không ai tiêu biểu cho công lý cả. Ngược lại, họ cùng góp phần tạo nên bức tranh vô cùng bi thảm, đen tối của một xã hội, khiến cho người đọc cảm thấy được cái thực chất ghê tởm của một chế độ trên đà băng hoại.

    Thiên tài Nguyễn Du đã vượt ra khỏi đẳng cấp của mình để phóng cái nhìn khách quan sắc bén vào từng loại hạng quan lại, truyền thần bọn họ một cách linh động, đậm đà. Nhờ thế, thi hào đã chuyển được cái tính người lên đầu ngọn bút -một cái tính người cụ thể là bênh vực kẻ khốn cùng và đòi hỏi sự công bằng- vừa soi sáng thêm vào những sự thực bên dưới của cái xã hội suy đồi. Song song với lớp bên trên thối nát, nhà thơ đã trình bày trước mắt ta một đám loại người cặn bã, con đẻ của cái xã hội phi nhân, với đầy đủ cả tác phong, uy thế của chúng, đó là những loại điếm đàng như Mã Giám Sinh, mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, lùng lội đi mua gái đẹp những nhà lương thiện sa cơ để về rước khách kiếm lời, tổ chức thành một công ty thực thụ mà kẻ hùn hạp chính thức là mụ Tú Bà, màu da nhàn nhạt, to lớn đẫy đà, dưới tay có sẵn đầu trâu mặt ngựa, tha hồ đánh đập những người lương thiện, toa rập bởi một số loại ma cô như gã Sở Khanh. Nguyễn Du đã vẽ mụ trùm gái điếm như một bà quan thật sự, với lối “vắt nóc lên giường ngồi ngay”, với bộ roi da sẵn sàng sấn đánh mọi người, với bầy thủ hạ đông đảo và những biệt thự nguy nga, như lầu Ngưng Bích. Cùng một tầng lớp với mụ, lại có Bạc Hạnh, Bạc Hà, mặc dầu từng quen đi lại cửa chùa song vẫn là phường bán thịt buôn người, không từ một thủ đoạn nào để uy hiếp Kiều, để lừa gạt Kiều và đem bán nàng như bán một loài súc vật. Người ta có thể nhớ lại trước kia, khi đến mua nàng, tên Mã Giám Sinh cũng đã nhìn nàng không hơn cầm thú bao nhiêu. Cái cảnh vén tóc, bắt tay, xem gầy xem béo, những lời cò kè bớt một thêm hai trả giá trên cuộc đời nàng, đã nói lên sự tán tận lương tâm của một xã hội suy đồi. Trong xã hội ấy, không riêng gì bọn tham quan và bọn điếm đàng độc quyền được sống cao sang, mà cả một lớp du đãng cũng được đắc thời, đắc thế. Đội ngũ của chúng, kể từ những đứa có tên Khuyển, như Ưng hầu hạ dưới trướng nhà quan lại bộ thượng thư họ Hoạn, hoặc những bầy lớp vô danh đầu trâu mặt ngựa tay sai ở chốn nha môn phá phách nhà Kiều, đến cả “một đoàn đổ trước đến sau” như lớp thủ hạ của mụ Tú Bà, là một lực lượng đông đảo đen ngòm xã hội. Chúng mượn thế lực nhà quan để mà lộng hành, tha hồ tác quái, tác yêu bày ra những cảnh nhũng loạn vô cùng tàn bạo. Chúng đã xáo trộn kẻ sĩ với điếm đàng, quyền uy với cướp bóc, làm cho đời sống ở trong tác phẩm thêm phần hỗn tạp, phi nhân. Nguyện vọng lớn nhất của chúng là sự “kiếm lời’, như Mã Giám Sinh tính toán:

    Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời

    như mụ Tú Bà tuyên bố:

    Đem về rước khách kiếm lời mà ăn

    và cũng như mụ Bạc Hà hí hởn:

    Mừng thầm được buổi bán buôn có lời

    Có “lời’ bằng cái thân thể kẻ khác, danh dự kẻ khác, cuộc đời kẻ khác, có lời bằng bất kể hành vi và thủ đoạn nào. Do đó, ngoài sự áp bức, hành hung, mánh lới thông thường của chúng là lừa gạt, đặc biệt là dùng thề thốt để dối phỉnh người. Tên Mã Giám Sinh đã không ngần ngại mở lời thề độc:

    Mai sau dầu đến thế nào

    Kìa gươm nhật nguyệt, nọ dao quỷ thần

    tương tự như mụ Tú Bà:

    Mai sau ở chẳng như lời

    Trên đầu có bóng mặt trời sáng soi

    cũng như:

    Bạc sinh quì xuống vội vàng

    Quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công

    Và tất cả đã nuốt lời dễ dàng như nuốt nước bọt khiến người lương thiện như Kiều, đạo đức như Kiều, đã phải kêu lên ngơ ngác khi nói về tên họ Sở:

    … thề nốt nặng lời

    Có đâu mà lại ra người hiểm sâu!

    vì nàng không ngờ rằng óc trục lợi của chúng đã không ngần ngại coi trò “danh dự” như là phương tiện bán buôn. Giữa hai hạng người trái ngược chia chung một loại quyền hành - là lớp quan lại và bọn lưu manh - thiên tài Nguyễn Du vẽ lên kiếp số bi đát của một con người lương thiện. Tất cả tội lỗi của con người nàng đều xuất phát từ tài sắc, đạo đức và nghèo nàn. Vì nghèo, hay bị làm cho nghèo khổ, mà Kiều không sao có đủ tiền nộp cho quan. Vì có tài sắc nên nàng liên tiếp bị sự lợi dụng, bị sự gạt lừa, bị sự ghen ghét. Nếu Kiều không đẹp, nàng đã không bán được mình, không bị Tú Bà hành hạ, không bị Thúc Sinh chuộc về và chuyện Bạc Hà lợi dụng cùng Hồ Tôn Hiến ép gả cho viên thổ quan cũng không có nốt. Cả cái lớp người mặt nổi trong xã hội Kiều nhìn người con gái có chút nhan sắc như mèo thấy mỡ. Người đàn bà đẹp trong xã hội ấy không còn là một con người. Đó là vật lạ mà họ thèm khát, cố sức chiếm đoạt để rồi sau khi làm chủ một lần, cảm thấy cần phải vứt bỏ như một miếng vải cần thiết lau chùi và đã lau xong. Cả cái xã hội say mê nhan sắc đã đem nhan sắc vùi xuống bùn nhơ một cách dạn dày. Và phần đạo đức mà xã hội ấy không ngớt đề cao, không ngừng giáo dục, cũng đã trở thành một cái duyên cớ tai ương. Chính Kiều đã phải chịu nhiều thống khổ là vì ở tâm hồn nàng còn có căn bản đạo đức, còn sự phân biệt thiện ác chính tà. Dầu ở thời nào, người ta cũng không thể phủ nhận rằng nàng Kiều là một con người hết sức có hiếu, một người công dân hết sức hiền lương, một người đàn bà hết sức tự trọng. Kiều là hiện thân của những ý tình cao đẹp. Một người con gái lăng loàn, vô sỉ, tất coi bao nhiêu từng trải như Kiều là việc bình thường. Nhưng Kiều, nàng không thể nào chấp nhận như vậy. Nàng có ý thức về cái quyền sống tốt đẹp của người đàn bà, như nàng đã từng oán trách “hóa công phũ phàng” và oán trách bọn đàn ông “tích lục tham hồng” ích kỷ, khi nàng gặp mộ Đạm Tiên vào một chiều xuân, sau hội Đạp Thanh. Nỗi đau khổ lớn của Kiều, khi phải bán mình, là đã phụ lời thề với chàng Kim, khiến nàng đã phải hạ mình nói với Thúy Vân:

    Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

    Người con gái ấy chỉ muốn có sự thủy chung và chỉ đau khổ vì không giữ được chung thủy. Chữ tín, nếu chỉ nhỏ bằng sợi lông hạt bụi đối với tên Hồ Tôn Hiến, thì lại lớn lao hơn núi, hơn non đối với nàng Kiều. Cả đời người con gái ấy chỉ muốn có sự trong sạch và khi nhoài lên tìm sự trong sạch thì xã hội ấy lại thêm cơ hội dập nàng xuống bùn. Khi ở nơi lầu Ngưng Bích, nàng phải trốn đi cùng với Sở Khanh là để trốn khỏi thanh lâu. Lúc lấy Thúc Sinh, cũng là vì mục đích ấy. Thái độ của nàng đã được bày tỏ dứt khoát ở trước công đường tri phủ Lâm Tri, khi viên quan này buộc nàng một là về lại lầu xanh, hai là chịu mọi cực hình, thì nàng đã không do dự trả lời:

    Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình

    Và dù có lấy Từ Hải về sau, cũng chỉ là tìm cách ra khỏi chốn bùn nhơ. Con người vẹn toàn nhưng cô độc ấy, giữa một xã hội không có lối thoát, bị một cuộc đời cực kỳ thô bạo dồn đuổi không ngừng và những thống khổ vây quanh, không chịu làm ngơ trước những đau khổ của gia đình mình, không chịu ngồi yên trong đám bùn nhơ của thân thế mình. Mặc dầu đa cảm, yếu mềm, suốt đời không ra khỏi cái thân phận bị động, lệ thuộc, Kiều vẫn là hiện thân của đạo đức. Nhưng xã hội ấy đã đày đọa nàng đến độ khủng khiếp khiến nàng có lúc kêu lên:

    Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!

    Đó chính là tiếng kêu la bi thảm hơn hết, não nuột hơn hết, đó chính là cái tân thanh của sự đoạn trường. Chưa có một nhân vật nào, ở giữa xã hội luôn luôn nói đến đạo đức nhân nghĩa, đã phải cất lời ai oán xin chừa cả sự trong sạch, như phải chừa bỏ một cái thói hư, tật xấu thường ngày, như phải xóa sạch một cái lỗi lầm tai hại. Trinh bạch đã thành tật xấu, đã hóa lỗi lầm rồi sao? Chúng ta tưởng chừng như qua những lời não nùng và bi thiết ấy, có cả giọng điệu mỉa mai chua chát lạ thường của chính con người nhân bản Nguyễn Du.

    Mô tả sự thắng thế của loại hạng vô lương và nỗi tủi nhục của con người đạo đức, Nguyễn Du đã vẽ nên một khung cảnh xã hội hỗn loạn lớn lao trong đó tính chất con người đã bị phá sản để còn vọng lên một tiếng kêu cứu thê lương. Ra khỏi chừng nào dây buộc của đẳng cấp mình, Nguyễn Du đã hòa mình vào cuộc sống quằn quại đau khổ của một kiếp người lâm nạn để cảm thông với tiếng nói miên man đau khổ của bao nhiêu cảnh ngộ khác trên cuộc đời này. Sự lớn lao của thiên tài Nguyễn Du là ở sự vượt thoát ấy, là ở sự cảm thông ấy. Con người nho sĩ Nguyễn Du đã đi gần cuối chặng đường phong kiến kéo dài suốt mấy ngàn năm lịch sử nên mỏi rã rời và bắt gặp được con người nhân bản hiện lên từ những sinh hoạt bùn lầy của một xã hội rác rưởi hôi tanh. Trong xã hội ấy, Nguyễn Du đã thấy một yếu tố mới gây nên bao nhiêu đảo lộn chán chường. Đó là đồng tiền, hiện thân của một trật tự vừa được cấu thành, đồng tiền “làm cho khốc hại”, đồng tiền “dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì”. Vì đồng tiền ấy, thể hiện qua ba trăm lạng mà gia đình Kiều suy sụp, thân thế của Kiều long đong, vì đồng tiền ấy, thể hiện qua ba mươi lạng, mà tên Sở Khanh lập kế hại Kiều, vì đồng tiền ấy mà bọn Bạc Hạnh, Bạc Hà đã không ngại miệng hứa liều trước mặt thành hoàng thổ công, rồi đem bán đứt nàng vào thanh lâu, trước khi:

    Bạc đem mặt bạc kiếm đường cho xa.

    Đồng tiền đã rọi ánh sáng mặt trời quái ác của nó vào trong bao nhiêu sinh hoạt về chiều ở trong tác phẩm Nguyễn Du. Nếu quả đồng tiền đã từng xô ngã trật tự phong kiến ở trên thế giới, thì đây nó đã làm cho suy đồi tầng lớp sĩ phu. Ngoài hạng tham quan ô lại ở trong tác phẩm người ta thấy gì về những kẻ sĩ, là một lớp người đại diện đạo lý thánh hiền? Chúng ta có thể kể đến Vương Quan như một kẻ sĩ mà ta gặp gỡ từ đầu. Anh này chỉ là một vai phụ thuộc, giữ đúng tính chất hiền lành và cái nề nếp con nhà thụ động. Sau nhân vật ấy, ta gặp những kẻ sĩ khác ở mức độ đáng thương hơn nhiều. Mặc dầu ông Nguyễn Văn Xuân trong tạp chí Mai có xem Kim Trọng như là một kẻ chiến thắng định mệnh(1) nhưng ta nhận thấy chàng Kim quả không xứng đáng với lòng ưu ái quá độ nhiệt thành như thế. Chàng Kim trước sau chỉ là một gã tình nhân có đủ lương tri và nhiều nhu nhược. Trước khi gặp Kiều, chàng đã mê Kiều và sau khi gặp, lại mê hơn nữa. Rồi chàng thuê nhà dọn đến ở sát phía sau nhà Kiều để có cơ hội gần nàng, để “trồng cây si” - nói theo thời đại ngày nay - cho được chắc gốc. Cứ theo Nguyễn Du, Kim Trọng không phải là học trò tốt, bỏi vì chàng chỉ “mượn điều du học” chứ không thật sự học hành. Không ai mang bài vở đến kề bên người đẹp để mà có thể ngồi yên trích cú tầm chương. Bởi vậy, Kim Trọng cứ lo thực hiện trọng tâm công tác của chàng là việc “tường đông ghé mắt, ngày ngày hằng trông”. Học hành như vậy mà Nguyễn Du vẫn cho chàng thi đỗ như ai. Về sau, khi trở lại nhà biết Kiều đã bán mình rồi, Kim Trọng lăn ra bất tỉnh nhân sự. Suốt thời gian này, Kim Trọng chỉ khóc, chỉ than và sau khi hết khóc than thì chàng lại cưới Thúy Vân làm vợ. Thật chưa có thanh niên nào biết khóc một cách dai dẳng, ồn ào như thế. Kim Trọng quả có dọa sẽ tìm Kiều, trình bày dự định treo ấn từ quan để “mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua” hầu gặp mặt người yêu dấu, nhưng ta chỉ thấy chàng nói ngon lành như nhiều chính khách thời nay, mà chẳng chịu làm. Phần nào Kim Trọng đã mắc phải bệnh khoa ngôn của thời đại mình. Sự khoa ngôn ấy chúng ta còn tìm gặp nơi chàng Thúc, nơi gã họ Sở sau này. Đó là những người thích nói lớn lao, nếu không cốt để lừa gạt, thì cũng là để âm thầm xác nhận rằng mình không còn khả năng làm việc lớn lao. Sau chàng Kim Trọng, chúng ta được biết Thúc Sinh. Đây là nhà nho khoác áo chủ tiệm và đã trở thành một người lái buôn hết sức đậm đà. Tất cả cái gì thuộc về nho sĩ ở trong Thúc Sinh, đếm đi đếm lại chỉ còn mỗi việc làm thơ Đường luật để tả nàng Kiều, khi nàng trút hết áo quần tắm rửa. Ngoài ra, chàng Thúc cũng giống Kim Trọng ở điểm đa cảm, đa sầu nhưng con tỏ ra nhu nhược nhiều hơn chàng Kim gấp bội. Nhưng đặc tính của Thúc Sinh không chỉ là sự sợ vợ kỷ lục, mà còn là ở tinh thần trục lợi. Suốt trong tác phẩm chưa có một nhân vật nào mua bán tinh khôn bằng gã Thúc Sinh. Trong sự si mê, nhiều lúc gã còn phung phí, huy hoắc đồng tiền để mua trận cười hưởng lạc cho mình, nhưng nói đến chuyện bán buôn thì gã quyết không chịu thiệt. Thậm chí mê Kiều đến độ lăn lóc như thế mà khi chuộc Kiều ra khỏi thanh lâu, gã cũng tìm cách giấu nàng trước đã rồi sau mới chịu mặc cả giá tiền. Riêng về điểm này, một mụ trùm điếm già tay như mụ Tú Bà cũng phải thua chàng nho sĩ Thúc Sinh một vố khá cay. Khi muốn lấy Kiều, gã cũng hứa hẹn đủ điều to lớn nhưng chỉ cần gặp Hoạn Thư, thấy cái uy thế tinh thần của vợ, gã đã quên hết những lời thề non hẹn biển ngày nào. Hình như trong những thời đại suy đồi, tính cách khoa ngôn lại càng phát triển và những thủ đoạn đàn ông lừa bịp đàn bà lại càng tinh vi. Đến khi thấy Kiều có thể thành mối đe dọa cho mình, thì gã xua tay, bảo nàng:

    Liệu mà cao chạy xa bay,

    Ái ân ta có ngần này mà thôi.

    Thật là trái ngược biết bao với cái thái độ yêng hùng của ngày gặp gỡ ban đầu:

    Đường xa chớ ngại Ngô Lào,

    Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.

    Gã đã gián tiếp biến Kiều thành kẻ tôi đòi, trước khi biến thành người trộm cắp. Nếu gã có chừng lấy một gờ-ram thương xót thật lòng, gã cũng có thể gửi gắm cho Kiều đôi chút bạc tiền để nàng khỏi phải bợ lấy chuông vàng khánh bạc ra đi. Thúc Sinh đã có đủ đầy tính chất ích kỷ của cái tầng lớp gian thương, biểu hiện ở trong thái độ có lời thì giữ, mà lỗ thì buông, chứ chẳng màng đến ân nghĩa chút nào. Mối tình say mê của gã cũng dựa vào căn bản ấy, cho nên khi thấy nó đã biến thành trở ngại, nó gây thiệt thòi, thì gã xô ra, sau khi làm bộ khóc thương bi thảm đến Kiều. Thế mà nàng Kiều vẫn còn có đủ ngây thơ để thương xót gã và về sau này, khi được Từ Hải cất nhắc lên ngôi bà chúa, nàng đã cho mời gã đến trước tiên để mà ban thưởng dồi dào. Trước món quà tặng lớn lao, trọng hậu - gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân - gã nhận lãnh đủ, giữa lúc trong lòng run sợ xiết bao, “mồ hôi thì đã như mưa ướt dầm”. Tất cả sự việc xưa nay của gã Thúc Sinh, chúng ta ít nhiều có thể thông cam và dung thứ được, bởi lẽ khó lòng đòi hỏi những người nhu nhược có những thái độ anh hùng. Nhưng việc chìa tay nhận đủ bao nhiêu quà thưởng của Kiều là một hành vi khó lòng chấp nhận, bởi ta hiểu rằng Thúc Sinh không phải nghèo nàn, Thúc Sinh cũng đã bày tỏ với Kiều bao lời gắn bó thiết tha. Nhận lãnh như thế, Thúc Sinh đã tự xóa bỏ con người tình nhân, khoác vẻ say mê ngày trước, để tự lộ hiện nguyên hình là gã lái buôn chỉ biết có tiền. Thế là sòng phẳng, trước kia gã đã bỏ tiền để chuộc Kiều ra, bây giờ Kiều trả lại rồi, trả quá nhiều hơn kia nữa, và gã toại nguyện. Nếu gã thật có chút lòng yêu Kiều, dù chỉ là một gờ-ram tình ái như trên đã nói, thì gã có thể từ chối món quà ban thưởng và bảo Kiều rằng: “Ít nhất nàng cũng cho tôi từ chối nhận lãnh quà nàng, để còn chút nghĩa với nàng. Ngày xưa, cứu chuộc nàng ra khỏi chốn thanh lâu, tôi những muốn nàng sung sướng, nhưng tôi chỉ đem cho nàng tủi nhục, đọa đày, thì món quà thưởng của nàng càng làm tôi thêm ân hận mà thôi”. Nhưng Thúc Sinh không nói thế. Gã chỉ vội vàng nhận lãnh, có lẽ vì gã thấy rõ giữa gã với Kiều thế là dứt khoát hẳn nhiên. Và đã như thế, thì nuôi ảo tưởng về cái khả năng tình ái của mình có lẽ không lợi bằng trăm cuốn gấm và nghìn cân bạc. Tóm lại, dù muốn dù không Thúc Sinh cũng đã biến cuộc tình yêu với Kiều thành một chuyến buôn, và một chuyến buôn có lời.

    Nếu chúng ta đẩy xa hơn để tìm nho sĩ thì ta còn gặp khá nhiều nho sĩ thảm não hơn nhiều. Tên Mã Giám Sinh chuyên việc buôn người chẳng là xuất thân nho sĩ đấy sao? Chỉ mới gặp gã lần đầu, nàng Kiều đã phải thở than với mẹ:

    Thân con chẳng khỏi mắc tay bợm già!

    Nho sĩ đã thành bợm già, thật đó là sự phát triển không được dự liệu ở trong sách vở thánh hiền. Còn gã Sở Khanh, cũng là cốt cách nhà nho đấy chứ? Gã cũng có tài làm thơ như mọi con người thông minh vào ra cửa Khổng sân Trình, nên khi Kiều mới ngâm thơ thì gã họa vần lập tức. Cứ xét công dụng của cái phong trào thi ca khởi sự từ chàng họ Thúc đến chàng họ Sở thì quả văn chương cũng chẳng có gì là chuyện cao siêu. Sau này gã còn khoe chữ trong tờ Tích-Việt để hẹn hò Kiều đi trốn, và chính nhờ tan vật ấy mà gã không dám xắn tay để đánh đập Kiều giữa chốn thanh lâu, hầu che tội ác của mình.

    Nguyễn Du đã vẽ lên một bứctranh đen tối về những lớp người có học, có hành, có nhiều địa vị của thời bấy giờ. Truyện Kiều còn là một bản cáo trạng về lớp sĩ phu đang chuyển xuống dốc suy tàn. Từ một Kim Trọng đến một Thúc Sinh, hay một người khách viễn phương không có tính danh, cũng có những nét gống nhau về sự suy nhược tinh thần, cũng đồng gặp nhau trong sự buông chiều cảm tính, si mê. Lý trí, vốn được xem như là chiếc đèn thần tiêu biểu cho tầng lớp ấy, bây giờ đã leo lét rồi, trước cơn gió lốc thời đại thổi nực hơi tiền. Sự suy đồi của tầng lớp kẻ sĩ là dấu hiệu lớn đậm nhất của sự suy đồi xã hội phong kiến. Ngòi bút Nguyễn Du đã chứng tỏ được khả năng bao quát cũng như sức mạnh của mình, khi ông vẽ lên được sự sụp đổ lớn lao, toàn bộ của chế độ ấy. Chế độ ấy như tòa nhà vĩ đại dựa trên ba cây cột chống - tam cương - là ba mối tương quan bất bình đẳng trong xã hội. Nguyễn Du cho thấy ba cây cột ấy đã mục nát rồi, đã gãy đổ rồi. Về quân thần cương, tức là tương quan giữa vua và tôi, thì Từ Hải đã cho đảo lộn cái lẽ bề tôi cần phải phục tòng tuyệt đối nhà vua, khi bày tỏ cái lý chí bất khuất của mình:

    Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

    và sự khinh bỉ chức vị triều đình, xem đó là trò lệ thuộc nhục nhã:

    Vào luồn ra cúi công hầu mà chi!

    Dù về sau này Từ Hải có bị ép uổng đầu hàng để bảo vệ cho nội dung tác phẩm nhưng con người ấy trước sau vẫn là hiện thân cho một sức mạnh ngang tàng, độc lập, cho cái ý chí tuyệt đối tự do không muốn thừa nhận một trật tự nào ở trước mặt mình, không muốn tôn trọng một quyền uy nào ở trên đầu mình. Từ khi bước vào tác phẩm, Từ Hải đã thổi một luồng gió lạ của cái bản chất quấy nước chọc trời, và suốt thời gian hiện diện, con người ở ngoài hàng ngũ cá chậu chim lồng không ngừng làm cho mờ nhạt triều đại mà Từ đã cố rạch đôi sơn hà để tạo riêng một cơ đồ. Về phụ tử cương, là tương quan giữa cha con, thì cái vai trò người cha ở trong tác phẩm thật đã sa sút rõ rệt. Vương Ông, sau khi gia đình nộp đủ số vàng, được trở về nhà, thấy con gái chịu hy sinh cho mình thì toan lao đầu vào tường, khiến Kiều đã phải hết lời khuyên can ông mới rút lui ý định quyên sinh. Người ta tự hỏi Vương Ông chết để làm gì? Để cho gia đình bối rối hơn lên? Để cho Kiều phải đau lòng hơn nữa? Và để hy sinh của Kiều trở thành vô nghĩa? Ý nghĩa muốn chết ở đây thực là thảm hại và chỉ hợp lý trong những con người đã mất bình tĩnh, đã mất tự chủ, vốn là những điều không thể chấp nhận trong một vai trò người cha của những ngày xưa. Sau này, khi gặp lại Kiều gần chốn Tiền Đường, nghe Kiều bày tỏ ý định muốn ở lại nơi thảo am Từ Hải hành với vãi Giác Duyên, ông đã nói lên một câu quái gở:

    Phải điều cầu Phật, cầu Tiên

    Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây?

    Đối với người con đã hy sinh cả mối tình lý tưởng để lo cho cha, đã chịu giày vò đau khổ suốt cả mười lăm năm dài, mà người cha ấy lại còn mở miệng bắt đền chữ hiếu, thì kể cũng quá tham lam, nếu không gọi là tàn nhẫn. Người ta tự hỏi nếu ngày nào kia, ông không được lời can gián của con gái mình, lao đầu vào tường mà chết, thì chữ hiếu ấy con gái của ông còn phải trả bằng giá nào? Bên cạnh Vương Ông, chúng ta còn gặp một người cha nữa thảm não hơn nhiều, đó là Thúc Ông. Thấy con trai mình, Thúc Sinh, lấy Kiều làm vợ, ông đã “nổi trận tơi bời” nhưng trước thái độ khăng khăng của con, ông bèn kiện với quan trên. Kiện con về tội mê gái, thật là việc làm hiếm có từ cổ chí kim. Với lá đơn ấy, Thúc Ông đã xóa sạch luôn uy quyền của một người cha và thú nhận sự suy đồi của một nền tảng gia đình. Nếu quân thần cương đã gãy vụn rồi, và phụ tử cương đã mất hiệu lực, thì phu thê cương mới thật bi thảm, tiêu điều. Qua Mã Giám Sinh và gã Thúc Sinh, cái nghĩa vợ chồng “phu xướng phụ tùy” chỉ còn là một hoài niệm xa xôi, một thời vàng son đã mất. Trước khi ăn nằm với Kiều, họ Mã cũng đã phân vân tính toán. Cuối cùng, đành rằng bản chất dâm ô đã thắng nơi con người gã, nhưng gã cũng đã dự liệu một thứ hình phạt có thể rước lấy sau này. Cái hình phạt ấy, nếu Nguyễn Du không nói rõ:

    Liều công mất một buổi quì mà thôi

    thì không một ai có thể dự đoán được mặt mũi nó thế nào. Cứ qua giọng điệu câu thơ đầy vẻ liều lĩnh và sự nhẫn nhục chịu đựng thì ta cũng đoán được rằng gã chồng họ Mã vốn đã thường xuyên bị vợ phạt quì. Người chồng được xem như là chúa tể ngày xưa, người chồng “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” là Mã Giám Sinh lại có thể quì ngoan ngoãn như cậu học trò nhỏ dại hay sao? Và người vợ ấy nào có tài năng đức độ hơn gã một chút nào đâu? Vẫn biết Nguyễn Du chỉ bôi một vệt lọ lớn vào mặt một loại chồng nhưng không vì thế mà bao nhiêu kẻ làm chồng khỏi thấy xốn xang. Nhưng đến gã Thúc Sinh kia, vốn từng tỏ ra ngoan cố, ù lì trước mặt cha mình, lại quá khiếp đảm trước cái uy thế vợ nhà, người vợ bao giờ cũng chỉ thơn thớt nói cười, thực mới là điều hết sức xót xa. Và khi tự đem mình so sánh với vợ nhà, gã đã bày tỏ một lời nhận xét thảm thương:

    Thấp cơ thua trí đàn bà

    Trông vào đau ruột nói ra ngại lời

    thì đồng thời gã cũng đào một lỗ huyệt lớn chôn luôn uy thế của kẻ làm chồng.

    Như thế, ba cái cương lớn làm nên trụ chống lớn lao đã gãy tan rồi, thì tòa nhà kia, với cả bề thế nghênh ngang của nó sẽ còn tồn tại hay đang nghiêng đổ? Sau này, khi Tản Đà than:

    Này lúc cương thường đảo ngược ru!

    hầu như ông quên hẳn rằng trước ông trên cả trăm năm, Nguyễn Du cũng đã cất tiếng thở dài qua những hình tượng cụ thể ở trong truyện Kiều! Phác họa được cái xã hội suy đồi một cách linh động như thế, Nguyễn Du đối với chúng ta ngày nay còn có giá trị một nhà sử học chân tài. Nhà sử học ấy không chỉ chép nhặt một cách thiển cận bao nhiêu tài liệu về xã hội mình mà đã hình dung được những nét lớn, hết sức tiêu biểu, đồng thời như đoán được cả bước đường đi xuống của nó ở trong tương lai. Trong khung cảnh ấy, Nguyễn Du còn là một nhà xã hội tiến bộ, khi ông vẽ được kiếp người bi đát để mà kêu gào yên vui hạnh phúc cho người. Từ vị trí ấy, Nguyễn Du còn đi xa hơn để thành một nhà tôn giáo chân chính biết lấy tình thương làm một sứ mạng cao cả, không phải là thứ tình thương trừu tượng, mông lung, nhưng xác định trong thực trạng của kẻ thiệt thòi một cách sâu sắc, đó là một lớp nạn nhân cụ thể của một xã hội bất công.

    Tất cả giá trị xuất phát từ một con người Nguyễn Du nhân bản, con người Nguyễn Du chân thực thông cảm với người đau khổ, con người Nguyễn Du đã ra khỏi những nếp sống khuôn khổ hằng ngày với những giáo điều, ý thức khô khan, ngụy biện, với những kiểu cách phong lưu, nặng nề, con người Nguyễn Du đã gạt bỏ được tư thế cuộn tròn, ích kỷ của mình. Cái khó khăn nhất, nhưng đồng thời cũng là lớn lao nhất của Nguyễn Tố Như là ở sự vượt thoát ấy, vượt thoát để mà thông cảm, chan hòa. Người ta có thể thắc mắc rất chính đáng rằng làm sao Nguyễn Du đã bước qua khỏi giới hạn nho sĩ của mình để thực hiện được con người nhân bản kỳ diệu, phi thường như vậy? Cuộc đời tác giả cùng với hoàn cảnh gia đình, xã hội đã tạo sự vượt thoát này. Nếu suốt cuộc đời Nguyễn Du chỉ là nho sĩ phong lưu sống trong chăn ấm nệm êm, hẳn người không sao nhìn thấy sâu xa những nỗi thống khổ của đời. Nhưng bản chất đa cảm ấy đã từng lao đao quá sớm trong đời, đã từng chứng kiến bao nhiêu triều đại suy vong vì mồi phú quí(1), đã từng nhìn thấy gia đình đổ nát, anh em tan lìa(2), đã phải đói lạnh cầu xin cơm áo của người(3), đã từng thấy đầu của mình bạc trắng khi còn tuổi trẻ(4), đã phải lang thang từ bến sông này đến quán trọ khác(5) nhiều khi là kẻ lữ hành cô độc giữa một đêm dài lạnh lẽo ước mong ngày sáng trở về(6). Những nỗi khổ ấy đồng hóa với cái thực tại khách quan của một xã hội tham tàn có đủ bề thế lấn át phần nào con người chủ quan nho sĩ, đã giúp Nguyễn Du nhìn thấy sự thực về người, về đời một cách sâu xa, có được tinh thần nhân bản cụ thể, hướng về bênh vực cho kẻ cùng khốn để chống trả lại tàn ác, vô lương. Sự bênh vực và chống trả ấy không hẳn thể hiện ở phần ý thức của Nguyễn Tố Như đã bị con người nho sĩ giới hạn nhưng nó cũng đã góp phần sắp đặt vấn đề, tạo hình nhân vật, dồn chữ đúc câu, để cho tiềm thức ở trong âm thầm sáng tạo chuyển lên tình ý nhiệm mầu, làm cho sự sống khô khan trở thành phong phú, bộ mặt lạnh lẽo trở thành rực rỡ, phương phi. Hai con người - nho sĩ, nhân bản - trong Nguyễn Tố Như kèm cựa bên nhau tạo nên những sự ngỡ ngàng nghệ thuật, đồng thời giới hạn lẫn nhau, khiến người nho sĩ có lúc phải chồn chân lại và người nhân bản có phen phải lánh mình đi.

    Nhưng trên toàn bộ công trình, con người nhân bản trong Nguyễn Tố Như đã giành thắng lợi. Nó bàng bạc khắp tác phẩm, tràn ra thành cái đầu đề Tân Thanh về sự Đoạn Trường. Nó thể hiện sự suy đồi, không chỉ bằng lòng với một cái nhìn tiêu cực, không chỉ dừng ở lớp người đồi trụy của những cơ cấu tan lìa, nó còn xác nhận cái tốt, những giá trị lớn của sự vươn đòi lý tưởng. Trong đám bùn nhơ, Nguyễn Du còn thấy được một Mã Kiều giàu lòng thương xót người cùng một hội một thuyền, trong đám nghèo cùng, Nguyễn Du còn nêu lên được một bà quản gia biết che chở kẻ lỡ bước sẩy vời(1). Gạt bỏ cái phần cưỡng ép theo nội dung truyện, nhân vật Từ Hải gợi lên hình ảnh tuyệt vời về một cuộc sống độc lập, về một tinh thần tự tin tuyệt đối và cái khát thèm tự do mãnh liệt dường nào. Từ Hải chính là một nét kiêu hùng rất đẹp, một ý lạc quan rất bền, đó còn là sự cương trực trong suốt của một tâm hồn va còn là một tình yêu nồng hậu, vẹn toàn của một con tim. Gạt bỏ ý thức một thời, thái độ đền ân báo oán của Kiều còn nói lên được một sự kêu đòi công lý, và chính có oán có ân là cái tinh thần sòng phẳng của nòi giống ta, có trả có vay là cái thái độ công minh của dân tộc ta, dân tộc giàu lòng nhân đạo chân chính nên biết khoan dung đúng mức, đồng thời cũng biết trừng trị hẳn hòi.

    Đề cao giá trị thiên tài Nguyễn Du, thiết tưởng là phát huy phần nhân bản ở trong tác giả, phát huy con người xã hội, con người tôn giáo đích thực ở trong tác phẩm, trong cái mức độ bị sự giới hạn thường xuyên của ý thức hệ nho sĩ. Nhưng tất cả những biểu hiện nhân bản đã được đề cập trên đây ở trong Nguyễn Du phải được tổng hợp trong một con người đặc biệt lớn lao, con người tiêu biểu duy nhất, là người văn hóa dân tộc.

    Bởi chính sự thành công lớn của Nguyễn Tố Như là ở nền tảng dân tộc. Nội dung truyện Kiều là tiếng kêu lớn về sự đau khổ, mặc dầu mượn những sự việc Trung Hoa, đã bắt nguồn từ thực tế sinh hoạt của bao nhiêu đời áp bức, loạn lạc trong xã hội Việt. Nàng Kiều, ở trên căn bản là người Việt Nam, và sự kêu gào hạnh phúc yên vui của nàng đã làm rung động trực tiếp sâu xa buồng tim của người Việt Nam, không kể người ấy là nghèo hay giàu, là kẻ dân giả hay hàng vua chúa. Vấn đề truyện Kiều chính là vấn đề của dân tộc ta và ngôn ngữ của truyện Kiều là ngôn ngữ của chúng ta. Đó là ngôn ngữ sáng tạo do ông bà ta xây dựng đã bao nhiêu đời, được chiếc đũa thần là sức sáng tạo của bậc thi hào tạo thành một thứ lâu đài nghệ thuật. Nguyễn Du là người đầu tiên đã nâng ngôn ngữ của ta đến mức thể hiện tuyệt kỹ như vậy, đã truyền sức sống bền bĩ vào trong thể điệu lục bát của ta, khiến nó có sức uyển chuyển khác thường trong cái năng lực diễn đạt trường thiên, như từ một con suối nhỏ đã được khơi nguồn trở thành sông dài, biển rộng bao la. Phải đợi thiên tài lỗi lạc Nguyễn Du, khả năng viết truyện bằng thơ của ta mới được trau dồi tinh luyện, bao nhiêu tinh hoa từ trước của ta mới được kết tụ thành những giá trị tuyệt vời, vì trong truyện Kiều tất cả khuôn mẫu của những nghệ thuật đã được trau dồi đến mức hoàn chỉnh có đủ ánh sáng soi đường cho nhiều thế hệ cầm bút về sau. Không có tình yêu dân tộc sâu xa như thế, Nguyễn Du không sao vận dụng được hết khả năng cảm nghĩ, khả năng ngôn từ của giống nòi mình. Chính nhờ sức mạnh truyền thống của nòi giống Việt, Nguyễn Du đã đồng hóa được biết bao thành ngữ, điển cố Trung Hoa, vĩnh viễn làm thành da thịt của ngôn ngữ mình, cho tiếng nói mình được thêm tươi tốt hồng hào.

    Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du là một tác phẩm dân tộc, của một thiên tài dân tộc. Kiệt tác ấy đã đánh dấu được một chặng đường phát triển văn học bằng cái khả năng tổng hợp kỳ diệu của mình, làm một “của tin” vẻ vang của dân tộc ta, về mặt sáng tạo văn chương. Người Việt chúng ta kiêu hãnh vì có Nguyễn Du, tự hào về tác phẩm Kiều, thêm niềm tin ở sức sống phong phú của dân tộc mình. Dân tộc chúng ta có đủ thiên tài ở khắp mọi ngành sinh hoạt, và thiên tài Nguyễn Tố Như có một vị trí vô cùng đặc biệt trong nền văn học của ta, như của thế giới. Bởi vì chưa có một nhà văn nào, ở xứ sở nào, có được tác phẩm phổ biến rộng rãi, sâu xa như thế trong xã hội mình, chưa có một nhà văn nào viết truyện bằng thơ mà đúc kết được phong phú ý tình như vậy, chưa có một nhà văn nào tác phẩm thấm nhuần tinh thần của dân tộc mình như vậy và chưa có công trình nào được dân tộc mình khai triển không ngừng những giá trị mới, được dân tộc mình gán cho ý nghĩa thiêng liêng của một tác phẩm tiên tri. Đoạn Trường Tân Thanh là sự lỗi lạc của dân tộc đúc thành văn chương, qua một con người Nguyễn Du tiêu biểu, đó là bằng chứng hiển nhiên của một giá trị văn hóa cao vời, trong nền văn minh độc đáo của dân tộc Việt.

     

    (còn tiếp)

    Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    www.trieuxuan.info

     



    (1) Trông lên mặt sắt đen sì (Đ.T.T.T).

    (1) Kim Trọng, kẻ chiến thắng định mệnh (tạp chí Mai số 1/ 1961). Ông Nguyễn Văn Xuân viết: “Tình yêu và ý chí nghị lực của chàng vẫn thừa đủ nâng chàng lên địa vị tình nhân lý tưởng với sức mạnh tinh thần đáng kính đời đời”.

    (1) Thiên niên phú quí cung tranh đoạt: ngàn năm nay sự giàu sang của ngai vàng gây nên tranh chấp (Thăng Long - Nguyễn Du).

    (2) Hồng lĩnh vô gia huynh đệ tán: nơi Hồng lĩnh không nhà ở, anh em xa lìa (Quỳnh Hải Nguyên Tiêu - Nguyễn Du).

    (3) Cơ hàn bất giác thụ nhân liên: Đói lạnh nhờ sự thương xót của người (không nhớ rõ bài nào).

    (4) Tam thập hành canh lục xích thân: Tấm thân sáu thước đã ba mươi tuổi… Xuân thu đại tự bạch đầu tân: Trải qua nhiều năm mái đầu thêm bạc (Tự Thán - Nguyễn Du).

    (5) Lữ thực giang tân, hựu hải tân: Ăn nhờ ở miền sông lại đến miền bể (Mạn Hứng - Nguyễn Du).

    (6) Cổ mạch, hàn phong cộng nhất nhân: Đường xưa, gió lạnh, một người cô độc (Dạ Hành - Nguyễn Du).

    (1) Nhận xét về bà quản gia, nhà báo Nguyễn Văn Xung có một quan điểm rất mới (Mụ quản gia, một nhân vật lành mạnh trong Đoạn Trường Tân Thanh - Nguyễn Văn Xung).

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,410

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/