Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,524

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Khách Viễn phương, người là ai?

Vũ Hạnh

  • Thứ năm, 17:02 Ngày 07/02/2013
  • Viễn phương là miền đất nào, thực không ai biết. Tên khách, cũng chẳng ai nghe. Tuổi chàng, cũng chưa ai rõ. Chàng chỉ xuất hiện có mỗi một lần ở trong tác phẩm, qua lời nhắc nhở của cậu Vương Quan, mà đã lưu lại một hình ảnh đậm nơi lòng người đọc.

    Chàng là kẻ sĩ đấy chăng? Kẻ sĩ là người có học, thành đạt thì ra làm quan, giúp nước cứu dân làm nên nghiệp lớn, thất bại thì về ẩn dật, đem lời thanh nghị mà giữ cương thường. Nhưng chàng hầu như không có một trách nhiệm nào với người thiên hạ, ngoài tấm lòng thương mênh mông với gái giang hồ. Và chàng hầu như không bị trói buộc bởi danh vị nào, câu thúc bởi kỷ luật nào, có thể ngày tháng thong dong một chiếc thuyền tình, lặn lội đến từ muôn dặm để tìm người đẹp.

    Chàng là nông dân đấy chăng? Không ai có thể lầm như vậy được. Là công nhân chăng? Thật là hoang đường. Cuộc sống phiêu bồng theo với gió đưa, nước mắt tuôn dầm vì nỗi thương hoa tiếc ngọc, phải đâu là ngón sở trường của kẻ chân tay vất vả tháng ngày, đem giọt mồ hôi đổi lấy manh áo miếng cơm?

    Thế chàng phải chăng là một thương nhân? Nhưng bọn cò kè bớt một thêm hai làm sao xếp chung một loại với chàng! Và cái tinh thần thủ lợi đâu có dồi dào giọt lệ khóc người mệnh bạc?

    Không được sắp xếp vào trong tứ dân, vậy chàng thuộc loại hạng nào?

    Mảnh áo thướt tha của kẻ nhàn du tìm về người đẹp xui ta nghĩ đến một chàng Kim Trọng hào hoa. Ai bảo trong người của khách viễn phương chẳng có được mấy phần trăm kẻ sĩ? Tấm lòng rộng mở sắm sanh nếp tử xe châu của gã tình nhân chậm trễ khiến ta nhớ lại một chàng họ Thúc cuồng si. Ai bảo trong tâm hồn khách chẳng có ít nhiều một gã phú thương quen thói bốc trời?

    Nếu chàng cũng mạch như hương thì cái mạch ấy từ lâu đã chảy xa nguồn suối chính để mà lạc loài trong những ngõ ngách tuyệt mù. Ở trong truyện Kiều, quả không thiếu những con người loại ấy. Tên Mã Giám Sinh, trước khi chung vốn với mụ Tú Bà mở một ngôi hàng bán phấn buôn hương, cũng là kẻ sĩ. Cho đến tên Sở Khanh kia, có thể đột ngột trút bỏ cái lớp khăn áo dịu dàng dùng để gạt gẫm đàn bà lương thiện mà khoác vội vào dáng điệu của tên du đãng hành hung, cũng là kẻ sĩ. Kẻ sĩ ở trong truyện Kiều là như vậy đó. Thành đạt như Hồ Tôn Hiến thì cũng bịp lừa đặng chiếm ngôi cao, chà đạp lên cái lẽ chót của đạo làm người - ấy là chữ tín - để mà thủ lợi. Bình thường như chàng Kim Trọng thì cũng mượn điều du học hỏi thuê, kiếm nhà đợi gái, lang thang gần trọn nửa đời đi tìm người đẹp. Nói chi đến bọn thất bại khoa trường, quay về tìm ăn theo lối ma cô!

    Cái trách nhiệm lớn hay trách nhiệm nhỏ vì dân, vì nước, kẻ sĩ ở trong truyện Kiều đâu có nói đến bao giờ? E rằng nhắc đến bao nhiêu điều đó chỉ khiến cho họ bỡ ngỡ, sượng sùng. Họ đã rời xa triều đại, bỏ mặc thánh hiền, không phải chạy theo đuổi bắt con tâm để mà tìm về chính đạo, nhưng chạy đuổi theo tiếng lòng réo rắt đâu đây. Tiếng lòng muôn điệu, đòi hỏi quá nhiều chu cấp, đâu có thể dùng cơm lạt, nước khe ưu đãi bạn tình? Thế tất phải có phấn son, xe ngựa, lụa thắm đêm vui, tiếng đàn ngày hạ, thế tất phải có rượu nồng, dê béo, cuộc vui cho đến canh tàn, trận cười cho phai bóng nguyệt. Làm sao tìm đủ những phương tiện ấy để cung ứng kịp cho một cuộc sống suy đồi nuôi dưỡng bằng những bạc nén, vàng ròng? Con đường bán buôn rộng mở, phú thương thuyền bến dập dìu, triều đại nhà Minh chẳng phải là một vương triều thương nghiệp phồn vinh rực rỡ đó sao?

    Kẻ sĩ thất bại, cất nghiên gác bút, một sớm chạy theo săn đuổi đồng tiền. Từ hạng đứng đầu tứ dân, kẻ sĩ tự nguyện chui vào hàng ngũ những kẻ cuối cùng. Thương nhân không còn coi như là lớp đa trá gian manh, nhưng đó là phương tiện tốt, là con đường xuôi cho những kẻ sĩ có thể sống theo đòi hỏi của lòng. Những chiếc thuyền tình cũng là những chiếc thuyền buôn, những bờ bến lớn có nhà hành viện dập dìu kỹ nữ cũng là những nơi trả giá, trao hàng, xen lẫn ngâm phong, vịnh nguyệt. Không có những chiếc thuyền buôn dong ruổi, mối tình ngàn dậm xa xôi dễ gì đuổi bắt? Không có những nguồn lợi tức trung gian, dễ gì trăm nghìn đổ một trận cười như không, dễ gì sắm sanh nếp tử xe châu chôn cất cho người bạc mệnh!

    Những lớp thương nhân khá mới mẻ này cũng có ít nhiều cốt cách khác xa với lớp con buôn kiểu cũ. Lớp con buôn xưa hẳn không phải là những kẻ xuất thân từ nơi cửa Khổng sân Trình, bọn họ mang nặng mặc cảm của một lớp người ti tiện đứng vào bậc chót tứ dân, chưa hề được dịp tháng ngày sách vở cận kề để biết trọng tài, mến sắc. Những thương nhân mới mẻ này đã làm hòa hợp hai loại con người tưởng khó dung nhau, con người vụ lợi, so đo tính toán từng đồng theo cái tinh thần thực tế hoàn toàn thiển cận với cái con người nghệ sĩ hào hoa, lãng mạn, ưu du. Trong những món hàng mà họ mang theo của những chuyến buôn dằng dặc, lại có quả tim, quyển sách, cây đàn. Giữa những tiếng dài mặc cả của một ngôn từ tráo trở giao thương hẳn có những lời hoa mỹ phát sinh từ nguồn cảm tình chan chứa. Con buôn sắt đá và người nho sĩ yếu mềm, cuộc hôn phối này chỉ là nhượng bộ tạm thời của một biến chuyển sâu xa sẽ đến về sau cho cả loài người.

    Xã hội đời Minh có sẵn đất tốt cho những con người như khách viễn phương sinh sống. Xã hội đời Nguyễn với những thương thuyền tấp nập, Kinh Kỳ, Phố Hiến, Cửa Hội, Sài Côn… đã tạo điều kiện cho khách đi lại dập dìu. Và bi kịch của truyện Kiều lại là bi kịch do lớp kẻ sĩ sa đọa và bọn con buôn vô lương chung làm đạo diễn, trong đó những người con gái nhà lành đã bị khai thác mỏi mòn. Duyên nợ Tú Bà với Mã Giám Sinh, cô ả Hoạn Thư với chàng họ Thúc, phải chăng đã biểu thị được một sự câu kết dị thường?

    Khi người nho sĩ viễn phương cất lên tiếng kkhóc tiếc thương cho người mệnh bạc, thì gã con buôn viễn phương hẳn đang nằm tại bến thuyền. Tiếng khóc ấy thật lạ lùng, vang lên giữa cảnh bốn bề tịch mịch như một tố cáo lâm ly. Tố cáo gì đây? Bên trong, phòng lặng như tờ, bên ngoài dấu cũ ngựa xe xanh mờ rêu phủ, phải chăng đó là hình ảnh tượng trưng cho sự tàn tạ, cho điều lãng quên? Mới ngày nào đây yến anh ngoài cửa xôn xao mà nay bốn bề vắng lặng, sự tương phản kia đã làm nổi bật tính cách chóng quên của những tình đời. Thế rồi tiếng khóc cất lên, ai oán chừng nào. Tiếng khóc xóa tan quên lãng, hay làm lãng quên càng đậm đà hơn?

    Thật ra chỉ có tấm lòng của khách viễn phương mới làm xúc động Thúy Kiều. Cuộc đời một kẻ bạc mệnh như nàng Đạm Tiên chỉ là sự việc phổ biến, tầm thường giữa cái xã hội quyền thế cùng với đồng tiền ngự trị. Tiếng khóc của Kiều cũng như của người khách ấy đã làm tôn trưởng quá nhiều giá trị người nằm dưới mộ, và Kiều đã khóc sau khi cậu bé Vương Quang dừng lời, là để phụ họa tiếng khóc của khách viễn phương từ thuở nào kia. Vì chính đời nàng, truân chuyên nhiều nhất là do cuộc gặp não nùng với khách viễn phương họ Thúc sau này.

    Người khách viễn phương có thể quê ở Bắc Kinh như là Kim Trọng hay chăng? Hoặc chàng cũng vốn người miền Vô Tích như chàng họ Thúc? Và hiệu của chàng có thể là Kim Thiên Lý, và tên của chàng có thể là Thúc Kỳ Tâm. Họ hàng của chàng có thể kể từ tên huyện Lôi Châu trị dân bằng cách tống tiền, đến Hồ Tôn Hiến gạt lừa để tìm danh vọng, có thể đếm từ họ Sở làm thơ dụ gái đến tên Giám Sinh họ Mã bán thịt buôn người.

    Ấy thế, dù khách không tên mà vẫn có tên, không tuổi mà vẫn có tuổi, không nơi xuất xứ mà vẫn có một quê hương. Khách mang màu sắc điển hình cho một lớp người đã xuống dốc rồi, lớp người vứt hết kinh sách chạy theo nhan sắc, dẹp cả đạo lý chạy theo đồng tiền, mỗi ngày một bỏ thánh hiền lại phía sau xa, mỗi ngày một quên vai trò rường cột chống đỡ mái nhà triều đại. Kẻ sĩ sa đọa phải chăng là điềm báo nguy cho chế độ mình? Bởi vậy, “bốn phương phẳng lặng” mà nghe đã dậy xôn xao, “hai kinh vững vàng” mà tưởng đang chiều gãy đổ.

     

    TRƯỜNG HỢP HAI NGUYỄN DU
    TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

     

    Cách đây không lâu, trên đôi tạp chí văn nghệ, chúng ta thấy vài tác giả công kích Nguyễn Du đã thiếu xác thực khi viết truyện Kiều. Những lời phê phán của họ không khác gì mấy ý kiến ông Nguyễn Bách Khoa ngày xưa, khi ông phàn nàn cái lưng Từ Hải dài hơn đôi vai nhiều quá và rất ngạc nhiên khi thấy gia đình của Kiều vừa bán con gái trên bốn trăm lạng vàng ròng, đút lót mất ba trăm lạng mà sao trở nên nghèo xác nghèo xơ quá chóng, đến nỗi sáu tháng về sau chàng Kim tìm lại thì họ đã bỏ lầu trang thuở trước để về chốn “lều tranh vách đất tả tơi”.

    Chỉ trích Nguyễn Du như vậy là xô vào một cánh cửa đã mở sẵn rồi. Sao không công kích bóng ma Đạm Tiên hiện lên giữa lúc thanh thiên bạch nhật với những “dấu giày từng bước in rêu rành rành” là chuyện mà không một ai có thể tin được trên cuộc đời này?

    Thực ra, không phải Nguyễn Du không biết rằng đó là chuyện hoang đường. Từ Hải chết đứng như cây cột đèn trồng giữa chiến trường, cũng như Kiều nhảy xuống giữa sóng bạc trùng trùng mà lại chui vào chiếc lưới ngư ông đều là chuyện quái đán cả. Tất nhiên nó còn quái đản hơn cái khuôn mặt tròn vo có đôi mày ngài nở nang của nàng Thúy Vân nhiều lắm. Chúng ta đều biết, đó chỉ là một cách nói - ý ở ngoài lời - của người ngày xưa, và thi hào Nguyễn Tố Như phải hiểu ngàn lần rõ rệt hơn ta điều ấy. Bởi vậy làm sao mà đem lề lối tả chân của nền văn học hiện đại phê phán ngôn ngữ ước lệ của nền văn học cổ điển? Lấy cái sơ-mi để đo chiếc áo thụng xanh, rồi cứ một hai chê trách áo thụng quá dài, thì không những làm xúc phạm các cụ mà về phần ta e cũng không khỏi mang tiếng là người lẩm cẩm.

    Nhưng có những điểm thuộc về nội dung tác phẩm, người ta vẫn có thể trách Nguyễn Du một cách hữu lý đến nỗi nếu thi hào được sống lại, hẳn người cũng sẽ vui vẻ tán thành.

    Các điểm trách cứ ấy vốn có nhiều. Trước hết là những lập luận để giải thích sự đau khổ của Kiều, gồm trong hai điểm: một là cái lẽ tài mệnh tương đố, hai là trau dồi thiện tâm. Tại sao mà Kiều luân lạc, đoạn trường? Nguyễn Du trả lời: vì nàng là người có tài, có sắc, một kẻ hoàn toàn, nên không có được cái mệnh dồi dào. Tại sao con người hoàn toàn lại không có mệnh? Để giải thích hiện tượng ấy, người xưa qui lỗi do Trời, là Tạo vật đố toàn, ông Trời vốn ghét sự hoàn toàn vậy. Cái “Toàn” ở đây gồm có hai mặt: về phần nội dung, đó là cái “tài” về phần hình thức, đó là cái “sắc”, và cái sắc ấy là món đặc trưng của khách má hồng. Vì vậy, tạo vật đố toàn tức là tạo vật đố tài và đố hồng nhan(1). Nếu người ta đẩy xa hơn để hỏi vì sao Trời lại ghét sự hoàn toàn, Trời lại tầm thường như vậy, thì chắc không ai có thể tiếp tục trả lời, vì đó đã thuộc về chuyện… trời đất.

    Công thức tài mệnh tương đố đã được Nguyễn Du ghi lại theo như tác phẩm Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng nó là một lập luận phổ biến trong xã hội cổ. Nó cũng tương tự như luật bù trừ, hay luật quân bình thần bí ở trong xã hội phương Tây. Ban đầu có thể là một nhận xét phiến diện ở trên thực tế. Người ta thấy kẻ tài giỏi thường hay lâm nạn, như kẻ má hồng thường gặp truân chuyên. Một số những kẻ ỷ sắc, ỷ tài có thể dễ dàng đẩy mình vào cuộc phiêu lưu và cũng dễ bị kẻ khác đố kỵ, vu oan. Nhất là xã hội ngày xưa với sự tham lam của các vua chúa, tình trạng hỗn chiến kéo dài, những kẻ có tài phải được đẩy ra chiến địa “nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây” cũng như những người có sắc phải được qui tụ vào chốn lục viện tam cung, để cho “phận bạc nằm trong má đào”. Chinh phụ của Đoàn Thị Điểm, Cung oán của Nguyễn Gia Thiều là tiếng than của sự sắc tài. Rốt cuộc, nói theo một câu thơ Đường, người đàn bà đẹp từ xưa cũng như người tướng có danh, đều không hẹn với nhân gian thấy được mái đầu mình bạc.

    Nói chung, nguyên nhân chính yếu gây nên đau khổ cho kẻ có tài có sắc vẫn là chế độ tham lam, hẹp hòi ngày xưa. Các vị tướng tài như Phạm Lãi, Trương Lương, rút được bài học lịch sử, nên sau khi đã góp phần xứng đáng đều tìm một lối rút lui hết sức mau chóng, êm đềm. Những bậc công thần lỗi lạc như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Lê Khả, Lê Sát lần lượt đều bị giết chết một cách thảm thương bởi chính chế độ mà mình đã đem sức máu dựng thành. Có tài như Nguyễn Công Trứ cũng phải bảy nổi ba chìm, hành lao tiều khốn. Chính ông đã chỉ trích Kiều thậm tệ như là gián tiếp chỉ trích Nguyễn Du(1) và khi bước vào cuộc đời đã tự phụ rằng:

    Trời đất cho ta một cái tài

    Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.

    vậy mà, mấy mươi năm sau, đã viết:

    Trông đó đó, hãy suy cho kỹ,

    Gẫm xưa nay nào có trừ ai,

    Có tài mà cậy chi tài!

    Có tài mà cậy chi tài! Đó cũng là một lời than não nuột của Nguyễn Tố Như ở cuối truyện Kiều.

    Sự gặp gỡ của hai người qua câu nói ấy, là sự gặp gỡ của hai nho sĩ, sống dưới chế độ quân quyền tàn nhẫn, đa nghi.

    Tất nhiên, không phải mọi kẻ toàn tài, toàn sắc đều chịu bất bình. Một số chịu sống âm thầm khuất lấp ắt mua được sự bình yên. Những lớp con vua cháu chúa, dù có hoàn toàn, cũng dễ an hưởng thái bình hơn phường dân dã. Nhưng chỉ căn cứ vào một hiện tượng có vẻ phổ biến, rồi đúc thành ra định luật, đó là trình độ suy luận cảm tính của người ngày xưa. Những định luật ấy dần dần được những phần tử có ý thức nhất của chế độ cũ đem vào sách vở, văn chương, bổ sung vào ý thức hệ chế độ để biện hộ cho những sự tàn ác bất công do nó gây nên. Vào đầu tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du đã nói một cách xác định hẳn hòi:

    Lạ gì bỉ sắc tư phong,

    Trời xanh quen thói mà hồng đánh ghen

    Mấy tiếng “lạ gì” cùng với “quen thói” tưởng như không còn khiến ai hồ nghi gì nữa. Nhưng có phải do trời xanh đấy chăng? Cái khổ của Kiều không đợi chúng ta ngày nay mới nhìn rõ được vì đâu mà Chu Mạnh Trinh đã từng vạch rõ như sau: “Giả sử ngay khi trước, Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay, quan lại công bằng, án Viên Ngoại tỏ ngay tình oan uổng, thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười…”(1). Khổ ấy do hai trở ngại, một là con đường Liêu Dương cách trở khiến cho Kim Trọng không sao hay biết để về cứu nạn giúp Kiều, hai là luật pháp bất công dựa vào một cớ mơ hồ để mà đục khoét dân lành vô tội. Giao thông bất tiện là một đặc tính địa lý của chế độ phong kiến sống bằng kinh tế nông nghiệp tự túc địa phương với tổ chức làng xã chật hẹp, phép vua thua lệ làng. Ở chế độ ấy, không cần đi lại đổi chác bán buôn nên sự giao thông chưa được mở mang, do đó qua sông không thể có cầu, chỉ có cây đa bến cũ, con đò năm xưa, nếu không phải cởi áo quần mà lội, và núi rừng chưa được sự khai thông, chỉ có thỉnh thoảng lâu la đón chặn giữa đường, đòi hỏi nộp tiền mãi lộ. Luật pháp bất công là đặc tính chính trị của xã hội phong kiến sống bằng áp bức, thần quyền. Chỉ một cớ rất nhỏ nhặt, thoảng qua trong một câu thơ:

    Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ

    mà cả gia đình lâm nguy, bị sự vơ vét, tra tấn đưa đến cuộc đời lưu lạc đoạn trường suốt mười lăm năm của Kiều.

    Bởi vậy, mặc dầu mơ đầu tác phẩm, tác giả có bảo:

    Trời xanh quen thói má hồng đáng ghen,

    và cuối tác phẩm, lại bảo:

    Ngẫm hay muôn sự tại trời,

    ta cũng không sao mà oán hận trời, vì trời không hề can dự mảy may vào những hành động áp bức như vậy. Và khi Vương Ông đau khổ dậm chân, than rằng:

    Trời làm chi cực bấy trời

    thì ta biết ông lầm lẫn, như một số người đã từng lầm lẫn xưa nay.

    Tóm lại, công thức tài mệnh tương đố là một lập luận không được thật thà, chỉ có mỗi một tác dụng là bênh vực cho bao nhiêu thủ đoạn đàn áp con người của một chế độ phi nhân.

    Người ta có thể phàn nàn tác giả không chỉ bằng lòng với một lập luận trừu tượng, còn cho hiện lên ở trong tác phẩm một người bằng xương bằng thịt, gọi là Tam Hợp đạo cô, để mà nói lên điều ấy. Tam Hợp, có lẽ là một danh hiệu tượng trưng, chỉ sự tổng hợp của Nho, Phật, Lão là ba giáo lý căn bản làm nên tinh thần xã hội ta xưa. Với tinh thần ấy, đạo cô hiểu được mọi lẽ huyền vi, mầu nhiệm của trời (?), và kki bà sư Giác Duyên đã ngơ ngác hỏi một câu hết sức chân thành, một điều thắc mắc chí lý về Kiều:

    Người sao hiếu nghĩa đủ đường

    Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?

    thì đạo cô đã diễn giải ý “trời” rành rọt như sau:

    … phúc họa đạo trời

    cỗi nguồn cũng bởi lòng người mà ra.

    Có trời mà cũng tại ta,

    Tu là cõi phúc tình là dây oan.

    Chỉ qua có bốn câu đầu ta đã thấy rõ một điều mâu thuẫn lớn lao: trước những đau khổ, tủi nhụ của Kiều, tác giả đều qui lỗi cho Trời, và từng tuyên bố dứt khoát ở trong đọan kết:

    Trời kia đã bắt làm người có thân.

    Bắt phong trần, phải phong trần,

    Cho thanh cao mới được phần thanh cao,

    nghĩa là trời có một thứ quyền năng tuyệt đối lạ lùng, định đoạt tất cả vận mệnh của người. Thế mà khi có một người ngơ ngác trước những đau khổ phi lý của đồng loại mình, chất vấn trực tiếp nhân vật đại diện cho trời, thì nhân vật ấy một hai bảo rằng cũng bởi lòng người mà ra! Cứ theo cái giọng điềm tĩnh, ôn tồn của bà đạo cô, thì ai dám bảo bà nói dối bao giờ? Nhưng ta hiểu rằng bà không nói thật. Lập luận duy nhất của bà là sự đổ thừa. Trước kia, tác giả đổ hết cả tội cho trời. Bây giờ kẻ tự nhận là đại diện cho trời, bị sự đối đầu trực vấn, không tự biện nổi, lại phải đổ lỗi cho người!

     Nhưng sự thực không quá đỗi dễ dàng như bà đạo cô đã tưởng. Bởi vì tất cả lý lẽ của bà không có một lý lẽ nào đứng vững. Nếu bà bảo rằng:

    Tu là cõi phúc, tình là dây oan

    thì bà muốn nói tình nào ở đây? Nỗi oan của Kiều không phải vì tình. Nàng phải ra đi chỉ vì thương cha, thương em nên chịu bán mình, và cái mối tình của kẻ làm con, của người làm chị không phải là điều mà trời có thể kết án. Yêu đương Kim Trọng cũng không phải là tội lỗi vì tình. Nàng yêu một cách lý tưởng, với niềm chung thủy sâu xa, với một tư cách vẹn toàn xứng đáng, làm sao mà chê trách được? Và dầu nàng có tự động qua nhà Kim Trọng trong lúc đêm hôm, tư cách của nàng cũng khiến chàng Kim kính nể suốt đời.

    Có thể nói rằng nguyên lý “tình là dây oan” do bà đạo cô tuyên bố ở đây rõ ràng không có đối tượng chút nào. Đó là một thứ lập luận mơ hồ, mượn cái giọng điệu đạo đức có vẻ phổ biến để đẩy lệch hẳn cái nhìn chúng ta về một trường hợp cụ thể. Bà còn nói tiếp:

    Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan

    Vô duyên là phận hồng nhan đã đành

    Hai tiếng “đã đành” thực là hết sức khó nghe. Nó muốn cho ta chấp nhận một điều vô lý như một lẽ phải hiển nhiên trên cuộc đời này. Sắc sảo khôn ngoan lẽ ra thì phải có duyên, còn bảo “vô duyên là phận hồng nhan”… mới kỳ!

    Rồi bà trở lại luận điệu trước kia:

    Lại mang lấy một chữ tình,

    Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.

    Vậy nên những chốn thong dong,

    Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,

    Ma đưa lối quỷ dẫn đàng,

    Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.

    Hết nạn nọ đến nạn kia,

    Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần,

    Trong vòng giáo đựng gươm trần,

    Kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi.

    để lại cho rằng tất cả nỗi khổ của nàng trong mười lăm năm, chung qui là tại vì tình! Qui lỗi cho Kiều, là kẻ hiếu nghĩa đủ đường, đạo cô cũng không giấu được những điều lúng túng, khó khăn. Ở nơi con người quá hoàn hảo ấy, bà chỉ còn tìm được mỗi luận điệu mơ hồ là tội đa tình. Nhưng suốt tác phẩm, ta đã thấy Kiều khổ sở là do quan lại bất công, rồi suốt quãng đời lưu lạc, mỗi lần nàng muốn nhoài ra khỏi chốn bùn nhơ, nàng lại càng bị xót xa hơn nữa. Vì đâu? Vì xã hội ấy toàn bọn chuyên quyền và lũ bất lương. Tất nhiên, một cái xã hội trong sạch không thể đánh người trái phép như mụ Tú Bà, như mẹ Hoạn Thư, không thể buôn người tự do như Mã Giám Sinh, hay là Bạc Hạnh. Và một xã hội trong sạch không thể để cho một kẻ cầm quyền bội tín giết chồng, đoạt vợ, rồi sau khi đã ăn nằm với họ lại đem vứt bỏ cho kẻ tay sai, mà vẫn còn là ông lớn đường đường phương diện quốc gia.

    Trước những thảm cảnh như vây của Kiều, do một xã hội bất công tàn nhẫn gây nên, mà cứ một hai bảo lỗi tại nàng thì thực là cũng bất công, tàn nhẫn. Do đó, ta nhận diện được đạo cô là kẻ nào rồi. Và một lần nữa, qua cái giọng điệu làm ra điềm đạm, ôn tồn, ta lại biết rằng đó không phải là tiếng nói của Trời và chúng ta phải bênh vực cho sự cao cả thiêng liêng của một ông Trời chí đại, chí tôn, nếu quả ông này có thực. Ở đây, đạo cô chỉ là đại diện cho một xã hội áp bức, phi nhân, cố gắng để tự bào chữa bằng những ngụy biện hết sức vụng về. Ta không còn lấy làm lạ khi nghe đạo cô bảo Kiều: “Kề lưng hùm sói gởi thân tôi đòi” trong khi Kiều được Từ Hải xem như tri kỷ(1), anh hùng(2), bình đẳng với mình(3) và suốt cuộc đời, họ Từ đã sống và chết vì nàng. Nàng chỉ thực làm tôi đòi khi phải sống trong gia đình mẹ con họ Hoạn, là gia đình bọn phong kiến cao sang.

    Tất cả nhận xét khá hồ đồ ấy còn đi xa hơn, khi bà đạo cô tuyên bố ân huệ của trời (?) đối với Thúy Kiều. Một trong khá nhiều lý do mà Trời cho Kiều gặp lại gia đình là cái lý do sau đây:

    Hại một người, cứu muôn người.

    Nhưng Kiều có hại ai đâu? Từ Hải chết đi rõ ràng không phải vì Kiều. Trước sau, nàng chỉ muốn sống yên vui với Từ mà thôi. Khi nghe lời Hồ Tôn Hiến bảo nàng có xin ban thưởng gì không, thì nàng cũng đã ngang nhiên đề cao họ Từ trước mặt viên quan Tổng đốc trọng thần, rằng:

    … Từ là đấng anh hùng

    Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi

    Tin tôi nên quá nghe lời,

    Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.

    Ngỡ là phu quí, phụ vinh,

    Ai ngờ một phút tan tành thịt xương,

    Năm năm trời bể ngang tàng,

    Đem mình đi bỏ chiến trường như không.

    Và nàng gián tiếp tố cáo tội ác của tên đại diện triều đình:

    Khéo khuyên kể lấy làm công

    Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu

    Xét mình công ít tội nhiều,

    Không thể bảo rằng Từ Hải vì nghe lời Kiều mà chết. Vô tình hay là cố ý, những lời nói ấy cũng là bào chữa cho lũ bất nhân và qui tội cho con người lương thiện. Khi khuyên Từ Hải, Kiều đã có sẵn nơi lòng niềm tin đối với vua quan và lòng tôn kính đối với những kẻ bề trên ở trong xã hội. Khi khuyên Từ Hải, động cơ của nàng là Hiếu, là Trung và rõ hơn hết là sự khao khát được sống yên lành giữa cái trật tự lễ nghi đã được ổn định lâu đời là chốn triều đình. Kiều không có lỗi gì hết khi khuyên như thế. Còn Từ cũng tất cũng có niềm tin ấy, cộng với lòng thương yêu Kiều. Từ không có lỗi, họa chăng chỉ có chút lỗi của kẻ quá lòng thành thực. Tại sao lại phải đổ thừa quanh quẩn, khi tên sát nhân đã quá rõ ràng? Kẻ giết chết Từ là tên mặt sắt đang ngồi trước mặt nàng Kiều khi nàng kể lể những lời thống thiết trên đây, và sau khi ấy nó vẫn còn ngồi trên đầu trên cổ muôn dân. Vậy mà đạo cô không muốn nói lên điều ấy, chỉ muốn tìm cách để che giấu gã rồi còn giả bộ đề cao công trạng của Kiều cốt để qui tội giết ấy cho nàng.

    Tội nghiệp, sau này bị gả cho tên thổ quan, nàng đã gào lên trước khi tự vận:

    Giết chồng rồi lại lấy chồng

    thì ta phải hiểu hai tiếng giết chồng ở đây chỉ là những lời đau xót của nàng thốt ra trong lúc bi phẫn đối với chính mình mà thôi(1).

    Sự thiếu xác thực trong lập luận của đạo cô không chỉ dừng lại ở điểm qui lỗi cho Kiều sau khi nho sĩ Nguyễn Du đã bảo tại Trời. Không, điều quan trọng hơn là sự đền bù về sau, là cái lập luận thiện tâm đã kiến cho Kiều được Trời (?) giúp chúng tái ngộ chàng Kim và sum họp với gia đình. Tại sao quan niệm thiện tâm ở đây cũng bị coi như là sự gian trá? Bởi vì Kiều đã bị cảnh đoạn trường tủi nhục do một chế độ bất công gây nên và nhờ nàng biết chấp nhận cái trật tự ấy, cái xã hội ấy nên nàng được Trời (?) ban thưởng. Thực chất hai tiếng thiện tâm của Kiều là vậy. Trời cho rằng Kiều có hiếu, có trung, đáng được khoan hồng. Chữ hiếu ở đây là bảo tồn sự đứng vững của chế độ đại gia đình phong kiến và chấp nhận sự tàn ác bất công của kẻ cầm quyền. Cái hiếu của Kiều tuy để giải thoát cho cha và em, nhưng chỉ có nghĩa là đem lại cho túi tham của tên tri huyện ba trăm lạng vàng. Kẻ có lợi nhất ở trong vụ này là gã. Gã gieo tai họa cho người, rồi gặt lấy vàng. Chữ trung ở đây là khuyên Từ Hải ra hàng. Từ Hải là người duy nhất ở trong tác phẩm không chịu thừa nhận cái trật tự ấy, là người coi thường cái khuôn khổ ấy. Họ Từ khinh bỉ những hạng cá chậu chim lồng, họ Từ “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, và chính nhân vật họ Từ đã thành đối tượng chỉ trích cho nhiều nhà thơ giàu lòng bảo hoàng. Khuyên kẻ cứng đầu duy nhất trở về hàng phục, Kiều đã được Trời (?) xem như có công đặc biệt trong sự… chiêu hồi. Như thế phần thưởng tái ngộ đoàn viên là do nàng biết chấp nhận xã hội, chấp nhận để mà củng cố cho cái trật tự đã gây tai họa cho nàng. Nếu ta nghĩ kỹ hơn nữa về các tội ác mà chế độ ấy gây nên cho Kiều và nghĩ kỹ về ân huệ đoàn viên mà nó ban phát cho Kiều, ta sẽ thấy rằng chung qui là để làm lợi cho chế độ ấy mà thôi. Đày đọa con người vào sự tủi nhục, rồi ve vãn người nuốt lấy tủi nhục, đó là thực chất của cái chế độ phi nhân, với hai đặc tính: tàn bạo, điêu ngoa.

    Nhưng sự tàn bạo, điêu ngoa đến những sự kiện trên đây, vẫn còn là ít. Thực ra, ở cuối tác phẩm, khi xếp sách lại, ta mới thấm thía nhiều hơn về sự tàn bạo điêu ngoa của chế độ ấy trong sự buộc Kiều tự nhận làm bạn của chàng Kim Trọng, chứ không nên vợ nên chồng. Trong bài Đứa con của nàng Kiều chúng tôi có nêu lên sự kiện này. Tam Hợp đạo cô bảo rằng nàng Kiều sẽ được đoàn viên, sẽ được:

    Đền bồi nợ trước, nhẹ nhàng duyên sau.

    Cũng như hồn ma Đạm Tiên đã bảo:

    Duyên sau đầy đặn, phúc sau dồi dào

    nhưng rồi chỉ cho Kiều gặp Kim Trọng nói chuyện vợ chồng bằng miệng đôi câu, chứ có duyên trước, phúc sau nhẹ nhàng, đầy đặn gì đâu! Nhiều người đọc sách đến chỗ gia đình sum họp, cho là may mắn lắm rồi, lại thấy một đằng cô ả Thúy Vân chu tất việc nhà, một đằng Kiều đã chán chường ong bướm, nên cho rằng sự xếp đặt như thế là ổn thỏa rồi, không muốn bận tâm hơn nữa. Thực ra, sự sắp xếp ấy có ổn thỏa chăng? Hay là cuộc sống “đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ” lại càng tủi nhục nhiều hơn, vì nó luôn luôn nhắc nhở cuộc đời ô nhục và sự dang dở của Kiều?

    Rốt cuộc, qua những lời nói gán cho ý định của trời, ta không thấy có lời nào phụ hợp sự thưc, mà chỉ là sự xuyên tạc và che giấu sự thực cho bớ thấy những bỉ ổi xấu xa của một chế độ tham tàn.

    Nhiều người hẳn không giấu được bất bình khi thấy trên những xuyên tạc và che giấu ấy, nho sĩ Nguyễn Du là một giảng viên cố tình giải thích bao nhiêu sự trạng xảy ra theo cái thâm ý bênh vực cho chế độ mình. Bên cạnh người giảng viên ấy, đạo cô là một trạng sư cố gắng dùng hết những lời ngụy biện để mà bào chữa cho bao tội ác do chế độ gây nên. Nhưng còn một nhân vật nữa có một tác động trực tiếp, sâu xa đối với nàng Kiều. Đó là bóng ma Đạm Tiên đã đóng vai trò cảnh sát, luôn luôn theo dõi nàng Kiều, buộc nàng chấp nhận cái trật tự ấy cho đến mòn mỏi cuộc đời. Không có Đạm Tiên, thì Kiều ắt phải tự vẫn lâu rồi. Lần đầu nàng được cứu thoát ở nhà Tú Bà, nhưng sau đó, qua bao nhiêu là tủi nhục của đời, ai cấm cản nàng tìm cách quyên sinh như một giải thoát? Để chống đối lại một hoàn cảnh nào, người ta chỉ có hai cách: tích cực, là đạp đổ hẳn nó đi, giống như Từ Hải đã làm: tiêu cực, là từ giã nó, ra ngoài hẳn những buộc ràng của nó, cụ thể là sự quyên sinh như Kiều đã từng xử sự ở nhà Tú Bà. Một người tư cách thanh cao như Kiều, có quan niệm sống lý tưởng như Kiều mà chịu kéo lê đời mình trong sự tủi nhục là việc hoàn toàn vô lý, nếu không có sự xuất hiện của cái bóng ma tự nhận truyền đạt mệnh Trời(?) buộc nàng đừng vượt ra ngoài giới hạn của đời. Do đó những lời nói của Đạm Tiên cũng đều võ đoán, hàm hồ, giống như lập luận đạo cô. Một lần, người rỉ vào tai của Kiều:

    Số còn nặng nợ má đào

    Người dù muốn thác trời nào đã cho!

    Thật chúng ta không làm sao hiểu nổi cái nghiệp má đào của Kiều nó như thế nào. Ở từ cửa miệng Đạm Tiên nó còn khó tin hơn nữa. Nhưng cứ gán liều cho người một tiếng mơ hồ như vậy, rồi bắt người ta chịu lấy đau khổ hay sao? Và khi người đã muốn thác thì có trời nào ngăn cấm cho nổi? Một kẻ nhảy ra nằm dài trước đầu xe xích lô đạp chắc chắn có ít triển vọng lìa đời hơn kẻ phóng mình ra giữa đường rầy, khi chuyến xe lửa tốc hành băng qua.

    Sau này kki Kiều còn đang mơ màng giữa sóng Tiền Đường, Đạm Tiên cũng lại cất giọng ỏn ẻn nhận định về Kiều:

    Bán mình là hiếu, cứu người là nhân

    Một niềm vì nước vì dân…

    thì nàng làm cho chúng ta phải thẹn đỏ mặt. Đề cao nàng Kiều lên mức cứu nhân độ thế, ái quốc ái quần thì quả là chuyện khôi hài quá đáng. Kiều không xứng đáng một cái vinh dự như thế, mà nàng cũng chưa hề muốn được làm như thế bao giờ. Trong đời, nàng chỉ mong mỏi được sống yên ổn như đa số người phụ nữ ngày xưa, được thương cha mẹ, được yêu chồng con, và chỉ có thế mà thôi. Khi giao cho nàng nhiệm vụ cầm lấy cán cân công lý để mà báo oán trả ân ở giữa trướng hùm Từ Hải, thì nàng cũng đã xử sự một cách bất công, như cái công lý ngày xưa vốn bất công rồi. Trong những tội phạm bị đưa đến trước mặt nàng thì kẻ chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư là được tự biện cho mình, rồi được dung tha, còn những tòng phạm, như là Khuyển Ưng chỉ là tay sai ở chốn quyền môn, chỉ biết một mực vâng lời thì nàng chặt đầu lột da, không chút tiếc thương.

    Vậy mà nàng cũng cao lời phán quyết:

    … lồng lộng trời cao

    Hại nhân, nhân hại sự nào hại ta

    tuy kẻ thực sự hại nàng, nàng đã làm ngơ và đã cho qua: đó là tên tri huyện kia vu họa cho gia đình nàng, đó là bà mẹ Hoạn Thư vô cớ đánh nàng tàn nhẫn rồi bắt nàng làm nô tì. Nàng không đem trị những hạng người này và nàng - cũng như nho sĩ Nguyễn Du - giả vờ quên đi ở trong tác phẩm. Cho một cô gái giang hồ như nàng tra hỏi một bà Lại-bộ Thượng-thư, xã hội ngày xưa đâu có thể nào chấp nhận điều ngang ngược ấy. Kiều đã cứu người khi họ ở một địa vị trên nàng, dù họ làm tình làm tội đời nàng. Còn khi những hạng người đó là lớp khốn cùng, những kẻ cặn bã, vừa gây tội ác vừa là nạn nhân của một chế độ xấu xa thì nàng giết đi không chút tiếc thương.

    Chúng ta đều thấy ngoài sự bán mình cứu cha và em được trời cho vào điểm hiếu, Kiều chưa cứu được một người nào hết, chứ đừng nói đến muôn người. Trên đường luân lạc, nàng lo cho cuộc đời nàng chưa xong, còn hơi sức đâu mà nghĩ đến kẻ khác nữa. Khi khuyên Từ Hải ra hàng, nàng không định cứu ai hết, ngoài nàng. Và cũng không bao giờ nghĩ đến quốc gia, dân tộc, như Đạm Tiên đã nói liều, cũng như nho sĩ Nguyễn Du đã bắt nàng nói về sau, trước khi tự vẫn:

    … Từ công hậu đãi ta

    xót vì nước mình ra phụ lòng.

    Gán ép thái độ phục vụ cao cả cho Kiều là nhằm biện giải cho sự đoàn viên tái ngộ về sau của nàng. Và dụng tâm của đoàn viên tái ngộ, như ta đã thấy, chỉ nhằm đề cao chế độ, củng cố chế độ mà thôi.

    Như vậy, Đạm Tiên, bóng ma chập chờn đã hiện bốn lần trong suốt dời Kiều, chỉ là lối cụ thể hóa một số ý thức của chế độ phong kiến đang buổi suy tàn. Cái chế độ già cỗi ấy chỉ còn là một bóng ma ám ảnh con người, tuy là ra vẻ giận dỗi ít nhiều khi trả thơ lại cho Kiều rồi từ giã nàng ở sông Tiền Đường, nhưng chung qui là một cách đóng kịch cho hợp với những phản ứng tâm lý trong sự xây dựng nhân vật đó thôi. Bởi lẽ, nếu Kiều chết đi ở sông Tiền Đường thì không phải Kiều chịu sự thiệt thòi mà chính chế độ phong kiến chịu lời nguyền rủa đời đời. Cái chết của Kiều như thực hiện được, thì còn có sự vô lý nào hơn về chế độ ấy? Còn có sự tố cáo nào rõ rệt hơn nữa về cái tàn ác của một xã hội, còn có sự bất công nào hơn nữa về đời? Chế độ bị lột mặt nạ của mình một cách lộ liễu và người đọc sách sẽ thấy khủng khiếp, hoặc là bất bình. Để che đậy sự trạng ấy, chế độ cứu sống cho Kiều, đem Kiều về lại cho gia đình nàng. Không phải vì thương xót Kiều (chế độ ấy còn có xót thương ai) nhưng chỉ là để vớt vát thể diện và để củng cố cho mình. Như chúng ta đã trình bày, sự đoàn viên ấy chỉ là một cách đành lừa miệng thế, làm lợi cho chế độ ấy và thêm tủi nhục cho Kiều.

    Bởi vậy có thể nhận định Đạm Tiên với Kiều, xét về tâm lý, chung qui chỉ là một người. Ý thức duyên số, định mệnh mà Đạm Tiên là tiêu biểu, vốn đã có sẵn trong tâm hồn Kiều khi nàng sinh trưởng và tiếp thu sự giáo dục của chế độ ấy. Đạm Tiên với Kiều tuy một mà hai, tuy hai mà một(1).

    Tóm lại giảng viên Nguyễn Du, quan tòa Thúy Kiều, trạng sư Đạo cô, cảnh sát Đạm Tiên là những biểu hiện khác nhau của một hệ thống ý thưc. Ý thức hệ ấy, hoặc được phát biểu trực tiếp bằng những nhân vật cụ thể hoặc gián tiếp bằng lời lẽ của tác giả, đều có chủ ý lý giải cho sự tồn tại chế độ, đồng thời góp phần củng cố chế độ. Bất cứ chế độ nào cũng có bản năng tự vệ của mình và cũng chìa đủ bàn tay năm ngón để giữ người dân trong sự phục tòng. Năm ngón tay ấy là ngón pháp luật cùng với tòa án, là ngón giáo dục, luân lý, dư luận hằng ngày… Với những người dân không sợ pháp luật vì đã từng quen ra tội vào tù, với những người dân coi thường dư luận vì không có một trình độ giáo dục tối thiểu, thì làm thế nào? Họ đã coi thường cuộc đời trước mắt, thì phải làm cho họ sợ cuộc đời mai sau. Phải đem tín ngưỡng mà răn dạy họ, đưa họ vào khuôn phép của đời. Nhiều kẻ sát nhân vẫn muốn rửa tội trước khi nhắm mắt, nhiều kẻ bóp họng dân nghèo thỉnh thoảng vẫn không quên làm từ thiện để mong về sau, khi sang bên kia thế giới, có một chỗ ngồi đầy đủ tiện nghi. Tín ngưỡng dầu như có vẻ tách biệt với sinh hoạt khác, là ngón tay cái trong bàn tay năm ngón của chế độ. Tất cả điều hơn lẽ thiệt của một xã hội thể hiện ở trong sinh hoạt, làm nên hệ thống ý thức của nó, tác động âm thầm sâu xa vào khắp mọi người, mọi ngành và những khi gặp chống đối càng tự bộc lộ hết sức quyết liệt với nhiều uẩn khúc, tinh vi.

    Trạng thái ý thức phong kiến ở trong truyện Kiều là những lập luận bênh vực đàn áp bất công do chế độ ấy gây nên. Mọi thứ tội ác của lớp vua quan đều đổ cho Trời, mọi sự đau khổ đều qui vào cho số mệnh, nghiệp duyên, vào lẽ tài mệnh tương đố gian ngoa và lẽ thiện tâm tiêu cực. Mọi sự đau khổ đều gán cho loài ma quỷ - ma đưa lối, quỷ dẫn đường - vốn là sản phẩm tưởng tượng còn được nhiều người hâm mộ sâu xa.

    Người ta có thể nhìn thấy rõ ý thức hệ của phong kiến được đề cao như thế nào trong tác phẩm qua một nhân vật Hoạn Thư, là kẻ luôn luôn giữ phần thắng lợi về mình. Hoạn Thư, như cái tên gọi, là người con gái nhà quan, với tất cả những uy quyền có thể có được trong tay của tầng lớp ấy. Đặc điểm của nhân vật này là sự khôn ngoan làm bằng quyền lực và những suy tính để giữ ưu thế của mình. Nàng có một cái mặc cảm tự tôn hết sức sâu sắc và bao giờ cũng biết mình là kẻ bề trên với tất cả những tác phong cần thiết. Khi nghĩ về Kiều, nàng đã tự nhủ với sự trang trọng, bệ vệ của mình:

    Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên

    Và khi ở vai chủ nhà của Kiều, tiếng thét đầy sự đe dọa:

    … Con Hoa!

    Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn!

    cũng như lời nhận xét Kiều với nỗi trắc ẩn điều độ của nàng:

    … Tình nên trọng mà tài nên thương.

    đều có đầy đủ uy quyền tác oai tác phúc của một con người trưởng thượng. Nơi người đàn bà Hoạn Thư không hề có những xúc cảm rẻ tiền, không có những sự nông nổi, bồng bột nào hết. Ở trong tình cảm của nàng không có phóng túng, không có ủy mị, không có nhượng bộ. Mọi việc đều được đo lường lợi hại với một tác phong trầm tĩnh đặc biệt làm cho những người đa cảm như Kiều phải hốt hoảng lên. Nói về Hoạn Thư, Kiều dùng những tiếng “kẻ lớn trong nhà”, và khi ở Quan Âm Các, Hoạn Thư dắt Thúc Sinh về rồi thì Kiều đã phải kêu lên:

    Ấy mới gan, ấy mới tài!

    và không giấu được khủng khiếp:

    Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời,

    Cho đến khi Kiều đã thắng thế rồi, ngồi ở địa vị của người chánh án toàn quyền định đoạt vận mệnh tội nhân, mà nàng vẫn không giấu được sợ hãi khi gặp Hoạn Thư ra trước ba quân:

    Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?

    Đó là lời chào mai mỉa của kẻ biết mình đã giành ưu thế nhưng vẫn âm thầm có mối mặc cảm tự ti ám ảnh trong lòng. Bởi vì lời nói của nàng tố cáo rằng trong tiềm thức nàng vẫn thấy mình hèn kém, vì chỗ của nàng đang ở đúng ra không phải là nơi Hoạn Thư muốn đặt chân vào. Sau khi Kiều quan trọng hóa vấn đề mà buộc tội:

    Đàn bà dễ có mấy tay,

    Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan,

    Dễ dàng là thói hồng nhan,

    Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều,

    thì Hoạn Thư dầu hồn lạc phách xiêu, vẫn liệu được lời bào chữa cho mình. Sự bào chữa ấy trước hết là tự-nhiên-hóa việc làm của mình để gỡ khỏi sự buộc tội gay gắt của Kiều:

    … Tôi chút phận đàn bà

    Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.

    Rồi không để cho đối phương có kịp thì giờ chống trả, nàng đã liên tiếp tấn công:

    Nghĩ cho khi các viết kinh

    Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.

    Câu thơ thứ nhất là một cánh tay hoa lên ở trước mặt Kiều. Nó nhắc nhở lại tấc lòng thương hại đã thành một món ân huệ mà Hoạn Thư ban cho Kiều, khi chấp nhận lời thỉnh nguyện của Kiều xin được nương nhờ cửa Phật. Nó còn nhắc lại cả sự gặp gỡ lén lút giữa Kiều với lại Thúc Sinh, cùng những lời lẽ hai người đã tố khổ nàng trong cái thời khoảng mà Kiều mặc áo nâu sồng. Nhưng câu thứ hai mới là một ngọn roi da quất vút bên Kiều. Nó gợi lên sự khoan hồng mà Hoạn Thư đem đối đãi với Kiều để gián tiếp nhắc đến sự nàng Kiều trộm cắp chuông vàng khánh bạc ra đi. Đồng thời để làm sáng tỏ thêm sự khoan hồng của mình, cũng như giải thích lý do của sự đối đãi khắc nghiệt đã qua, Hoạn Thư tiếp lời, minh định lập trường xử sự của nàng:

    Lòng riêng riêng những kính yêu

    Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.

    Với hai tiếng “ai”, Hoạn Thư là kẻ chính danh thủ phạm đã tự nâng mình lên một mặt phẳng với Kiều, là vị quan tòa. Hay nói cách khác, vị quan tòa Kiều đã bị lôi xuống cho ngang với kẻ tội phạm. Chúng ta tưởng như thấy được nàng Kiều cúi gằm mặt xuống, sau câu nói ấy. Và Kiều vội vàng khen lấy kẻ thù:

    Khôn ngoan rất mực, nói năng phải lời.

    để che đậy sự lúng túng của mình và cố giữ chút uy quyền mỏng manh:

    Tha ra thì cũng may đời

    nhưng rồi lại bộc lộ sự nhượng bộ, đồng thời với sự thất thế, qua câu:

    Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen

    Thì ra, có trừng trị được Hoạn Thư, Kiều cũng không có chính nghĩa nào, mà chỉ là sự trả đũa của kẻ nhỏ nhen, bần tiện đó thôi. Và sự “tha ra” của Kiều không phải là một hành động khoan hồng gì hết.

    Tóm lại, Kiều không phải là đối thủ của Hoạn Thư được. Trước “kẻ lớn” ấy, Kiều dầu có ngồi ở ngôi vị nào, cũng thành thấp kém. Nguyễn Du - nho sĩ Nguyễn Du - đã sống trọn vẹn qua cái vai trò tượng trưng cho tầng lớp mình là ả Hoạn Thư. Ông đã giữ vững cho vai trò ấy uy thế tinh thần của nó đối với người dân, nhất là người dân khốn khổ sống đời nạn nhân là Vương Thúy Kiều. Suốt trong tác phẩm, bao giờ Nguyễn Du cũng bênh vực Kiều, cũng tỏ những lời xót xa ai oán khi thấy nàng Kiều ngộ nạn lâm nguy. Nhưng trước Hoạn Thư, Nguyễn Du buộc phải xét lại thái độ của mình. Ông phải chọn lựa, và người nho sĩ Nguyễn Du đã chọn Hoạn Thư.

    Điều mà chúng ta nhìn thấy rõ nhất là Nguyễn Du đã xây dựng Hoạn Thư như một con người điển hình, không phải điển hình hoàn toàn cho sự ghen tuông như sự nhận định xưa nay của một số người làm sách giảng văn, mà là điển hình cho một kiểu người phong kiến vẹn toàn. Hoạn Thư chỉ nghĩ có mỗi một điều là uy thế mình, là thể giá mình, trong đó quyền lợi của tầng lớp mình là chính. Nàng vẫn có thể chấp nhận Thúy Kiều làm người lẻ mọn một cách dễ dàng nếu Thúc Sinh đừng che giấu để qua mặt nàng:

    Ví bằng thú thật cùng ta,

    Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.

    Tội chi chẳng giữ lấy nền,

    Dại chi mà rước tiếng ghen vào mình.

    Và nàng đã phải vả miệng bẻ răng những kẻ dâng công tố cáo sự việc Thúc Sinh dan díu với Kiều bằng một lập luận uy hiếp hàm hồ:

    Chồng tao nào phải như ai

    chỉ cốt sao cho “trong ngoài thin thít như bưng”, cũng như nàng vẫn luôn luôn vui vẻ nói cười, để giữ thể giá của mình. Sự việc đưa Kiều về cho Hoạn Bà hành hạ, bắt làm nô tì trước khi đem Kiều về lại nhà mình có lẽ cũng ở trong tâm thức ấy. Nàng muốn mẹ nàng cũng được hưởng sự trả thù khi uy tín của nhà nàng đã bị tổn thương. Tất cả những sự hà khắc sau này cũng chỉ thỏa mãn lòng tự ái đó, lòng tự ái của những người có một sĩ diện thật cao, có một tư thế thật dày. Những lời rít lên trong sự căm hờn khi thấy Thúc Sinh vẫn che giấu mình, càng xác nhận rõ điều này. Hành động bắt Kiều chào đón Thúc Sinh, hành hạ Kiều trong tiệc rượu, giả vờ đi vắng để bắt quả tang Thúc Sinh lén lút gặp Kiều tại Quan Âm Các, tuy vẫn nhằm vào triệt hạ cả đôi, nhưng phần căn bản vẫn là hành hạ người chồng, làm cho vỡ mật anh chồng bội bạc, như anh ta đã kêu lên thống thiết về sau:

    Thấp cơ thua trí đàn bà,

    Trông vào đau ruột nói ra ngại lời.

    Riêng đối với Kiều, Hoạn Thư không hề hành hạ đánh đập bao giờ. Không phải vì Kiều là người tri kỷ của Hoạn Thư như ông Đông Hồ đã từng bày tỏ bày quan điểm trong bài Hai nhân vật tri kỷ(1), nhưng vì Hoạn Thư coi rẻ nàng Kiều, không muốn sự đánh đập ấy làm cho con người của mình thành hạng “ngứa ghẻ hờn ghen” thô bỉ, tầm thường. Nói vậy, không phải Hoạn Thư không oán ghét Kiều. Nhưng nàng chỉ oán ghét Kiều khi cách biểu hiện sự oán ghét ấy không làm thương tổn thể giá của nàng. Nghĩa là nàng vẫn sẵn sàng hành động một cách ám muội, một cách tàn ác và hành động ấy có các hình thức ở trong trật tự, nề nếp, đã do xã hội đặt bày. Tính cách ám muội và tàn ác ấy thể hiện trong việc Khuyển Ưng nửa đêm vào đánh thuốc mê để bắt cóc Kiều trước khi đốt cháy nhà Kiều. Tính cách nề nếp, trật tự thể hiện trong việc thưa gửi ý đồ của mình lên mẹ để xin phép mẹ ra tay và trong cách đẩy Kiều vào cương vị tôi đòi. Những hành động rất hiểm sâu, ác độc này đều nhằm phục vụ cho thể giá nàng, vì kẻ lớn ấy vốn dòng “họ Hoạn danh gia”. Sau này, khi đọc xong tờ lý lịch của Kiều, Hoạn Thư mới thấy cảm động phần nào:

    …Tài nên trọng mà tình nên thương,

    Ví chăng có số giàu sang,

    Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên.

    Bể trần chìm nổi thuyền quyên,

    Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời.

    Qua những lời lẽ xót xa của kẻ bề trên có dịp quan tâm đến người bề dưới trong mấy câu này, tưởng nên ghi nhận ở đây một sự đổi thay trong thái độ nàng. Sự thay đổi ấy bắt nguồn từ một khám phá: Hoạn Thư nhìn thấy trong Kiều ít nhiều hình ảnh của tầng lớp mình. Kiều là một kẻ có tài, có hiếu. Liên tài và trọng nhân nghĩa là những đặc tính tinh thần vẫn được đề cao trong sinh hoạt của tầng lớp sĩ phu quí tộc này xưa. Do đó Hoạn Thư chấp nhận cho Kiều đi tu và sau khi Kiều rời khỏi nhà nàng, đã để cho gia đình nàng yên ổn dù có mang đồ gia bảo của nàng ra đi, nàng cũng không theo đuổi nữa. “Lòng riêng, riêng những kính yêu”, tưởng lời nói ấy tuy có tô vẽ ít nhiều để xin nhẹ tội, nhưng vẫn là lời nói thực. Hoạn Thư thuộc vào lớp người không thèm nói dối. Nàng được xây dựng như một kẻ mạnh và nàng biết rõ hơn ai uy thế của nàng. Vì có uy thế, nàng biết rõ rệt hơn ai nàng muốn những gì. Ở nơi Hoạn Thư không có những sự mơ hồ mà chỉ có sự phân minh, không có lệ thuộc mà chỉ có phần chủ động. Là một người con biết giữ nếp nhà, người vợ biết lo gia đạo, một người đàn bà sáng suốt nghĩ suy để giữ uy thế của mình, Hoạn Thư là một kiểu mẫu đàn bà phong kiến đã được thể hiện hoàn hảo khác thường. Khi viết: “Hoạn Thư quyết giữ cho tròn tư cách, cho đúng phong độ kẻ cả của mình”(1), nhà thơ Đông Hồ quả đã thông cảm sâu xa bản chất của nhân vật ấy.

    Tóm lại, nhân vật tiêu biểu cho ý thức hệ nho sĩ ở nơi Nguyễn Du một cách sâu sắc, linh động và hoàn hảo nhất chính là Hoạn Thư. Những nhân vật khác như bà Đạo Cô, như nàng Đạm Tiên gã thầy bói tướng và tên phù thủy đã đoán về Kiều là những nhân vật ngoại diện chỉ đứng chập chờn ở mé đời nàng. Họ là những kẻ nhắc tuồng, hoặc là phụ diễn, thường chỉ xuất hiện ở nơi cổng hậu. Một điều đáng kể là họ vẫn được quan niệm, hoặc vẫn tự nhận là những con người phụ trợ cho Kiều, hoặc cùng gần gũi với Kiều. Hoạn Thư, trái lại, là một trong những nhân vật trụ cột của truyện, đã hiện nguyên hình ở nơi chính diện như một sức nặng đối lập với Kiều, đã lưu lại nơi da thịt cũng như tâm hồn của Kiều bao nhiêu lằn vết sâu xa của móng vuốt mình.

    Như thế chúng ta chỉ mới nói về mỗi một con người ở trong Nguyễn Du, con người nho sĩ, và ý thức hệ của con người ấy bủa ra trong nội dung truyện để duy trì lấy tồn tại của mình. Ý thức hệ ấy, ngoài cái lập luận thần quyền cố hữu (đổ tội cho trời và cho ma quỷ) còn được thể hiện lộ liễu hoặc là tinh vi trên nhiều phương diện khác nhau ở trong tác phẩm. Ngay tiếng xưng hô về các nhân vật, Nguyễn Du cũng có một sự phân biệt rõ ràng. Con người nghèo khổ tốt bụng như bà quản gia cũng chỉ được gọi bằng mụ, như mụ Tú Bà, còn kẻ ác độc, hiểm sâu nhưng thuộc vào hàng bà lớn cao sang như mẹ Hoạn Thư lại được xưng hô bằng tiếng phu nhân trang trọng.(2)

    Tất nhiên, tính cách nho sĩ nơi Nguyễn Du đã được thể hiện phong phú trong Đoạn Trường Tân Thanh và chúng ta còn có thể tìm tòi phát hiện được nhiều khía cạnh hơn nữa về vấn đề ấy.

    Nhưng tất cả những biểu hiện của ý thức hệ phong kiến có giá trị gì trong tác phẩm này? Những lời giải thích của một đạo cô, những câu rỉ tai của một Đạm Tiên hay sự quy tội cho trời của một Nguyễn Du nho sĩ có làm cho tác phẩm này thêm được sức nặng nào không, có vạch tỏ thêm được sự thực nào về xã hội ấy, có bày tỏ thêm được chân lý nào về tâm hồn người?

    Khi người ta cứ nhắm vào các điểm trên đây để chỉ trích Nguyễn Du rõ ràng người ta lại xô vào cánh cửa lớn được mở rộng rồi. Thật không có gì vô lý hơn là phàn nàn tính cách nho sĩ ở nơi một người nho sĩ, bởi lẽ họ không thể nào làm khác những gì vốn là của họ, khi họ chưa thể khách quan nhận định về mình. Sự vượt thoát ra khỏi mình để tự thẩm giá cho được vô tư là món quà của khoa học, của tiến bộ, khó thấy ở thời tác giả. Chúng ta đều biết Nguyễn Du đã được rèn đúc nhiều năm trong một khuôn khổ gia đình khoa bảng, đã được hấp thụ trọn đời trong một xã hội vua quan, thì ta không thấy làm lạ khi ông mang vào tác phẩm bao nhiêu lập luận hoang đường, trái ngược với sự thực nội dung. Khi làm bất cứ một công trình gì, Nguyễn Du không thể quên được quyền lợi của tập đoàn mình và trong tác phẩm ông phổ biến ý thức hệ phong kiến tự nhiên như sự hô hấp hằng ngày. Bởi vậy trong cái tòa án cách mạng mà Kiều, cô gái giang hồ, được giữ ngôi vị chánh thẩm, ông cũng không thể tưởng tượng một công lý nào khác hơn là sự làm ngơ, hoặc là dung tha những bọn tội nhân chính yếu để mà trừng trị thẳng tay các người tòng phạm ít nhiều là những nạn nhân của một xã hội bất công.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    www.trieuxuan.info

     

     



    (1) Tài và Sắc chỉ là cụ thể hóa sự hoàn toàn về hai phương diện nội dung, hình thức, nhưng nó vẫn được dùng để thay thế ý niệm hoàn toàn mà thôi. Bởi vậy, khi Nguyễn Công Trứ nhận định về sự túng thiếu của mình:

    Mang danh tài sắc cho nên nợ

    thì không ai có thể nghĩ rằng Nguyễn Công Trứ là người… nhan sắc tuyệt vời.

    (1)                                                    Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa

                                                   Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm,

                                                       Bán mình trong bấy nhiêu năm

                                                   Khéo đem chữ hiếu mà lầm được ai

                                                           Nghĩ đời mà ngán cho đời!

    N.C.T (Vịnh Kiều)

    (1) Chu Mạnh Trinh: Tựa truyện Kiều (bản dịch của Đoàn Tư Thuật).

    (1) Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?

    (2) Anh hùng mới biết anh hùng.

    (3) Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.

    (1) Do đó giữa bà đạo cô và bà Giác Duyên chúng ta cảm tình nhiều hơn với bà sau này. Giác Duyên chỉ có tấm lòng từ thiện, chỉ biết giúp người, không có lý thuyết, ngụy biện bao giờ. Trước những bất công, ngang trái của đời, bà có những vẻ ngơ ngác hết sức tội nghiệp và cũng hết sức chân thành. Bà có tác phong quần chúng, giản dị, tốt lòng, nhiều khi cả tin đối với tầng lớp trưởng thượng của mình. Bởi vậy bà rất hợp với tâm lý của bà quản gia nghèo khồ nên khi cùng Kiều đến chỗ báo oán đền ân, cả hai cùng thấy tần ngần: “Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui”. Nhưng có một điều đáng nên chú ý là khi Kiều tặng hai bà một ngàn nén vàng thì xem chừng như hai bà cùng lĩnh đủ cả. Giác Duyên lại cũng đồng tâm hiệp ý với bà quản gia ở điểm… vàng này, nghĩ thấy mà thương!

    (1) Trong Văn Hóa nguyệt san số 10/1964, ông Nguyễn Đăng Thục trong bài Tâm lý văn nghệ truyện Kiều có nói về sự hợp nhất giữa Kiều và Đạm Tiên và nhận định rằng “Đạm Tiên vốn là cái tính trời tốt đẹp nơi Kiều, là cái lương tâm của Kiều”. Sự nhận định ấy rõ ràng là đi ngược hẳn nội dung tác phẩm. Bởi lẽ không thể có cái tính trời “tốt đẹp” khuyên bảo người ta cố sống để làm đĩ điếm và cũng không thể có một “lương tâm” chỉ thích chịu nhục. Năm năm về trước, trong tờ Chỉ Đạo, ông Tiểu Dân đã nói đến sự hợp nhất của Đạm Tiên và Thúy Kiều, nhận định Đạm Tiên là sự phản chiếu của bản ngã Kiều ở trên bình diện tâm linh. Nhưng ý kiến rất thông minh của tác giả này vẫn không làm ta thỏa mãn, vì tác giả xét vấn đề hoàn toàn trên bình diện cá nhân.

    (1) Văn Hóa nguyệt san, tháng 10/1964.

    (1) Văn Hóa nguyt san (10/1964).

    (2) Ông Nguyễn Văn Xuân viết bài “Đại danh từ và các tiếng xưng hô trong truyện Kiều và Lục Vân Tiên” tạp chí Văn hữu số 10 (4/1961), có những phân tích tinh tế, lý thú về vấn đề này và có đặc biệt nói đến tiếng “Tôi” trong Lục Vân Tiên được dùng để nói với cha, với thầy và cả với vua. Tác giả nhận thấy dù Nguyễn Đình Chiểu không được chuẩn xác như Nguyễn Du song thể hiện được rất nhiều tính cánh quần chúng miền Nam trong cách xưng hô.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,524

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/