Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,817,805

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện ngắn

Cây đàn trong núi

Vũ Hạnh

  • Thứ tư, 11:44 Ngày 04/05/2016
  • Năm 1953, tôi xin nghỉ dạy Việt văn trường Trung học Phan Châu Trinh - một trường nổi tiếng vùng kháng chiến thời chống Pháp, ở Quảng Nam - để gia nhập đội Văn nghệ Thanh niên Xung phong phục vụ chiến trường Tây Nguyên. Đội Văn nghệ gồm năm người, nhưng chỉ sau gần vài tháng một người đào ngũ vì không chịu nổi gian khổ. Chúng tôi, bốn người còn lại do anh Nguyễn Văn Khánh - thân sinh của cô Trà Giang - làm trưởng đoàn, tiếp tục nhiệm vụ đến ngày đình chiến. Sau đây là kỷ niệm nhỏ của những tháng ngày vượt suối, trèo đèo…

     

    Bốn người chúng tôi rời khỏi Di-Lăng thì mùa mưa lụt bắt đầu. Con đàng rừng núi còn dài dằng dặc hẹn biết bao nhiêu vượt thác, trèo đèo. Trên khoảng dặm dài hiểm trở, khí giới hộ thân chỉ có một khẩu súng trường và ba cây… đàn.

    Đi đến Nước-Rò mới biết cây ghi-ta đã đem theo là chuyện sai lầm. Buổi sáng hôm ấy, chúng tôi ngồi nhìn nền trời còn mây vần vũ, đen dầm hơi nước, và thấy khói đá bốc lên mù mịt núi rừng. Những dòng suối nhỏ kề buôn mới qua một đêm đã biến thành những thác lũ ào ào, cuồn cuộn, tháo tung sức mạnh kéo đi lớp lớp lá hoa, rều rác tràn đầy.

    Anh Khánh, người cao tuổi nhất trong bọn, cất lời:

    - Điệu này chúng ta còn sẽ tắm mưa chải gió chưa biết bao giờ mới hết. Càng đi lên cao, mưa lại càng nhiều. Bọn mình không sợ, chỉ sợ cho mấy cây đàn mảnh khảnh.

    Anh Hiệp tiếp lời:

    - Lo nhất là khẩu ghi-ta này đó. Tẩm một chuyến mưa giữa rừng là còn có nước đem về phơi khô mà chụm.

    Rồi anh hà hà cười to, nghĩ mình đã lỡ gieo những ý tưởng lo âu nên phải làm cho dịu bớt.

    Nhưng rồi chúng tôi không bàn gì thêm về mấy cây đàn. Ai cũng thấy chúng cần thiết, bởi vì trong sự tiếp xúc với đồng bào Thượng cây đàn thật là tiếng nói nhiệm mầu.

    Khi ánh nắng mặt trời vụt hiện quét tan mấy lớp mây mù, chúng tôi quày quã lên đường tuy ở trong lòng bao nỗi âu lo vẫn còn vướng vít như hơi đá bám dọc mạn sườn non. Mỗi người, để chống lại với mưa rừng ồ ạt, chỉ mang trên mình một mảnh áo tơi tự túc làm bằng bao lát đựng gạo được rọc một bên, che kín cái lưng và được nửa phần phía trước. Anh An, người thạo chơi đàn ghi-ta, tự thấy trách nhiệm chở che cho nó. Mảnh lát hẹp quá, ngắn quá, cây đàn lớn quá, dài quá, anh cứ đeo khắp mọi chiều ở trên người mình mà vẫn không sao che đậy cho xong. Cuối cùng, anh bảo:

    - Thôi được, nếu có cơn mưa bất tử thì tôi tập hợp các anh dụm ngay đầu lại mà bảo vệ nó.

    Chúng tôi lại đi, xuống dốc, lên dương, rẽ lau, vẹt lách, dẫm trên những lớp lá mục lưu cửu bao đời nhoi nhúc những loài sên vắt và tỏa hơi nồng chướng khí sơn lam. Suốt ngày hôm ấy, may thay, trời không mưa một giọt nào. Nhưng khi chiều đến, mây đen đã kéo mù mịt, đe dọa những con trút nước hãi hùng. Đất trời bỗng dưng tối sầm hẳn lại. Các dòng thác xa nghe rõ tiếng dội ồn ào. Chúng nhìn xóm nhà sàn cheo lên leo ở trên lưng chừng ngọn núi phía trước, hối nhau bươn bả mà đi. Anh An kéo cây đàn về trước ngực, cúi khom người tới, buớc chúi nhủi trên sỏi đá, cỏ gai, như chỉ nghe theo có nỗi âu lo bận rộn trong lòng.

    Chúng tôi vào được trong buôn Vi-Duỗi thì trời tối mịt, khắp người mồ hôi tuôn ướt dầm dề, hai chân rã rời, ê ẩm. Vừa được phép người chủ nhà gật đầu cho leo lên sàn thì nghe rầm rập từ xa như tiếng thiên binh vạn mã kéo về. Anh Hiệp la lên:

    - Mưa to rồi các cha ôi!

    Anh An cười dòn trong sự mệt nhọc:

    - Cho mưa! Bây giờ thì đếch sợ, nghe.

    Và anh vội vàng lên trước, lấy cây ghi-ta đặt vào một góc ấm áp trong nhà. Chúng tôi quây quần chung quanh bếp lửa, nghe như núi rừng nhốn nháo chạy trốn bên ngoài. Rồi ngôi nhà sàn rung chuyển và tiếng gió thét mưa gào mỗi lúc một mạnh như kéo đất trời vào trong quay cuồng dữ dội lạ thường. Thỉnh thoảng gió lùa vào các đầu hồi rú lên từng cơn khủng khiếp và những giọt mưa không biết từ đâu tạt vào, vãi lên trên người chúng tôi từng lớp bụi nhỏ lạnh tê. Xa xa, những tiếng ầm ầm mỗi lúc vang to như chuyển dậy từ lòng đất. Có lẽ bây giờ bên ngoài là cõi tối tăm đen dày, hỗn đọn như thời vũ trụ đang còn trong buổi sơ khai.

    Anh Khánh liếc nhìn cây đàn ghi-ta, rồi nói:

    - Lên núi mới biết những cây đàn lớn vô duyên không biết chừng nào!

    Hôm sau, trước khi lên đường, anh bàn nên gởi cây đàn ở lại:

    - Độ hai tháng sau, trên chuyến đường về, bọn mình sẽ ghé lại đây. Mang theo, thì hỏng nó mất. Còn cây vĩ-cầm và cây băn-jô là để dùng rồi.

    Anh An có vẻ tiếc rẻ nhưng rồi rốt cuộc ai cũng bằng lòng. Chúng tôi nhìn sang bên cạnh và thấy một ngôi nhà nhỏ, xác xơ, trống trải chỉ có mỗi người đàn bà gầy yếu. Anh Hiệp bảo nhỏ:

    - Người đàn bà ấy què. Nhà lại không có trẻ con, gởi đàn ở đấy tiẹn hơn.

    Thấy chúng tôi đến, vẻ mặt nhăn nheo, khốn khổ chừng như suốt đời không có niềm vui của người đàn bà bỗng chói sáng lên nụ cười rất nhẹ. Từng bước khập khiễng, chị ra ngoài cửa nhà sàn, mời mọc:

    - Lên đi! Vào đi!

    Anh Khánh, thông thạo tiếng Thượng trong số chúng tôi, bập bẹ ngỏ lời:

    - Cho chúng tôi gởi cây đàn. Mưa lắm, không đem theo được.

    Người đàn bà vui vẻ:

    - Gởi đấy. Không làm sao đâu.

    Anh Khánh nói tiếp:

    - Chúng tôi đi lâu. Chị cất kỹ giùm, sợ bọn con nít làm hư.

    Người đàn bà lắc đầu:

    - Không có con nít, không có người già, có một mình thôi.

    Chị lặp lại:

    - Có một mình thôi.

    Rồi chị mỉm cười một cách xót xa.

    Chúng tôi cùng nói:

    - Cảm ơn chị nhiều.

    Chị lại lắc đầu:

    - Không có cảm ơn. Để tôi cất kỹ cho mà. Tôi đem vào núi, đem vào trong nương, trong rẫy, bỏ trong cái chòi, cất kỹ lắm đó.

    Chúng tôi kêu lên:

    - Thôi đừng, chị à. Đem vào trong núi xa lắm. Cất trong cái nhà được rồi.

    Chị nhìn lên cao, tỏ vẻ lo âu:

    - Sợ cái tàu bay nó đốt cái nhà. Cháy cái đàn đi.

    Chúng tôi đáp lại:

    - Cái nhà của chị quý hơn cây đàn. Nhà bị cháy rồi, không tiếc cây đàn nữa đâu. Đừng đem đi xa.

    - Đem đấy.

    - Phiền chị lắm mà!

    - Không có phiền đâu.

    - Chị cứ để đây, được rồi.

    - Để đây không tốt.

    - Tốt rồi.

    - Nói không tốt mà!

    - Chúng tôi không muốn chi mệt…

    - Không có mệt đâu!

    Và người đàn bà tỏ vẻ giận dữ, nói tiếp:

    - Thì cất ở trong nhà đó.

    Rồi chị đỡ lấy cây đàn, đem vào trong buồng.

    Ra đến cổng buôn, chúng tôi được một thanh niên – anh Gôn – tự nguyện đưa giúp một vài chặng đường, cho biết chị là Y-Mo.

    - Sao chị ở có một mình?

    - Không có cái chồng, không có cái con.

    - Sao lại bị què?

    - Cứu cái thằng bé Rơ-Moan.

    - Rơ-Moan ở đâu?

    - Ở trong buôn đấy.

    - Cứu nó làm sao?

    - Rơ-Moan giữ trâu trong núi, cọp bắt mang đi. Y-Mo cầm ngựa đuổi theo chém cọp, bị té xuống dốc, gãy cái chân đó.

    - Sao không bị cọp ăn thịt?

    - Cọp sợ Y-Mo. Y-Mo ngã xuống gãy chân, cọp nhảy đến chụp, Y-Mo đứng lên chém cọp nhiều đấy, cọp chạy vào rừng.

    - Còn thằng Rơ-Moan?

    - Khiêng nó về nhà, nó chết. Y-Mo khóc nó nhiều lắm.

    - Nó bà con với Y-Mo thế nào?

    Anh Gôn tỏ vẻ ngạc nhiên trước câu hỏi ấy, rồi đáp:

    - Không có bà con. Ở trong buôn mà!

    - Có ai muốn bắt Y-Mo làm vợ hay không?

    - Có nhiều. Y-Mo tốt lắm, giỏi lắm.

    - Sao chị không chịu lấy chồng?

    - Y-Mo nói chị què rồi, yếu rồi, lấy chồng có con, không đánh nổi cọp mà cứu con đâu.

    Ba tháng sau, chúng tôi theo con đàng cũ trở về Di-Lăng để kịp cho một tập họp đón Tết giữa rừng. Mùa mưa dịu bớt, nhưng trời về đêm thỉnh thoảng vẫn còn nhiều cơn trút nước kéo dài. Không một người nào có được sức khỏe của ngày ra đi, chung tôi cố gắng về xuôi cho kịp thời gian đã định. Biết rằng đồng bào miền Thượng đang ở giữa mùa trồng tỉa, nếu đến ban ngày không mong gì gặp Y-Mo ở nhà cho nên chúng tôi trù tính con đường để đến Vi-Duỗi thì trời vừa tối. Nhưng đi được hai phần đàng thì gặp con sông Rề-Man nước lũ kéo về ồ ạt, phải khó nhọc lắm mới sang được bên kia bờ. Còn cách Vi-Duỗi độ hai quả núi thì trời tối sụp, chúng tôi đành phải ngủ nhờ trong cái chòi rách, giữa một vạt rẫy bỏ hoang có lẽ đã khá lâu rồi.

    Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy thực sớm vì lạnh lẽo quá không sao ngủ được và cũng nôn nả tìm đến Vi-Duỗi trước khi mặt trời lại mọc. Dưới ánh trăng mờ nhợt nhạt, lọc qua một lớp sương mù giăng phủ trên khắp rừng núi mênh mông, chúng tôi run rẩy bươn bả trên những lối đi hoang dại, không ai nói chuyện với ai một lời. Vào đến cổng buôn thì ở góc trời phía Đông đã thấy rừng rựng thắp sáng, mặt trời đột ngột nhô lên như một khối máu đỏ bầm. Vài tiếng chó sủa dậy ran rồi im lặng dần, chỉ còn nghe giọng hừng hực ở trong cổ họng. Khắp các nhà sàn, thảy đều cửa đóng then gài. Không một ánh lửa, không một bóng người, chỉ là vắng vẻ, lặng yên.

    Anh Hiệp chặc lưỡi, rồi nói:

    - Người ta lên rẫy, lên nương cả rồi. Chờ vậy.

    Anh Khánh tiếp lời:

    - Chắc là trưa họ mới về. Bọn mình tìm chỗ nghỉ thôi.

    Chúng tôi gắng đi vòng thêm một lượt quanh buôn để xem may ra còn có người nào ở lại trong nhà, nhưng tất cả đều im ỉm, bên trong trống trải hoàn toàn, không còn cả đến một em bé nhỏ. Chẳng dám tự tiện xô cửa vào nhà trong khi đồng bào đi vắng, chúng tôi phải ra bờ suối tìm một bóng cây nằm nghỉ và trong chốc lát bốn người ngủ vùi như chết. Mãi lúc nắng đốt nóng rát mặt mày, vài người trong chúng tôi mới choàng tỉnh dậy và thấy mặt trời đã sang quá ngọ, chênh chếch rọi qua tàng lá những vệt nắng dài. Phải thúc đẩy nhau khá lâu chúng tôi mới đứng dậy được và đi vào buôn. Vẫn là vắng vẻ, im lìm, không có bóng dáng một người. Buổi trưa, dân buôn ở hẳn trong núi, không một ai về. Chúng tôi đã nghe ruột đói cồn cào, vội đi hái củi, dựng bếp. Không thể mượn nồi, chúng tôi phải lấy ống tre lồ-ồ nấu tạm cơm trưa mà cũng là bữa cơm chiều.

    Cho đến tối mịt, người ta mới lẻ tẻ về.

    Chúng tôi đến dưới nhà sàn Y-Mo chờ chị khá lâu mới thấy chị bước khập khiễng qua vạt đất lễ giữa buôn, bóng chị chập chờn nhấp nhô như bóng ma quái.

    Chị nhận ngay ra chúng tôi ở trong bóng tối và tỏ ý rất mừng rỡ, hối hả giục bảo lên nhà. Cái thang gỗ nhỏ chuyển mình răng rắc dưới bước chân đi. Y-Mo vào trước, thổi lửa cho sáng bùng lên và thêm nhiều củi để cho chúng tôi sưởi ấm.

    - Có mạnh giỏi không, hở chị Y-Mo?

    - Không có mạnh giỏi gì đâu. Đau yếu luôn mà.

    Giọng nói của chị mệt nhọc, buồn rầu. Rồi chị lại hỏi:

    - Các anh có mạnh giỏi không?

    - Cũng như chị thôi, chị Y-Mo à. Không ai mạnh giỏi đâu đấy.

    - Đến buôn hồi nào?

    - Sớm lắm, khi cái mặt trời chưa dậy.

    Chị có vẻ rất hốt hoảng, kêu lên:

    - Sớm vậy kia à? Bao giờ lại đi?

    - Sáng ngày, chúng tôi đi sớm.

    - Ở lại một ngày mà nghỉ cho khỏe cái chân.

    - Không nghỉ được đâu, gấp lắm, chị Y-Mo à.

    Rồi anh Khánh tiếp:

    - Đến xin lại chị cây đàn và cám ơn chị.

    - Không có cám ơn. Để tôi đi lấy đem về.

    - Chị cất ở đâu?

    Y-Mo cười. Rồi nói:

    - Ở trong núi đấy.

    - Trời ơi! Sao chị cất ở trong núi?

    Y-Mo cúi mặt không đáp. Một lát, chị mới ngẩng lên:

    - Để trong cái nhà không yên cái ruột. Cất ở trong núi kỹ hơn.

    - Có xa nhiều không?

    - Xa nhiều. Để tôi đi lấy.

    - Thôi đi, mai lấy cũng được.

    - Các anh đi sớm đó mà.

    - Chúng tôi ở lại để chờ.

    - Không được, đã nói gấp lắm, không nghỉ lại được kia đấy.

    - Nói thế, nhưng mà bây giờ… khác rồi.

    - Không khác được đâu. Đừng có nói khác cái câu đã nói, không tốt! Phải đi cho sớm. Tôi đi lấy đàn cho mà.

    Y-Mo đứng lên, khập khiễng đi về cuối nhà, lấy rựa hì hục sả một vạt tre trên sàn.

    - Ấy chết, sao lại phá cái sàn nhà, Y-Mo?

    - Cái nhà nghèo lắm, không có tre dư. Cần cái cây đuốc thì chặt cái sàn, chưa hết chỗ nằm của Y-Mo đâu.

    Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Rồi nói:

    - Chúng tôi đi với Y-Mo.

    Người đàn bà tàn tật kêu lên:

    - Không đi được đâu. Cái rẫy trong núi xa lắm.

    - Y-Mo đi được, chúng tôi đi được.

    Y-Mo nghiêm giọng:

    - Không đâu! Ngày mai đi sớm, bây giờ phải nghỉ cái chân.

    - Nhưng mà đêm tối, đường xa, núi rừng đâu biết thương đến Y-Mo…

    Y-Mo rút cây nhựa trành khoa lên:

    - Có cây rựa rồi, Y-Mo không sợ. Đừng ai đi theo, Y-Mo không bằng lòng đâu.

    Chị nghiêm khắc nhìn chúng tôi như kẻ bề trên ngăn cản trẻ nhỏ làm điều dại dột. Chúng tôi không thể đành lòng để chị ra đi, nhưng biết nằn nì để theo chỉ khiến cho chị nổi giận. Lại thêm những nỗi vất vả đường dài đã làm mệt nhọc, ai cũng thèm hơi ấm áp của một bếp lửa, nên sự lo âu cho chị cũng chóng nguội tàn.

    Y-Mo khập khà khập khiễng xuống thang, tay đuốc, tay rựa đi vào trong rẫy. Lát sau, chị đã mất hút trong cái màn đen bí mật phủ kín đất trời.

    Chúng tôi ngồi đợi khá lâu mà vẫn không thấy chị về. Dần dần, cả bọn ngủ thiếp bên lửa. Bỗng tiếng sầm sập, ào ào vang động và cơn gió lạnh thốc vào làm cho chúng tôi tỉnh giấc.

    - Mưa rồi!

    Chúng tôi cùng kêu lên nỗi lo ngại về người đàn bà tàn tật và cây ghi-ta.

    Trận mưa khá lớn, khá lâu, khiến cho mọi người sốt ruột. Ai cũng cảm thấy cây đàn thế là hỏng rồi, nhưng không nỡ nói những lời tiếc rẻ khi nghĩ đến sự vất vả của chị Y-Mo. Quá khuya, cơm mưa mới dứt, chúng tôi lại ngồi gật gà gật gưỡng bên bếp, đợi chờ. Giữa lúc mọi người lim dim sắp sửa chìm trong giấc ngủ thì có tiếng chân nặng nề bước lên thang gỗ. Và chị Y-Mo chậm chạp đi vào, tay rựa, tay đàn, khắp người ướt đẫm như vừa ở dưới khe suối trồi lên.

    Chúng tôi cùng mở to mắt, cảm thấy như mình trở nên hèn mọn, yếu đuối dưới mắt của người đàn bà. Nhưng Y-Mo vẫn thản nhiên, nâng cây đàn lên, nở một nụ cười.

    Anh An chồm tới, đỡ lấy cây đàn. Bỗng anh reo lên:

    - Cây đàn không ướt, các anh em ơi!

    Chúng tôi sờ lên cây đàn, lớp vải bọc ngoài chỉ hơi âm ẩm thấm hơi sương rất nhẹ, và nhìn Y-Mo ngạc nhiên không biết chừng nào.

    - Sao mà lạ vậy, hở chị Y-Mo?

    Y-Mo mỉm cười, không đáp. Rồi chị khập khiễng lại gần bếp lửa rút cái ống tròn đựng chất thuốc lá giã bột rắc lên đôi chân. Những con đỉa rừng hút máu no tròn đang bám đầy cả bàn chân, ống chân của chị, từ từ rời rụng xuống dưới mặt sàn. Chúng tôi cầm củi gắp chúng ném vào đống lửa và nhìn những vết máu đỏ ròng ròng vẽ đầy trên đôi chân của Y-Mo mà lòng ái ngại không biết bao nhiêu.

    - Làm sao mà cái cây đàn không ướt, hở chị Y-Mo?

    Chị vẫn không đáp, chỉ mỉm cười trên khuôn mặt khốn khổ, nhăn nheo.

    - Ngủ đi, các anh. Ngủ đi, ngày mai còn phải đi nhiều.

    - Không muốn ngủ nữa, chị Y-Mo à. Khi chị vất vả đi vào trong núi thì chúng tôi ngủ ở nhà. Chúng tôi thật là những đứa xấu xa.

    Y-Mo cười to, rồi nói:

    - Không xấu, không xấu. Đừng có nói thế, nghe chẳng thân đâu.

    - Này chị Y-Mo…

    - Gì à?

    - Chị thay đồ ướt đi thôi. Rồi chị đi ngủ cho khỏe.

    Y-Mo vào buồng và một lát sau chị lại khập khiễng bước ra trong một bộ đồ rách nát. Chị ngồi gần bên chúng tôi, hơ tay vào lửa.

    - Chị buồn ngủ chưa?

    Chị chậm rãi lắc đầu:

    - Không có buồn ngủ.

    Rồi chị chăm chăm nhìn các cây đàn, đưa tay mân mê như chưa bao giờ trông thấy.

    - Đàn cho chị nghe, chị Y-Mo nhé!

    Cặp mắt của người đàn bà sáng lên, khuôn mặt héo hắt của chị thoáng hiện một nét vui mừng khôn tả. Anh Khánh nâng cây vĩ cầm lên vai, tiếng đàn bắt đầu dìu dặt trong căn nhà sàn xơ xác, hòa điệu với tiếng lửa reo trên bếp, tiếng rừng thì thầm bất tận trong đêm. Người đàn bà ngồi yên, cặp mắt mờ dần như chìm vào trong một cõi huyền bí, xa xăm, cõi sống chập chờn của những ước vọng khôn nguôi, của những thao thức, khắc khoải làm thêm héo hắt cuộc đời nghèo khổ, tật nguyền.

    Rồi chị cúi xuống, và khi ngẩng lên, hai dòng nước mắt tuôn dài.

    - Chị Y-Mo à, chị đừng có buồn. Cái bản đàn này hát lên cuộc đời yên lành, vui vẻ của những con người tốt bụng như chị Y-Mo.

    Chị đáp bằng giọng nghẹn ngào:

    - Không có vui vẻ, yên lành gì đâu. Buồn lắm đấy mà.

    Rồi chị quay mặt qua một nơi khác, nói tiếp:

    - Đàn cho nghe đi. Chỉ có cái đàn là nói thật thôi. Ngày mai, cái đàn bỏ đi mất rồi.

    1960

    VH.

    Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.

     

    www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,817,805

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/