tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27711565
Tiểu thuyết
25.04.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

Nghe đến đấy, Tsitsikôp, không nhịn được nữa, vớ lấy một cái ghế, giận dữ nện xuống sàn và rủa cho quỷ sứ tha bà lão đi.
Quỷ sứ làm cho bà ta hoảng hốt.
- Lạy trời, đừng nói đến tên hắn! Bà kêu lên, thất sắc. Hôm kia, tôi nằm mê thấy hắn suốt đêm. Tôi đã có ý định bói bài sau khi cầu kinh buổi tối; có lẽ Chúa phái hắn đến để phạt tôi. Trông hắn khiếp lắm: sừng hắn dài hơn sừng bò mộng!
- Tôi lấy làm lạ rằng sao bà không trông thấy hàng tá những của như thế! Tôi làm việc chỉ vì lòng nhân ái cơ đốc giáo; tôi chỉ nghĩ rằng “đây là một bà lão góa bụa tội nghiệp, làm ăn vất vả và đến chết được!...”. Đã thế, bây giờ thì cứ việc mà phèo đi, bà và tất cả cái làng của bà nữa!
- Ồ sao ăn nói thô tục thế! Bà lão vừa nói vừa sợ sệt liếc nhìn Tsitsikôp.
- À! Vậy phải dùng những lời lẽ như thế nào để nói với bà? Xin lỗi bà, bà chẳng khác gì con chó giữ của nằm lên trên đống rạ; mình thì không biết hưởng nhưng chẳng muốn cho ai. Vậy mà tôi lại có ý định mua cho bà các thứ nông sản đấy, vì tôi cùng thầu một số việc mua bán cho Hoàng gia.
Lời nói dối vô hại và không dụng ý ấy lại có kết quả bất ngờ. Những việc mua bán cho Hoàng gia có tác động lớn đối với Naxtaxia Phêtrôpna; với một giọng đã trở thành quỵ lụy, bà ta nói:
- Sao ông lại giận? giá tôi biết ông giận dữ thế, tôi đã chẳng nói trái lại ông.
- Không giận à? Thế mà không giận được à! Tất cả công việc chẳng ra cái quái gì!
- Vậy thì được, tôi để cho ông mười lăm rúp giấy; nhưng, ông lão ạ, khi cần các thứ cung cấp cho Hoàng gia thì nhớ tới tôi: nếu ông cần bột lõa mạch hay bột mì đen, lúa mới xay, thịt gia súc, xin ông đừng quên tôi.
- Đúng thế, bà chị ạ, đúng thế! Vừa nói, y vừa lấy bàn tay quệt mồ hôi chảy thành ba dòng trên mặt.
Y lại hỏi xem bà lão có giao thiệp với ai ngoài tỉnh để ủy quyền cho họ lập văn khế và làm mọi việc cần thiết.
- Có chứ! Bà Kôrôbôtska nói. Tôi có quen con trai Cha Kyrin -Giáo sĩ đạo Chính thống Nga, không cấm lấy vợ-, tổng tư tế, anh ta làm thư ký ở phòng lục sự.
Tsitsikôp yêu cầu bà ta cho một tờ ủy quyền và, để khỏi làm phiền bà ta, y tự mình viết hộ.
Còn bà Kôrôbôtska thì nghĩ rằng: - “Nếu hắn mua bột và thịt của mình cho Hoàng gia thì hời biết mấy! Phải nịnh hắn một tí. Tối hôm qua còn bột nhồi; ta xuống bảo Fêtinia làm bánh kẹp và bánh bao nhân trứng nữa; nó làm ngon lắm mà chẳng mất bao nhiêu thì giờ”.
Trong lúc bà chủ nhà phúc hậu đi xuống bếp để thực hiện cái dự định ấy và hoàn thành nó với mấy kỳ công về nấu nướng khác nữa, thì Tsitsikôp trở vào phòng khách mà y ngủ đêm trước, để lấy giấy má cần thiết ở cái tráp ra. Gian phòng đã dọn dẹp lại, cái đệm êm ấm đã cất đi, một cái bàn được đặt trước ghế dài. Y để cái tráp lên đấy và nghĩ rằng nên nằm nghỉ một lát, vì từ sơ mi cho đến bít tất, trên người y chẳng có một sợi chỉ nào là khô cả.
- Con mụ phù thủy già nó làm cho mình đến thế này! Nghỉ được một lúc rồi y nói thế; xong mở cái tráp ra.
Tác giả tin chắc rằng có những bạn đọc khá hiếu kỳ, muốn biết cách sắp xếp bên trong của cái vật gia dụng này. Tại sao lại không chiều các bạn ấy cơ chứ? Ở chính giữa là một cái hộp xà phòng; phía sau, năm hay sáu cái túi con đựng cát dùng để thấm mực; ở giữa hai ô ấy là một ngăn dài khác; rồi thì, đủ mọi thứ ô: ô có nắp, ô không nắp, dành cho những đồ vật ngắn hơn: danh thiếp, thiếp báo hỷ, báo tang, vé xem hát gấp lại giữ làm kỷ niệm. Nhấc cả bộ phận ấy lên thì bên dưới là một cái khoang đựng đầy giấy. Ở một phía thành tráp, còn có một ngăn kéo bí mật để cất tiền; ngăn ấy mở ra và đóng lại nhanh như chớp đến nỗi không ai tài nào mà biết được nó chứa đúng là bao nhiêu tiền.
Tsitsikôp gọt bút -Bút bằng cọng lông ngỗng, mỗi lúc viết lại gọt- và bắt đầu vào việc. Giữa lúc ấy thì bà chủ trở vào.
- Ông có cái tráp đẹp quá, ông lão ạ. Chắc là mua ở Mạc-tư-khoa, có phải không.
- Mạc-tư-khoa, Tsitsikôp vừa đáp, vừa tiếp tục viết.
- Tôi nói không sai mà: ở đấy người ta làm gì cũng khéo. Năm kia, chị tôi có mua về những đôi ủng lót lông cho trẻ em; bây giờ vẫn chưa mòn… A, lạy Chúa! Ông có lắm giấy tín chỉ nhỉ! Bà lão nói tiếp sau khi liếc nhìn vào cái tráp có đựng một tập dày giấy tín chỉ thật. Ông để lại cho tôi một tờ; tôi đang thiếu đây; khi làm đơn xin việc gì, không biết lấy gì mà viết.

Tsitsikôp cắt nghĩa cho bà ta là giấy ấy dùng để lập văn tự, chứ để viết đơn thì không cần gì đến nó cả; nhưng để cho bà ta yên tâm, y cũng cho một tờ có đóng tem một rúp. Viết xong tờ ủy quyền, y đưa bà ta ký và đòi danh sách những người chết. Bà ta không có và cũng không hề có sổ sách ghi chép gì cả, nhưng thuộc lòng hết các tên. Y bảo bà ta đọc cho chép. Nhiều tên làm y ngạc nhiên, nhiều tên phụ để đùa hay nhạo lại càng làm y ngạc nhiên hơn nữa; mỗi khi ghi những tên ấy, y không khỏi ngập ngừng. Một kẻ tên là Piôtr Xavêliep Chẳng kiêng nể gì ai làm cho y sửng sốt hết sức.
- Thế này thì biết bao giờ mới hết! Y không khỏi kêu lên như vậy.
Một kẻ biệt hiệu là Gạch cho bò cái, kẻ khác thì tên gọn thỏn lỏn là Ivan Bánh xe -Tiếng Nga là Kôlexô Ivan-. Chép xong những lời thần chú của phù thủy ấy thì y thở hít vào nhiều lần và nhận ra cái mùi quyến rũ của bơ rán.
- Mời ông vui lòng ăn bữa sáng, có được không? Bà chủ nói.
Tsitsikôp quay lại và thấy trên bàn một bữa ăn lót dạ rất thịnh soạn: nấm, bánh rán giòn, trứng lập là, thức ăn tẩm bột, bánh kẹp, bánh kem và đủ thứ bánh ngọt hấp: bánh nhân hành, nhân hạt anh túc, nhân pho mát trắng, nhân cá đối.
- Bánh bao nhân trứng đấy! Bà chủ giới thiệu.
Tsitsikôp đến cạnh cái bánh bao, và sau khi đã nuốt hết một nửa to tướng, mới thèm hạ cố cho là bánh hợp với khẩu vị của mình. Thật ra thì cái bánh bao, tự nó đã ngon rồi, nhưng lại càng ngon hơn nữa, sau bao nhiêu bực bội.
- Thế còn bánh kẹp? Bà lão hỏi.
Tsitsikôp chẳng nói năng gì, cuốn ba chiếc bánh kẹp làm một, rưới ba nước lên cẩn thận và ngốn, rồi chùi tay và mồm. Sau khi thao diễn ba lần như thế, y nhờ bà chủ bảo thắng xe. Naxtaxia Phêtrôpna liền truyền lệnh ngay lại cho Fêtinia, vừa truyền vừa bảo đem thêm bánh kẹp nóng lên.
- Bánh kẹp của bà tuyệt thật, bà ạ, Tsitsikôp vừa tuyên bố vừa lao vào đĩa bánh mới.
- Vâng, chúng tôi làm cũng khá; chỉ không may là năm nay bột không được như mọi năm… Nhưng ông có việc gì mà vội, ông anh à? thấy Tsitsikôp tay cầm mũ lưỡi trai, bà ta nói thêm, - Xe chưa thắng xong đâu.
- Xong ngay đây, bà chị ạ. Thằng xà ích của tôi nó không đủng đỉnh đâu.
- Vậy, khi đi mua hàng ông không quên tôi chứ?
Tsitsikôp đã ra đến phòng đợi, liền đáp: - Dĩ nhiên, dĩ nhiên.
Bà chủ nhà đi theo, lại hỏi gạn: - Thế còn mỡ lợn ông có lấy không?
- Sao lại không? Nhưng rồi hãy hay.
- Đến kỳ Giáng sinh thì tôi có.
- Đồng ý. Tôi sẽ mua cho bà tất, mỡ lợn nữa, cùng một dịp ấy cả.
- Chắc ông cũng cần lông gà, lông vịt chứ? Đến tuần Chay -Những ngày trước lễ Giáng sinh- thì tôi cũng có.
- Tốt, tốt.
- Ông thấy chưa, ông lão ạ, xe đã ra đâu; bà chủ nói khi ra đến tam cấp lớn.
- Nó sắp ra đấy. Trong khi chờ, bà bảo giùm tôi ra đường cái quan thì đi theo lối nào đây.
- Bảo thế nào được, rẽ nhiều lắm. Tốt hơn là cho một con bé đi theo nó chỉ cho; ghế xà ích còn một chỗ ngồi đấy chứ?
- Có chứ!
- Vậy tôi cho một con bé biết đường đi theo ông. Nhưng đừng bắt cóc của tôi đi đấy! Bọn lái buôn đã bắt mất của tôi một đứa.
Về mặt ấy Tsitsikôp khuyên bà Kôrôbôtska cứ yên tâm. Bà ta liền đưa mắt xem xét cái sân. Bà ta nhìn người đày tớ gái đang cầm một bát mật từ kho thực phẩm đi ra, rồi quay lại nhìn một nông dân vừa bước vào cổng, rồi dần dần những cái vặt vãnh của việc nhà, việc cửa thu hút hết sự chú ý của bà ta.
Nhưng việc gì mà phải nói dông dài mãi về một Kôrôbôtska như vậy? Bà Kôrôbôtska, bà Manilôva, việc nội trợ, việc vặt vãnh, - thôi bỏ qua đi! Đó chẳng phải là cái gì lạ lùng trên thế gian này. Cứ nhìn lâu thì những cảnh vui cũng thành ra cảnh buồn, và bấy giờ chỉ có Chúa mới biết được những chuyện hão huyền gì hiện lên trong đầu óc ta. Có lẽ bạn sẽ nói: - Này, nhưng mà, cái mụ Kôrôbôtska ấy lại ở một địa vị thấp kém đến thế trên các bậc thang xã hội kia à? Một cái hố sâu đến thế, ngăn mụ ta với người em mụ, đang ngự ở chốn thâm nghiêm sau những bức tường của một tòa nhà quý tộc có thang gác bằng sắt rèn lộng lẫy, giữa những đồ đồng, đồ gỗ đào hoa, những đệm, thảm? Vị phu nhân cao quý ngáp ngắn, ngáp dài trước một quyển sách đọc dở, trong khi chờ một người khách thượng lưu; với người ấy, bà có thể tha hồ trổ hết tài trí và phát biểu những ý kiến đã được đúc sẵn. Mà những ý kiến rất đúng thời thượng từ tám hôm nay ấy không liên quan gì cả đến công việc làm ăn của bà, đã khá nguy ngập vì tình trạng không hiểu biết gì hết về thực tế, mà lại liên quan đến vụ đảo chính đang được mong xảy ra ở nước Pháp hay những xu hướng mới nhất của đạo Gia tô trong giới xã giao! Nhưng thôi, hãy bỏ qua, bỏ qua đi! Nói đến những điều ấy làm gì?... Và tại sao trong những phút vui vẻ tư lự, ta lại cảm thấy cái buồn len lén vào lòng ta? Cái cười ngừng lại trên môi ta, mặt ta sầm lại và tức khắc chúng ta khác hẳn những người chung quanh ta…
- A! Xe đây rồi, xe đây rồi! Tsitsikôp kêu lên khi thấy xe đến. Quỷ sứ, mày chui vào tận những đâu, đồ đểu? thế nào? chưa tọng rượu vào cho say à?
Xêlifan chẳng trả lời thế nào cả.
- Thôi, chào bà chị! Còn con bé đâu?
- Này, Pêlagêia! Bà chủ nhà gọi một đứa bé gái độ mười một tuổi, đứng cạnh tam cấp lớn, diện một cái áo vải to và phô đôi chân trần trát đầy bùn ướt, nom xa tưởng như đi ủng. Pêlagêia, đi chỉ đường cho ông đây.
Xêlifan giúp con bé leo lên xe. Nó đặt một chân lên bậc xe, dây bùn be bét, rồi leo lên ghế, ngồi cạnh xà ích. Tsitsikôp bước lên làm nghiêng hẳn chiếc xe về phía bên phải, vì bụng y cũng đã phệ; y ngồi chỉnh chiện trong xe rồi nói.
- Xong rồi, chào bà chị.
Mấy con ngựa bắt đầu phóng.
Dọc đường, Xêlifan ương lắm, nhưng rất chú ý đến công việc; đó là cái thói quen của hắn sau những khi đã làm bậy và say sưa. Mấy con ngựa đã được chải rất sạch. Một cái đai thắng, từ trước đến nay vẫn tả tơi, da ngoài bong ra để lộ cái cốt bên trong, đã được chữa lại rất khéo. Lần này thì Xêlifan chỉ vụt cây roi, không khiển trách gì mấy con ngựa; tuy vậy con Vằn vẫn sẵn sàng lắng tai nghe những lời lẽ như thế, vì những lúc ấy, dây cương lỏng lẻo trong tay người xà ích hùng biện và cây roi chỉ vuốt ve cái mông nó một cách chiếu lệ mà thôi. Lần này, đôi môi rầu rĩ chỉ thốt ra những câu than đơn điệu: “- thong thả, thong thả, tao sẽ bảo cho mà xỏ lá!”. Chính con Hồng bờm đen và con Trợ tá cũng không bằng lòng vì chẳng được nghe những lời thường lệ: “- các em yêu dấu của ta! Các của quý của ta!”. Con Vằn thì cảm thấy bị ngoạm rất khó chịu vào những bộ phận phốp pháp của nó. Nó vừa co đôi tai vừa tự nhủ thầm: “ấy, chẳng biết hôm nay nó làm sao? Nó chọn toàn những chỗ hiểm, quân súc sinh! Nó không đánh trên lưng mà chỉ nện vào hai tai hay vụt vào bụng dưới mình!”
- Bên phải à? Xêlifan hỏi con bé mấy tiếng cụt ngủn, vừa hỏi vừa lấy cái roi chỉ con đường đã đen sạm vì mưa, chạy tít giữa những đồng cỏ màu lục rực rỡ.
- Không, không, để tôi chỉ cho, con bé đáp.
Khi đến chỗ rẽ Xêlifan lại hỏi: - Lối nào hả?
- Lối này! Con bé trả lời và dang tay ra chỉ.
- Vậy, chẳng bên phải là gì! Xêlifan cầu nhầu. Đồ ngốc con; tay phải, tay trái cũng không biết phân biệt!
Mặc dù hôm ấy đẹp trời, nhưng đường toàn là đất sét và rất dính nên lầy lội đến nỗi bùn bết vào bánh xe một lớp dày, làm cho cái xe nặng thêm nhiều. Vì vậy, các nhà lữ hành của chúng ta không thể ra khỏi đường làng trước khi đứng bóng. Không có con bé thì họ chẳng bao giờ lần ra được, vì các lối đi cứ tỏa ra khắp mọi hướng như những con tôm càng xổng ra khỏi một cái bị; nhiều lần Xêlifan lại suýt lạc nữa, nhưng bấy giờ thì không phải lỗi tại hắn. Sau cùng, con bé, trỏ một cái nhà lớn đằng xa, kêu lên:
- Đường cái đây rồi!
- Còn cái nhà kia là nhà gì? Xêlifan hỏi.
- Quán rượu, con bé đáp.
- Thôi được, cút đi! Bây giờ thì chúng tao có thể tìm ra lối rồi.
Hắn kìm ngựa lại và đỡ con bé bước xuống, mồm lẩm bẩm: - Ê, đồ dơ dáy!
Tsitsikôp cho con bé một đồng tiền. Nó chạy về làng, loắt choắt như con chuột nhắt, và sung sướng vì đã được ngồi vênh vang trên xe ngựa.


Chương 4
Đến trước quán hàng, Tsitsikôp ra lệnh dừng lại vì hai lý do: ngựa cần nghỉ và chính y muốn ăn cho lại sức. Tác giả phải thú thật là rất thèm cái miệng thích ăn và dạ dày dễ tiêu của những người như thế. Tác giả không hề bận lòng vì những đại nhân vật ở Pêterbua hay Mạc-tư-khoa, suốt ngày bố trí cái thực đơn cho ngày mai hay ngày kia để rồi chỉ có thể nhấm nháp được nó sau khi đã uống một viên thuốc, những nhân vật nuốt sò, cua và các đồ quái quỷ khác vào rồi phải đi chữa bệnh bằng nước suối ở Karlxbad hay Kapkaz -Karlxbad, tên gọi bằng tiếng Đức của thành phố Karlôvy Vary ngày nay ở Tiệp Khắc, nổi tiếng vì suối nước nóng để chữa bệnh. Kapkaz là miền núi nước Nga, ở giữa Hắc Hải và biển Kaxpiixkoê, cũng có nhiều suối nước nóng-. Không, các vị ấy không bao giờ làm cho tác giả thèm muốn. Nhưng những nhà quý tộc hạng trung, đến trạm thứ nhất bắt dọn jăm bông, trạm thứ hai một con lợn sữa, trạm thứ ba một lát cá chiên hay là dồi nấu tỏi, để rồi bất cứ lúc nào cũng có thể ngồi vào bàn như chưa hề ăn uống gì cả, ngốn luôn, với một vẻ ngon miệng ồn ào và dễ lây sang người khác, một món xúp cá chiên, cá sộp và tinh cá đực, kèm theo một khuôn bánh hấp hay patê cá nheo; các vị ấy mới được số phận ưu đãi và mới thật đáng thèm thuồng! Không ít những đại nhân vật, muốn hy sinh không ngần ngại một nửa số nông dân, một nửa số ruộng đất, bán rẻ hay không, với tất cả mọi sự cải thiện theo kiểu Nga hay kiểu nước ngoài để có được cái dạ dày của vị quý tộc bậc trung. Nhưng không may là chẳng có một thứ vốn liếng nào, đất đai nào, - dù có cải thiện hay không, - cho người ta có thể mua như vậy được.
Quán ăn, một cái nhà dựng bằng những thân gỗ tròn đã đen sạm, đón Tsitsikôp dưới mái hiên hẹp mà hiếu khách, chống đỡ bằng những cột nhỏ chạm xoắn, nom như những cái giá cắm nến cổ ở nhà thờ. Đây là một nhà gỗ kiểu Nga thông thường, nhưng rộng lớn. Quanh các cửa sổ và dưới mái nhà, những hiên bụng rắn bằng gỗ trắng chạm, nổi bật trên màu đen của các bức tường, những chậu hoa trang hoàng cho những tấm cửa mặt hàng thêm rực rỡ.
Tsitsikôp leo lên thang gác hẹp; đến một bậc bằng rộng đầu thang, trước cánh cửa mở kêu kèn kẹt, y chạm trán một bà lão to béo, mặc áo vải chúc bâu màu lòe loẹt.
- Phía này, mời ông! Bà lão nói.
Trong gian phòng, cách trang trí cũng như thường thấy ở các quán trọ rẻ tiền dọc các đường lớn: một cái xamôva khói lên nghi ngút; tường gỗ thông bào nhẵn; một cái tủ bát đĩa kê ở góc, đựng ấm chén; những quả trứng bằng sứ men vàng treo bằng những dải xanh, đỏ trước ảnh thánh, một con mèo cái và đàn con mới đẻ; một cái gương mà ai soi vào thì phản chiếu không phải hai mắt mà những bốn mắt, không phải cái mặt mà là cái bánh đa; cuối cùng là những túm cẩm chướng và cỏ thơm trồng sau ảnh thánh, đã khô héo đến nỗi ngửi vào là không thể không hắt hơi được.
- Có lợn sữa không nhỉ? Tsitsikôp hỏi bà lão đang đứng như trời trồng sau lưng y.
- Có.
- Ăn với đại căn -Một thứ củ cải to, có tác dụng chống bệnh hoại huyết và kích thích sự dinh dưỡng- và kem chứ?
- Đại căn và kem.
- Đưa xem nào.
Bà lão đi lục soạn rồi mang ra một cái đĩa, một cái khăn ăn, hồ cứng đến nỗi nó đứng sừng sững như một cái vỏ cây khô, một con dao bé tí tẹo cán bằng xương đã ngả màu vàng, một cái dĩa hai răng; một cái bình đựng muối đã khập khiễng.
Theo thói quen của y, Tsitsikôp bắt chuyện ngay và hỏi bà chủ quán hết câu này đến câu khác. Bà ta là chủ nhà hay chỉ thuê lại quán này? lời lãi thế nào? các con trai bà ta có ở với bà không? con trai cả đã lấy vợ chưa? hồi môn của vợ anh ta có khá không? bố vợ có hài lòng không? có giận vì đồ lễ cưới ít không? Nói tóm lại y chẳng bỏ qua gì hết. Dĩ nhiên, y hỏi về các trang chủ quanh vùng và được biết họ tên là Blôkhin, Pôtsitaliep, Muinnôi, đại tá Tsêkrakôp, Xôbakiêvits -Blôkhin có từ Blokha là con bọ chét. Pôtsitaliep có từ potsitat là tôn kính. Muinnôi có từ muilô là xà phòng. Tsêkrakôp có từ tsêprak là vải phủ mông ngựa và Xôbakiêvits có từ xôbaka là chó-.
- A! Có biết Xôbakiêvits đấy à? Y vừa hỏi thì tức khắc được nghe bà lão kể là không những biết Xôbakiêvits mà cả Manilôp nữa và Manilôp lịch thự -Bà lão nói ngọng- hơn Xôbakiêvits nhiều; đến quán là ông ta gọi ngay một con gà, thịt bò non, gan cừu, nếu có, tóm lại là nếm đủ các món, còn Xôbakiêvits thì bao giờ cũng chỉ gọi độc một món, tiền chi trả như mọi người mà cứ đòi thêm cho nhiều.
Y vừa chuyện trò như thế, vừa thanh toán gọn món lợn sữa; bỗng tiếng một chiếc xe đi tới làm cho y phải bước tới cửa sổ nhìn xuống. Một chiếc britska nhẹ thắng ba ngựa, đỗ lại trước tam cấp. Hai người đàn ông bước xuống; một người cao lớn, tóc vàng, mặc áo nhà binh có nẹp màu xanh sẫm; một người tầm thước, tóc đen, mặc áo caftan sòng sọc thường. Đằng xa có một cái xe ngựa khổ đi không, thắng bốn con ngựa gầy, lông lá lù xù, đai, cương bằng dây thừng, xộc xệch. Người tóc vàng leo ngay lên thang gác, trong khi người tóc đen sờ nắn một cái gì để trong xe, vừa sờ vừa nói chuyện với người đày tớ, vừa ra hiệu cho xà ích chiếc xe sau. Hình như Tsitsikôp nhận ra tiếng hắn. Trong khi Tsitsikôp đang nhìn hắn thì người tóc vàng đã tìm được cửa mở ra, người ấy vóc cao lớn, mặt khô gày hay đúng ra là tàn tạ; ria mép đỏ hoe và nước da đen rám chứng tỏ là ông ta đã quen với khói thuốc lá, nếu không phải là khói thuốc súng. Ông ta lễ phép cúi chào, và Tsitsikôp vội vàng đáp lễ. Cả hai đều cùng chúc mừng nhau là đã gặp may vì mưa làm cho đường hết bụi và trời mát như thế mà đường trường thì thật dễ chịu. Cái không khí lạnh lùng đã tan: đáng lẽ họ còn làm quen nhau nhiều hơn nữa thì vừa đúng lúc ấy người tóc đen bước vào. Ném cái mũ lưỡi trai xuống đất, hắn lấy tay vò cho mái tóc đen rậm xù lên. Người hắn tầm thước nhưng khỏe mạnh, chắc chắn; đôi má hồng hào, răng trắng như hoa huệ, tươi như hoa hồng, biểu lộ một sức khỏe dồi dào.
Trông thấy Tsitsikôp hắn liền giơ tay lên trời và reo:
- Ái chà! May mắn biết bao!
Tsitsikôp nhận ra Nôzđriôp, cái anh quý tộc nhà quê đã cùng ăn với y ở dinh tỉnh trưởng và gặp y là cậu cậu, tớ tớ tức khắc, dù là về phần y không hề có một chút gì có thể là cái cớ để cho người ta thân mật, sỗ sàng đến như thế được.
- Cậu ở đâu đến thế? Nôzđriôp hỏi và không chờ câu trả lời, đã nói tiếp: - Còn tớ, cậu ạ, ở chợ phiên về; ở đấy, tớ thua một canh bạc liểng xiểng. Cậu mừng cho tớ đi, chưa bao giờ mà tớ lại để cho chúng nó vặt hết lông như thế! Tớ phải thuê mấy con ngựa của bọn nhà quê mà về. Nhìn qua cửa sổ kìa. - Hắn liền tự tay nghiêng cái đầu Tsitsikôp xuống và bất ngờ đến nỗi đầu y suýt cộp vào khung cửa sổ. - Cậu xem, ngựa khổ đến thế đấy! Cố lắm mới lê được tới đây, quân chết tiệt! Tớ phải đi nhờ xe lão kia. - Hắn chỉ người bạn đường. - Cậu không quen lão ta à? Anh rể tớ: Mijuiep. Chúng tớ nói chuyện cậu suốt cả buổi sáng. – “Anh xem, tớ bảo lão, thế nào mình cũng gặp Tsitsikôp!”… A! người anh em ạ! thật là một vố liểng xiểng! Tớ bị súc sạch, bị vét đến đáy: bốn con ngựa và tất cả mọi thứ trên người, cả đồng hồ lẫn dây đeo. Chỉ một cái liếc, Tsitsikôp cũng đủ tin là Nôzđriôp chẳng còn cả đồng hồ lẫn dây đeo; một bên râu má của hắn hình như cũng thưa hơn bên kia. - Nếu lúc ấy tớ chỉ có hai mươi rúp trong túi, ừ hai mươi rúp thôi không cần hơn, thì tớ đã gỡ lại tất cả và, nói thật, người lớn với nhau, tớ còn nhét thêm vào ví ba vạn rúp nữa!
Người tóc vàng ngắt lời hắn và nói: - Khi chú vay tôi năm mươi rúp, chú cũng nói cái giọng ấy, rồi chú liền nướng sạch ngay.
- Vì mình ngốc, đi hỏng mất một nước. Giá sau khi được và đặt gấp đôi lên mà mình không gấp cái quân bảy chết tiệt ấy thì mình đã vét sạch túi nhà cái.
- Nhưng chú có vét được túi nhà cái đâu, người tóc vàng nói lại.
- Không, tại vì tôi gấp quân bài không đúng lúc. – Anh cho rằng lão thiếu tá của anh đánh giỏi lắm à?
- Giỏi hay không, nó cũng đã làm cho chú sạt nghiệp.
- To chuyện thật! Nôzđriôp cãi lại. Tôi ấy à, tôi cũng xơi được hắn thừa đi. Hắn cứ thử lần thứ hai xem, ta sẽ thấy ngay tài đổ bác của hắn thế nào! Nhưng mà, cậu Tsitsikôp ạ, mấy ngày đầu, chúng tớ ăn chơi tuyệt lắm! Phải nói rằng phiên chợ cừ thật; chính bọn lái cũng nhận rằng chưa bao giờ thấy một phiên đông như thế. Tất cả mọi thứ đem từ nhà đi, tới đều bán được giá. À! ông anh ơi! Thật là chơi ra trò! Bây giờ, chỉ nghĩ đến thôi… Quỷ bắt tôi đi!... Cậu không đến đấy thật tiếc quá đi mất. Thử tưởng tượng là cách thành phố ba verxta có một trung đoàn long kỵ -Long kỵ là một hạng kỵ binh chiến đấu, đội mũ đầu rồng- đồn trú. Và tất cả sĩ quan, cậu có biết không, - khoảng bốn chục, cậu ạ, - đến chơi với tớ. Trong bọn có một thằng cha nhộn hết sức: đại úy Pôtxeluiep -Pôtxeluiep có từ pôtxelui nghĩa là hôn-: râu mép dài thế này này, cậu ạ! Cậu có biết nó gọi rượu Boocđô -Vang đỏ nổi tiếng của vùng chung quanh thành phố Boocđô, miền tây nước Pháp- là gì không? Là nước bã nho! Nó gọi “Này! Anh hầu bàn, đem nước bã nho đây!”. Còn trung úy Kupsinnikôp -Kupsinnikôp có từ kupsin nghĩa là cái hũ đựng rượu- nữa, cái cậu dễ thương quá! Một tay ăn chơi đủ vành! Chúng tớ không rời nhau nửa bước… Rượu thằng cha Pônômariôp -Pônômariôp có từ pônôma nghĩa là ông trợ tế- bán cho chúng tớ mới thật tuyệt! Phải cho cậu biết rằng nó là một thằng xỏ lá, và thường chẳng ai mua được gì trong hiệu nó đâu. Rượu thì nó pha đủ mọi thứ thuốc nhuộm vào, - gỗ đàn hương, nút chai đốt cháy, - nó nhuộm bằng hương mộc nữa cơ; nhưng nó mà chịu lấy từ nhà sau, - từ phong giấy riêng, như nó vẫn gọi, - ra một chai rượu lâu năm, thì cậu ạ nốc vào cứ tưởng như là được lên thiên đường. Nó đem ra cho chúng tớ một thứ sâm banh như vậy đấy; so với món ấy thì sâm banh trên tỉnh ra quái gì, chỉ là kvax, mà thôi! một thứ sâm banh không phải Clicô mà Clicô matradura -Matradura là một điệu múa cổ. Clicô là tên một thứ rượu vang. Nôzđriôp nói huyên thuyên, đem râu ông nọ cắm cằm bà kia hay cố dùng sai nghĩa các từ mà hắn dùng-, có kẻ gọi là Clicô đôi, cậu biết không? Rồi lại một chai vang Pháp, nhãn hiệu Bonbon nữa. Cái hương của nó tuyệt lắm cậu ạ! Thơm mùi mộc tê và tất cả mùi gì mà cậu muốn. À! Chơi ra trò!... Một công tước đến sau bọn tớ, sai người đi kiếm sâm banh… Chẳng còn lấy được một chai: bọn sĩ quan đã nốc sạch! Cậu có biết không, trong bữa ăn chiều, một mình tớ tu hết mười bảy chai đấy nhé!
- Mười bảy à! Chú uống thế nào hết được, người tóc vàng nói.
- Thề danh dự! Nôzđriôp cãi.
- Chú thề gì thì thề, tôi thách chú uống hết được mười chai đấy.
- Cuộc gì nào?
- Việc gì phải cuộc?
- Nào, cuộc cái súng mới mua trên tỉnh kia đi!
- Tôi không cuộc.
- Cuộc đi chứ!
- Không bao giờ!
- Khôn đấy, vì chắc chắn là cuộc thì anh mất súng, như đã mất mũ kia kìa… Này, Tsitsikôp, cậu không ở trong bọn tớ, tớ tiếc quá! Tớ chắc là Kupsinnikôp với cậu sẽ chẳng rời nhau ra được: cậu với hắn sẽ ăn cánh vô cùng. Hắn khác hẳn thằng cha chưởng lý và tất cả cái bọn keo kiệt trên tỉnh đi đếm từng đồng kôpek. Cậu thích cái gì hắn cũng tiếp: bancô, pharaôn -Tên các lối đánh bài- v.v… Này, Tsitsikôp, mất gì mà cậu không đến? Thế thì cậu chỉ là một thằng tráo trở mà thôi. Hôn mình đi, quả tim của tớ ơi; tớ mê cậu đến điên lên được. – Này, xem đây, Mijuiep, số phận đã đoàn tụ chúng tớ lại. Cậu ấy là gì tớ, tớ là gì cậu ấy? Cậu ấy ở đâu đến, có Chúa họa mới biết; còn tớ thì ở đây… À! Người anh em ạ, biết bao nhiêu là áo quần, xe ngựa!... Và cái gì cũng xài lớn cả đấy nhé… Tớ quay xổ số, trúng hai lọ pommat, một cái tách sứ, một cây ghi ta; nhưng đến vòng thứ hai thì mất sạch… lại còn hao thêm sáu rúp là khác… A! Giá cậu biết thằng cha Kupsinnikôp ấy vui nhộn đến thế nào! Gần như là vũ hội nào, tớ cũng đi với hắn. Có một bà lên khung đại lễ phục, nào là áo tổ ong, nào là vải quấn khắp người. Chúa biết là còn gì gì nữa!... Tớ thì tớ nghĩ thầm: “Quỷ bắt tao đi!”. Nhưng mà cái thằng súc sinh Kupsinnikôp ấy lại ngồi cạnh nàng và tuôn ra một tràng những lời ca tụng bằng tiếng Pháp… Cậu tin lời mình nhé, cả đến bọn đàn bà dân dã hắn cũng chẳng chê, hắn gọi cái trò ấy là “đi xơi dâu” -Đây là một thứ quả tương tự ta thường gọi là dâu tây. Lối nói lóng này từ khi “Những linh hồn chết” ra đời đã thành ra phổ biến trong ngôn ngữ Nga-. À, đủ các thứ cá, các thứ balyk -Lưng cá chiên phơi khô, món nhắm mà người Nga rất thích-. Toàn là của tuyệt trần! Tớ mang về một con; may mà tớ nghĩ ra việc mua nó trước khi sạch túi!... Nhưng mà, cậu đi đâu đấy?
- Đến nhà người quen, Tsitsikôp nói.
- Kệ xác người quen ấy đi. Đến làm gì? Đến nhà tớ đi!
- Không, không thể được, người ta chờ tôi có việc.
- Có việc à! Chỉ bịa thôi! Ôpôđenđôk Ivannôvits! -Ôpôđenđôp là một môn thuốc cổ truyền ở Nga, một lần nữa Nôzđriôp lại ghép chữ bừa bãi để dùng, không có nghĩa lý gì hết-
- Thật đấy, có việc, mà lại là việc khẩn nữa.
- Cậu nói dối, tớ cuộc đấy! Vậy cậu đến nhà ai nào?
- Đến Xôbakiêvits.
Nghe đến đấy, Nôzđriôp bật ra một tràng cười dữ dội, chỉ những kẻ trai tráng mới có thể cười được như thế, vừa cười vừa rung đôi má, vừa để lộ tất cả hai hàm răng trắng như đường kính, làm cho hàng xóm đang ngủ ở cách hai buồng cũng phải giật bắn mình dậy, mở mắt tròn xoe mà kêu lên: “Ái chà! Chẳng biết cái thằng cha có việc gì thế!”
- Có gì là đáng cười? Tsitsikôp nói với vẻ khá phật ý vì cái cười của Nôzđriôp.
Nhưng Nôzđriôp vẫn tiếp tục cười, vừa cười vừa nói:
- Xin cậu, xin cậu, tớ sẽ chết vì cười!
- Chẳng có gì là buồn cười cả; tôi có hẹn ông ta đến thăm, Tsitsikôp nói tiếp.
- Nhưng đến nhà cái thằng keo kiệt ấy là cậu quên hết cái lạc thú sống trên đời! Tớ biết tính cậu…; nếu cậu cho là ở đấy có sòng bạc ăn to và rượu ngon thì cậu lầm to. Thôi, anh bạn ạ, phó mặc Xôbakiêvits cho quỷ sứ! Đến tớ đi. Cậu sẽ được nếm món balyk. Thằng đểu cáng Pônômariôp ấy đã vái ngắn, vái dài, bảo đảm với tớ là “- Cháu để dành riêng cho ông; ông có lùng khắp phiên chợ cũng chẳng tìm được một miếng như thế đâu”. Nhưng thằng ấy là một thằng xỏ lá hạng nặng. Tớ nói toạc vào mặt nó: “- Này lão trưng thuế rượu và nhà ngươi, là hai thằng bợm nổi tiếng mà tớ biết được”. Nó chỉ cười, cái thằng vô lại, vừa cười vừa vuốt vuốt bộ râu. Kupsinnikôp và tớ ngày nào cũng ăn ở nhà nó… À, tớ quên, tớ phải cho cậu xem cái này; nhưng tớ bảo trước cho cậu biết là mười nghìn rúp tớ cũng chẳng để lại đâu nhé. Này Porfiri, - hắn từ cửa sổ gọi xuống. Porfiri là tên đày tớ của hắn, đang một tay cầm con dao và tay kia một miếng balyk mà nó vừa lục lạo trong xe và xoáy được – Này! Porfiri! Mang con vật lên đây!... Cậu sẽ thấy con chó xinh quá đi thôi, Nôzđriôp quay về phía Tsitsikôp và nói tiếp. Tớ không mua nó đâu nhé, mà tớ xoáy đấy; chủ nó nhất định không chịu nhả ra, dù đổi cái gì ở trên đời cũng vậy. Tớ phải xin đổi đến cả con ngựa hồng cái mà cậu còn nhớ đấy chứ, tớ đã đổi cho Khvôxtưriôp ấy mà… - Tsitsikôp không biết tí gì về Khvôxtưriôp cũng như về con ngựa hồng cái cả.
- Ông không cần gì à? Bà lão chủ quán vừa đến gần vừa lên tiếng.
- Không cần gì cả… À! Chúng tớ đã tự thết rồi, cậu ạ!... Hay là có. Tôi uống một cốc vậy. Già có rượu gì nào?
- Hồi hương
- Được rồi.
- Cho tôi một cốc nhân thể, người tóc vàng nói.
- Ở nhà hát, một nữ diễn viên hát tuyệt lắm như một con chim sẻ vàng! Kupsinnikôp ngồi cạnh tớ, nói: “- Này! Bây giờ là lúc đi xơi dâu đây!... ”. Hình như có tới hơn năm mươi cái quán… Fênarđi vênh vang đi lại bốn giờ liền.
Đến đây, Nôzđriôp hạ cố cầm lấy cốc rượu con từ tay bà già, bà này liền cúi gập người lại mà cám ơn.
- A, a, đem đây, để nó xuống đây! Hắn kêu lên khi Porfiri mang con chó vào.
Cũng như chủ, tên đày tớ diện một cái caftan lót bông, nhưng bẩn hơn. Nó đặt con vật xuống. Con chó duỗi chân, vừa thè lưỡi liếm đất.
- Con cún đấy! Nôzđriôp vừa nói vừa nắm da cổ con chó kéo lên, con vật rên một tiếng khẽ. – A này, mày không làm theo lời tao dặn à, hắn quay lại bảo Porfiri, vừa nói vừa nhìn kỹ bụng con chó. – Mày không chải cho nó à.
- Có chứ, chải rồi cơ đấy.
- Vậy thì bọ chó ở đâu ra thế này?
- Con có biết đâu đấy. Chắc là ở cái xe.
- Mày nói dối, nói dối! Mày chẳng thèm nghĩ đến việc chải cho nó. Tệ hơn nữa, chắc là mày đã lây bọ chó sang cho nó. Xem này, Tsitsikôp à, đôi tai có tuyệt không; sờ tí xem.
- Cần gì? Không sờ tôi cũng biết là chó nòi rồi, Tsitsikôp nói.
- Không, không, sờ một tí.
Để cho hắn vui lòng, Tsitsikôp sờ tai chó và nói:
- Ừ, con này lớn lên sẽ đẹp lắm.
- Còn mũi nó lạnh như tiền này. Sờ xem.
Để khỏi mất lòng hắn, Tsitsikôp sờ mũi chó.
- Con này đánh hơi giỏi lắm!
- Thật là chó gộc đấy nhé! Đã lâu tớ thèm được một con thế này. Thôi, Porfiri, mang nó đi!
Porfiri ôm ngang bụng con chó mang ra xe.
- Này, Tsitsikôp ạ, Nôzđriôp lại nói; cậu phải đi với tớ. Nhà tớ cách đây năm verxta. Nháy mắt là đến, rồi từ đấy, nếu cậu thích, thì có thể chuồn sang Xôbakiêvits.
Tsitsikôp nghĩ bụng: “dù sao, mình cũng có thể đến thằng cha Nôzđriôp này, nó cũng chẳng kém gì những đứa khác, mà hơn nữa nó đang khánh kiệt! Hình như bây giờ thì việc gì nó cũng sẵn sàng làm tất. Không rút của nó được cái này thì cũng được cái nọ”.
- Được rồi, y nhận lời. Nhưng với một điều kiện: đừng giữ tôi lại lâu; thì giờ của tôi quý lắm.
- Hay quá! Cậu cho tớ hôn cái nào, quả tim của tớ ơi! – Nôzđriôp và Tsitsikôp ôm lấy nhau. – Thế này thì tuyệt, ba ta cùng đi.
- Không, không, người tóc vàng nói; tôi thì xin chia tay thôi; tôi vội, phải về ngay.
- Anh nói nhảm gì thế, anh ơi!
- Tôi nói thật với chú là nhà tôi đến giận tôi mất. Chú xin đi nhờ xe của ông đây vậy.
- Không đời nào. Tôi không để anh đi đâu.
Người tóc vàng thuộc vào hạng người cương quyết giả hiệu. Cái hạng người ấy, bạn vừa mở mồm, là họ sẵn sàng tranh luận ngay và bạn tin rằng không bao giờ họ có thể thừa nhận một ý kiến trái với ý kiến họ, rằng họ có thể cho một thằng ngu là người trí tuệ, rằng họ lại đi bắt chước bất cứ ai; nhưng cuối cùng thì họ lại công nhận cái điều mà họ vừa gạt đi, họ cho một thằng ngu là người trí tuệ và họ bắt chước ngay cái người đầu tiên mà họ thấy, tóm lại họ là hạng người trước thì trơn mà sau thì rám.
- Vớ vẩn! Nôzđriôp nói tiếp, chặn đứng ngay không cho người tóc vàng cố cãi lại một lần nữa. Hắn cầm mũ lưỡi trai chụp lên đầu ông ta và kéo ra theo mình.
- Còn hai cốc rượu hồi hương, thưa ông?... Bà lão nói.
- À! Đúng, đúng, bà chị ạ! Giả cả đi nào, anh. Tôi chẳng còn đồng kôpek nào dính túi.
- Bao nhiêu của bà? Người anh rể hỏi.
- Có bao nhiêu đâu ông, tám mươi kôpek tất cả.
- Thế cơ à! Đưa cho bà ấy năm mươi thôi, đủ rồi.
- Ít quá, ông ạ, bà lão nói, nhưng cũng cầm lấy đồng tiền với vẻ biết ơn và còn chạy ra mở cửa cho khách nữa. Bà ta có thiệt gì, vì đã đòi tiền rượu đắt lên những bốn lần.
Ba người lên xe, chiếc britska của Tsitsikôp chạy song song với chiếc mà hai anh em Nôzđriôp ngồi, nên ba người có thể trò chuyện trong lúc đi đường. Chiếc xe cà cộ của Nôzđriôp do mấy con ngựa khổ nhà quê kéo, lẽo đẽo mãi đằng sau; Porfiri ngồi chễm chệ với con chó con.
Những câu chuyện của các nhà du khách của chúng ta chẳng có gì lý thú, nên tốt hơn là ta nói vài lời về Nôzđriôp, vì có lẽ trong thiên trường ca của chúng ta, y không đến nỗi giữ vai trò cuối cùng.
Chân tướng Nôzđriôp chắc bạn đọc cũng đã quen rồi: những người như thế không phải là hiếm. Người ta gọi họ là những kẻ tinh ranh lõi đời; từ thời thơ ấu họ đã được tiếng là những người bạn ngay thẳng, nhưng không phải vì vậy mà họ thường tránh được ăn đòn. Vẻ mặt họ luôn luôn biểu lộ tính cương trực và lòng dũng cảm. Mới quen nhau, họ đã tức thì cậu cậu, tớ tớ với bạn, và hình như hiến bạn tất cả tình bằng hữu của họ, nhưng thường thì ngay chiều hôm ấy, giữa bữa tiệc chén chú, chén anh, họ đã túm lấy cổ bạn mà vật. Họ đa ngôn, phóng đãng, tự đắc, nổi bật giữa mọi người. Đã ngoài ba mươi lăm tuổi mà Nôzđriôp vẫn hệt như ngày mười tám đôi mươi: chỉ là một kẻ ăn chơi. Việc lập gia thất không làm cho hắn thay đổi; vả lại vợ hắn chết sớm, để cho hắn hai đứa con nhỏ mà hắn không biết làm gì; Một người đày tớ gái ân cần trông nom chúng. Hắn không bao giờ ở nhà lấy được hai ngày. Cách hàng chục verxta mà đâu có chợ phiên, vũ hội, họp mặt là hắn đều đánh hơi biết cả; hắn liền bổ đến cãi cọ, làm như vũ bão quanh tấm thảm xanh, vì hắn mê cờ bạc, như tất cả mọi kẻ đồng thanh, đồng khí với hắn. Hắn đánh bạc không ngay thẳng đâu, như ta đã thấy ở chương thứ nhất: hắn thích uốn nắn lại sự may rủi và biết rất nhiều mánh khóe. Thường thường, canh bạc kết thúc bằng một trận đòn; người ta đá hắn bằng chân ủng đến nhừ tử; người ta vặt râu má rậm rạp của hắn và về đến nhà thì râu hắn chỉ còn có một bên và nom khá thảm hại. Nhưng đôi má hắn nhiều sinh lực đến nỗi râu lại mọc lên nhanh chóng và rậm rạp hơn trước. Và điều lạ hơn nữa, điều mà chỉ có thể có ở nước Nga, là tức khắc sau đó hắn lại tìm gặp các bạn đã quật hắn nhừ đòn, như là chẳng có việc gì xảy ra cả.
Nôzđriôp, theo một nghĩa nào đó, là một nhân vật lịch sử; bất kỳ đâu mà có hắn, là bao giờ cũng có việc gì đấy xảy ra cho hắn: hoặc sen đầm đuổi hắn đi, hoặc bạn bè hắn lịch sự tống hắn ra. Ngoài những trường hợp quá quắt ấy, hắn còn trải qua nhiều cuộc phiêu lưu không thể xảy ra cho người khác được: hắn say rượu đến nỗi chỉ còn biết có cười nữa thôi, hắn tuôn ra lắm điều khoác lác đến nỗi cuối cùng thì chính hắn cũng phải xấu hổ. Hắn nói dối không chút cần thiết nào; tự nhiên vô cớ hắn cho là hắn có một con ngựa màu hồng hay màu xanh da trời và tuôn ra lắm điều nhảm nhí đến nỗi người nghe phải bỏ đi, vừa đi vừa cầu nhầu: “Cậu nói toàn những chuyện hoang đường!”. Có những kẻ thường làm việc ác đối với người khác một cách say mê, điên cuồng mà chẳng có lý do gì cả. Một ông quan lớn, bệ vệ vào bậc nhất, ngực đeo tấm huân chương bắt tay bạn, nói với bạn những lời lẽ cao thượng, rồi tức khắc trước công chúng chơi bạn một vố rất đê tiện, một vố chỉ đáng là của một kẻ cạo giấy hơn là của một ông ngực đeo tấm huân chương và mồm nói những lời cao thượng; làm cho bạn sửng sốt chỉ còn biết nhún vai mà thôi. Nôzđriôp cũng có cái thói ấy. Bạn càng thân với hắn, hắn càng chơi bạn lắm vố hiểm; hắn đồn đại về bạn những điều độc ác, làm cho bạn nhỡ một cuộc hôn nhân, hỏng một việc kinh doanh mà vẫn không cho rằng hắn là kẻ thù của bạn. Trái lại, sau đấy mà gặp bạn là hắn liền vồn vã, trách bạn rằng: “-À! Đồ súc sinh, tại sao mày chẳng đến tao bao giờ?”
Nôzđriôp quả thật là một kẻ làm việc gì cũng được. Hắn gạ bạn đi bất cứ đâu, dù là đến tận cùng thế giới, giới thiệu bạn vào bất kỳ công cuộc kinh doanh nào, đổi chác bất cứ cái gì với tất cả vật gì bạn thích. Súng, chó, ngựa, cái gì đối với hắn cũng là vật đổi chác, nhưng tuyệt nhiên không có ý kiếm lời chút nào cả. Đó là biểu hiện của một tính khí thay đổi vô cùng. Giá ở chợ phiên mà hắn may mắn vớ được một thằng ngốc và vặt hết lông của nó trong canh bạc thì với số tiền mà hắn được, hắn lại tiêu sạch đến đồng xu cuối cùng ở các cửa hàng; hắn mua tất cả cái gì mà hắn trông thấy: đồ thắng ngựa, hương đốt trong khuê phòng, khăn trùm cho bà vú, ngựa giống, nho Côrintôx -Nho của một địa phương nổi tiếng ở Hy Lạp-, chậu rửa mặt bằng bạc, vải Hà Lan, tinh bột, thuốc lá, súng tay, cá mòi, tranh vẽ, đá mài, chậu, ủng, bát đĩa sành. Những vật ấy, ít khi hắn mang được về đến nhà, thường là gán nợ ngay ngày hôm ấy cho một tay cờ bạc gặp may hơn hắn, gán luôn cả túi thuốc lá và cái tẩu - rồi ngày hôm sau lại gán nốt bốn con ngựa với cỗ xe và gã xà ích.
Thế là, chỉ còn trần một chiếc caftan ngắn, hắn chạy đi tìm một người bạn xin về nhờ xe.
Nôzđriôp là như thế. Chắc có người cho rằng cái tính cách như thế đã được tả đi tả lại mãi rồi và chẳng còn có ai như thế nữa. Than ôi! Họ đã lầm to. Bọn Nôzđriôp đã hết đâu sớm thế. Trong chúng ta vẫn còn nhiều Nôzđriôp; nhưng chắc là vì chúng đã thay áo ngoài, nên những bộ óc hời hợt không nhận ra chúng mà thôi.
Ba chiếc xe đã về đến tam cấp lớn nhà Nôzđriôp. Trong nhà chẳng có một vẻ gì là chuẩn bị đón khách cả. Leo trên một cái giá gỗ, ở chính giữa buồng ăn, hai anh thợ đang quét tường, khe khẽ hát một bài không bao giờ hết, sàn nhà thì vấy phấn bạch diên -Chất dùng để sơn, về mặt hóa học là cacbonat chì, rất độc, ngày nay cấm không được dùng tron việc sơn, quét nữa- lung tung. Nôzđriôp rủa hai anh thợ, đuổi họ cút đi, ra mà treo cổ lên, cả họ lẫn cái giá gỗ của họ, rồi sang phòng bên bảo nhà bếp làm bữa ăn chiều; Tsitsikôp đã muốn ăn lắm rồi, nhưng phải hiểu ngay là họ chưa thể ngồi vào bàn trước năm giờ được. Một lát sau thì chẳng còn gì chỉ cho khách xem nữa.
Trước tiên họ dừng lại xem tàu ngựa, ở đấy có một đôi ngựa cái, một con màu xám lốm đốm, một con màu hồng, lại có một con ngựa giống, mình hồng bờm đem, nom khá tồi tàn mà Nôzđriôp bảo là đã mua mất mười nghìn rúp.
- Mười nghìn rúp! Ông anh rể bẻ ngay. Không bao giờ đến giá ấy. Một nghìn cũng chưa đáng.
- Thề danh dự, tôi đã trả đúng mười nghìn rúp đấy. Nôzđriôp lại nói.
- Chú muốn thề mấy thì cứ thề đi, ông anh rể nói tiếp.
- Anh cuộc gì nào? Nôzđriôp thách.
Ông anh rể không cuộc.
Sau đó, Nôzđriôp chỉ cho khách xem những tàu ngựa trống không, nhưng theo lời hắn, thì trước kia đã chứa những con ngựa rất đẹp. Họ thấy cả một con dê đực, mà trong dân gian, từ lâu đời, người ta vẫn tin là cần phải có ở mọi chuồng ngựa; rất hòa thuận với mấy con ngựa, nó đang dạo chơi dưới bụng chúng và cảm thấy thoải mái như ở nhà nó vậy. Xong, Nôzđriôp đưa khách đến xem một con sói con có buộc dây.
- Xem có phải là một con sói non không nào; tớ cố ý nuôi nó toàn bằng thịt sống, tớ muốn nó lớn lên sẽ thành một con thú rừng thực sự!
Họ ra xem ao; theo Nôzđriôp thì trong ao có những cá to đến nỗi phải hai người khó nhọc lắm mới kéo lên được một con, về điều ấy thì ông anh rể lại thấy là phải hoài nghi.
- Này, Tsitsikôp à, Nôzđriôp bảo; tớ cho cậu xem một đôi chó tuyệt trần; mõm dài và nhọn như cái kim và đùi khỏe không thể tưởng tượng được.
Hắn đưa khách đi về phía một chiếc nhà con xinh xắn, bốn bề có sân lớn bao bọc. Họ thấy trong sân những chó săn mõm nhọn đủ các thức lông – dài, ngắn, hoe lốm đốm đen, hạt dẻ, gạch non, huyết dụ, đen có chấm vàng vàng. Chúng mang đủ thứ tên: Cãi cọ, Ầm ỹ, Lẹ làng, Ngạo mạn, Sáng rực, Dữ dội, Say sưa, Trơ tráo, Hung hăng, Gắt gỏng, Nóng nảy, Chim én. Nôzđriôp ở giữa chúng, tựa hồ một người cha ở giữa bầy con. Cả bọn, vểnh đuôi lên, - vểnh cái roi như những người sành chơi chó của chúng ta thường nói, - và phi về phía khách. Độ một chục con đứng lên, đặt hai chân trước lên vai Nôzđriôp. Con Ầm ỹ cũng tỏ tình hữu nghị như thế với Tsitsikôp, rồi kiễng hai chân sau lên nó liếm vào môi y làm cho Tsitsikôp phải khạc nhổ. Khách xem những con chó đặc sắc vì sức khỏe của bắp đùi; quả thật là những chú chó đẹp. Rồi người ta đến thăm một con chó cái xứ Krưm đã mù, và theo Nôzđriôp, thì sắp phèo đến nơi, dù mới hai năm trước, vẫn còn là một con chó đẹp. Người ta xem nó: đôi mắt nó chẳng còn nhìn thấy gì nữa rồi.
Sau đấy, người ta đi thăm cối xay gió. Trong cối thiếu mất cái bộ phận để cắm cái thớt xay phía trên, cái thớt quay nhanh quanh trục cối mà người mujik nói một cách rất đúng là nó bay bay ấy.
- Đến lò rèn đây rồi, Nôzđriôp nói.
Quả nhiên một lát sau thì thấy lò rèn. Họ cùng vào thăm.
Nôzđriôp chỉ một đám đất nói: - Đám đồng ấy nhiều thỏ rừng đến nỗi không còn thấy mặt đất nữa; có lần tớ bắt được một con mà chỉ cần đưa tay tóm lấy cẳng sau của nó thôi.
- Chú không bao giờ bắt được thỏ rừng bằng tay không cả! Ông anh rể vặn lại.
- Thật đấy, tớ bắt hoàn toàn bằng tay không, Nôzđriôp đáp, rồi quay lại Tsitsikôp nói: và bây giờ tớ chỉ cho cậu giới hạn của ấp tớ: một cái mốc và cái hào hẹp.
- Đấy, biên giới của tớ đấy! Nôzđriôp nói; tất cả những gì cậu nhìn thấy bên phía này là của tớ, mà cả bên kia cái mốc nữa, cánh rừng xanh xanh kia và tất cả những gì ở sau ấy nữa cũng còn là của tớ.
- Cánh rừng là của chú từ bao giờ? Ông anh rể hỏi. Hay là chú vừa mới mua chăng?
- Chứ sao, Nôzđriôp đáp.
- Lúc nào thế?
- Hôm kia; mà mua giá khá đắt cơ đấy.
- Nhưng hôm kia chú ở phiên chợ cơ mà?
- Đồ ngốc, vậy ra người ta không thể vừa ở chợ phiên, vừa tậu đất được à? Đúng, tớ ở chợ và trong lúc ấy thì lão quản lý của tớ ở đây hoàn thành việc tậu đất cho tớ.
- À, nếu là lão quản lý của cậu thì… ông anh rể nhượng bộ, nhưng lắc đầu một cách hoài nghi.
Họ theo lối cũ mà trở về; Nôzđriôp đưa khách vào phòng giấy. Nhưng ở đây không hề thấy có những vật thường tiêu biểu cho các văn phòng. Chẳng thấy sách vở, giấy má gì cả, chỉ thấy mấy thanh kiếm và hai cây súng trường, một cây giá ba trăm, một cây tám trăm rúp, mà sau khi nhìn kỹ, ông anh rể chỉ biết lắc đầu. Nôzđriôp đem khoe những cây dao găm Thổ Nhĩ Kỳ mà một cây lại khắc lầm tên người đánh dao là “Thợ cả Xavêlii xibiriakôp” -Người đánh con dao có cái tên hoàn toàn Nga; điều ấy chứng tỏ Nôzđriôp nói dối: dao Nga thì bảo là dao Thổ Nhĩ Kỳ-. Hắn giới thiệu với khách một cây phong cầm vặn tay; và để mừng khách, hắn bắt đầu quay. Tiếng phong cầm nghe cũng dễ chịu, nhưng bộ máy hình như đã hỏng: bài “Manbruc ra đi đánh giặc” -Dân ca Pháp có tính chất hài hước- kết thúc một điệu mazurka -Điệu nhạc nhảy Ba Lan-, rồi một điệu van lặp đi lặp lại kết thúc bài “Manbruc ra đi đánh giặc”. Nôzđriôp ngừng quay từ lâu mà một cái ống không biết mệt, vẫn cố huýt lên, và tiếng huýt kéo dài tới mấy phút nữa. Bấy giờ Nôzđriôp mới bày ra trước mặt khách những cái tẩu của hắn: tẩu bằng gỗ, bằng đất, bằng đá bọt, tẩu mới nguyên, tẩu đen ngòm vì cặn thuốc, tẩu có túi đựng bằng da hoẵng hay không có túi; một cái tẩu Thổ Nhĩ Kỳ mà đầu ngậm bằng hổ phách, vừa được trong một canh bạc; một cái túi đựng thuốc lá do một bá tước phu nhân thêu; nàng phải lòng Nôzđriôp ở một trạm thay ngựa và, nếu tin lời hắn, thì nàng có đôi bàn tay thặng dư -Trong nguyên bản, tác giả phiên âm tiếng Pháp superflu, có nghĩa là dư thừa. Nôzđriôp có thói dùng chữ lung tung, không cần gì nghĩa của chữ- ưu nhã nhất; tiếng ấy theo ý hắn chắc là dùng để chỉ độ tối cao của sự hoàn mỹ.
Sau món balyk mở đầu bữa chiều, họ ngồi vào bàn ăn thực sự vào khoảng năm giờ. Hình như ăn ngon đối với Nôzđriôp không phải là mục đích của cuộc đời, thức ăn, món thì cháy, món chưa kịp chín. Người ta thấy rõ là anh bếp chỉ tùy hứng mà làm và ném vào nồi bất cứ cái gì mà hắn vớ được: hồ tiêu, bắp cải, sữa, jăm bông, đậu; chỉ cốt cho nóng, còn hương vị thì chẳng cần gì. Trái lại, Nôzđriôp chẳng chút dè xẻn trong việc thết rượu. Canh chưa dọn lên mà hắn đã rót cho khách mỗi người một cốc tướng porto -Vang nổi tiếng ở Porto nước Bồ Đào Nha- và một cốc xôtecn -Vang ngon ở vùng Xôtecn, miền tây nam nước Pháp- hạng nặng, vì trong các tỉnh của chúng ta rượu vang Xôtecn hạng thường, không ai biết đến bao giờ. Hắn lại bảo đem ra một chai Mađêrax -Vang quý, sản xuất ở quần đảo Mađêrax nước Tây Ban Nha, ở tây phần Địa Trung Hải- “mà chưa bao giờ một vị nguyên soái được uống”. Rượu Mađêrax làm tê liệt cả vị giác; biết rõ khẩu vị của các nhà quý tộc thôn quê của chúng ta, bọn lái buôn đã làm cho thứ vang này nổi vị bằng cách pha rum hay có khi pha cả rượu mạnh vào nữa, với lòng tin chắc là dạ dày Nga thì cái gì cũng chịu đựng được. Hắn lại gọi tiếp một chai vang đặc biệt mà hắn gọi là buôcginhông – sampanhông -Bourguignon là hình dung từ thuộc xứ Buôcgôn nước Pháp, nơi sản xuất vang đỏ rất ngon. Champagnon là chữ do Nôzđriôp đặt ra để gọi rược sâm banh. Nôzđriôp có thói đặt chữ ra để dùng, theo nghĩa riêng của mình- và theo lời hắn thì thứ đồ uống này có hương vị của cả hai thứ vang ấy. Hắn rót cho khách từng cốc đầy tràn, mà chỉ tiếp mình một cách bủn xỉn hết sức. Tsitsikôp liền đâm nghi và để mặc cho Nôzđriôp diễn thuyết hay tiếp đãi ông anh rể, y thừa cơ đổ phắt cốc rượu vào đĩa ăn. Sau đấy, được dọn ra một thứ rượu mạnh ngâm quả thanh hương trà mà theo lời Nôzđriôp thì hương vị y hệt như thanh mai, khó phân biệt được, nhưng làm cho khách phải hết sức hoảng hốt vì uống vào là ruột đau quặn dữ dội như bị thắt lại. Cuối cùng thì khách nhấm nháp một thứ trà, tên đã khó nhớ mà người chủ tiệc lại càng làm cho khó thêm bằng cách gọi đến mấy thứ tên khác nhau.
Bữa ăn đã xong, mấy cái chai đã cạn, nhưng khách ăn chưa hề có ý định đứng lên. Dù có thế nào đi nữa thì trước mặt ông anh rể, Tsitsikôp cũng không đả động đến cái việc mà y vẫn thiết tha. Việc ấy cần lúc thanh vắng và thân mật. Nhưng mà ông ta cũng không có gì là nguy hiểm; ông ta lại đã say bí tỉ và ngồi như cắm vào ghế, đầu gật gà, gật gù, sau cùng hiểu tình trạng tuyệt vọng của mình, ông ta mới ngỏ lời cáo từ, nhưng giọng nói nhu nhược và lúng búng; tựa hồ ông ta muốn lấy con mòng đốt ngựa mà đeo cổ để cho ngựa, - theo một thành ngữ mà người Nga hay dùng.
- Không đời nào. Tớ không thả ra đâu! Nôzđriôp tuyên bố.
- Không, chú ạ, không; cho tôi về, nếu không chú làm mất lòng tôi đấy, ông anh rể nằn nì như vậy.
- Thôi đừng nói nhảm nữa; làm một ván bancô đi.
- Chú chơi đi vậy, chú ạ; nhà tôi sẽ giận tôi lắm. Tôi về ngay để kể cho nhà tôi nghe tin tức phiên chợ; thỉnh thoảng cũng phải làm cho nhà tôi vừa lòng chứ. Chú đừng giữ tôi nữa.
- Ê, tống chị ấy đi cho…! Vợ chồng có gì quan trọng mà phải bàn bạc cùng nhau như vậy?
- Không, chú ạ, không; nhà tôi là một người bạn trăm năm trung thành và đáng kính! Nhà tôi giúp tôi nhiều việc đến nỗi, - chú có biết không, mỗi lần nghĩ đến là nước mắt tôi trào ra. Không, đừng giữ tôi lại; nói có bụng người quân tử với nhau, tôi phải về ngay để gặp nhà tôi.
- Để cho ông ấy đi! Tsitsikôp nói nhỏ với Nôzđriôp. Chúng mình còn cần gì ông ấy nữa chứ!
- Ừ, đúng đấy! Nôzđriôp tán thành. Tớ chúa ghét những thằng cha lù đà, lù đù. Quỷ bắt anh đi! Cút về mà cầm con chỉ cho vợ, đồ tồi.
- Không, chú ạ, đừng gọi tôi là đồ tồi! Mijiep cãi. Tôi sống được là nhờ nhà tôi đấy. Nhà tôi thật là tốt bụng, thật là hiền lành, thật là dễ thương. Nhà tôi sẽ hỏi tôi đã thấy những gì ở chợ phiên; phải kể lại cho nhà tôi nghe chứ. Nhà tôi thật là dễ thương.
- Thế thì cút về mà kể cho nó nghe đi! Mũ đây này.
- Không, chú ạ, chú không nên nói đến nhà tôi với cái giọng ấy; chú làm tôi phật lòng, chú biết không… Nhà tôi thật là dễ thương.
- Vậy thì cút về ngay với nó.
- Tôi về đây, chú ạ; xin lỗi chú vì đã không ở lại được. Tôi cũng muốn ở lại lắm, nhưng mà không thể được…
Ông anh rể cứ nói mãi với cái giọng ấy, không thấy rằng mình đã ngồi trong xe từ bao giờ rồi và trước mặt chỉ có cánh đồng không mông quạnh. Nhưng mà ngày hôm ấy, vợ ông ta có được biết gì mấy về phiên chợ đâu.
- Cái thằng cha thộn! Qua cửa sổ Nôzđriôp nhìn chiếc xe phóng nước kiệu và nói tiếp. – Con ngựa thắng bên tay xe nom cũng khá, mình thèm từ lâu nhưng chẳng tài nào mà thỏa thuận với cái thằng cha ngốc ấy được.
Vừa lúc ấy, Porfiri mang nến vào và Tsitsikôp thấy trong tay chủ nhà một bộ bài, không biết lấy từ đâu ra.
- Nào, bạn ơi, Nôzđriôp nói, để tiêu thì giờ, tớ cầm cái, đặt ba trăm rúp đây; được không?
Mấy ngón tay hắn ép vào rìa bộ bài, các con bài cong lên và cái băng buộc đứt ra.
Nhưng hình như Tsitsikôp không hiểu. Như chợt nhớ ra việc gì, y nói:
- À này! Nhân tiện, tôi có một việc định nhờ anh.
- Việc gì?
- Anh hãy thề là sẽ không từ chối đi đã.
- Nhưng việc gì đã chứ?
- Thề đi đã.
- Được.
- Thề danh dự chứ?
- Thề danh dự.
- Vậy thì, thế này… Nông dân của anh nhiều đứa chết rồi, mà vẫn còn tên trong các danh sách điều tra dân số, phải không nào?
- Ừ, vậy thì làm sao?
- Để chúng nó lại cho tôi.
- Cậu lấy chúng làm gì?
- Tôi cần.
- Cần làm gì?
- Đó là việc riêng của tôi. Tôi bảo anh là tôi cần chúng nó.
- Cậu định mưu việc gì đấy. Nói thật đi.
- Chẳng có gì cả. Đồ rơm rác ấy thì còn dùng làm gì được.
- Vậy cậu cần chúng để làm gì?
- Kìa, tò mò quá đi thôi! Cái gì cũng muốn sờ vào, đâu cũng muốn sục đến.
- À, cậu nói quanh? Đã vậy, tớ mặc kệ, nếu cậu không nói cho tớ rõ dụng ý của cậu.
- Biết thì có hơn gì kia chứ? Chỉ vì tôi có cái thích khác người một tí thôi. Còn anh thì không đứng đắn tí nào cả; vừa thề lại nuốt lời ngay.
- Muốn gì cũng được; nhưng tớ chẳng biết gì hết, nếu cậu không nói.
“Nói thế nào với nó được nhỉ”. Tsitsikôp nghĩ thầm rồi sau một lát suy nghĩ, nói rằng cần có nông phu chết để cho nó giá trị trong giới xã giao; vì y không có trang ấp rộng lớn, nên lấy nông nô thay vào, trong khi chờ đợi được khá hơn.
- Cậu nói dối, nói dối! Nôzđriôp ngắt lời.


(còn tiếp)


Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965. Lần 2 năm 1993.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 20.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
xem thêm »