tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27645427
Tiểu thuyết
24.04.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

- A, các chú kháu quá! Tsitsikôp vừa ngắm chúng vừa nói. Các chú bao nhiêu tuổi?
- Cháu lớn sắp lên tám, cháu bé mới được sáu năm hôm qua, bà Manilôva trả lời.
- Thêmixtôklux, Manilôp gọi đứa lớn, đang cố gỡ cái cằm bị vướng trong khăn ăn. Nghe cái tên Hi Lạp này mà không hiểu tại sao Manilôp lại cho thêm cái âm ux ở cuối -Thêmixtôklux ex (525-640) là tên của vị tướng Hi Lạp, trước cuộc xâm lược của quân Ba Tư, chủ trương bảo vệ Tổ quốc bằng hải quân và đánh tan quân địch ở trận thủy chiến nổi tiếng Xalamin (480). Manilôp lấy tên danh nhân lịch sử đặt cho con là một điều lố bịch, lại dốt nên thêm vào tên người ta một âm sai là âm ux, làm biến dạng cả tiếng Hi Lạp-, Tsitsikôp hơi rướn đôi lông mày lên, nhưng lại cố gắng lấy ngay lại vẻ mặt bình thường.
- Thêmixtôklux, kinh đô nước Pháp là gì?
Người gia sư chăm chú nhìn Thêmixtôklux; tựa hồ sẵn sàng nuốt chửng lấy thằng bé, nhưng lại hoàn toàn trấn tĩnh và gật đầu tán thành khi nghe câu trả lời: - Pari.
- Thế thành phố nào lớn nhất nước Nga? Manilôp lại hỏi.
Lần nữa, vẻ lo ngại lại lộ ra trên mặt người gia sư.
- Pêterbua, Thêmixtôklux đáp.
- Còn thành nào lớn thứ nhì?
- Mạc tư khoa.
- Hoan hô chú bé! Tsitsikôp kêu lên, và nói tiếp với Manilôp, vẻ khâm phục vô cùng, - nhưng này, bác có thấy rằng cháu rất có thiên tư không nào?
- Ồ! Bác chưa biết đấy! Manilôp nói; cháu khôn bằng bốn người. Cháu bé, Ankit -Tục danh của Hêraklex, anh hùng sức khỏe và lao động trong thần thoại Hi Lạp- thì chậm hơn, nhưng hễ thấy một con vật gì, như con cánh cam chẳng hạn là cháu trợn mắt, chạy theo quan sát. Cháu lớn, tôi định cho theo ngành ngoại giao. Thêmixtôklux, con có thích làm đại sứ không?
- Con rất thích, Thêmixtôklux vừa đáp vừa nhai bánh mì, đầu lắc lư khi sang bên phải, khi sang bên trái.
Đúng lúc ấy, người hầu, đứng sau ghế lấy khăn tay lau mũi cho ngài Đại sứ, rất kịp thời, vì ngài sắp để rơi một giọt nước mũi to tướng xuống đĩa ăn.
Trong bữa ăn, câu chuyện lại xoay quanh những lạc thú của cuộc đời ẩn dật, nhưng bỗng bà Manilôva lại tự nhiên nhận định mấy câu về Nhà hát Thành phố với ban hát của nó. Người gia sư chú ý nhìn những người nói chuyện, và cứ thấy họ sắp mỉm cười là mở hoác mồm ra cười một cái cười thực sự. Có lẽ, anh chàng cho như thế là biết ơn sự biệt đãi của Manilôp đối với mình. Tuy vậy, có một lần, chàng ta lấy vẻ mặt dữ tợn và gõ xuống bàn mấy tiếng mạnh và ngắn, mắt nhìn chằm chằm vào các cậu học trò ngồi trước mặt. Thái độ ấy có lý do: Thêmixtôklux cắn Ankit vào tai. Cậu này, mắt nhắm, mồm há, sắp hét lên; nhưng hiểu rằng khóc ré lên thì có thể bị cấm ăn một món, nên vội ngậm miệng và vừa thút thít, vừa gậm lại một cái sườn cừu, đôi má bóng những mỡ.
Chốc chốc, bà chủ nhà lại làm khổ Tsitsikôp:
- Bác chẳng xơi gì cả, bác không lấy món nào cả.
Và mỗi lần, Tsitsikôp lại đáp.
- Xin cám ơn bác, tôi no lắm rồi. Một câu chuyện nhã thú làm cho người ta no hơn món ăn ngon nhất.
Ăn xong, Manilôp, hài lòng đến tột độ, đặt tay lên lưng Tsitsikôp và muốn đưa sang phòng khách, nhưng bỗng Tsitsikôp nói với giọng quan trọng rằng muốn nói chuyện về một việc cần kíp.
- Vậy, xin rước bác vào phòng giấy, Manilôp vừa nói vừa dẫn y vào một phòng nhỏ trông ra rừng thông xanh xanh. Đây là chỗ tôi ưa thích nhất, chàng nói.
- Chỗ này thích thật, Tsitsikôp ngắm nghía xong rồi nói.
Căn phòng thật ra cũng không phải là không xinh xắn. Tường sơn lơ nhạt phơn phớt màu ghi; bốn cái ghế, một ghế bành, một cái bàn trên để cuốn sách có cái thẻ đánh dấu trang mà chúng ta đã nói đến; vài tờ giấy đã dùng rồi và nhất là rất nhiều thuốc lá: thuốc lá trong gói, thuốc lá trong túi, thuốc lá để thành đống trên bàn. Trên cửa sổ, từng đống tàn thuốc, đổ từ các tẩu ra và xếp có nghệ thuật; rõ ràng là chủ nhân thỉnh thoảng lấy cái trò chơi ấy làm thú vị.
- Xin mời bác, ngồi ghế bành này, Manilôp nói. Ngồi đây dễ chịu hơn.
- Bác cho phép tôi ngồi ghế tựa này.
- Xin phép bác là không thể để bác ngồi thế được. Manilôp nói và mỉm cười. Đây là ghế bành riêng dành cho khách quý: dù muốn, dù không, cũng xin bác ngồi đây cho.
Tsitsikôp vâng lời.
- Xin phép bác, cho tôi được tiếp bác một tẩu thuốc.
- Xin bác, tôi không hút thuốc, Tsitsikôp trả lời, giọng có vẻ tiếc.
- Sao thế ạ? Manilôp hỏi, cũng một giọng như thế.
- Tôi tránh cái thói quen ấy: người ta bảo là thuốc lá làm cho ngực khô đi.
- Đó là một thành kiến. Xin phép bác, tôi nói chắc như vậy. Theo tôi nghĩ thì hút còn hơn là hít. Ngày chúng tôi còn ở trung đoàn, có một viên trung úy lúc nào cũng ngậm tẩu, ở bàn ăn, ở cả nơi khác, xin lỗi bác. Bây giờ ông ta đã ngoài bốn mươi rồi mà, ơn Chúa, sức khỏe chẳng ai bì kịp.
Tsitsikôp không phản đối: theo y thì trong thiên nhiên có lắm cái mà những bộ óc lớn nhất cũng không thể cắt nghĩa được.
- Nhưng bác cho phép chúng tôi được hỏi… Tsitsikôp lại nói tiếp, giọng nói có một âm điệu lạ lùng. Y lại vô cớ liếc nhìn ra đằng sau và không hiểu tại sao Manilôp cũng ngoái nhìn lại như vậy.
- Bác nộp tờ khai dân số đã lâu chưa ạ?
- Hình như đã khá lâu rồi; nhưng thật ra tôi cũng chẳng nhớ rõ nữa.
- Và từ đấy, bác có mất nhiều nông dân không ạ?
- Thật tình, tôi chẳng biết tí gì; đó là việc của lão quản lý. Này, đứa nào đấy! Gọi cho ta lão quản lý; hôm nay là ngày hắn phải đến đây.
Viên quản lý vào. Một gã, trạc độ bốn mươi, râu cạo nhẵn, và mặc cả áo dài, đã có một lối sống khá an nhàn; cái mặt bị thịt, phị ra, nước da vàng vàng, đôi mắt ti hí, chứng tỏ hắn đã quá quen với mền nhung mao và đệm hồng thúy. Người ta có thể đoán ngay rằng con đường tiến thân của hắn là con đường của tất cả mọi lão quản lý: trước chỉ là thằng nhỏ để sai vặt, rồi học được mấy chữ cái, lấy một ả giữ kho Agaska nào đấy được bà chủ dùng làm thị tì tín cẩn, thăng chức giữ kho rồi quản lý. Và được thăng lên chức này thì tất nhiên hắn đã hành động như tất cả mọi đồng nghiệp của hắn: chơi thân và ăn cánh với bọn chóp bu trong làng, bắt dân đen gánh vác đủ mọi khổ dịch; sáng chín giờ hắn mới mở mắt, đợi người mang xamôva đến và nhẩn nha uống trà, chẳng cần vội vã gì hết.
- Này, anh cho biết, từ lần điều tra dân số vừa rồi đến nay, ta mất hết bao nhiêu nông dân?
- Bao nhiêu ạ?... Ấy, chết mất đi nhiều đấy ạ! Lão quản lý vừa nói vừa lấy tay che mồm cố nén một tiếng nấc.
- Đúng, ta cũng nghĩ như thế, Manilôp đớp lấy lời và xác nhận luôn: Chết mất đi nhiều đấy. – Vâng, vâng nhiều, quay lại phía Tsitsikôp chàng nói thêm.
- Nhưng mất đi bao nhiêu? Tsitsikôp hỏi.
- Ừ, bao nhiêu? Manilôp nhắc lại.
- Bao nhiêu? Làm thế nào mà biết được? Có ai đếm đâu ạ.
- Chính thế, Manilôp vừa nói vừa quay lại phía Tsitsikôp, - tôi cũng nghĩ như thế, chết nhiều quá, không biết được con số là bao nhiêu.
- Vậy thì, anh bạn này, Tsitsikôp nói với lão quản lý, anh đếm giúp tôi và lập cho tôi một danh sách, tên họ rõ ràng.
- Đúng thế, tên họ rõ ràng, Manilôp nhắc lại. – Xin tuân lệnh!, lão quản lý đáp và rút lui.
- Bác lấy danh sách ấy làm gì? Manilôp hỏi sau khi lão quản lý đã đi rồi.
Câu hỏi hình như làm cho khách lúng túng; y đỏ mặt và tựa hồ cố gắng lựa lời để đáp lại. Quả thật, Manilôp được nghe những điều lạ lùng hết sức, mà chưa bao giờ tai người đã được nghe.
- Bác muốn biết tôi cần để làm gì? Thế này ạ, tôi muốn mua nông dân… mãi Tsitsikôp mới nói ra được rồi im bặt.
- Xin phép bác cho biết là muốn mua nông dân thế nào, có kèm theo đất hay không?
- Không ạ, thật ra không phải là nông dân đâu ạ. Tsitsikôp đáp, tôi muốn xin những người chết…
- Thế nào ạ? Xin lỗi… tôi hơi nặng tai, hình như tôi được nghe một tiếng là lạ.
- Tôi có ý muốn mua những người chết mà trong sổ đinh vẫn kê khai là còn sống -Số nông phu đăng ký trong một đợt điều tra dân số thì có tên ghi trong sổ mãi cho đến đợt điều tra sau, dù có chết giữa chừng cũng không được xóa tên và trang chủ vẫn phải tiếp tục nộp thuế thân cho họ như họ còn sống vậy. Cho nên Tsitsikôp mua người chết mà trước pháp luật thì chẳng khác gì mua người sống-.
Manilôp để rơi cái tẩu Thổ Nhĩ Kỳ, há hốc mồm ra mấy phút liền. Đôi bạn vừa mới biện luận rất hay về những lạc thú của tình bằng hữu, đều im như phỗng, mắt nhìn mắt, như hai bức chân dung mà ngày trước người ta treo đối xứng nhau hai bên tấm gương trên lò sưởi. Sau cùng, Manilôp cúi nhặt cái tẩu và ngước nhìn lên Tsitsikôp, cố tìm thấy một nụ cười mỉm trên môi của khách, và chắc rằng khách muốn nói đùa; nhưng lại rất đỗi ngạc nhiên vì thấy khách nghiêm trang hơn bao giờ hết. Manilôp lại tự hỏi hay là bỗng nhiên khách bị mất trí và nhìn y một cách kinh hãi, nhưng cũng không hề tìm thấy trong đôi mắt trong trẻo ấy cái ánh bồn chồn, quái gở thường phảng phất trong mắt những người điên. Manilôp cố đào óc để xem phải có thái độ như thế nào, nhưng vô hiệu; chàng chỉ còn biết nhả từ cuống họng ra một làn khói thuốc mong mỏng.
- Vậy là, tôi muốn biết bác có thể để lại, bán lại chuyển thành sở hữu của tôi, bằng cách nào mà bác cho là tốt, những kẻ đã chết thật, mặc dù đối với pháp luật họ vẫn còn sống.
Chưng hửng, sửng sốt, Manilôp nhìn khách không nói được một lời.
- Dường như bác bối rối?... Manilôp khẽ hỏi.
- Tôi ấy à?... Không,… không… không phải thế, mãi Manilôp mới ấp úng được mấy tiếng; nhưng mà tôi vẫn không hiểu ra… xin lỗi… dĩ nhiên, tôi không được tiếp thu một nền học vấn như của bác mà, có thể nói rằng, mỗi một cử chỉ đều biểu lộ rõ ràng sự lỗi lạc, tôi không có được cái nghệ thuật nói năng xuất chúng… Có lẽ câu nói của bác bao hàm một ý nghĩa kín đáo?... Có lẽ bác nói vậy để cho lời lẽ văn hoa?
- Không… không, - Tsitsikôp nhấn mạnh, - tôi không nói bóng bẩy gì đâu; tôi nói những nông phu chết thật.
Manilôp hoàn toàn hoảng hốt. Chàng cảm thấy cần phải làm một việc gì, hỏi một câu, nhưng mà câu gì? Chỉ có quỷ sứ mới biết được. Chàng lại thở ra một làn khói nữa, nhưng lần này thì phì ra đằng mũi.
- Vậy nếu bác không thấy gì trở ngại, thì nhờ ơn Chúa, chúng ta có thể lập văn tự bán, Tsitsikôp nói.
- Văn tự bán… nông phu chết à?
- Không phải, Tsitsikôp nhắc lại. Chúng ta ghi rõ là chúng còn sống, như vẫn ghi trong tờ khai dân số. Bao giờ tôi cũng theo đúng pháp luật; điều ấy đã đem đến cho tôi nhiều sự bực mình; nhưng xin bác bỏ lỗi, đối với tôi, bổn phận là thiêng liêng và tôi xin cúi mình trước pháp luật.
Những lời sau này làm cho Manilôp rất thích, nhưng chàng vẫn chưa thể hiểu được thực chất của việc này; để thay cho câu trả lời, chàng lại hít từng hơi khói dữ dội đến nỗi cái tẩu Thổ Nhĩ Kỳ kêu lên như cái ống dịch. Hình như chàng muốn rút từ cái tẩu ra một kiến giải về sự tình quái dị này, nhưng cái tẩu chỉ biết có huýt mà thôi.
- Bác có ý nghi ngờ gì chăng?
- Ồ, không bao giờ! Xin lỗi bác. Chỉ xin phép hỏi bác một câu là việc này, hay đúng là cuộc điều đình này, - vâng, tôi nói là cuộc điều đình này, có gì trái với các thiết chế và ý kiến thẩm tra về sau của nước Nga không?
Đến đây, Manilôp ngước nhẹ đầu lên, nhìn Tsitsikôp với một cái nhìn hùng hồn và làm cho tất cả các nét mặt mình và cho đôi môi mím chặt có một cái vẻ sâu xa đến nỗi chắc chưa ai hề được trông thấy bao giờ ở ngoài khuôn mặt của một vị bộ trưởng tài trí đang vật lộn với một vấn đề gai góc.
Nhưng Tsitsikôp trả lời một cách đơn giản rằng một việc hay một cuộc điều đình như thế không thể trái với cái thiết chế, cũng như với các ý kiến thẩm tra về sau của nước Nga được. Sau một phút, y nói thêm là việc ấy chỉ có lợi cho quốc khố, vì được thu thuế trước bạ.
- Bác tin chắc thế chứ?
- Chắc chứ và như vậy là rất tốt.
- À, vậy là tốt thì tôi chẳng có gì bàn nữa, hoàn toàn yên tâm, Manilôp tuyên bố.
- Vậy thì chỉ còn việc thỏa thuận với nhau về giá cả…
- Giá cả ư? Manilôp kêu lên. Rồi một lát sau nói tiếp: - Vậy ra bác nghĩ rằng tôi lại đòi tiền cả nông phu, trong một chừng mực nào đó, đã hết tồn tại rồi sao? Bởi vì, thất lễ bác, bác đã có cái ý muốn là như thế thì tôi xin nhường không hầu bác và chịu các lệ phí về giấy tờ.
Sử gia chép lại các sự biến này sẽ phải khiển trách nghiêm khắc nếu quên không ghi lại nỗi vui thích mà những lời nói ấy đã đem đến cho nhà lữ hành. Dù là rất đỗi nghiêm trang và thận trọng, y cũng suýt nhảy lộn lên một cái, vì ai cũng biết đó là biểu hiện của lòng phấn khởi nhiệt thành nhất. Ngồi trong ghế bành mà cứ quay qua, quay lại dữ dội, y làm tấm vải len phủ lên lưng ghế rách toạc một miếng tướng. Lòng biết ơn làm cho y không ngớt lời cảm tạ; đến nỗi Manilôp, trước nhìn y với một vẻ e ngại, phải lúng túng đỏ mặt, lắc đầu; và sau cùng giải thích rằng đó chỉ là một món nhỏ mọn, không đáng gì, chẳng qua chàng muốn có thể đem đến cho y một bằng chứng cụ thể về lòng giao cảm của chàng mà thôi; chàng nói đến cái từ khí giữa các linh hồn, đến sức lôi cuốn của con tim; còn những nông phu, mà trong chừng mực nào đó đã quá cố, thì thật ra, có đáng gì đâu.
- Trái lại! Tsitsikôp vừa nói vừa bắt tay chàng. Không cầm được, y bật ra một tiếng thở dài não nuột từ đáy lòng; hình như y đang sẵn sàng kể những chuyện tâm sự, vì một lát sau, y phun ra, giọng tin tưởng: - giá bác biết rõ là đối với một kẻ khổ sở, không cửa, không nhà, một mình ở trong thế gian, bác vừa giúp cho một việc như thế nào. Như con thuyền mong manh, bị sóng điên cuồng xô đẩy, còn có cái gì trong đời mà tôi không phải chịu đựng! Tôi đã nếm đủ mọi mùi đắng cay, mọi sự nhũng nhiễu, hà hiếp; và như thế chỉ vì yêu công lý, làm điều thiện, dang tay giúp người quả phụ, mở cửa đón kẻ cô nhi!...
Đến đây, y rút khăn tay, gạt một giọt lệ.
Manilôp xúc cảm đến cực độ. Đôi bạn ngồi lặng một lúc lâu, tay nắm tay, mắt nhìn mắt; những hạt lệ long lanh trên bốn mí. Manilôp, không buông tay nhân vật của chúng ta nữa, và mãi sau Tsitsikôp mới nhè nhẹ rút tay ra được. Tsitsikôp nói là cái văn tự phải lập ngay, càng sớm càng tốt và vì vậy, mong Manilôp quá bộ lên tỉnh. Nói xong y cầm mũ và xin cáo từ.
- Sao! Bác đi rồi à! Manilôp kêu lên, gần như kinh hoàng, tựa hồ vừa ra khỏi một giấc mộng.
Vừa lúc ấy thì vợ chàng bước vào.
- Liz, em tưởng tượng là Paven Ivannôvits từ biệt chúng ta rồi đấy! Chàng nói với một vẻ kinh hãi.
- Vì ở nhà ta bác ấy buồn, bà Manilôva nói.
- Thưa bà, Tsitsikôp vừa nói vừa để tay lên quả tim, ở đây, vâng chính là ở đây, sẽ khắc sâu mãi kỷ niệm những giây phút êm đềm, sung sướng mà tôi được trải qua trong nhà này. Tôi không thể quan niệm hạnh phúc nào hoàn toàn hơn là được sống với các bác; nếu không được cùng ở một nhà, thì ít ra cũng bên láng giềng gần nhất.
- Thật đấy, Paven Ivannôvits ạ, - Manilôp nói, và chàng liền bị ngay cái ý kiến ấy thu hút, - cùng sống dưới một mái nhà, hay cùng nhau đàm đạo dưới bóng một cây tiễu du, thật sung sướng biết chừng nào!
- Ồ! Đó thật là cảnh thiên đường, Tsitsikôp xác nhận với một tiếng thở dài. Thôi, xin từ biệt phu nhân, - y vừa nói tiếp vừa hôn tay bà chủ nhà, - xin từ biệt tôn huynh. Xin chớ quên lời khẩn cầu của tôi.
- Bác cứ yên tâm! Manilôp trả lời, hai hôm nữa chúng ta gặp lại nhau.
Ba người sang phòng ăn.
- Tạm biệt, các bạn nhỏ! Tsitsikôp nói khi trông thấy Ankit và Thêmixtôklux đang chơi với một người lính khinh kỵ bằng gỗ, đã sứt mũi và gãy tay. Tạm biệt, các cháu… Bác không mang gì đến cho các cháu vì, các cháu thấy đấy, bác không được biết đến cả việc có các cháu nữa cơ. Xin lỗi các cháu; lần sau bác sẽ đền bù. Cháu, cháu sẽ được một thanh kiếm; cháu có thích một thanh kiếm không nào?
- Có, có Thêmixtôklux đáp.
- Còn cháu, một cái trống nhá. Đồng ý không nào, một cái trống nhá? Y cúi về phía Ankit và nói tiếp.
- Tống, Ankit vừa lúng túng vừa cúi đầu.
- Tốt lắm, bác sẽ mang cho cháu một cái trống và trống ra trống! Tra-ta-ra, ran-phan-phan… Thôi tạm biệt, cháu yêu quý, tạm biệt.
Y hôn lên trán thằng bé và cười với vợ chồng Manilôp một tiếng nho nhỏ, tiếng cười chứng tỏ với cha mẹ sự ngây thơ của con họ.
- Bác ở lại thì hơn, Paven Ivannôvits ạ! Manilôp khẩn khoản khi mọi người đã ra đến tam cấp lớn. Bác trông mây kìa!
- Chẳng sao đâu ạ!
- Nhưng, ít nhất, bác có biết đường sang ấp Xôbêkiêvits không đã?
- Tôi sắp nhờ bác chỉ cho.
- Bác cho phép tôi chỉ cho anh xà ích.
Vẫn dễ thương như thường lệ, Manilôp chỉ cho xà ích bỏ hai đường tắt ngang, rồi rẽ vào đường thứ ba – trong khi sốt sắng chỉ bảo, chàng gọi cả xà ích là ông.
- Hiểu rồi, thưa Quan lớn! Xà ích đáp và Tsitsikôp ra đi, trong khi chủ nhà kiễng chân lên, vẫy vẫy khăn tay và chào lấy, chào để.
Manilôp nhìn theo chiếc britska xa dần và khi xe đã khuất, chàng còn đứng lại hút thuốc mãi trên thềm.
Sau cùng chàng mới vào nhà, ngồi xuống ghế và thưởng thức niềm vui sướng đã giúp được khách một việc mọn. Rồi tư tưởng của chàng vô tình chuyển sang những chủ đề khác và sau cùng thì lạc bước không biết đến tận đâu đâu. Trước tiên chàng gợi lên, những lạc thú của tình bạn, hạnh phúc của cuộc đời chung sống trên một bờ sông. Rồi chàng bắc một cái cầu qua con sông ấy, xây trên bờ một cái nhà có vọng lâu cao ngất, từ đấy nhìn suốt đến tận Mạc-tư-khoa, để chiều chiều lên đấy uống trà, đàm đạo. Chàng thấy mình cùng Tsitsikôp, ăn mặc sang trọng, bước vào một xã hội thượng lưu và ở đấy sự lịch thiệp của họ làm cho mọi người say mê. Chàng mơ thấy nhà cầm quyền tối cao trong nước -Gôgôn viết Hoàng đế, nhưng vì người kiểm duyệt sợ nên phải sửa lại-, được biết tình bạn hiếm có của họ, liền phong hai người chức tướng quân. Nhưng bỗng việc hỏi mua lạ lùng của Tsitsikôp đến làm đứt cái mạch suy nghĩ vẩn vơ của chàng. Chàng không tài nào quen được với cái ý kiến ấy; càng quay đi quay lại trong óc, chàng càng thấy nó khó hiểu hơn; và vừa hút cái tẩu, chàng vừa nhai đi, nhai lại cái ý ấy mãi cho đến bữa ăn khuya.


Chương 3
Trong khi ấy, Tsitsikôp, khá vui vẻ, đã đi được một lúc lâu trên đường cái lớn. Đã biết cái dục vọng mạnh hơn cả của y từ trước, chúng ta sẽ không lấy làm lạ thấy y đã nhượng bộ ngay dục vọng ấy, cả xác lẫn hồn. Kế hoạch tính toán, mưu mẹo phản ánh trên mặt y, đều phải là khá dễ chịu; điều ấy có thể đoán thấy ở nụ cười mà chúng luôn luôn làm nở trên môi y. Mải suy nghĩ, lữ khách không nghe thấy gã xà ích của mình, - mà sự đón tiếp của các gia nhân nhà Manilôp đã làm cho phấn chấn, - ngỏ những lời nhận xét đích đáng với con ngựa vằn thắng ở càng xe bên phải. Con láu cá này chỉ kéo vờ vĩnh cho qua chuyện, trong khi hai con kia vui vẻ kéo thật lực; người ta thấy rõ nỗi thích thú trong đôi mắt chúng: con ngựa hồng đuôi đen, bờm đen, thắng ở giữa và con ngựa hồng tuyền thắng ở càng xe bên trái, biệt hiệu là “trợ tá”, vì nguyên nó do một trong những vị công chức đáng kính ấy bán lại.
- Muốn xỏ lá bao nhiêu thì xỏ lá này, mày cũng không lừa nổi tao đâu! Xêlifan vừa nói vừa nhổm đít lên và vụt roi vào con ngựa lười. Này, học lấy cho thạo nghề, đồ phá hoại! Con hồng đen nó là một con ngựa lương thiện; nó làm ăn có lương tâm; tao sẽ vui lòng cho nó thêm một hộc thóc; con trợ tá cũng là một con vật ngay thẳng… Này! Này! Mày phởn cái gì mà vẫy tai? Nghe người ta bảo đây, đồ ngu! Ơ, xem cái quân mất dạy này; mình chỉ khuyên nó toàn những lời phải cả đấy chứ! Này thôi! Đi đâu mà lồng lên thế?

Nói đến đây Xêlifan lại quất một roi nữa: - À, đồ dã man! -Gôgôn viết: đồ Bônapact chết tiệt, nhưng kiểm duyệt bỏ- - Rồi nói với cả ba con, hắn hò: - Nào, các em yêu dấu! - Miệng nói tay vụt cả bọn, mà vụt lần này thì để tỏ vẻ hài lòng. Sau khi đã ban cho ba con vật cái thú ấy rồi, hắn trở lại với con Vằn: - Mày tưởng giấu được cái trò xỏ lá của mày đấy hẳn? Không, bạn thân ạ, cư xử cho đúng đắn nếu mày muốn người ta trọng mày. Hãy noi gương, chẳng hạn, ông chủ nhà ta vừa ra khỏi nhà; gia nhân người ta ngay thẳng biết mấy! Nói chuyện với một người ngay thẳng, bao giờ tao cũng thấy thích; chúng tao thành ngay đôi tri kỷ. Cho dù là uống chén trà, ăn miếng bánh, tao không thể từ chối người ta cái gì cả. Những người chính trực thì ai cũng quý mến. Chủ ta, chẳng hạn, mọi người đều tôn kính, vì ông đã phụng sự Nhà nước, mày nghe chưa; vì vậy ông đường đường là tư vấn bộ…

Những suy luận ấy đưa dần Xêlifan vào những nhận định trừu tượng. Giá Tsitsikôp thèm để ý nghe thì y đã được biết ngay ý kiến của người nhà quê ấy đối với y; nhưng ít nhất phải là một tiếng sét dữ dội mới kéo y ra khỏi những trầm tư, mặt tưởng và làm cho y nhìn ra chung quanh. Mây kéo đến đầy trời; những hạt mưa rơi xuống làm lỗ chỗ cả mặt đường phủ bụi dày. Một tiếng sét thứ hai lại nổ ra, dữ hơn và gần hơn; và mưa bỗng đổ xuống như trút. Trước, hạt mưa rơi nghiêng, đập vào thành xe, rồi rơi thẳng, như gõ trống trên mui xe. Bị nước bắn vào mặt, Tsitsikôp kéo rèm da xuống che và ở rèm đã có hai lỗ hở để có thể nhìn thấy phong cảnh bên ngoài; y ra lệnh cho Xêlifan đi gấp lên. Bị ngắt lại giữa lúc đang cao đàm hùng biện, gã xà ích hiểu rằng bây giờ không phải là lúc đủng đỉnh được nữa. Rút trong hòm ra một cái áo ngoài bằng dạ xám, hắn mặc vào người, rồi cầm lấy cương và quát mắng mấy con vật mà hình như bài giảng đạo của hắn ta đã làm cho đắm đuối vào một trạng thái hôn mê dìu dịu; hay ít ra cũng chỉ còn đi từng bước một. Nhưng hắn không tài nào nhớ ra là đã bỏ qua hai hay ba đường tắt ngang rồi. Sau vài phút suy nghĩ thì hắn biết là đã bỏ qua đi nhiều. Như người Nga, trong những lúc nguy nan, bao giờ cũng quyết định mà không cần suy nghĩ, Xêlifan kích thích mấy con vật một câu: “- Nào, các bạn hiền!” rồi phóng bừa vào con đường tắt ngang đầu tiên, không cần biết là nó đưa đến đâu.

Cơn mưa xem chừng còn kéo dài. Cánh đồng đã đầy sũng nước; mỗi lúc, công việc của mấy con ngựa lại càng vất vả thêm.
Ngạc nhiên vì thấy chưa đến ấp Xôbakiêvits, Tsitsikôp bắt đầu lo: y muốn thị sát bốn chung quanh, nhưng chỉ thấy đêm tối tò mò.
Sau cùng, nghiêng người ra ngoài xe, y gọi: - Xêkufan!
- Thưa ông, cái gì ạ?
- Có thấy làng mạc gì không?
- Thưa ông, không, chẳng thấy gì cả.
Và Xêlifan, khoa cái roi, cất giọng hát một bài hát, hay nói cho đúng là một bài kinh cầu nguyện, một bản tình ca trầm trầm, dài lê thê không dứt ra được. Hắn cho vào đấy đủ mọi thứ tiếng mà từ đầu đến cuối nước Nga, người ta quen dùng để vỗ về, khuyến khích loài ngựa; hắn rộng rãi ban cho mấy con vật đủ mọi thứ hình dung từ mà hắn chợt nhớ đến và cuối cùng gọi cả chúng là “thư ký” nữa.
Trong lúc ấy, Tsitsikôp, bị lắc qua, lắc lại theo những cái xóc của xe, hiểu rằng chiếc britska đang đi trên những luống cày. Hình như Xêlifan cũng ngờ thế; nhưng hắn chẳng nói năng gì cả.
- Cái đồ chết treo, mày đưa ông đi đâu thế này?
- Thưa ông, biết làm thế nào được trời đất như thế? Cả đến cái roi con cũng chẳng trông thấy nữa là!
Chiếc xe nghiêng đến nỗi Tsitsikôp phải bám cả hai tay vào thành xe; và bấy giờ y mới thấy là gã xà ích đang say rượu.
- Cẩn thận, đồ súc sinh, mày đánh đổ xe đây này! Y thét lên.
- Đổ xe ư? Thưa ông không ạ, Xêlifan bày tỏ ý kiến, đổ xe thì tệ quá, con chẳng làm đổ đâu, ông cứ yên tâm.
Nói rồi hắn cố sức quay xe lại và quay khéo đến nỗi hắn quật chiếc xe đổ nghiêng xuống thật. Tsitsikôp nằm sóng xoài trong bùn. Xêlifan kìm mấy con ngựa lại được; và chúng cũng tự dừng lại vì đều mệt lử cả rồi. Biến cố bất ngờ ấy làm cho hắn hoảng hốt. Trong khi ông chủ cố ra khỏi vũng bùn thì hắn từ trên ghế xà ích nhảy xuống, hai tay chống nạnh đứng sững trước chiếc britska; rồi sau vài phút suy nghĩ mới phát biểu:
- Vô lý, xe đổ à!
- Mày say khướt cò bợ rồi còn gì! Tsitsikôp nói.
- Say, thưa ông, ông nói đùa; say là không tốt. Con chỉ nói chuyện với một người bạn, đúng thế; thế thì chẳng có gì hại cả… Chúng con còn ăn với nhau miếng bánh nữa; giữa người lương thiện với nhau, con tưởng việc ấy cũng có thể được.
- Lần trước mày say, tao bảo mày những gì, mày quên hết rồi à?
- Xin thứ lỗi, bẩm quan lớn; làm sao mà quên được? Con biết phận sự mình chứ. Say rượu là nhơ lắm, có phải con không biết đâu. Nhưng còn chuyện trò với những người lương thiện…
- Đợi đấy, để tao dạy cho mày chuyện trò với những người lương thiện!... Mày muốn tao nện cho một trận chắc?
- Tùy ý Quan lớn, gã Xêlifan ù lì ấy trả lời. Ông chủ là ông chủ và cái roi cũng công dụng tốt; thằng ở mà làm bậy thì phải đưa nó vào trật tự.
Lý luận ấy làm cho Tsitsikôp phải thua; hơn nữa, số phận hình như đã muốn rủ lòng thương y: có tiếng chó sủa xa xa. Tức khắc được phục hồi dũng khí, y ra lệnh kích thích mấy con ngựa để đi tiếp. Người xà ích Nga thường thính vô cùng; khi không trông thấy gì hết, hắn cứ cho ngựa phóng nước đại và cuối cùng bao giờ cũng đến được một nơi nào đấy. Xêlifan, chẳng trông thấy tí gì, nhưng đã nhắm về phía làng mà tiến, đúng đến nỗi chỉ dừng lại khi hai càng xe húc vào một cái hàng rào và không tài nào tiến được nữa. Qua màn mưa tầm tã, Tsitsikôp đoán ra cái gì như hình cái mái nhà; liền bảo Xêlifan tìm cổng vào. Việc ấy đáng lẽ phải mất nhiều thì giờ; nếu ở nước Nga, những con chó sốt sắng đã không đóng cái vai người canh cổng. Việc khách đến được loan báo ầm ỹ đến nỗi Tsitsikôp phải bịt hai tai lại. Một tia sáng lờ mờ từ một cái cửa sổ chiếu xuống hàng rào, làm cho các nhà lữ hành của chúng ta trông thấy cái cổng; Xêlifan liền đấm vào đấy liên hồi. Một cánh cửa con mở, một hình dáng đàn bà khoác cái áo ngoài nhà quê hiện ra và một giọng khàn hỏi:
- Ai đấy? Làm gì mà ầm lên thế?
- Khách, bà lão ơi, xin ngủ nhờ đêm nay.
- Anh khéo chọn giờ mà đến thật, bà lão đáp. Đây không phải quán trọ, mà nhà bà chủ tôi đấy.
- Vâng đêm khuya rồi, mà trời tối như mực, Xêlifan nói theo.
- Có im mồm đi không, đồ ăn cắp! Tsitsikôp quát.
- Nhưng ông là ai? Bà lão hỏi.
- Một nhà quý tộc, bà lão ạ.
Tiếng quý tộc đối với bà lão có ảnh hưởng ngay.
- Chờ một tí; tôi đi trình bà đã.
Bà lão đi vào rồi hai phút sau trở ra, tay xách cái đèn. Cổng mở. Một khung cửa sổ sáng lên, chiếc britska vào sân, dừng lại trước một chiếc nhà nhỏ, khó mà nhìn rõ trong bóng đêm, vì ánh đèn từ các cửa sổ chiếu thẳng xuống các vũng nước, chỉ cho thấy có nửa nhà thôi. Mưa rơi như gõ trống xuống mái nhà bằng gỗ, rồi đổ ầm ầm xuống một cái thùng. Trong lúc ấy thì bầy chó tiến hành một cuộc biểu diễu thanh nhạc đón chào tân khách. Một con, đầu ngả ra đằng sau, ra sức chuyển giọng qua đủ các cung bậc đến nỗi người ta tưởng là nó được trả công rất hậu để làm việc ấy; một con xướng âm vội vã -Tác giả viết: như một người hát kinh, kiểm duyệt bỏ- giọng nữ cao không biết mệt của một con cún, hòa vào bản hợp xướng những tiếng lục lạc đồng; một con chó già vạm vỡ, - người ta thấy rõ như thế qua cái giọng ồ ồ của nó, - cò cử cái giọng nam trầm và, giữa lúc cuộc hòa nhạc hào hứng nhất, khi những kẻ hát giọng nam cao đang kiễng gót lên để ném ra một nốt và toàn thể các diễn viên đang cao hứng đến tột độ, thì một mình tay hát giọng trầm thấp. gục cái cằm râu cạo chưa nhẵn vào chiếc cà vạt, rồi cúi mình sát đất, phát ra một nốt làm rung chuyển các cửa kính.
Những danh ca tài ba toàn vẹn như vậy cho phép người ta đoán được là ấp này khá lớn; nhưng mà nhân vật của chúng ta, ướt như chuột, rét cóng và run cầm cập, chỉ mãi nghĩ đến việc được đánh một giấc mà thôi. Chiếc britska vừa đỗ, y nhảy phốc lên bậc tam cấp, trượt chân và suýt ngã. Một người đàn bà, giống như người lúc nãy, nhưng trẻ hơn, đón y trên ngưỡng cửa và đưa vào nhà.
Tsitsikôp liếc nhìn chung quanh một cách lơ đãng tường dán những giấy sòng sọc đã cũ; những bức họa chim chóc in bằng mộc bản; một cái đồng hồ treo, mặt vẽ hoa, sơn màu; những cái gương, cổ lỗ, khung gỗ đánh bóng chạm hình lá cây xoắn xít, có giắt một cái thư, một cỗ bài, một chiếc tất… Y chẳng nhìn thấy gì hơn nữa; mắt y nhắm nghiền lại như có dính mật.
Nhưng bà chủ nhà đã bước ra; một người đã có tuổi, đội mũ ngủ, một miếng nỉ quấn quanh cổ; đó là một kiểu bà già, đầu nghiêng nghiêng, lúc nào cũng kêu khổ, mà cứ từ từ nhét đầy những túi vải tréo go, giấu trong các ô của những chiếc tủ ngăn: túi thì đầy những đồng rúp, túi khác những đồng năm mươi kôpek và túi thứ ba những đồng hăm lăm kôpek. Tuy vậy, trông bề ngoài thì cái tủ chỉ đựng có quần áo vải, những áo ngắn đàn bà, những con chỉ, một cái áo choàng sổ đường khâu để chờ lúc thay cho cái áo dài đã rách hay bị cháy ngày hôm trước của buổi lễ nào đó, trong khi rán bánh đa hay thức ăn bọc bột. Nhưng đó chỉ là một việc phòng xa, vị tất đã xảy đến; bà lão này tằn tiện lắm và cái áo choàng sẽ cứ sổ chỉ nằm mãi đấy để sau cùng thì ghi vào chúc thư để truyền lại cho một người chắt gái nào đó gọi là cụ trẻ, cùng với những quần áo cũ khác.
Tsitsikôp xin lỗi vì đến khuya quá và làm phiền gia chủ.
- Không, không, bà lão nói, ông có làm phiền gì đâu! Trời đất như thế này mà Chúa phái ông tới đây! Mưa, gió, sấm sét!… Chắc ông cần phải ăn cái gì cho lại sức; nhưng mà khuya khoắt thế này, thì chẳng thể nấu nướng gì được…
Một tiếng rít kinh khủng ngắt câu chuyện đang nói. Sợ một bầy rắn đang kéo nhau vào, Tsitsikôp ngửng đầu lên, nhưng lại bình tâm lại ngay vì đoán ra là cái đồng hồ đang cố đánh giờ. Một tiếng khò khè tiếp theo tiếng rít; sau cùng trong một sức căng thẳng tột bực, con chim cu thả ra hai tiếng nghe như tiếng gậy đập lên cái chậu vỡ; rồi quả lắc lại tiếp tục những tiếng tích tắc bình thản của nó.
Tsitsikôp cảm ơn bà chủ nhà, nói rằng chỉ xin một chỗ ngủ. Nhưng y cũng hỏi đây là nơi nào; ấp của ông Xôbakiêvits có xa không? Bà lão trả lời là chẳng biết một trang chủ nào tên như thế và chắc rằng chẳng có người nào tên như thế cả.
- Nhưng chắc bà cũng biết ông Manilôp chứ? Tsitsikôp hỏi lại.
- Manilôp à? Ai ấy nhỉ?
- Một trang chủ, bà chủ ạ.
- Không, không tôi không biết; chẳng có trang chủ nào vùng này tên như thế cả.
- Vậy thì trang chủ ở đây là những ai?
- Bôbrốp, Xvinin, Kônôpatiep, Kharpakin, Trêpakin, Pliêsakôp -Tên Bôbrôp có từ bôbior nghĩa là con hải ly; Xvinin có từ xvinia nghĩa là con lợn; Kônôpatiep có từ kônôpatit nghĩa là bịt các khe, lỗ; Kharpakin có từ kharpiet nghĩa là ngáy; Trêpakin có từ trêpak nghĩa là nhảy; Pliêsakôp co từ pliech nghĩa là hói-
- Họ có giàu không?
- Ồ, có gì đâu! Người thì hai mươi, kẻ thì ba mươi nông phu, chẳng ai được tới trăm.
Tsitsikôp hiểu ngay là mình đã đi lạc đến một vùng hẻo lánh.
- Đây có xa tỉnh lỵ không ạ?
- Độ sáu mươi verxta. Tiếc là không mời ông ăn khuya được, hay ông uống tạm chén trà vậy?
- Cám ơn bà chị, tôi chỉ cần chỗ ngủ.
- Sau một đoạn đường như thế mà cần ngủ là phải. Nằm đây, ông anh ạ, trên ghế dài này… Fêtinia, mang vải trải giường, đệm gối, ra đây. Lạy Chúa, chao ôi là sét!... Suốt đêm tôi cứ phải thắp một cây nến trước tượng thánh đấy. Ơ này, lưng và sườn ông lão lấm bê bết như lợn ấy. Làm thế nào mà bẩn đến thế?
- May mà chỉ lấm thôi đấy! Nhờ ơn Chúa mới khỏi gãy xương sườn. Lạy thánh trên trời, khiếp quá!
- Vậy ông có muốn xoa lưng không?
- Cám ơn, cám ơn. Bà cứ mặc tôi. Chỉ nhờ chị người nhà hong giùm bộ quần áo.
- Nghe chưa, Fêtinia, bà chủ ra lệnh cho người đàn bà, tay cầm cây nến vừa hiện ra trên ngưỡng cửa, rồi đã đi mang ra một cái đệm và hai tay đập vào đệm làm tung đầy những lông độn ra sàn nhà. – Nghe chưa Fêtinia, cầm cái áo caftan -Áo dài kiểu Thổ Nhĩ Kỳ- của ông và quần áo lót, đem hong đi, như thời còn mồ ma ông nhà ấy; và nhớ chải cho sạch bùn.
- Thưa bà, vâng ạ, Fêtinia vừa đáp vừa trải giường và đặt gối.
- Giường xong rồi đấy! Ông anh ngủ ngon giấc, bà chủ nói. Ông không cần gì chứ? Có cần gãi gan bàn chân cho dễ ngủ không? Mồ ma ông nhà tôi bao giờ cũng bắt gãi thế.
Khách lại từ chối, bà chủ mới đi ra. Tsitsikôp vội vàng cởi áo và đưa quần áo ướt cho Fêtinia. Chị này cũng lại chúc y ngủ ngon rồi mang quần áo đi. Còn lại một mình, y thích thú liếc nhìn cái giường cao nghều nghện gần chạm tới trần nhà: Fêtinia thạo việc đập rũ đệm thật, bắc một cái ghế, y leo lên cái thứ giàn giáo ấy, người y vừa đặt lên thì nó bẹp ngay xuống và làm những lông độn bay ra tứ tung khắp buồng. Y tắt nến nằm quắp mình lại dưới cái chăn may chần hai lớp và ngủ tức khắc.
Sáng hôm sau y dậy khá muộn. Qua kính cửa sổ, mặt trời chiếu một tia nắng thẳng vào mắt y và những con ruồi, hôm qua ngủ trên tường, trên trần, bây giờ tha hồ mà xúm lại tấn công y. Một con bậu vào môi, một con khác vào tai, con thứ ba trên mắt, một con nữa đã dại dột chui liều vào lỗ mũi y làm cho y hắt hơi và tỉnh dậy. Xem xét căn phòng, y thấy là các bức tranh không những chỉ vẽ chim chóc, mà còn có cả một bức chân dung Kutuzôp -Kutuzôp (1745-1813) danh tướng Nga, lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi của nhân dân và quân đội Nga chống xâm lược của Napôlêông năm 1812- và một bức sơn dầu truyền thần một ông lão mặc quân phục, hai ống tay áo nẹp màu đỏ như người ta thường mặc thời hoàng đế Paven -Paven I, Nga hoàng trị vì từ 1796 tới 1801-. Đồng hồ rít lên đánh mười tiếng; qua cánh cửa hé mở, một cái mặt đàn bà hiện ra rồi vội vàng biến mất đi, để ngủ cho thoải mái, Tsitsikôp đã cởi bỏ hết mọi thứ che thân. Khuôn mặt ấy đối với y hình như không phải xa lạ; cố nhớ lại y nhận ra là mặt bà chủ. Y mặc sơ mi, quần áo bẩn đã hong khô và chải sạch đang sẵn sàng chờ y, Mặc vào, y đến trước một cái gương và lại hắt hơi to đến nỗi một con gà tây, đúng lúc ấy đang đứng gần cái cửa sổ khá thấp, phải liến thoắng nói với y, bằng cái ngôn ngữ lạ lùng của nó, mấy tiếng mà ý nghĩa nó có lẽ là “chúc ông mạnh!”.
Tsitsikôp mắng nó là đồ ngu rồi ngắm cái cảnh trước mắt. Cửa sổ có lẽ trông ra chuồng gà, hay ít nhất cái sân con ở phía dưới kia cũng đầy gà vịt. Nhung nhúc những gà mái, gà tây mái, một con gà trống đi vênh vang giữa đám mái, vừa đi vừa vẫy mào, vừa nghiêng đầu như để lắng tai nghe. Một con lợn nái cũng ở đấy với cả gia đình; sục mõm vào một đống rác, nó nuốt tươi một con gà con và chẳng để ý gì, tiếp tục hốc nốt những miếng vỏ dưa hấu. Cuối sân gà vịt là một cái giậu và bên kia giậu là một cái vườn rộng trồng bắp cải, khoai tây, củ cải đường và các thứ rau. Vài cây táo, và cây ăn quả khác mọc tản mát; cành cây có phủ lưới để ngăn cản chim chìa vôi và chim sẻ, bọn này bay từng đàn lớn chéo qua vườn, khi ở bên này, khi ở bên kia. Cũng để nhát chim, người ta đã làm vài thằng bù nhìn, tay chéo hình chữ nhật, đầu một thằng chụp một cái mũ vải mà đàn bà thường đội để làm việc trong nhà. Đằng sau vườn rau là những izba -Nhà làm toàn bằng gỗ thông, rất thông dụng và điển hình ở Nga- rải rác khắp nơi. Tuy vậy, Tsitsikôp cũng nhận thấy là nhà cửa đều tươm tất chứng tỏ dân cư sống khá giả: Mái nhà đều lợp mới, không một cánh cửa nào lệch hay trẹo cả và trong các nhà xe đều có một hay hai chiếc Têlêga -Xe chở hàng bốn bánh- dự trữ khá mới.
- “A! Ấp này đẹp đấy chứ”. Nhân vật của ta tự nhủ như vậy, rồi tức khắc quyết hỏi han thêm bà chủ ấp cho rõ hơn. Lại đến lượt y ló đầu qua cái cửa hé mở và trông thấy bà chủ đang uống trà; y liền đi thẳng đến, vẻ mặt tươi cười nhã nhặn.
- Chào ông anh, ngủ có ngon không? Bà chủ vừa hỏi vừa đứng dậy. Bà ta ăn mặc tươm hơn hôm qua, áo màu sẫm và không đội mũ; nhưng cổ thì vẫn quấn khăn kín mít.
- Tốt lắm, tốt lắm, Tsitsikôp trả lời, vừa nói vừa ngồi vào một chiếc ghế bành. Còn bà thế nào, bà chị?
- Không ngủ được, ông anh ạ.
- Sao vậy?
- Tôi mất ngủ. Đau ở vùng thắt lưng và nhức buốt phía trên mắt cá chân.
- Rồi nó khỏi thôi, bà chị ạ, khỏi thôi. Đừng để ý đến lắm.
- Lạy Chúa! Tôi xoa mỡ lợn và dầu nhựa thông. Ông uống trà với gì nào? Bình rượu quả cây đây này.
- Tốt quá, bà chị ạ.
Tôi nghĩ là bạn đọc cũng nhận thấy rằng tuy bề ngoài có vẻ nhã nhặn đấy, Tsitsikôp vẫn tự ý mình, chẳng ngại ngùng gì và nói năng tự do hơn nói với Manilôp nhiều. Phải nói rằng ở nước Nga, chúng ta còn thua kém người ngoài về nhiều cái, nhưng đã vượt xa họ trong nghệ thuật dùng các công thức. Không thể nào mà kể hết những tinh vi, tế nhị trong cách nói chuyện của chúng ta được. Người Pháp cũng như người Đức, không bao giờ hiểu được tất cả các đặc điểm, các cách phân biệt ấy; mặc dù trong thâm tâm, họ bò sát đất trước mặt người triệu phú, họ vẫn nói với hắn cùng một giọng như nói với lão bán thuốc lá. Ở nước ta thì không thế. Trước một chúa ấp có hai trăm nông phu, những kẻ gian hùng của chúng ta hát một bài tụng ca khác với bài hát trước một chúa ấp ba trăm nông phu; họ không nói với chúa ấp ba trăm nông phu cùng một giọng như với chúa năm trăm nông phu và lại đổi giọng đối với chúa tám trăm nông phu; lên đến số triệu thì họ lại còn tìm ra nhiều cái tế nhị khác nữa. Giả sử có một công sở, không phải ở đây, tất nhiên, mà ở tận cùng thế giới cơ. Hãy lấy ông trưởng phòng này làm dẫn chứng. Nhìn ông ta ngự giữa những kẻ tùy thuộc: sự khiếp sợ làm chúng ta không dám hé môi, mặt ông ta đầy vẻ cao quý, tự kiêu và còn những gì gì nữa, lạy Chúa! Ông ta có thể đường đường là một Prômêthêux -Prômêthêux trong thần thoại Hy Lạp là vị thần khổng lồ đã tạo ra loài người và lấy lửa của Chúa Thần Zêux cho họ: vì vậy mà bị Chúa Thần gia hình, nhưng vẫn đường đường bất khuất-. Vẻ ngoài uy nghiêm biết bao, dáng đi đường bệ biết bao! Thật là một con đại bàng. Nhưng vừa ra khỏi phòng, nách cặp tập giấy để đến văn phòng ông giám đốc, thì đại bàng đã hóa thân thành chim đa đa. Ở nơi xã giao mà những người có mặt thấp kém hơn ông về phẩm hàm thì Prômêthêux vẫn là Prômêthêux. Nhưng nếu có một kẻ có hàm hơn một tí thôi, thì Prômêthêux của chúng ta đã biến hóa một cách thần thông mà đích thị Ôviđiux -Ôviđiux, thi sĩ Latinh (43tr.CN-16s.CN), tác giả tập thơ Biến hóa- cũng không bao giờ nghĩ ra được: ông ta hóa thành một con ruồi, nhỏ mọn hơn một con ruồi, thành một hạt cát! “Không phải đó là Ivan Pêtrôvits!” nhìn ông, bạn phải bảo thế. “Ivan Pêtrôvits không bao giờ cười, ông ta dáng người đường bệ, nói năng dõng dạc; còn cái anh tồi tàn này thì chỉ cười nịnh không ngớt mồm và tíu tít như một con chim”. Đến gần mà xem, bạn sẽ nhận ra Ivan Pêtrôvits và bạn sẽ nghĩ: à, à!...
Nhưng thôi, trở về với nhân vật của chúng ta. Chúng ta thấy là Tsitsikôp đã quyết tâm tấn công, không kiểu cách gì nữa; y cầm cái tách rót vào đầy một cốc rượu quả và đột nhiên hỏi ngay:
- Bà ạ, bà có cái ấp xinh quá. Được bao nhiêu nông phu?
- Gần tám chục, bà chủ nói. Nhưng thời buổi khó khăn: năm ngoái gay go lắm; cầu Chúa khỏi phải một năm như thế nữa!
- Nhưng nông phu của bà vẫn có vẻ lắm: nhà cửa chắc chắn… Xin bà cho biết tên. Đêm qua tôi đến muộn quá… lại quên đi mất.
- Họ Kôrôbôtska -Kôrôbôtska có nghĩa là cái rổ nhỏ chỉ đựng bột vừa đủ làm một cái bánh thôi, cái tên này chỉ rõ tính tằn tiện, chi li, vặt vãnh của bà lão-, chồng là thư ký bộ -Chồng nguyên là thư ký bộ, chức quan văn bậc 10 tương đương với thượng úy bên quan võ-.
- Cám ơn, còn tên thánh và phụ danh? -Người Nga gọi tên theo cách: tên thánh của mình đặt trước, tên của bố mình đặt sau (gọi là phụ danh), sau cùng là họ-
- Naxtaxia Phêtrôpna.
- Naxtaxia Phêtrôpna, tên đẹp làm sao! Tôi có một bà dì, em mẹ tôi, cũng tên như vậy.
- Còn ông, ông tên là gì? Bà chủ hỏi. Chắc ông là trợ tá? -Chức quan văn bậc thứ tám, tương đương với thiếu tá bên quan võ, thường coi việc thu thuế, trưng dụng đồ đạc của dân và làm bối thẩm các tòa án-
- Không, bà chị ạ, - Tsitsikôp mỉm cười đáp, - tôi không phải là trợ tá, tôi đi có việc riêng.
- À, ông đi buôn! Hoài của, tôi bán mật của tôi rẻ quá cho bọn lái đi buôn lại mất rồi! Giá còn thì chắc ông cũng mua cho tôi.
- Mật à? Không!
- Vậy ông mua gì? Sợi gai, phải không? Tôi chẳng còn bao lăm. Độ ba mươi cân là cùng.
- Không, bà chị ạ, mua một thứ khác cơ. Này, bà có bị chết nhiều nông dân không?
- Ồ, ông anh ạ, mười tám đứa! Bà lão thở dài, mà toàn trai tráng cả, toàn là thợ giỏi! Thật ra thì nó có đẻ thêm. Nhưng đồ tép ấy thì làm gì? Thế mà ông trợ tá vẫn đến thu thuế đầu người, như là chúng nó còn sống cả. Tuần trước, thằng thợ rèn của tôi lại chết cháy; nó khéo lắm lại biết làm cả thợ khóa!
- Cháy nhà à?
- Lạy Chúa! Thế thì chết! Tự nó thiêu nó ấy chứ, ông anh à. Nó nghiện rượu và ruột gan nó phát hỏa; một ngọn lửa xanh từ mồm nó thè ra và cả người nó bốc cháy, đen thui như than… Nhưng nghề rèn của nó thì giỏi lắm! Bây giờ thì tôi bị buộc chân ở nhà: chẳng còn ai để đóng móng ngựa cho tôi nữa!
- Số phận cả, bà ạ, Tsitsikôp thở dài. Không nên than phiền vì Thượng đế… Này, để chúng nó lại cho tôi đi, Naxtaxia Phêtrôpna ạ.
- Ai hả, ông anh?
- Ai nữa, tất cả những đứa chết ấy.
- Thế nào?
- Thế này nhé… Hay là, bà muốn thì bán cho tôi. Tôi trả tiền.
- Tôi chẳng hiểu ra. Ông muốn đào chúng nó lên à?
Trước sự hiểu lầm như thế, Tsitsikôp nghĩ cần phải nói rõ mấy điều cần thiết. Chỉ ít lời, y cắt nghĩa cho bà lão hiểu là việc chuyển hay bán chỉ có trên giấy tờ và những nông phu ấy đều ghi là còn sống.
- Nhưng ông dùng chúng làm gì? Bà lão hỏi, đôi mắt thao láo.
- Việc ấy mặc tôi.
- Nhưng mà chúng nó chết rồi!
- Có ai bảo chúng nó sống đâu? Chính vì thế mà chúng làm cho bà thiệt: bà phải đóng thuế đầu người cho chúng. Tôi giúp bà không phải tốn kém, lo phiền gì nữa, lại đưa bà thêm mười lăm rúp. Rõ chưa?
- Tôi chẳng biết nói sao cả, bà lão nghĩ một lát rồi nói. Tôi chưa bao giờ bán người chết cả.
- Lạy Chúa! Nếu bà đã bán rồi thì quả là một chuyện lạ. Vậy bà cho rằng nông phu chết còn có thể dùng để làm việc gì nữa à?
- Thật ra thì không. Có thể dùng làm gì được? Đối với tôi, cái khó nghĩ là chúng đã chết rồi.
“Mụ già đần độn thật!” Tsitsikôp tự nhủ.
- Nghĩ mà xem, bà chị này, - Y lại nói to, - bà sạt nghiệp đi để đóng thuế cho đứa chết cũng như đứa sống…
- Ôi, đừng nói với tôi chuyện ấy nữa! Bà già ngắt lời y. Cách đây mười lăm ngày, tôi phải đóng hơn một trăm năm mươi rúp!... Thế mà đã phải đấm mõm cho ông trợ tá rồi đấy…
- Bà thấy chưa! Từ nay về sau bà không cần đấm mõm cho lão ta nữa! Tôi sẽ đóng thuế, chứ bà không đóng nữa; tôi nhận lấy mọi khoản; ta sẽ lập văn tự và tôi chịu cả các phí tổn. Bà hiểu chưa?
Bà lão suy nghĩ. Dù việc có vẻ lợi, nhưng mà mới lạ quá, làm bà ta sợ: người khách hàng này, lạy Chúa, chẳng biết từ đâu đến, giữa lúc đêm khuya, có phải là để đánh lừa bà ta không?
- Nào, bằng lòng chứ? Tsitsikôp hỏi.
- Nói thật, ông ạ, tôi chưa từng bán người chết bao giờ. Người sống thì khác; cách đây hai năm, tôi bán hai đứa con gái cho Prôtôpôpôp -Gôgôn viết cho cha tổng tư tế (prôtôpôp), người kiểm duyệt xóa; tác giả bèn đổi chữ prôtôpôp thành riêng Prôtôpôpôp-, mỗi đứa một trăm rúp; lão còn cám ơn tôi mãi. Hai đứa là thợ giỏi: chúng biết dệt cả khăn!
- Thôi để yên cho người sống; cầu Chúa ban phúc lành cho chúng! Tôi đang nói chuyện người chết cơ mà.
- Thật ra mới bán lần đầu tôi sợ thiệt. Ông không đánh lừa tôi chứ? Chúng không đáng giá cao hơn thế chứ?
- À, ra bà lại thế cơ đấy! Chúng còn giá trị gì nữa? Đã ra bụi cả rồi, bà hiểu chưa: ra bụi cả rồi! Này, bất cứ một cái đồ vật gì, một miếng giẻ chùi cũ chẳng hạn, cũng còn có giá trị ít nhiều: có thể đem bán cho người làm giấy. Nhưng cái này thì dùng được việc gì? Có phải không, bà nói tôi nghe nào!
- Chẳng được việc gì đúng thế. Nhưng chỉ có điều làm tôi ngại là chúng đã chết rồi.
“À! Con mẹ rắn đầu thật!”, Tsitsikôp tự nhủ và bắt đầu sốt ruột. “Đi mà điều đình với hắn! Cái con mụ già quỷ bắt, làm mình tháo cả mồ hôi”.
Y rút mùi soa ra lau cái trán nhớp nháp. Nhưng y mà giận là sai quá, vì biết bao kẻ rất đáng kính, những chính khách, cũng chỉ xử sự y hệt bà Kôrôbôtska mà thôi. Họ mà đã có cái ý định gì thì không tài nào làm họ nhả ra được! Anh có dồn đủ mọi lý lẽ, rõ ràng như ban ngày đi nữa, họ vẫn chống lại với cái sức ỳ ngoan cố của một bức tường làm bật một quả bóng cao su. Thấm xong mồ hôi trán, Tsitsikôp lại thử nói ngọt với bà lão bằng cách khác.
- Bà chị ạ, y nói, hoặc là bà không muốn hiểu lời tôi nói, hoặc là bà nói với tôi như thế chỉ cốt để tỏ ý gì… Tôi xin đưa bà mười lăm rúp giấy -Rúp - giấy chỉ đáng giá bằng một phần tư đồng rúp bằng bạc thật thôi-. Bà hiểu chưa? Số tiền có nhỏ đâu! Có phải cứ ra ngoài đường là nhặt được đâu. Này, tôi hỏi thật, bà bán mật được bao nhiêu nào?
- Mười hai rúp một pút -Một pút là 16kg380-.
- Nói dối tội chết đấy mẹ ạ, bà không bán được giá ấy đâu.
- Xin thề danh dự.
- Ừ thì cho là như thế! Nhưng mà đó là mật. Được ngần ấy chắc bà đã phải mất một năm chăm sóc, lo lắng, chạy vạy; bà phải nuôi ong ở dưới hầm suốt một mùa đông. Trái lại, nông phu chết không phải là cái mà ta làm ra được ở thế gian này. Bà có góp phần gì vào đấy đâu: nhờ Chúa mà chúng đã từ giã cuộc đời và làm cho bà thiệt lây. Một đằng thì phải làm, phải chăm mới kiếm được mười hai rúp; một đằng thì hưởng không mười lăm rúp mà lại bằng giấy bạc xanh nữa cơ.
Sau những lý lẽ vững vàng như thế, Tsitsikôp tưởng đã thắng cuộc.
- Thật ra, bà chủ nhà nói, tôi chỉ là một bà góa tội nghiệp, chẳng biết gì mấy cả. Tôi muốn chờ ít lâu, thế nào chả có khách mua hàng tới đây; tôi sẽ so xem giá cả thế nào đã.
- Gớm chửa! Bà lão ơi, nói gì thế! Thử nghĩ xem nào. Ai nó đi sắm người chết về làm gì? Để dùng làm gì cơ chứ?
- Biết được? Để dùng vào việc đồng ánh, có lẽ… bà lão nói nhưng chưa hết câu đã há hốc mồm ra nhìn Tsitsikôp, lo ngại chờ câu trả lời của y.
- À! À! Chắc bà định dùng chúng làm bù nhìn để ban đêm nhát chim sẻ ở ngoài vườn chứ gì?
- Lạy Chúa, cứu giúp con! Ông nói cái gì mà khiếp thế! Bà lão vừa kêu vừa làm dấu thánh.
- Vậy thì bà muốn dùng chúng làm gì nào? Vả lại, xương cốt và mồ mả, tất cả vẫn là của bà: ta chỉ chuyển quyền sở hữu trong văn tự mà thôi. Thế nào, đồng ý chứ? Nào, nào, trả lời đi chứ!
Bà lão suy nghĩ.
- Bà nghĩ gì thế, Naxtaxia Phêtrôpna?
- Tôi chẳng thể quyết định được; ông mua cho tôi sợi gai thì hơn.
- Sợi gai à! Tôi hỏi thứ khác mà bà lại muốn tống sợi gai cho tôi! Để đấy đã, lần khác ta sẽ nói chuyện. Thế nào, Naxtaxia Phêtrôpna?
- Nói thật, chịu thôi; thứ hàng này lạ quá, tôi không biết bán.


(còn tiếp)


Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965. Lần 2 năm 1993. Bản điện tử do Soccon nhập liệu/ Chân trời tím.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »