tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30127622
Tiểu thuyết
23.04.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

N.V.GÔGÔN VỚI NHỮNG LINH HỒN CHẾT
Thiên tài của Gôgôn là một thiên tài nhiều mặt, ít thấy ở một nhà văn. Mới hai mươi sáu tuổi, Gôgôn đã có những tác phẩm mẫu mực của năm loại văn rất khác nhau, tựa hồ của nhiều nhà văn khác nhau: truyện dân gian quái dị với Những đêm trong thôn gần Đikanka, tiểu thuyết sử thi hùng tráng với Tarax Bunba, truyện châm biếm hài hước với Câu chuyện về sự bất hòa giữa Ivan Ivanovits và Ivan Nikiforovits, tiểu thuyết hiện thực phê phán với Một đôi vợ chồng trang chủ kiểu xưaCái áo khoác, hài kịch đả kích xã hội với Quan thanh tra. Với cái thiên tài nhiều mặt, mà mặt nào cũng lớn và đang độ phát triển, dồi dào sinh lực ấy, Gôgôn bắt tay vào viết tác phẩm chủ yếu của đời mình, lớn hơn tất cả các tác phẩm kia: Những linh hồn chết.

Từ lúc ấy, cuộc đời của Gôgôn còn mười sáu năm nữa, nhưng chỉ còn có một mục đích, một công việc, một sứ mạng: hoàn thành Những linh hồn chết, phấn đấu gian lao, đau khổ khủng hoảng tinh thần, lịch sử mười sáu năm cuối của đời Gôgôn chính là lịch sử của Những linh hồn chết.

Ý định viết tác phẩm lớn ấy đến với Gôgôn, như trong Sám hối của một tác giả, văn hào viết: “Chính Puskin làm cho tôi quan niệm vấn đề một cách nghiêm túc. Từ lâu Puskin khuyến khích tôi bắt tay viết một tác phẩm lớn; Puskin bảo tôi: “-Tại sao có cái tài đoán ra chân tướng con người để chỉ phác vài nét là lẽ ra như nó sống thật, mà anh lại không bắt tay vào viết một tác phẩm lớn? Như thế thật quả là một tội lỗi!”. Để kết luận, Puskin cho tôi đề tài mà chính anh dự định viết thành một trường ca và, theo lời anh, thì không bao giờ nhường lại cho bất kỳ một ai. Đó là đề tài của Những linh hồn chết”.

Puskin từng khuyên Gôgôn sáng tác Những linh hồn chết thành một thiên “trường ca” – poema – Chữ “poema” đây không phải có nghĩa là một tập thơ, mà là một tiểu thuyết trường thiên có tính chất sử thi rộng lớn. Đến khi xuất bản tác phẩm, Gôgôn cho in lên bìa chữ “poema” to hơn tên sách.
Càng viết và càng nghĩ, Gôgôn càng thấy cái tầm rộng lớn của tác phẩm; vì vậy mà những cuộc phiêu lưu buồn cười của nhân vật chính Tsitsikôp họp thành tình tiết của thiên trường ca đã được khoác một ý nghĩa biểu tượng: Tsitsikôp không phải chỉ là một tên bịp bợm đi mua nông phu chết, mà còn là Gôgôn đi tìm những “linh hồn sống”, nhưng chỉ gặp toàn những “linh hồn chết” – trong tiếng Nga cái từ “đusi” có cả hai nghĩa “những linh hồn” và “những nông phu”. Năm 1843, trong một bức thư Gôgôn viết rõ ràng: – “Quả thật có thể tin được điều người ta nói là: tất cả đều chết hết rồi, rằng ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho những linh hồn chết”. Bởi vậy mà nhan đề của thiên trường ca trước dự định là Những cuộc phiêu lưu của Tsitsikôp (Pôkhôjdênia Tsitsikôva) với phụ đề là Những linh hồn chết (miôrtvưe đusi) phải đổi lại là Những linh hồn chết với tiêu đề Những cuộc phiêu lưu của Tsitsikôp.

Mùa hè 1841 phần thứ nhất Những linh hồn chết được hoàn thành. Tháng chín Gôgôn mang về nước để xuất bản. Ngày 12 tháng 11 bản thảo nộp cho Ủy ban kiểm duyệt Mạc tư khoa và dĩ nhiên là gặp ngay phải vô số khó khăn. Nhờ phu nhân Xmirnôva và mấy bạn vương công thần thế bảo trợ văn học, Những linh hồn chết mới được phép in, chỉ phải chữa lại đoạn nói về đại úy Kôpêikin.

Ngày 23 tháng 5 năm 1842, Những linh hồn chết xuất bản lần thứ nhất. Tờ Người đương thời, trong bài phê bình, đã suy tôn tác giả cuốn sách là đệ nhất văn hào Nga; quả là một danh hiệu chính đáng; từ trước Biêlinxki vẫn nói rằng Puskin sớm chết thì Gôgôn đã thay vào chỗ mà Puskin để lại trong văn học Nga.

Với những điều hiểu biết của một nghệ sĩ thiên tài, Gôgôn đã “vẽ lại cuộc đời với bộ mặt thật của nó”, và cái bộ mặt của xã hội Nga với các tầng lớp thống trị của nó thời ấy là ghê tởm; thì Gôgôn đã bắt các đại diện của chúng ta, “giật bộ trang phục mỹ lệ và cái mặt nạ anh hùng” của chúng, bắt chúng “đem thân cho thiên hạ mua cười”.

Chỉ với Những linh hồn chết, sự nghiệp của Gôgôn cũng đã xứng đáng đặt ngang hàng với sự nghiệp của một nhà văn lớn khác của thế giới: Xervantex với bộ Đông Kisôt. Thuộc thể tiểu thuyết phê phán và châm biếm phong tục, – thể tiểu thuyết Picaret theo thuật ngữ văn học, do cái từ Tây Ban Nha picarô, chỉ tên bịp bợm, mà ra, – thì Những linh hồn chết của Gôgôn, Đông Kisôt của Xervantex và Những di văn của câu lạc bộ Pickuych của Dickenx là ba kiệt tác đứng hàng đầu trong văn học thế giới, và so với các tác phẩm cùng thể tài châm biếm ấy thì Những linh hồn chết đậm tính chất chân thực, gần với cuộc đời hơn cả.
Hoàng Thiếu Sơn

PHẦN I - Chương 1
Cỗ xe ngựa tiến vào cổng một khách sạn ở tỉnh lỵ N.N. đó là một chiếc xe Britska -Xe ngựa nhẹ để đi đường trường- nhỏ, khá đẹp, có díp, kiểu xe mà những kẻ độc thân thường dùng, - những hạng thiếu tá và đại úy tham mưu đã về hưu, những hạng trang chủ có chừng trăm nông nô, - tóm lại tất cả những kẻ thường được xem là quý tộc bậc trung. Ngồi trong xe là một người đàn ông, chẳng đẹp cũng chẳng xấu, không béo mà cũng không gầy, tuổi thì chưa có thể nói là già, nhưng cũng chẳng còn trẻ trung gì nữa. Y đến thành phố này, chẳng ai xôn xao, bàn tán gì, chẳng đem lại một việc gì đặc biệt; chỉ có hai người mujik Nga đứng ở cửa một tiệm rượu đối diện khách sạn, trao đổi với nhau vài lời, nhưng lại nói về cỗ xe, chứ không phải về người trong xe. Một người nói:
- Này, nhìn cái bánh xe kia xem liệu khi cần có đi được tới Mạc-tư-khoa không nào?
- Tới được chứ, - người kia đáp.
- Còn đi Kazan thì xem chừng chẳng đến được đâu nhỉ?
- Ờ, đi Kazan thì không được.
Câu chuyện chỉ đến đấy là hết. Khi đã vào sát khách sạn, cỗ xe đi qua mặt một người trẻ tuổi mặc quần Kanifax -Vải dệt pha, chỉ một nửa bằng bông để mặc mùa mát- trắng, ống ngắn, bó sát vào chân và áo Frac -Áo dài chẽn bó lấy người- đúng thời trang, cổ xẻ rộng để lộ một vạt sơ mi trắng, ghim một chiếc kim găm bằng đồng đen Tula -Thành phố đúc đồng có tiếng ở Nga chuyên sản xuất ấm lò, vũ khí và đồ trang sức-, hình khẩu súng tay. Người trẻ tuổi ngoái lại, nhìn cỗ xe, đưa tay lên giữ chiếc mũ lưỡi trai đang chực bay mất, rồi đi thẳng.
Xe vào đến sân; ra đón khách là một người hầu, hay một người pôlêvôi như người ta vẫn thường gọi trong các quán trọ Nga. Anh chàng này linh hoạt, lăng xăng đến nỗi khó mà trông thấy rõ được nét mặt của hắn. Hắn chạy ra, tay vắt một chiếc khăn ăn, mình dài thườn thượt, mặc chiếc áo vạt dài bằng vải dêmicôtôn -Vải dệt một nửa bông, theo tiếng Pháp- cổ áo cao che khuất cả gáy, lắc lắc mái tóc bờm xờm, rồi nhanh nhẹn đưa khách qua cái cầu thang gỗ có lợp mái đi lên tầng trên và chỉ cho khách căn phòng mà Thượng đế đã an bài cho. Căn phòng ấy chẳng có gì là đặc biệt cả; nghĩa là giống hệt mọi khách sạn ở các tỉnh lỵ; nơi mà khách lữ hành ghé lại, bỏ hai rúp một ngày, thì thuê được một căn phòng yên tĩnh. Những con gián, béo tròn như những quả mận, từ khắp các ngóc ngách nhô ra; một cái cửa thông sang buồng bên, lúc nào cũng có một cái tủ ngăn chắn ngang; bên ấy là một người khách láng giềng trầm tĩnh, ít nói, nhưng lại hết sức tò mò, muốn biết cặn kẽ tất cả những gì xảy ra bên này. Mặt trước của khách sạn cũng cùng một điệu với bên trong tòa nhà: hai tầng dài lê thê; tầng trên quét màu vàng, theo tục lệ thông thường, bất di bất dịch; tầng dưới vách không trát vữa, phô trần những viên gạch đỏ thẫm, vốn đã khá bẩn, lại còn bị thời tiết thay đổi thất thường làm cho đậm màu thêm. Ở đấy có những hàng bán đai ngựa, bán dây thừng và bán bánh mì. Gian buồng ở góc nhà cạnh cửa sổ là cửa hàng của người bán rượu xbiten -Thứ rượu gây bằng mật ong với nước và ngấm nhiều hương liệu, rất thông dụng trong dân gian- ngồi cạnh cái xamôva -Ấm lò của người Nga thường bằng đồng- bằng đồng đỏ; mặt ông ta cũng đỏ như chiếc ấm lò, đến nỗi từ xa nhìn vào, người ta có thể ngỡ là có những hai ấm lò đứng trên cửa sổ, nếu một trong hai cái không có bộ râu đen như bồ hóng.
Trong khi khách xem xét căn phòng thì người ta mang hành lý vào: trước hết là một chiếc hòm da trắng đã hơi sờn tỏ ra nó đi du lịch lần này không phải là lần đầu. Hai người khiêng hòm áo vào là gã xà ích Xêlifan, người thấp bé, mặc áo tulup -Áo bằng lông cừu may lộn vào trong để mặc rét- ngắn và gã hành bộc -Người hầu theo chủ những khi đi ra ngoài- Pêtruska, trạc ba mươi, diện chiếc áo đuôi én rộng thùng thình thừa hưởng của chủ; vẻ mặt hơi khắc khổ, mũi to, môi dày. Tiếp theo hòm áo là một cái tráp gỗ hồng tâm giát gỗ bách dương xứ karêlia -Ở miền Bắc nước Nga, giáp Phần Lan, có nhiều gỗ quí-; một đôi cốt ủng -Vật bằng gỗ để nút vào ủng giữ cho ủng được thẳng- và cuối cùng là một con gà quay gói giấy xanh. Khi đồ đạc đã mang vào đủ, gã xà ích Xêlifan ra tàu ngựa lăng xăng quanh mấy con vật, còn gã hành bộc Pêtruska thì dọn dẹp căn phòng xép bên ngoài, chật hẹp và tối tăm như cái chuồng chó. Hắn đã có đủ thì giờ mang vào đấy cái áo khoác cùng với cái mùi cố hữu của hắn; bây giờ lại mang thêm vào cái túi đựng các thứ quần áo hành bộc và cái mùi đó lại truyền sang tất cả cái túi. Hắn kê sát tường một cái giường hẹp chỉ có ba chân, trải lên giường một thứ ổ rơm nhỏ, mỏng dính như chiếc bánh kẹp -Bánh làm bằng bột, trứng, đường và tráng mỏng trên khuôn thoa mỡ như bánh trứng rồi gấp lại như chiếc bánh quế, nhưng rất mềm- và có lẽ cũng lắm mỡ như chiếc bánh ấy, mà hắn phải van nài mãi mới mượn được của nhà chủ.
Trong khi hai gã đầy tớ lăng xăng dọn dẹp, thì ông chủ đi xuống phòng khách chung. Những phòng khách chung ấy như thế nào là khách lữ hành chẳng ai còn lạ gì: cũng là những bức tường quang dầu, phần trên thì ám khói lò sưởi, phần dưới thì đóng ghét vì lưng của khách trọ và nhất là của các ông lái sở tại, những ngày phiên chợ, thường kéo năm, kéo bảy, đến đấy uống trà; cũng vẫn cái trần nhà ám khói, cũng vẫn bộ đèn treo với vô số những chuỗi thủy tinh lòng thòng, cứ nhảy lên và kêu lanh canh mỗi lần người hầu chạy đi, chạy lại trên tấm vải sơn mòn nhẵn; tay hoa cái khay đựng đầy những tách, chen chúc nhau như một đàn chim trên bờ biển; cũng vẫn những bức tranh sơn dầu treo kín cả tường; tóm lại là tất cả những thứ mà người ta vẫn thấy bất kỳ đâu. Chỉ khác một điều là trên một bức tranh có vẽ một mỹ nhân với bộ ngực thỗn thện mà bạn đọc chắc chưa thấy bao giờ. Và những cái kỳ quan của thiên nhiên này cũng thấy có trên một số bức tranh lịch sử, nhập vào nước Nga chẳng biết từ đời nào và do ai mang đến; đôi khi là do các vương công sính nghệ thuật của chúng ta; họ đã mua ở Ý theo lời khuyên của những kẻ chỉ dẫn cho họ.
Người khách bỏ mũ lưỡi trai, tháo cái khăn quàng cổ bằng len ngũ sắc, kiểu khăn quàng mà các bà vợ thường tự tay đan lấy để tặng chồng với những lời dặn dò cẩn thận về cách quàng khăn; còn đối với những kẻ độc thân thì tôi không thể nói ai là người lo sắm cái của ấy cho họ, có họa trời biết; riêng tôi thì chưa quàng cái kiểu khăn đó bao giờ. Sau khi đã bỏ khăn quàng ra, khách gọi ăn. Người ta dọn lên những món ăn thường lệ của các khách sạn: xúp bắp cải kèm theo một miếng Patê xếp thành lá dành cho khách lữ hành đã để từ mấy tuần rồi, óc xào đậu pơtipoa, xúc xích với dưa bắp cải thái nhỏ, một con gà mái to quay, một quả dưa chuột muối và bánh gatô xếp lá muôn thuở, bất cứ trường hợp nào cũng dùng được. Trong khi người hầu bày các thức ăn, món thì nguội, món thì hâm lại, khách hỏi anh ta đủ các chuyện vặt vãnh. Khách sạn lời lãi bao nhiêu? Trước kia là của ai? Lão chủ hiện thời có phải ngày trước là một tên trùm bịp bợm không? Đáp lại câu hỏi sau cùng, người hầu trả lời như thường lệ.
- Ồ, thưa ngài, đúng đấy ạ, một tên chúa xỏ lá!
Nước Nga bây giờ đang văn minh lên, chẳng kém gì các nước Âu châu: ở đây cũng nhan nhản những ông khách đáng trọng, trong khi ở khách sạn, không thể không gạ chuyện và đôi khi bông đùa nhả nhớt với người hầu nữa. Vả lại, khách không phải chỉ hỏi những câu nhảm nhí, vô ích. Khách hỏi cặn kẽ tên họ của các quan tỉnh trưởng, chánh án, chưởng lý, tóm lại là của tất cả các quan lại cao cấp. Khách lại hỏi đến các trang chủ khá giả quanh vùng, rất kỹ càng, nếu không phải là thiết tha: họ có bao nhiêu nông phu -Nông nô đàn ông mà trang chủ phải đóng thuế thân cho nhà nước và có tên trong sổ đinh, còn nông nô đàn bà thì không phải đóng thuế và không ghi tên trong sổ-, họ ở cách tỉnh bao xa, có hay lên tỉnh không, tính tình họ thế nào? Khách hỏi kỹ lưỡng về tình hình trong vùng: ở đây có xảy ra dịch tễ gì không? sốt ác tính, đậu mùa hay bệnh nào tương tự không? Tất cả những điều ấy được hỏi đi hỏi lại tỏ ra khách không phải chỉ tò mò suông mà thôi. Trong phòng khách, khách có vẻ một vẻ ung dung, đĩnh đạc và xỉ mũi rất kêu: tôi không biết y làm thế nào mà xỉ mũi được như vậy, chỉ biết là cái mũi kêu vang lên như cái kèn đồng. Nguyên một đặc điểm thường thường ấy cũng đủ làm cho gã người hầu rất kính nể và cứ mỗi lúc nghe tiếng xỉ mũi kia là hắn lại lắc lắc mái tóc bờm xờm, lấy dáng điệu cung kính hơn nữa và cúi đầu hỏi:
- Ngài dùng gì ạ?
Ăn xong, khách nhấp một tách cà phê, rồi ngả xuống chiếc ghế dài, lưng tựa vào một cái gối dựa mà, trong các quán trọ Nga, người ta thường độn một chất gì tựa hồ gạch hay đá lát đường, thay cho bông. Rồi khách ngáp dài, bảo người dẫn về buồng ngủ hai giờ liền. Khi trở dậy, đã khỏe khoắn, khách ghi vào một mảnh giấy con: tên, họ, chức, hàm, theo yêu cầu của gã người hầu để trình nhà chức trách. Vừa xuống thang gác, hắn vừa đánh vần: “Paven Ivannôvitis Tsitsikôp, tư vấn bộ -Chức quan văn bậc thứ sáu trong quan giai của đế chế Nga, quy định từ triều Piotr I, đầu thế kỷ XVIII, tương đương với chức đại tá bên hàng quan võ, người có chức này đã được thuộc hàng quý tộc, nhưng chưa được thế tập- trang chủ, đi có việc riêng”.
Gã người hầu chưa đọc xong mảnh giấy thì Paven Ivannôvits Tsitsikôp đã thân hành đi thăm thành phố và thành phố này hình như cũng làm cho khách thích thú, vì y không thấy thua kém các tỉnh lỵ khác tí nào cả. Màu vàng chói chang của các nhà đá nổi bật bên màu xám khiêm tốn của các nhà gỗ. Các nhà đều chỉ một tầng, có khi hai tầng hay chỉ có gác thấp, cái gác cố hữu, mà theo các kiến trúc sư tỉnh nhỏ là rất đẹp. Có chỗ, những ngôi nhà này tựa hồ lạc lõng giữa một đường phố rộng thênh thang như một cánh đồng và một dãy hàng rào vô tận; có chỗ lại chen chúc nhau từng cụm và ở đấy phố xá có vẻ nhộn nhịp, trù phú hơn. Lác đã thấy những tấm biển, bị nước mưa xóa gần sạch, vẽ những chiếc bánh khô giòn, những đôi ủng; có nơi thì biển vẽ một chiếc quần xanh với tên hiệu của một anh Thợ may ở Arsava -Tức Varsava, thủ đô Ba Lan- nào đó, nơi khác lại vẽ mấy cái mũ lưỡi trai vải, lưỡi trai da với nhãn hiệu “Vaxili Fiôđôrốp, Ngoại kiều” -Vaxili Fiôđôrốp chính là một cái tên Nga thuần túy mà lại đề “Ngoại kiều” vì khách hàng vốn có thị hiếu theo thời thượng là chuộng thợ ngoại kiều hơn thợ Nga-. Xa một tí là một bàn bi-a, có hai người đang đánh, diện áo Frac theo kiểu những “khách” bước lên sân khấu vào màn cuối của các vở kịch; hai người đang ngắm đích, tay đưa nhẹ nhàng ra đằng sau, còn chân thì dạng ra như vừa nhảy xong bước Antrasat -Một điệu nhảy nhẹ, lấy hai chân đập vào nhau nhiều lần trước khi đặt xuống đất- trong không khí. Tấm biển mang dòng chữ: “Đây là trụ sở”. Có nơi thì bàn kê la liệt ngay giữa đường phố, bày hạt hồ đào, xà phòng, những chiếc bánh ngọt thơm nom như những bánh xà phòng con; nơi thì một cái dĩa xọc vào lưng một con cá to tướng làm biển hiệu cho một quán ăn mạt hạng. Khắp nơi nhan nhản những con đại bàng hai đầu đen sì, những vật tiêu biểu của quốc gia, ngày nay đã được thay bằng mấy chữ vắn tắt: “Ty rượu”. Đá lát đường nơi nào cũng hỏng. Khách liếc nhìn vào khu công viên của thành phố, trông mấy chòm cây gày xác, chống đỡ bằng những cái nạng hình tam giác sơn màu lục. Những cây ấy chẳng cao gì hơn cây sậy; nhưng các báo thì đã tường thuật buổi lễ khánh thành công viên như sau:
“- Lòng chiếu cố ân cần của quan thị trưởng của chúng ta vừa đem đến cho thành phố một công viên phong phú những cây cối sum sê, um tùm, mà bóng mát sẽ rất quý giá trong tiết đại thử. Nhìn thấy quả tim của đồng bào chúng ta rung lên vì biết ơn và những đôi mắt tuôn hàng suối lệ để biểu lộ lòng cảm tạ đối với ngài gradonatsannik -Thị trưởng, chuyên coi việc cảnh sát trong nội thành và ngoại ô tức là cảnh sát trưởng- thì quý vị không thể nào cầm lòng cho đặng”.
Sau khi hỏi một người lính tuần cảnh con đường gần nhất đi đến nhà thờ, công sở -Ở các tỉnh lỵ Nga, tất cả các cơ quan hành chính, tư pháp đều ở chung một tòa nhà lớn gọi chung là “công sở”, prixuxtvennia miexta- và dinh tỉnh trưởng, khách đi ra ngắm dòng sông chảy qua chính giữa thành phố. Dọc đường, y bóc một tờ áp phích đóng đinh ở một cái cột để mang về phòng mà đọc cho thoải mái và nhìn chòng chọc vào một người đàn bà khá đẹp đi trên hè phố lát gỗ, có một chú tiểu đồng mặc áo dấu kiểu nhà binh tay ôm một cái gói đi theo. Liếc nhìn khắp phố phường một lần cuối như để nhớ kỹ các nơi, khách đi thẳng về khách sạn, tựa khẽ vào anh hầu mà leo lên thang gác. Uống trà xong, khách ngồi vào bàn, bảo đem đến một ngọn nến, rút tờ áp phích trong túi ra, đưa sát vào ngọn nến và bắt đầu đọc; vừa đọc vừa nheo con mắt phải. Tờ giấy ấy không có gì đáng chú ý lắm: người ta quảng cáo buổi diễn một vở kịch của ông Kôtxêbuê do ông Pôpliôvin thủ vai Kôla và Cô Ziablôva vai Kôra -Đó là vở Cái chết của Rôla của nhà soạn kịch Đức ở Nga lâu năm là Aoguxt Kôtxêbuê (1761-1819), rất được hoan nghênh trong mấy chục năm đầu thế kỷ XIX nhất là ở các tỉnh nhỏ; rồi sau đấy chẳng còn ai nhớ tới nữa-; những diễn viên khác thì lại càng ít ai biết tên tuổi hơn nữa. Tuy vậy khách vẫn đọc hết tên họ, đọc đến giá tiền chỗ ngồi, khách còn nhận thấy rằng tờ áp phích in ở nhà in của chính phủ ở tỉnh lỵ, rồi lật ra phía sau xem còn có gì nữa không; đến khi không thấy gì khách mới dụi mắt, gấp tờ giấy lại, đút vào tráp con là nơi y vẫn cất tất cả mọi thứ nhặt được. Kết thúc ngày hôm ấy, hình như khách ăn một mẩu thịt bò non nguội, điểm một chai kvax -Rượu cất bằng bánh mì đen và mạch nha, có khi pha nước trái cây ép để lấy hương- sùi bọt rồi ngủ, “cửa đóng, then cài cẩn thận”, như người ta thường nói ở một số miền trong đế quốc Nga rộng lớn.
Ngày hôm sau hoàn toàn để dành cho những cuộc thăm viếng. Khách đến trình diện tất cả các nhà chức trách; trước tiên là đến hầu tỉnh trưởng. Cũng như Tsitsikôp, ngài không gầy, nhưng cũng không béo, cổ đeo chiếc huân chương Thánh Anna và theo lời đồn đại thì ngài còn được đề cử để thưởng lên huân chương Thánh Anna hạng nhất nữa; nhưng vốn ngài là một người hiền từ, đôi khi lại còn thích tự tay thêu thùa lên vải tuyn nữa kia. Ở dinh tỉnh trưởng ra, Tsitsikôp đến quan phó tỉnh trưởng, chưởng lý, chánh án, cảnh sát trưởng, vị trưng thuế rượu, vị quản đốc các công xưởng nhà nước v.v… Thật tiếc là khó lòng mà nhớ hết được tất cả những kẻ quyền quý trên đời này, - nhưng cũng chỉ cần nói rằng Tsitsikôp không bỏ ai hết, đến chào cả viên thanh tra y tế, cũng như viên kiến trúc sư tỉnh lỵ. Sau đó, ngồi trong xe, y còn nghĩ mãi hồi lâu xem còn ai có thể đến thăm nữa không, nhưng trong thành phố chẳng còn kiếm ra viên quan lại nào nữa. Tiếp chuyện những nhà cầm quyền, y khéo tâng bốc từng người. Với tỉnh trưởng thì y nói rằng bước vào địa phương của ngài trong trấn, y tưởng chừng như lạc vào cõi thiên đường, đường sá đều êm dịu tựa nhung và các bậc đại thần đã bổ nhiệm được những vị trưởng quan quân tử như ngài thật quả là đáng ca tụng công đức. Với cảnh sát trưởng, y nói mấy lời tán dương trật tự tề chỉnh của lính tuần cảnh thành phố. Tiếp chuyện phó tỉnh trưởng và chánh tòa án, y cố ý lầm lẫn, gọi các ngài hai lần là “đại nhân” và hai viên tư vấn quốc gia -Tư vấn quốc gia là chức quan văn ở bậc thứ năm, tương đương với thiếu tướng bên quan võ; theo quan chế Nga thì chưa được gọi là “đại nhân” vì quan văn thì phải từ chức quan bậc thứ tư trở lên mới được gọi như vậy- ấy rất lấy làm thích thú. Bởi vậy, tỉnh trưởng mời y đến dự một buổi tiếp tân thân mật trong gia đình ngay tối hôm ấy; các quan lại khác thì kẻ mời ăn bữa chiều, kẻ rủ đánh bôxtơn, kẻ đón về uống trà.
Hình như khách cố tránh không muốn nói đến mình nhiều, mà có nói chăng cũng dùng toàn những lời khách sáo và nói với một giọng rất sách vở: - “Thân phận giun dế tầm thường như kẻ tiểu nhân này, đâu đáng được quý vị hạ cố đến. Bình sinh nó đã phải chịu biết bao là thử thách; ra làm việc quan thì tính cương trực làm cho lắm kẻ hiềm thù; có kẻ đã ám hại cả đến tính mạng nữa. Giờ đây thì nó đi tìm một chỗ ẩn dật yên tĩnh; và nhân đi qua, tự thấy có bổn phận đến hầu thăm các nhà chức trách thượng cấp”.
Tất cả những điều mà người ta được biết về con người mới đến ấy chỉ có thế; nhưng y thì không bỏ lỡ dịp được đến dự buổi dạ hội ở dinh tỉnh trưởng. Y sửa soạn hơn hai tiếng đồng hồ và chú trọng đến trang phục một cách khác thường. Sau một giấc ngủ trưa, y dậy, bảo lấy nước, rửa ráy, kỳ cọ đôi má rất lâu, đệm cái lưỡi cho má căng phồng lên để sát xà phòng vào cho kỹ. Xong y giật lấy cái khăn vắt ở vai người hầu, mồm phì vào chính giữa mặt anh ta hai lần, lau cẩn thận bộ mặt phúng phính từ hai tai trở đi; rồi ngắm mình trong gương, sửa lại vạt trước áo sơ mi cho chỉnh, nhổ hai cái lông thò ra khỏi mũi và mặc vào một chiếc áo dài chẽn màu tía lốm đốm.
Xe đưa y đi lăn bánh trên những con đường rộng thênh thang, vô tận, từng quãng xa mới có tí ánh sáng yếu ớt, từ mấy khung cửa hắt ra. Trái lại, dinh tỉnh trưởng thì sáng trưng; xe cộ đều lên đèn, hai viên sen đầm gác trước cửa, tiếng bọn xà ích gọi xa xa; tóm lại chẳng còn thiếu gì cho một buổi vũ hội nữa. Bước vào phòng lớn, Tsitsikôp phải nheo mắt lại một lúc vì ánh đèn, ánh nến và những bộ trang phục rực rỡ làm cho y chói mắt. Khắp gian phòng tràn ngập ánh sáng; những bộ áo đen thấp thoáng qua lại nơi này, nơi kia như những con ruồi trên một bánh đường trắng tinh, trong một ngày tháng bảy nóng nực, khi bà quản thiện già đứng cạnh chiếc cửa sổ mở rộng, chặt thành từng miếng lóng lánh. Bầy trẻ xúm xít chung quanh, tò mò theo dõi mỗi cử động của cánh tay khẳng kheo giơ con dao lên; trong khi một đàn ruồi bay luôn trong không khí nhẹ nhàng, mạnh dạn như những chủ nhân, sà xuống những miếng đường ngon lành, lợi dụng cái ánh nắng chói chang làm cho đôi mắt bà lão vốn đã kém, lại càng chẳng thấy gì nữa. No nê vì bao nhiêu thức ăn ngon lành mà mùa hè phong phú đã đem cho chúng; đàn ruồi bay lượn không phải để kiếm ăn, mà chính là để phô mình; chúng bay lượn trên đống đường, xoa đôi chân trước hay đôi chân sau vào nhau, lấy chân vuốt vuốt dưới cánh, duỗi đôi chân trước ra mà vuốt quàng lên đầu, rồi bay đi, nhưng lại tức khắc trở về, kéo theo những đội ngũ ruồi khác đông đúc hơn.
Tsitsikôp chưa kịp định thần thì tỉnh trưởng đã khoác tay y dẫn đến giới thiệu với phu nhân. Một lần nữa, Tsitsikôp lại tỏ ra là người lịch thiệp: y nói một câu chúc tụng rất thích hợp ở cửa miệng một kẻ quá niên và quan chức không cao lắm, mà cũng không thấp lắm. Khi các đôi bạn nhảy đã dàn ra, và mọi người đã đứng thành hàng dọc theo tường để nhường chỗ cho họ; thì Tsitsikôp, tay chắp sau lưng, chăm chú nhìn trong khoảng hai phút những đôi lứa lượn qua trước mặt. Khách phụ nữ nhiều người phục sức rất lịch sự và hợp thời trang; cũng có người ăn mặc theo kiểu tỉnh nhỏ. Cũng như ở mọi nơi khác, đàn ông chia làm hai hạng. Hạng gày thì suốt buổi theo tán tỉnh phái đẹp. Vài người trong bọn họ thật khó mà phân biệt được với các công tử ở Pêterbua; cũng như bọn ấy, họ chải bộ râu má rất diêm dúa, hay phô ra những bộ mặt trái xoan cạo nhẵn thín cũng như bọn ấy, đối với phụ nữ họ có những điệu bộ tự nhiên, tựa hồ lơ đãng và nói những câu chuyện bông đùa nhẹ nhàng bằng tiếng Pháp. Hạng thứ hai là những người béo hay không béo, không gày như kiểu Tsitsikôp -Người hầu trong nhà-, thì chẳng để ý đến các bà, các cô cho lắm và lúc nào cũng chăm chú chờ người nội bộc mang bàn đánh bài uyxt ra. Mặc họ phì nộn, tròn trĩnh; người thì có hạt cơm, kẻ thì rỗ hoa lỗ chỗ; tóc họ không tỏa thành chùm, cũng không xoáy thành ốc, cũng không bờm xờm theo cái kiểu quỷ sứ bắt ta đi, như người Pháp thường nói, mà cắt ngắn hay chải dính sát vào thái dương, làm cho vẻ mặt càng thêm phương phi và đường bệ. Họ là những quan lại cao cấp nhất trong tỉnh. Than ôi! Trên cõi đời này, hạng béo lại khéo thu xếp công việc của họ hơn hạng gày. Hạng này thường chỉ là những viên chức được sai phái những việc nhất thời; họ nhảy nhót nơi này, nơi kia; đời sống của họ bấp bênh, chẳng có gì chắc chắn cả. Hạng béo trái lại không bao giờ giữ chức gì thuộc lại cả, họ chễm chệ ở những chức vụ chính yếu; đã ngồi vào đâu là họ ngồi thật vững, thật chắc; đến nỗi chẳng bao lâu chỗ ngồi oằn xuống, kêu răng rắc dưới sức nặng của họ; nhưng họ thì chẳng bao giờ chịu thả ra đâu. Họ không thích vẻ hào nhoáng vỏ ngoài: áo họ tuy không khéo cắt bằng áo bọn gày, nhưng hòm bạc của họ đầy hơn. Chỉ độ ba năm là anh gày không còn lấy một nông phu mà cầm cố nữa; trong lúc ấy thì anh béo, nhẹ nhàng, êm ái, lấy tên vợ, tậu một cái nhà ở đầu tỉnh, rồi cái nữa ở cuối tỉnh, rồi một thôn xóm ở ngoại thành, rồi cả một xã lớn với tất cả đất đai phụ thuộc. Cuối cùng, anh béo, sau khi đã phụng sự đắc lực Thượng đế và Nga Hoàng để được mọi người kính nể, lui về trí sĩ trên điền trang, chè chén linh đình, sống cuộc đời sung túc của ông chúa nông thôn; nhưng rồi chẳng bao lâu, những kẻ gày, kế thừa họ, sẽ tiêu tán sạch sành sanh cái gia tài của họ, theo đúng kiểu người Nga.

Phải thú thật rằng những điều ấy đại khái là những lập luận của Tsitsikôp, trong khi đứng ngắm đám tân khách dự hội; cho nên cuối cùng y đến với bọn người béo. Trong bọn họ, y gặp ngay những bộ mặt đã quen: quan chưởng lý với đôi lông mày rậm và con mắt trái hơn hấp háy, tựa hồ muốn bảo nhỏ: “này, ta sang phòng bên đi, tôi có điều này muốn nói với anh”; nhưng lại là một người rất mực nghiêm trang và ít nói; ông giám đốc bưu vụ, một lão lùn dí dỏm và hay triết lý; quan chánh án; người thận trọng và nhã nhặn. Mọi người đón chào Tsitsikôp như một người bạn cố tri; đáp lại các lời chúc mừng, y cúi chào, hơi nghiêng mình chênh chếch sang một bên, khá duyên dáng. Bây giờ, người ta giới thiệu y với hai tay quý tộc hương thôn là Manilôp, một người rất lễ độ, nhã nhặn -Đối với tác giả, tên các nhân vật đều có ý nghĩa, phần nhiều tượng trưng cho tính tình của nhân vật, Manilôp có ý chỉ tính tình dịu dàng, nhưng hơi lạt lẽo- và Xôbakiêvits nặng nề thô lỗ -Xôbakiêvits có từ căn Xôbaka nghĩa là “chó” chỉ rõ tính tình thô lỗ, tục tằn của lão trang chủ này- thoạt mới gặp đã xéo ngay lên chân y và mồm nói: “xin lỗi”.
Người ta đưa cho Tsitsikôp một quân bài, mời y đánh Uyxt, y cầm lấy và lễ phép cúi chào như lúc nãy. Họ ngồi quanh cái bàn trải dạ màu lục và không đứng dậy nữa, mãi cho đến bữa ăn khuya. Tất cả mọi câu chuyện đều chấm dứt hẳn, đúng như người ta bắt tay vào một công việc quan trọng. Tuy tính rất ba hoa, ông giám đốc bưu vụ, khi đã cầm bài trên tay, liền lên ngay một vẻ mặt đăm chiêu, đôi môi mím chặt và giữ bài, ông ta đấm bàn và kêu – “tiến lên, mẹ già!” - nếu đó là một con đầm hay – “cố thủ đi, lão mujik ở Tambôp”, nếu đó là một con K, và ông chánh án đáp lời ngay: “còn tôi thì tôi vặt râu nó đi, vặt râu nó đi”. Có lúc, nóng nảy, các tay chơi quật bài xuống và kêu lên: “Ra sao thì ra, không có gì khác thì tấn công bằng quân rô vậy!” hoặc chỉ quát lên: “pits… pitkentxia… pitkentrax… pitsuruc… pitsura… hay pitsuc…”, theo những biệt danh mà họ đặt cho các loại hoa bài.
Canh bạc tàn thì như thường lệ, nổi lên một cuộc cãi nhau khá ồn ào. Tsitsikôp cũng dự vào, nhưng với một vẻ lịch sự, thiệp thế ai cũng thấy rõ. Y có cãi ai cũng là cãi một cách nhã nhặn, đáng mến. Y không nói: “- Ngài đã đi quân nọ, quân kia.” Mà nói “- Ngài đã chiếu cố đi cho…” “- Chúng tôi đã được hân hạnh dập con hai của ngài”, vân vân… Muốn cho lời nói của mình được các đối thủ tán đồng hơn nữa, cứ nói mỗi câu là y lại chìa về phía mọi người một hộp thuốc lá bằng bạc tráng men, có ướp một đôi hoa tím để lấy hương, y chú ý nhất đến hai trang chủ Manilôp và Xôbakiêvits mà chúng ta đã có dịp giới thiệu trên kia. Y mời quan chánh án và ông giám đốc bưu vụ ra một nơi, rồi lập tức hỏi dò về hai tay trang chủ này. Sau khi hỏi kỹ về số nông dân và tình hình đất đai của họ; Y mới chú ý tới tên họ của hai lão chúa nông thôn ấy; trình tự cuộc điều tra lý lịch như vậy tỏ rằng y không những có óc hiếu kỳ, mà còn có trí phán đoán chắc nịch nữa. Chỉ một lát sau, y đã chinh phục được cả hai trang chủ. Manilôp, người còn trẻ, đôi mắt hiền hậu ngọt như đường mỗi khi cười là lại nheo nheo, thì say mê Tsitsikôp như điếu đổ. Chàng ta xiết chặt tay y rất lâu, khẩn khoản mời y quá độ đến thăm ấp mà theo lời chàng thì chỉ cách tỉnh độ mười lăm verxta -Đơn vị đo lường dài cũ của Nga bằng 1,067 mét-. Tsitsikôp cúi đầu lễ độ, nhiệt thành siết tay Manilôp và đáp rằng không những y rất vui mừng nhận lời, mà còn xem đó là một bổn phận thiêng liêng nhất của mình nữa. Đến lượt Xôbakiêvits thì hắn bảo y với một giọng hơi cộc lốc: “- Cũng xin mời đến chơi tôi nữa!”, vừa nói vừa giậm gót ủng xuống sàn; đôi ủng to tướng mà có lẽ ngoài hắn ra, không ai có thể xỏ chân vừa được; nhất là thời buổi này, mà trên đất nước Nga đã bắt đầu mất dần cái nòi Bôgatưa -Bôgatưa, là nhân vật to lớn khỏe mạnh trong văn học Nga- rồi.
Hôm sau, Tsitsikôp đến ăn chiều và chơi buổi tối tại nhà cảnh sát trưởng; ở đây người ta đánh uyxt liên miên từ khi ăn xong lúc ba giờ chiều, cho đến hai giờ sáng. Ở đây, y gặp một trang chủ khác tên là Nôzđriôp -Tên Nôzđiôp có từ căn nozđria nghĩa là “lỗ mũi”, chỉ vẻ mặt phúng phính và tính hưởng lạc thô lỗ của anh chàng này- một kẻ vui đời, tuổi trạc ba mươi, sau đôi ba câu là đã cậu cậu, tớ tớ ngay. Nôzđriôp cũng cậu cậu, tớ tớ với ông chưởng lý và ông cảnh sát trưởng mà hắn xem như là cánh hẩu; nhưng khi bắt đầu đánh ăn to thì các ngài đều theo dõi rất cẩn thận, mỗi khi hắn rút bài của hắn đi. Ngày hôm sau nữa, Tsitsikôp đến chơi buổi tối ở nhà ông chánh án; ngài mặc bộ áo ngủ không lấy gì làm sạch ra tiếp các tân khách, mà trong số đó có cả hai vị phu nhân. Rồi Tsitsikôp dự một dạ hội ở dinh phó tỉnh trưởng, một bữa tiệc lớn ở nhà người trưng thuế rượu, một bữa ăn xoàng – nhưng chẳng kém gì một bữa tiệc lớn, - ở nhà ông chưởng lý, một bữa điểm tâm nhẹ sau buổi lễ nhà thờ, - nhưng cũng chẳng kém gì bữa ăn chiều, - ở nhà ông cảnh sát trưởng.
Tóm lại, Tsitsikôp chẳng còn rỗi rãi lấy được một giờ nữa; y có thể trở về khách sạn cũng chỉ để ngủ mà thôi. Vả lại, y thật là một người lịch thiệp vẹn toàn trong giới xã giao. Dù có luận đàm vấn đề gì, y cũng biết làm cho câu chuyện hào hứng. Nói chuyện trại nuôi ngựa chăng, thì y nói về trại nuôi ngựa; nói về chó săn ư, y cũng lại nhẹ nhàng đưa ra vài nhận xét đúng đắn; bàn về một cuộc điều tra của Viện kiểm soát kế toán chăng, y tỏ ra rất am hiểu về những lỗi lầm của ngành tư pháp; tranh luận về bi-a, về rượu pơns -Thức uống pha một thứ rượu mạnh với nước chanh quả, đường, nước trà, nguyên của người Anh- chăng, y lại là một tay thạo bi-a và rượu pơns; nói đến đức hạnh thì y rơm rớm nước mắt; đến thuế quan, thì y tựa hồ một tay thu thuế lão luyện. Điều đặc biệt là không bao giờ y mất vẻ điềm đạm, trang nghiêm và bao giờ lời ăn tiếng nói cũng rất đúng mực. Y nói không to quá, cũng không nhỏ quá, chỉ vừa đủ nghe. Tóm lại, ở đâu y cũng vẫn được xem là con người mẫu mực. Y đến đâu là tất cả các quan lại đều vui mừng. Nói đến y, tỉnh trưởng gọi y là một người đầy thiện ý, chưởng lý gọi là một người tài ba, đại tá cảnh binh – là một người uyên bác, chánh án – là một người học thức và đáng trọng; cảnh sát trưởng – là một người đáng quý, đáng mến; bà cảnh sát trưởng – là con người lịch sự nhất, dễ ưa nhất. Cả đến Xôbakiêvits, thường chẳng mấy khi nói tốt cho ai, sau khi ở tỉnh về, đêm đã khuya, đặt mình nằm cạnh mụ vợ gày đét, cũng nói: - Mình có biết không, tôi ăn chiều ở nhà cảnh sát trưởng, dự dạ hội ở dinh tỉnh trưởng và quen được lão Paven Ivannôvits Tsitsikôp, tư vấn bộ; cái tay mới tuyệt làm sao!
Mụ vợ đáp: - Hừm! Và lấy chân hích vào người lão ta.
Dư luận tốt đẹp ấy tồn tại cho đến ngày mà một hành động lạ lùng của người khách, một việc phiêu lưu mà bạn đọc sắp được biết, làm cho hầu hết mọi người trong thành phố đều sửng sốt.


Chương 2
Từ hơn một tuần rồi, người khách ở trong thành phố, hết tiệc chiều đến tiệc đêm, sống một cách khá thích thú. Sau cùng y quyết định mở rộng phạm vi thăm viếng đến vùng chung quanh và giữ lời hứa với các trang chủ Manilôp và Xôbakiêvits. Có thể là y tuân theo một động cơ nghiêm chỉnh hơn; cũng có thể là y nhằm một việc quan trọng hơn, hợp với lòng y hơn. Bạn đọc sẽ được biết dần dần và đúng lúc nếu chịu khó đọc hết cái truyện khá dài, và càng về cuối càng lắm việc này; như ta vẫn biết, đoạn kết thường hoàn thành toàn bộ tác phẩm một cách tốt đẹp.
Mới sáng tinh mơ, gã xà ích Xêlifan đã được lệnh thắng ngựa vào chiếc britska trứ danh. Pêtruska phải ở nhà trông coi căn buồng và hòm quần áo. Bạn đọc làm quen với hai chú nô bộc của nhân vật chính của chúng ta thì rất có ích đấy. Tất nhiên họ chỉ là nhân vật hạng nhì hay hạng ba nữa cơ; những diễn biến trong bản trường ca này không dựa vào họ; nhưng mà tác giả vốn thích chính xác trong mọi việc và dù có là người Nga, thì về mặt này cũng vẫn muốn tỉ mẩn như một người Đức. Vả lại, việc này cũng chẳng đòi hỏi mấy thì giờ và giấy mực; vì ngoài các chi tiết mà bạn đọc đã được biết rồi thì chỉ cần thêm rằng Pêtruska mặc một cái áo lễ dài, cũ của chủ, màu vỏ quế, hơi rộng và hắn ta có đôi môi và cái mũi dày dặn như đa số những người cùng thân phận như hắn. Vốn lầm lì, hắn có một lòng say sưa cao quý đối với việc học tập, nghĩa là với việc đọc những sách mà hắn chẳng cần quan tâm đến nội dung mấy: truyện phiêu lưu tình ái, sách dạy đánh vần, kinh nhà thờ, hắn đều đọc tất cả và đều đọc chăm chú như nhau; mà giá có ai đưa cho một cuốn sách hóa học thì hắn cũng chẳng từ. Hắn không thích thú những điều nói trong sách, bằng cái việc đọc, cái hành động luôn luôn cho phép ta lấy cái chữ cái chắp lại thành những từ có nghĩa, và nhiều khi rất khó hiểu. Thường hắn giải trí như vậy ở trong căn phòng xép, nằm dài trên ổ rơm và cái ổ này cũng vì sức ép thường xuyên ấy mà bẹp gí như cái bánh đa. Ngoài cái thói đọc sách cuồng nhiệt ấy ra, hắn còn hai thói quen đặc biệt nữa là để nguyên cả quần áo mà ngủ và phát ra khắp nơi cái mùi cố hữu, mùi mồ hôi của vật hấp hơi; hắn chỉ cần dọn chỗ ngủ đến nơi nào, - dù là một cái buồng bỏ không, - mang cái bành tô và quần áo của hắn đến là tức khắc người ta tưởng rằng cái buồng đã có người ở từ mười năm rồi. Khi ngủ dậy, hít không khí, thì dù có là con người tế nhị, Tsitsikôp cũng phải cau mày, lắc đầu và nói “- lắm mồ hôi quá, cậu ạ. Đi tắm đi, quỷ sứ”. Để khỏi trả lời, Pêtruska làm ra vẻ đang chăm chú vào một việc gì cần kíp; cầm lấy cái bàn chải, hắn tiến về phía bộ lễ phục của chủ hay vớ được đồ vật gì là xếp xếp, dọn dọn. Trong lúc ấy thì hắn nghĩ gì? Có lẽ hắn tự nhủ: “- Ông có khỏe thì cứ mà nói cái chuyện ấy mãi đi!...”. Thật tình thì cũng khó mà biết được một đầy tớ nghĩ gì khi bị chủ mắng.
Đấy là tất cả những gì có thể nói về Pêtruska trong lúc này. Còn gã xà ích Xêlifan thì lại là một con người khác hẳn. Nhưng, kinh nghiệm cho biết rằng những tầng lớp thấp kém thường chẳng gợi được thích thú gì, nên tác giả ngần ngại không dám bắt bạn đọc phải lưu ý đến những nhân vật hèn mọn như vậy. Người Nga là như thế: họ khao khát được làm quen với bất cứ ai cao hơn họ, dù chỉ là một cấp và thích những quan hệ qua quít với các bá tước hay công tước hơn là lạc thú của một tình bạn thâm giao. Tác giả cũng lấy làm lo ngại cả cho nhân vật chính của mình, một viên tư vấn bộ bình thường mà thôi. Các tư vấn viên thì có lẽ muốn làm quen với y; nhưng các triều thần, cấp tướng -Tư vấn viên là chức quan văn bậc thứ bảy dưới chức của Tsitsikôp là tư vấn bộ một bậc, còn triều thần cấp tướng là từ chức thiếu tướng bên quan võ và tư vấn quốc gia bên quan văn trở lên nghĩa là những chức quan bậc thứ năm, trên Tsitsikôp một bậc- thì chắc chỉ nhìn y bằng một cái khinh khỉnh như con người ta lúc kiêu ngạo thường đoái nhìn kẻ cấp dưới; hay là, tệ hơn nữa, chẳng thèm để ý đến y chút nào cả và làm cho tác giả thất vọng vô cùng. Dù hai cách có thể xảy ra như vậy đều có khó chịu đến đâu đi nữa, chúng ta cũng phải quay về với nhân vật chính của chúng ta.
Vậy là, hôm trước đã ra lệnh cho hai nô bộc, hôm sau y dậy lúc tinh mơ, rửa mặt, bôi nước hoa từ đầu đến chân, theo thói thường của y trong những ngày lễ - mà hôm ấy cũng đúng là ngày chủ nhật thật; - y cạo râu nhẵn thín để cho đôi má bóng và ánh lên như xa tanh, mặc chiếc áo đuôi én màu tía lốm đốm, và cái áo khoác, cổ lông gấu to tướng; xuống thang gác vừa đi vừa tựa vào người hầu của quán trọ, khi thì ở bên phải, khi bên trái; rồi ngồi vào xe britska. Chiếc xe ầm ầm ra cổng; một ông pôp -Ông Cha đạo Chính thống Nga- đi qua gật đầu chào mấy đứa bé mặc áo vải thô bẩn, ngửa tay kêu:
- Lạy ngài phúc đức, thương kẻ côi cút!
Gã xà ích nhận thấy một đứa thích trèo lên sau xe; liền vụt cho nó một roi. Một lát sau, xe lăn bánh khấp khểnh trên các đường phố: Tsitsikôp không khỏi sung sướng nhìn thấy đằng xa cái ngáng đường màu sặc sỡ, báo hiệu rằng sự hành tội của đá lát đường đã sắp chấm dứt; quả thật, bị thêm mấy cái cộc vào đầu khá khó chịu nữa rồi y đã thấy mình được đưa đi nhanh trên mặt đất mềm. Phố phường vừa mới qua hết thì hai bên đường đã trải ra cái cảnh đơn điệu của thiên nhiên Nga; những túp lều lụp sụp, những khu rừng bách, những khóm thông gày, những bụi thạch thảo, những thân cây cháy đen và nhiều vật trang trí khác cùng loại. Làng xóm thì nhà cửa trông như những khúc gỗ chất chồng lên nhau và xếp thành những hàng thẳng tắp như kẻ chỉ; mái nhà màu ghi, đầu hồi chạm trổ theo hình những khăn tay thêu. Ngồi trên những ghế dài trước cửa, vài người mujik mặc áo tulup ngáp ngắn, ngáp dài theo thường lệ. Những người đàn bà, mặt phì phị, áo dài thắt bó lấy ngực sát dưới vú, nghiêng mình ra ngoài các khung cửa sổ tầng gác; ở các cửa sổ tầng dưới thì hiện ra một con bê hay cái mõm của một con lợn con, phong cảnh quen thuộc mà thôi. Xe đi qua trước cột chỉ verxta thứ mười lăm, Tsitsikôp chợt nhớ ra rằng, theo lời Manilôp thì ấp của chàng gần chứ không xa; nhưng mà các nhà lữ hành của chúng ta đến cột chỉ verxta tiếp theo vẫn chẳng thấy làng mạc nào cả. May mà gặp được hai người dân quê mới khỏi lúng túng. Nghe tiếng hỏi làng Zamanilôpka có còn xa nữa không, hai người mujik bỏ mũ chào; và anh chàng nhanh nhẩu nhất, cái gã có bộ râu cằm nhọn hoắt, trả lời:
- Có lẽ là Manilôpka chứ?
- Đúng, phải rồi, Manilôpka…
- Manilôpka! Vậy thì đi một verxta nữa rồi rẽ sang bên phải.
- Bên phải à? – Anh xà ích hỏi lại.
- Bên phải, vâng, - người mujik nói, - đó là đường thẳng đến Manilôpka, Manilôpka đấy nhé, tên thật của làng như thế; chúng tôi chẳng biết có làng Zamanilôpka nào cả. Đi thẳng trước mặt, trên một quả gò thấy một cái nhà chủ bằng đá, đẹp, một tầng: đó đúng là Manilôpka. Còn Zamanilôpka, thì ở đây không có, xưa nay không hề có.
Các nhà lữ hành của chúng ta liền tìm đến Manilôpka. Đi được hai verxta, họ rẽ vào một con đường làng và đi thêm từ ba đến bốn verxta nữa, mà chẳng thấy cái nhà đá một tầng hiện ra. Khi một người bạn mời anh đến chơi ấp trại của họ, nói rằng ở cách mười lăm verxta, thì phải tính đường xa lên hai lần; nhân dịp này, Tsitsikôp mới nhớ đến chân lý ấy.
Địa thế ấp Manilôpka chẳng hữu tình gì lắm. Ngôi nhà của chủ ấp nằm một mình trên một cái gò, cỏ mọc lưa thưa và bốn bề gió lộng. Trên bãi cỏ theo kiểu Anh ấy, rải rác hai hay ba khóm tử đinh hương và dạ hợp hoa vàng, năm hay sáu cây bạch dương ngọn vàng úa. Dưới bóng hai cây là một cái đình nhỏ, nóc tròn màu lục, có những hàng cột màu xanh và mang dòng chữ: Đền Trầm tư Mặc tưởng; ở chỗ thấp hơn có một cái ao mọc đầy cỏ dại là cái vật làm cảnh cổ điển trong những vườn kiểu Anh của các nhà quý tộc hương thông của chúng ta -Bấy giờ trang trí vườn theo kiểu Anh là mốt thời thượng đang thịnh hành ở Nga-. Dưới chân gò và cả trên sườn gò, rải rác những nhà gỗ màu xám và nhân vật chính của chúng ta, vì những lý do bí ẩn, liền ước lượng tổng số và đếm được hơn hai trăm túp. Giữa cái đống xà gỗ ấy, chẳng có lấy một cây con, một đám lá xanh. Làm cho phong cảnh sinh động chỉ có hai người đàn bà quê: váy xắn cao, lội nước đến đầu gối; họ nắm hai cái cây, kéo một cái lưới rách dưới ao; trong lưới thấy óng ánh một con cá dày và có thể đoán là có hai con tôm; hai người trông như đang cãi nhau, sỉ mạ nhau. Xa xa, cái khối âm u của một khu rừng thông làm thành một vệt xanh ảm đạm. Bầu trời cũng một màu xám tẻ ngắt như màu những bộ binh phục cũ, làm cho chốn này đã buồn lại buồn thêm. Để cho bức tranh phong cảnh được đầy đủ, còn có một con gà trống gáy báo hiệu thời tiết thay đổi; dù đầu nó đã bị mỏ của các tình địch mổ thủng sâu đến óc, nó vẫn gáy oang oang và lại còn vỗ cả đôi cánh tả tơi như chiếu rách nữa. Xe vào sân, Tsitsikôp đã thấy chủ nhân đích thân đứng trên tam cấp chính trước nhà mặc áo lễ dài bằng len thường, màu lục, tay đặt lên trán làm thành cái mái che cho đôi mắt, để nhận ra những khách đang đến. Chiếc britska càng vào gần, đôi mắt chủ nhân càng sáng lên, và nụ cười càng nở to,
- Paven Ivannôvits! -Gọi một người bằng tên thánh của họ và bố của họ, theo lối xưng hô của người Nga, là cách gọi cung kính- - chủ nhân kêu lên khi Tsitsikôp nhảy xuống xe. Bác còn hạ cố đến chúng tôi kia ư!
Hai người bạn ôm chầm lấy nhau, rồi Manilôp kéo khách vào. Dù họ đi qua phòng áo, nhà ngoài, buồng ăn chỉ mất một thời gian ngắn thôi, ta cũng cố lợi dụng lúc này để nói vài lời về chủ nhà. Tác giả phải thú thật rằng đó là một việc khó. Miêu tả những cá tính rộng lớn dễ hơn việc này nhiều; chỉ việc mạnh tay quệt màu lên tấm vải: mắt sáng, mày rậm, trán nhăn, áo choàng đen hay đỏ rực như lửa, thế là xong bức chân dung. Nhưng những con người, thoạt mới nhìn, toàn giống hệt nhau, đến khi quan sát kỹ thì có biết bao đặc điểm khó nhận thấy; những kẻ ấy không phải dễ mà vẽ ra được. Muốn phân biệt được các chi tiết nhỏ nhất, gần như không thể nhận ra thì phải căng thẳng tất cả sức chú ý và lại còn phải luyện cái nhìn đã thành thạo trong nghệ thuật quan sát cho thật sắc bén nữa.
Chỉ có Chúa họa may mới có thể xác định được bản tính của Manilôp. Có những người không thế này, cũng chẳng thế kia, không ra Bôgđan ở thành thị, cũng chẳng ra Xêlifan ở hương thôn -Lối nói Nga đại ý là môn chẳng ra môn, khoai chẳng ra khoai- như người ta thường nói, và có lẽ Manilôp thuộc vào cái tập đoàn này. Con người tóc vàng ấy có đôi mắt xanh, miệng cười mơn trớn và dung mạo tốt tươi. Nét mặt không phải không có duyên, nhưng một cái duyên quá dịu ngọt; cử chỉ và lời nói quá khéo léo. Mới bắt chuyện với chàng, người ta phải tự bảo: “- Con người trung hậu và đáng mến làm sao!”. Nhưng chỉ một lát là người ta chẳng tìm ra gì để nói nữa; rồi sau đấy người ta phải lẩm bẩm: “- có quỷ mới biết được cái thằng cha!” và đi ra chỗ khác cho thật nhanh để khỏi chết vì chán ngấy. Chàng ta không bao giờ buột mồm nói ra một tiếng nặng nề hay gay gắt mà ai cũng không giữ được, khi có người nói đến cái chuyện mà mình thích. Mỗi người có một cái thú riêng: người này, say mê chó săn; người kia cho rằng mình hiểu sâu âm nhạc; người thứ ba thạo việc ăn ngon, người thứ tư tin chắc là đóng được một vai trò cao hơn cái vai mà họ được chỉ định, dù chỉ là một tấc; người thứ năm ước vọng khiêm tốn hơn, chỉ mong được gò cương ngựa song song với một sĩ quan phụ tá để lòe bạn hữu hay khách qua đường; người thứ sáu ngứa tay, thèm thuồng được gặp con xì hay con hai rô, còn tay người thứ bảy thì nóng nảy khát khao được lập lại trật tự, bạt tai người trưởng trạm hay mấy anh phu trạm. Tóm lại, mỗi người có cái mê say của riêng mình, nhưng Manilôp thì chẳng có mê say nào cả.
Ở nhà, chàng chẳng hề nói năng gì, thường trầm mặc suy nghĩ và họa có Chúa mới biết chàng nghĩ những cái gì. Chàng ít quan tâm đến việc làm cho trang ấp phát đạt và chẳng bao giờ nhìn ngó đến ruộng đất. Cứ phó mặc cho công việc đến đâu thì đến. Khi người quản lý nói: “- Nên làm thế này hay thế nọ” thì chàng thường trả lời: “- Cũng được đấy”, vừa nói vừa hít những hơi dài với cái tẩu thuốc lá; đó là cái thói mà chàng đã quen khi tòng ngũ và ở trung đoàn, chàng có tiếng là viên sĩ quan khiêm tốn nhất, tế nhị nhất, học thức nhất. “- Ừ, ừ được đấy!” chàng nhắc lại. Khi một nông nô đến gặp chàng và vừa gãi gáy vừa xin phép nghỉ ít lâu để đi kiếm tiền nộp tô, thì chàng vừa ngậm tẩu vừa nói: “- Được, được” và chàng cũng chẳng hề nghĩ rằng cái anh chàng khốn nạn chỉ muốn chè chén. Thỉnh thoảng, đứng trên tam cấp trước nhà, nhìn sân và ao, chàng nghĩ nên làm một con đường hầm từ nhà xuống làng hay là bắc qua ao một chiếc cầu đá, hai bên cầu có quán hàng bán lẻ những đồ vặt vãnh thông dụng cho dân ấp. Bấy giờ đôi mắt chàng dịu dàng hết sức, vẻ mặt chàng sung sướng, tự tại hết sức.
Tất cả những dự định ấy chỉ là lời nói hão. Trong buồng làm việc, chàng giữ một cuốn sách có cái chắn đánh dấu trang 14 mà chàng vẫn đọc dở từ hai năm nay. Đồ dùng trong nhà, chàng không bao giờ sắm đủ. Trong phòng khách đồ đạc khá đẹp đều phủ một thứ lụa quý, trừ hai cái ghế bành, vẫn phủ một lần chiếu thường vì thiếu lụa; và từ bao nhiêu năm nay, tiếp ai chủ nhà vẫn phải dặn khách: “- Xin đừng ngồi lên cái ghế đó, vì chưa kịp bọc lụa”. Trong nhà có những phòng trống không, dù chàng đã quyết định, từ ngày trăng mật: “quả tim của anh ạ, anh phải nghĩ đến việc trang trí cái phòng này, dù là tạm thời”. Tối đến, người ta đặt lên bàn một cái giá cắm nến bằng đồng đen rất lịch sự, hình Ba nàng Nhã tiên, chao đèn bằng ngọc trai xinh xắn và bên cạnh thì lại là một tượng thương binh bằng đồng đỏ, thọt, người vặn vẹo, đầy những mỡ bò chảy xuống; mà cả thầy lẫn tớ chẳng ai để ý gì đến cả.
Vợ chàng ư?... Không cần phải nói dài; họ thật là xứng đôi vừa lứa. Dù đã lấy nhau sắp được chín năm rồi, họ vẫn đem cho nhau một cái kẹo, một hạt dẻ, một góc quả táo, vừa cho vừa nói một giọng ngọt ngào xứng đáng với tình yêu hoàn hảo: “Há mỏ ra, quả tim của tôi, quả ngon, quả ngọt nhé”. Và cái mỏ liền há ra, đáng yêu nhất trần đời. Sinh nhật của họ, họ dành cho nhau những sự ngạc nhiên bằng cách tặng nhau, chẳng hạn, một ống đựng tăm bằng ngọc trai giả. Và, lắm khi, ngồi sát vào nhau trên ghế dài, người bỏ tẩu thuốc lá ra, kẻ bỏ đồ thêu xuống, để trao cho nhau một cái hôn say đắm lâu đến nỗi người ta có đủ thì giờ hút trọn một điếu thuốc lá trong lúc họ làm cái trò đó.
Tóm lại một chữ, họ là cái mà người ta thường gọi là những người sung sướng. Dĩ nhiên, người ta có thể nhắc họ là trong đời sống vợ chồng còn có nhiều việc khác ngoài những việc làm cho nhau ngạc nhiên và hôn nhau kéo dài, người ta có thể đặt cho họ những câu hỏi này nọ khó chịu. Chẳng hạn, tại sao bếp nước không ra gì? Tại sao tủ thức ăn chẳng có gì? Tại sao chị tớ gái lại ăn cắp? Tại sao bọn tớ trai toàn là những bợm say rượu bẩn thỉu? Tại sao lũ tôi đòi, một nửa thì giờ thì ngủ và một nửa thì lêu lổng? Nhưng mà đó là những điều quan tâm quá ty tiện đối với một người có giáo dục tốt như bà Manilôva. Như người ta biết, nền giáo dục tốt là nền giáo dục của các học hiệu có ký túc xá; và cũng chẳng ai mà không biết rằng trong các học hiệu có ký túc xá; tất cả các đức hạnh đều tóm lại trong ba môn học: môn tiếng Pháp cần thiết cho hạnh phúc vợ chồng; môn dương cầm để làm cho người chồng được vài chốc lát thích thú; sau cùng là môn gia chánh thực sự, nghĩa là môn dạy đan những cái túi và vật khác gây cho người ta sự ngạc nhiên. Đối với các phương pháp giáo dục ấy, cũng có vài sự cải tiến, nhất là trong thời nay; tất cả đều nhờ vào lịch duyệt và khả năng của các bà giáo, chủ nhân các học hiệu có ký túc xá. Ở trường này thì môn dương cầm đứng hàng đầu, rồi đến môn tiếng Pháp và môn gia chánh thì ở sau cùng. Ở trường kia thì môn gia chánh nghĩa là môn đan túi, chiếm hàng đầu, rồi đến môn tiếng Pháp, cuối cùng là môn dương cầm. Người ta cũng thấy đấy, các phương pháp đều có thay đổi cả. Kể ra cũng phải ghi là bà Manilôva… nhưng mà, xin thú thực là tôi rất lúng túng khi nói đến các bà, và tôi vội vàng quay trở lại các nhân vật nam của chúng ta; họ đã dừng lại từ mấy phút rồi trước cửa phòng khách và cứ thi nhau lịch sự, nhường nhau bước trước vào phòng.
- Xin bác, thực tình, mời bác đi trước, Tsitsikôp nói.
- Không dám, Paven Ivannôvits ạ, không dám, bác là quý khách của tôi, Manilôp chỉ cái cửa đáp lại.
- Thực tình, thực tình, xin rước bác đi trước!
- Xin bác bỏ lỗi, tôi rất hiểu bổn phận đối với một vị quý khách như bác.
- Bác nói đùa. Xin rước bác!
- Sao lại thế?
- Vì rằng!… Manilôp nói với một nụ cười đáng yêu.
Cuối cùng đôi bạn cùng bước chênh chếch qua cửa và không khỏi chạm vào nhau.
- Xin phép bác để giới thiệu tiện nội với bác, Manilôp nói. – Đây, quả tim của tiểu đệ; còn đây, Paven Ivannôvits!
Tsitsikôp đứng trước mặt một phu nhân ngồi trên ghế dài, mà vì mải nhường, mời nhau quá lễ phép trước cửa phòng khách, y không trông thấy. Khá xinh, nàng mặc một chiếc áo trong nhà bằng lụa màu nhạt, dệt hoa nổi, rất hợp với người. Bàn tay xinh xắn của nàng vội vàng ném xuống bàn không biết cái vật gì đang cầm, để vo vo một chiếc mùi soa bằng vải gai mịn, thêu ở góc. Nàng đứng dậy, Tsitsikôp là hoan hỷ hôn tay nàng. Nàng nói, giọng chả chớt một tí, rằng Tsitsikôp là một tân khách rất quý hóa, rằng nàng rất vui mừng vì được gặp Paven Ivannôvits mà chồng nàng ngày nào cũng nói chuyện với nàng.
Manilôp cũng xác nhận: - Đúng đấy ạ, nàng vẫn luôn luôn hỏi tôi: “Tại sao mà bạn anh mãi không thấy đến? – Hãy kiên tâm, em ạ, thế nào cũng đến”. Thế là hôm nay bác đem đến cho chúng tôi cái hân hạnh quá bộ đến tệ xá. Bác làm cho chúng tôi vui sướng biết bao! Thật bác làm cho lòng chúng tôi như mở hội!...
Thấy rằng người ta đã đi đến “ngày hội của tấm lòng”, Tsitsikôp, bẽn lẽn, đáp lại một cách khiêm tốn rằng tên tuổi không mấy người biết và địa vị tầm thường của y không xứng đáng với cuộc tiếp đón ân cần đến như thế.
- Đáng chứ, đáng chứ, - Manilôp ngắt lời Tsitsikôp với một nụ cười nữa; - bác có đủ tất cả mọi thứ để làm cho người ta vui sướng và hơn thế nữa!
- Bác nghĩ thế nào về thành phố của chúng tôi? Bà Manilôva hỏi. Bác ở đấy có thấy thú không?
- Thành phố của quý vị đẹp lắm, Tsitsikôp trả lời, ở đấy tôi rất thích thú; nhân dân rất lịch thiệp.
- Thế còn quan tỉnh trưởng của chúng tôi thì thế nào? Nàng hỏi.
- Có phải là con người đáng yêu hơn cả, đáng kính hơn cả, phải không nào? Manilôp nói thêm.
- Rất đúng như thế, Tsitsikôp xác nhận, - con người đáng trọng hơn cả. Và ngài xứng đáng với nhiệm vụ biết bao, ngài có ý thức cao cả về chức trách của mình biết bao! Thật nên cầu mong cho được nhiều vị cầm cân, nẩy mực như ngài.
- Ngài tiếp đón tân khách lịch thiệp biết bao! Cử chỉ của ngài thanh nhã biết bao! Manilôp thêu dệt thêm, vừa nói vừa lim dim đôi mắt, thích thú như con mèo được người ta cù nhè nhẹ vào phía sau tai.
- Một con người rất có duyên, Tsitsikôp nói tiếp, và lại rất khéo tay. Ngài thêu đẹp đến mê li đi được; trông thấy rõ ràng mà tôi cứ tưởng là mình trông lầm. Ngài có đưa tôi xem một cái đồ thêu của ngài, một cái túi; chẳng mấy vị phu nhân thêu được như thế.
- Còn quan phó tỉnh trưởng, cũng là người thật tốt, phải không nào? Manilôp lại nói, vừa nói vừa lim dim đôi mắt.
- Một người rất, rất có phẩm chất, Tsitsikôp trả lời.
- Xin phép bác; còn quan cảnh sát trưởng, theo bác thì thế nào? Thật tình ông ta rất đáng yêu.
- Rất đáng yêu! Và rất tài trí biết bao, học thức biết bao! Quan chánh án, quan chưởng lý và chúng tôi có đánh uyxt với ông ta đến gà gáy! Một con người rất, rất có phẩm chất!
- Còn bà vợ quan cảnh sát trưởng, bà Manilôva hỏi, theo bác thì thế nào? Một người rất dễ thương có phải không?
- Ồ, đó là một trong những vị phụ nữ đáng kính nhất mà tôi được biết, Tsitsikôp trả lời.
Người ta không quên quan chánh án, cũng không quên ông giám đốc bưu vụ và người ta điểm qua gần hết các quan chức mà tất cả, vị nào cũng được xem là những người chính trực nhất thế giới.
- Các bác vẫn ở mãi nông thôn thế này à? Đến lượt Tsitsikôp hỏi.
- Ở phần lớn thời gian, Manilôp trả lời. Chúng tôi vẫn ra phố từng đợt ngắn để giao du với những người lịch sự. Cứ sống mãi giữa bốn bức tường rồi ra thành ngu độn.
- Đúng thế, đúng thế, Tsitsikôp tán thành.
- Tất nhiên, Manilôp nói tiếp, giá mà chúng tôi có những hàng xóm có thể cùng nhau chuyện trò về những cách giao thiệp lịch sự hay cùng nhau chuyên tâm nghiên cứu vấn đề gì, có thể nói là cho phép linh hồn bay bổng…
Chàng sắp tiếp tục nói theo cái giọng ấy; nhưng tự thấy mình lúng túng, nên kết luận với một cử chỉ đẹp mắt:
- … như thế thì có lẽ nông thôn và cảnh cô tịch mới có lý thú được… Nhưng, không có ai để giao du, thì chỉ còn cách là thỉnh thoảng đọc tờ “Con trai của Tổ quốc” -Tạp chí chính trị, lịch sử và văn học xuất bản ở Pêterbua từ 1812 đến 1852, có khuynh hướng phản động-
Tsitsikôp tán thành: sống một cuộc đời ẩn dật, vui với thiên nhiên, đọc cuốn sách này, còn gì thú hơn nữa?
- Tuy vậy, Manilôp chêm vào, không có bằng hữu để thổ lộ nỗi lòng…
- À! Bác nói đúng thật, Tsitsikôp ngắt lời. Nếu thế thì kho tàng, của cải còn cần gì nữa! Một nhà hiền triết đã nói: Chẳng thà có bạn còn hơn nhiều tiền.
- Và, bác có biết không, Paven Ivannôvits ạ, - Manilôp vừa nói vừa làm cho vẻ mặt dịu dàng quá đáng, như một thày thuốc lịch thiệp pha mật vào thuốc quá nhiều, tưởng là làm cho người bệnh dễ uống, - có bạn thì có thể nói rằng người ta cảm thấy một lạc thú tinh thần… Cũng như giờ đây, chẳng hạn, số phận dành cho tôi hạnh phúc duy nhất là đàm đạo với bác và được hưởng thụ câu chuyện lý thú của bác…
- Xin bác, câu chuyện của tôi thì có gì là lý thú?... Tôi quả thật là hèn mọn hết sức, Tsitsikôp phân trần.
- Ồ, Paven Ivannôvits! Bác cho phép tôi thành thực, tôi hết sức sẵn lòng đem một nửa gia sản ra để được đổi lấy một phần những tài năng của bác.
- Về phần tôi thì trái lại, tôi cho là cái lớn lao nhất…
Tôi không hiểu là những nỗi thổ lộ tâm tình qua lại chứa chan như thế sẽ đi đến đâu, nếu một người đày tớ không vào báo là bữa ăn chiều đã dọn xong.
- Xin rước bác! Manilôp nói. Xin bác vui lòng thứ lỗi cho chúng tôi, ở đây không có sự sang trọng của giới thượng lưu, cao lương mỹ vị của các kinh thành. Bữa ăn mà chúng tôi chỉ đạm bạc: món ăn cổ truyền của người Nga thôi, nhưng thế khách với tấm lòng chân thành. Xin mời bác!
Một cuộc tranh chấp mới lại nổi lên: ai sẽ bước vào phòng ăn trước? Hết sức nhường mà không có hiệu quả, Tsitsikôp đành phải bước chênh chếch qua cửa phòng. Trong phòng đã có hai chú bé, con trai của Manilôp đã đến tuổi được ngồi vào bàn ăn với bố mẹ, nhưng phải ngồi trên những chiếc ghế cao. Một gia sư dạy dỗ hai chú; chàng ta mỉm cười lễ độ cúi chào. Bà chủ nhà ngồi ngay trước liễn xúp và mời Tsitsikôp ngồi giữa mình và chồng, trong lúc một người hầu buộc khăn ăn vào cổ hai chú bé.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965. Lần 2 năm 1993. Bản điện tử do Soccon nhập liệu/ Chân trời tím.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »