tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27700336
Tiểu thuyết
09.04.2013
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Tôi hứa làm thử. Và ý chí có thể, như Goethe nói, "đôi khi sai khiến được vần thơ". Tôi vạch phác thảo của một vở Diễn viên hài kịch bị biến hình, một trò chơi nhẹ như lông chim theo phong cách rôcôcô cũ kỹ, với hai độc thoại trữ tình - bi thảm xen vào đó. Tôi miễn cưỡng thuận theo ý chí của ông trong mỗi lời nói, bằng cách ráng hết sức với tất cả sự đam mê của tôi để đồng hóa tôi với bản tính của Kainz và cả giọng đọc của ông nữa; vậy nên tác phẩm ngẫu nhiên này trở thành một trong số những vở thành công ấy mà sự thành thạo đơn thuần không thực hiện nổi, duy chỉ có sự hứng thú đạt được mà thôi - Sau ba tuần tôi đã có thể giới thiệu với Kainz bản phác thảo đã hoàn thành được một nửa với một trong những "trường thoại" đã soạn xong. Kainz chân thành phấn khởi. Ông đọc luôn hai lần liền theo bản thảo của tôi, cái trường thoại đó, lần thứ hai đã với một sự hoàn hảo tôi không sao quên được. Tôi còn phải đợi bao lâu nữa? Ông hỏi tôi, rõ ràng là sốt ruột. Một tháng. Tuyệt vời! Như vậy là ăn khớp rồi! Ông đi quanh nước Đức quãng vài tuần lễ, lúc về bắt đầu diễn tập luôn, bởi vở này phải trình diễn ở Nhà hát Thành phố. Sau đó ông hứa với tôi, đi đến bất kỳ đâu ông cũng sẽ đăng ký vở này vào tiết mục trình diễn bởi nó vừa vặn với ông như một đôi găng tay. "Như một đôi găng!" ông nhắc lại với tôi, bắt tay tôi ba lần với tình cảm thân thiết nhất.


Chắc chắn trước khi đi ông ta đã gieo sự chống đối vào Nhà hát Thành phố, bởi ông giám đốc gọi điện riêng cho tôi, yêu cầu tôi giới thiệu với ông ta bản thảo vở kịch một màn và cam đoan với tôi rằng ông chấp nhận trước vở này. Những vai phụ sẽ phân công đọc trong số diễn viên của Nhà hát Thành phố. Lại một lần nữa, tuy tôi không đặt cọc riêng một chút nào, ván bài dường như đã thắng. Nhà hát Thành phố, niềm tự hào của Thành phố chúng tôi, và ở Nhà hát Thành phố, diễn viên danh tiếng thời chúng tôi với vai La Duse trong một tác phẩm của tôi: hầu như là hơi nhiều quá đối với một anh mới khởi đầu sự nghiệp. Chỉ còn lại một nguy hiểm duy nhất, đó là Kainz có thể thay đổi ý kiến khi thấy vở kịch hoàn thành, nhưng điều đó ít khả năng trở thành sự thật biết bao! Dù sao cảm giác bứt rứt bây giờ vẫn ở về phía tôi. Cuối cùng tôi đọc báo thấy Kainz đã trở về từ chuyến đi lưu diễn. Tôi trì hoãn hai ngày vì phép lịch sự, nhằm tránh quấy rầy ông lúc ông mới về. Ngày thứ ba tôi đánh bạo đưa danh thiếp của tôi cho ông già gác cổng, mà tôi quen biết, của khách sạn Sacher, nơi Kainz ở lúc đó: "Gửi cho diễn viên Nhát hát Thành phố, Ngài Kainz". Ông già chằm chằm nhìn kỹ tôi qua cặp kính kẹp mũi của ông: "Thế nào, ông còn chưa biết hay sao, thưa ngài Tiến sĩ?". Không, tôi không biết chút gì hết. "Sáng sớm hôm nay họ đã đưa ông ta vào nhà điều dưỡng rồi". Tôi chỉ được biết vào lúc đó: Kainz đi lữu diễn về bị ốm nặng; trong chuyến đi đó, ông đã chế ngự một cách anh hùng những đau đớn khủng khiếp của ông trước công chúng không hề hay biết; lần cuối cùng ông sắm những vai lớn. Hôm sau ông bị mổ vì ung thư. Chúng tôi hy vọng còn chữa được dựa trên lòng tin vào những thông báo tình trạng sức khỏe đăng trên các báo, và tôi tới thăm ông trên giường bệnh. Ông nằm đó, mỏi mệt, gầy gò, cặp mắt đen hình như còn to ra hơn trong khuôn mặt bị tàn phá. Tôi khiếp sợ: trên cái miệng thanh xuân vĩnh cửu, trên cặp môi hùng biện tuyệt vời đến thế lần đầu tiên nổi rõ một hàng ria bạc, tôi thấy một ông già, một người đang chết. Ông mỉm cười buồn bã với tôi: "Mệnh trời có còn để cho tôi diễn vở kịch của chúng ta hay không? Nó còn có thể hồi phục lại sức khỏe của tôi?". Nhưng ít tuần sau, chúng tôi đứng trước một chiếc quan tài.


*


 


Người ta sẽ hiểu sự khó chịu mà tôi cảm thấy khi đeo đuổi nghệ thuật sân khấu và sự lo lắng nó giày vò tôi mỗi khi tôi trao lại một vở mới cho một nhà hát. Việc hai diễn viên lớn nhất nước Đức chết sau khi luyện vai những vần thơ của tôi khiến tôi đâm ra mê tín, tôi không xấu hổ thú nhận điều này. Chỉ vài năm về sau tôi mới trở lại với loại hình sân khấu, và khi ông giám đốc Nhà hát Thành phố, Alfred Baron Berger, một nhà sân khấu lỗi lạc và người thầy của nghệ thuật kịch nói, chấp nhận ngay vở kịch của tôi, tôi đã xem xét gần như lo lắng danh sách các diễn viên mà ông đã chọn và thở phào, dù rằng điều đó có thể tỏ ra ngược đời, mà nói rằng: "Ơn trời, không có diễn viên nào lỗi lạc trong số này". Số phận không có ai để dựa vào mà giáng sự rủi ro xuống. Và thế là điều không thể tin được lại xảy ra. Nếu người ta đóng cửa ngăn nỗi bất hạnh, nó vào bằng cửa khác. Tôi chỉ nghĩ đến các diễn viên, không nghĩ tới ông giám đốc, người đã dành cho việc dàn dựng vở bi kịch của tôi, Ngôi nhà trên bờ biển và đã thiết lập chương trình, tôi đã không nghĩ tới Alfred Baron Berger. Và việc xảy ra là mười lăm ngày trước khi diễn tập, ông chết. Tai họa dường như đè nặng lên những tác phẩm sân khấu của tôi vẫn còn hiệu lực. Ngay cả khi hơn mười năm sau, vở Jérémie và vở Volpone của tôi, sau thế chiến, được mang lên sân khấu trong tất cả những thứ ngôn ngữ có thể tưởng tượng được, tôi vẫn cảm thấy chưa an toàn. Tôi tác động một cách có ý thức chống lại hứng thú của tôi khi tôi hoàn thành vào năm 1931 một vở mới Con cừu của người nghèo. Một ngày sau khi tôi gửi bản thảo của tôi cho ông, tôi nhận được một bức điện của ông, Alexandre Moissi bạn tôi, yêu cầu tôi dành cho ông sắm vai đầu tiên lúc dựng tác phẩm. Mossi, ông đã mang từ tổ quốc Italia của mình lên sân khấu Đức một sự hài hòa thể xác ngôn ngữ trước đó chưa bao giờ được biết tới, lúc đó là người kế tục lớn duy nhất Joseph Kainz. Bề ngoài cực kỳ quyến rũ, thông minh, sống động, hơn nữa ông là một người nhân từ và có thể tỏ ra nhiệt tình, ông truyền cho mỗi tác phẩm vẻ duyên dáng riêng của ông; tôi không thể ao ước một diễn viên lý tưởng hơn cho vài diễn này. Nhưng khi ông ngỏ lời yêu cầu đó với tôi, tôi nhớ lại về Matkovsky và về Kainz, tôi từ chối khéo lời đề nghị của Moissi bằng cách đưa ra một cái cớ mà không bộc lộ ra với ông động cơ thực của tôi. Tôi biết rằng ông đã thừa hưởng từ Kainz cái nhẫn Iffland như người ta gọi nó, và rằng bao giờ diễn viên lớn nhất nước Đức cũng truyền lại cái nhẫn cho người kế tục lớn nhất của mình. Ông có thừa hưởng cả số phận của Kainz hay không? Dù thế nào đi nữa, tôi không muốn cá nhân mình làm công cụ của định mệnh những ba lần đối với diễn viên danh tiếng nhất của nước Đức! Vậy tôi từ bỏ vì mê tín và vì tình bạn với ông ta sự hoàn hảo của diễn xuất hầu như quyết định đối với thành công của vở kịch của tôi. Nhưng ngay cả sự từ bỏ của tôi không thể bảo vệ được cho ông, cho dù tôi đưa một vở mới lên sân khấu nữa. Tôi cũng vẫn còn phải bị lôi kéo vào số phận người khác mà không có chút lỗi nào về phần mình.


*


Tôi nhận thấy rõ rằng người ta ngờ tôi kể một chuyện ma. Matkovsky và Kainz điều ấy còn có thể giải thích được bởi hiệu quả của một sự trùng hợp đáng tiếc. Nhưng tại sao Moissi sau họ, bởi vì tôi đã từ chối ông về vai diễn và đã không viết vở kịch mới nào nữa? Đây là diễn biến của sự việc: nhiều năm dài về sau - chỗ này tôi đi trước thời gian câu chuyện - tôi đang ở Zurich, không nghi ngờ gì hết, hồi mùa hè năm 1935, khi nhận được từ Milan một bức điện của Alexandre Moissi báo tin ông đến Zurich thăm tôi ngay buổi chiều cùng ngày và yêu cầu tôi dứt khoát phải chờ ông. Kỳ cục thật, tôi nghĩ, ông ta có điều gì cần kíp đến thế để thông báo với tôi, tôi không có vở nào mới, và từ nhiều năm nay sân khấu trở nên khá dửng dưng với tôi. Nhưng đương nhiên là tôi vui vẻ chờ ông, bởi tôi yêu thực sự con người nồng nhiệt và thân tình ấy như yêu một người anh. Vừa xuống tàu, ông lao vào tôi, chúng tôi ghì lấy nhau theo kiểu Italia, và ngồi trong ô tô ông đã giải thích với sự nôn nóng tuyệt vời của ông những gì tôi có thể làm cho ông. Ông có một thỉnh cầu gửi cho tôi, một thỉnh cầu loại quan trọng nhất. Pirandello mang lại cho ông một vinh dự đặc biệt bằng cách phó thác cho ông sáng tạo từ vở kịch mới Non si sà mai của ông ta, và không phải chỉ ở Italia, mà sự sáng tạo thực sự quốc tế phải xảy ra ở Vienne và bằng tiếng Đức. Đó là lần đầu tiên một ông thầy người Italia như vậy chấp thuận cho người nước ngoài quyền ưu tiên đối với một trong những tác phẩm của mình, ông ta không bao giờ có thể quyết định ngay cả đối với Paris. Mà Pirandello, người rất sợ rằng dịch thuật sẽ làm mất đi tính nhạc và những hòa âm trong thơ ông, đã biểu lộ một điều ước nguyện khiến ông đặc biệt quan tâm đến. Ông không muốn một dịch giả bất kỳ, nhưng ông mong rằng tôi chuyển giúp ông vở kịch của ông sang tiếng Đức, tôi, mà ông đánh giá từ lâu nay sự hiểu biết ngọn nguồn của ngôn ngữ. Pirandello tất nhiên lưỡng lự không nói thẳng với tôi: làm thế nào mà ông có thể dám chắc tôi để mất thời giờ vào công việc dịch thuật? Và thế là bản thân Moissi được giao truyền đạt với tôi lời thỉnh cầu của Pirandello. Chắc chắn là từ nhiều năm nay việc dịch thuật thực sự không còn là công việc của tôi nữa. Nhưng tôi quá tôn sùng Pirandello, với ông tôi đã có vài cuộc gặp gỡ tuyệt diệu, để bắt ông phải chịu một sự chối từ, và mặt khác, đó là một niềm vui đối với tôi cung cấp cho một người bạn tâm tình như Moissi một chứng cớ của tình bạn tốt, tôi dẹp công việc riêng của tôi trong một hoặc hai tuần, một thời gian sau, vở kịch của Pirandello qua bản dịch của tôi được thông báo ở Vienne cho một cuộc trình diễn quốc tế đầu tiên, vì một vài lý do chính trị bên trong, phải được bảo đảm với một sự trọng thể đặc biệt. Pirandello hứa đích thân tới dự, và lúc đó Mussolini được coi như người bảo hộ công khai của nước Áo, tất cả những giới chính trị do thủ tướng cầm đầu thông báo rằng họ sẽ có mặt. Buổi tối hôm đó đồng thời phải là một sự biểu lộ công khai của tình hữu nghị Áo - Italia (thực ra là sự bảo hộ của Italia đối với Áo).


Bản thân tôi, tôi tình cờ có mặt ở Vienne vào lúc bắt đầu những cuộc diễn tập đầu tiên. Tôi rất vui mừng được gặp lại Pirandello, tôi rất tò mò khi nghe những lời của bản dịch của tôi với giọng đọc réo rắt của Moissi. Nhưng cùng sự kiện ấy lại xảy ra với khoảng cách một phần tư thế kỷ trong một sự tương đồng ma quái. Sáng sớm khi tôi mở tờ báo ra, tôi đọc thấy rằng Moissi đã từ Thụy Sĩ trở về với bệnh cúm rất nặng và rằng những cuộc diễn tập phải đình hoãn vì bệnh tật của ông ta. Một bệnh cúm, tôi nghĩ, điều đó không thể quá nghiêm trọng. Nhưng tim tôi đập thình thịch khi tôi gần tới khách sạn - Lạy trời, tôi nói để tự trấn tĩnh, không phải là khách sạn Sacher mà là Khách sạn Lớn! - nơi tôi tới thăm ông bạn ốm của tôi; kỷ niệm cuộc viếng thăm vô ích tại nhà Kainz vụt qua tôi như một cái rùng mình. Và những hoàn cảnh tương tự lặp lại với khoảng cách một phần tư thế kỷ bên cạnh diễn viên lớn nhất của thời đó. Tôi không được phép nhìn thấy Moissi nữa, sự hôn mê của cơn sốt đã bắt đầu. Hai ngày sau tôi đã đứng trước một chiếc quan tài, cũng như với Kainz, thay vì dự một buổi diễn tập.


*


 


Tôi đã đi trước thời gian bằng cách nêu lên sự hoàn thành sau cùng của nỗi rủi ro bí ẩn gắn liền với những tác phẩm sân khấu đầu tay của tôi. Đương nhiên tôi chỉ nhìn thấy một hiệu quả của ngẫu nhiên trong cuộc diễn tập đó. Nhưng không có chút nghi ngờ gì, vào thời của họ, hai cái chết liên tiếp đến như thế của Matkovsky và của Kainz đã gây ảnh hưởng quyết định với khuynh hướng của đời tôi. Nếu như lúc đó Matkovsky ở Berlin, Kainz ở Vienne đã trình diễn trên sân khấu những vở kịch đầu tiên của anh chàng trẻ hai mươi sáu tuổi, nhờ nghệ thuật của họ, tôi có thể được đưa đến thành công vở kịch non kém nhất, giới thiệu với công chúng rộng hơn nhanh chóng hơn nhiều - và có lẽ một cách bất công - tôi có thể đã mất đi những năm học tập chậm chạp và thám hiểm thế giới. Trong thời kỳ đó, tất nhiên là tôi được xem như bị số mệnh đày ải, bởi vì sân khấu chỉ giới thiệu với tôi ngay từ những bước khởi đầu những viễn cảnh mà tôi không bao giờ mơ tới chỉ để rồi tàn nhẫn tước đi vào phút cuối cùng. Nhưng chỉ những năm của thời kỳ đầu tuổi thanh niên người ta mới còn đồng nhất sự ngẫu nhiên với số mệnh. Về sau người ta nhận thức được rằng sự định hướng chân chính của một nghề nghiệp được xác định từ bên trong; dù con đường của chúng ta hình như đi cách xa đối tượng của những ước vọng của ta một cách phi lý đến mấy, nó luôn kết thúc với việc đưa chúng ta trở về với những mục đích vô hình của ta.


 


BÊN KIA BIÊN GIỚI CHÂU ÂU


 


Thời gian lúc đó phải chăng trôi nhanh hơn ngày nay? Nó đầy ắp những sự kiện đối với nhiều thế kỷ, sẽ thay đổi thế giới của chúng ta từ vỏ bề ngoài đến tận những mạch sâu bên trong của nó. Hoặc những năm cuối cùng của tuổi thanh niên của tôi, đến trước cuộc chiến tranh châu Âu thứ nhất, phải chăng không đắm chìm trong sương mù vì lẽ tôi đã dành những năm ấy cho một công việc đều đặn? Tôi viết, tôi xuất bản sách; tên tôi đã được biết đến ở Đức và ở cả ngoài nước Đức, tôi có những người ủng hộ và đã có - điều này chứng tỏ rõ hơn một sự độc đáo nào đó - những người chống đối; tất cả các tờ báo lớn của Đế chế đều sẵn sàng đăng bài của tôi; tôi không cần gửi thư từ để trao đổi; tôi được yêu cầu. Nhưng trong thâm tâm tôi không hề có ảo tưởng: tất cả những gì tôi làm, tôi viết trong những năm đó ngày nay sẽ không là quan trọng; tất cả những tham vọng, những lo âu, những thất vọng và những nỗi cay đắng của tôi lúc đó bây giờ có vẻ bé nhỏ. Nếu tôi bắt đầu quyển sách này vài năm trước đây, có thể tôi đã thuật lại những cuộc đối thoại với Gerhart Hauptmann, với Arthur Schnikzler, Beer-Hofman, Dehmel, Pirandello, Wassermann, Schalom-Ash và Anatole France (cuộc đối thoại với người cuối cùng quả thật vui lạ lùng vì ông cụ chỉ cho chúng tôi thưởng thức suốt một buổi trưa rặt những chuyện tục tĩu, nhưng với một sự nghiêm chỉnh lõi đời và một vẻ duyên dáng khó tả). Tôi đã có thể nói tới những buổi biểu diễn lần đầu, đến khúc giao hưởng số 10 của Gustave Mahler ở Munich, về Kỵ sĩ Hoa Hồng ở Dresde, về Karsavana và Nifinski, vì với tư cách là người được mời đầy tò mò và người du hành, tôi đã chứng kiến nhiều sự kiện nghệ thuật có vị trí trong lịch sử. Nhưng tất cả những gì không còn có mối liên hệ với những vấn đề của thời hiện tại đều tỏ ra lạc hậu khi ta vận dụng những kích thước ngặt nghèo hơn của những điều thiết yếu của chúng ta. Ngày nay, những con người của tuổi thanh niên của tôi đã hướng tôi quay nhìn về phía văn chương hình như đối với tôi, kém quan trọng hơn những người đã khiến tôi ngoảnh khỏi hiện thực.


Trong số những người này, tôi kể ở hàng đầu một người, vào một trong những thời kỳ bi thảm nhất, đã phải chế ngự số mệnh của đế quốc Đức và đã ngã xuống trước viên đạn sát nhân đầu tiên của bọn quốc gia - xã hội, mười một năm trước khi Hitler nắm quyền. Người đó là Walter Rathenau. Những quan hệ bạn bè của chúng tôi là xưa cũ và thân tình; chúng được bắt đầu một cách kỳ lạ. Một trong những người mà tôi phải chịu một sự khích lệ ngay từ tuổi mười chín là Maximilien Harden, mà tờ Zukunft đã đóng một vai trò quyết định trong những thập niên cuối cùng của triều đại Guillaume. Harden, do Bismack đích thân ném vào chính trị, được ông này sử dụng như một cái loa hoặc như một cột thu lôi, đã lật đổ các bộ trưởng, làm nổ ra vụ Eulenburg, làm rung chuyển hoàng cung lo sợ mỗi tuần sẽ xảy ra những cuộc tiến công mới, những phát giác mới; nhưng dầu sao thị hiếu đặc biệt của Harden là thuộc về sân khấu và văn chương. Một hôm, tờ Zukunft đăng một loạt châm ngôn ký tên một bút danh mà tôi không thể nhớ, song sự sáng suốt kỳ lạ cũng như sức mạnh súc tích của cách biểu đạt làm tôi kinh ngạc. Với tư cách là cộng tác viên bình thường, tôi viết cho Harden: "Con người mới ấy là ai? Đã nhiều năm tôi chưa được đọc những châm ngôn sắc sảo đến thế?".


Thư trả lời không đến từ Harden mà từ một đức ông ký tên Walter Rathenau. Tôi được biết qua thư của ông và qua những nguồn tin tức khác rằng thực ra ông là con trai của một giám đốc đầy quyền lực của Công ty điện lực Berlin và bản thân là một thương gia lớn, một nhà công nghiệp lớn, ủy viên hội đồng giám sát vô số công ty, một trong những thương gia mới của nước Đức mà người ta có thể coi là toàn năng. Ông ấy viết cho tôi với giọng thân tình và biết ơn: thư của tôi đã là lời tán thưởng đầu tiên mà một bài viết đem lại cho ông. Dẫu ông hơn tôi ít nhất đếm mười tuổi, ông chất phác thú nhận với tôi sự tự tin của ông: ông có nên ngay bây giờ thực sự xuất bản cả một tập châm ngôn và cách ngôn không? Tóm lại ông chỉ là một người làm văn chương không chuyên và cho đến lúc bấy giờ tất cả hoạt động của ông dồn cho lĩnh vực kinh tế - chính trị. Tôi chân thành động viên ông; chúng tôi tiếp tục trao đổi thư từ, và vào một dịp lưu lại Berlin, tôi gọi điện thoại cho ông. Một giọng nói do dự trả lời: A, anh đấy ư? Tiếc quá, sáu giờ sáng mai tôi đã phải đi Nam Phi… Tôi ngắt lời ông: "Tất nhiên chúng ta sẽ gặp nhau một lần khác". Nhưng giọng ông tiếp tục chậm rãi, lộ rõ sự suy nghĩ: "Không, đợi một lát… Buổi quá trưa, tôi bận mấy cuộc hội thảo… Buổi tối tôi phải đến bộ, sau đó ăn tối ở một câu lạc bộ… Nhưng anh có thể đến chỗ tôi vào lúc mười giờ mười lăm không?". Tôi đồng ý. Chúng tôi nói chuyện cho đến hai giờ sáng. Lúc sáu giờ, ông ra đi, - về sau tôi được biết Hoàng đế Đức giao cho ông đi công cán ở Tây Nam Phi.


Tôi thuật lại những chi tiết đó bởi vì chúng rất đặc trưng cho Rathenau. Tôi trông thấy ông trong những ngày đen tối nhất của chiến tranh và ngay trước Hội nghị Locarno, và ít ngày trước khi ông bị ám hại, tôi đã cùng ngồi với ông trong cái ô tô ở đó ông bị giết và đi trên cùng con đường ấy. Ông luôn có chương trình làm việc của ngày định chính xác đến từng phút và ông có thể mỗi lúc chuyển từ vấn đề này sang vấn đề khác không lấy gì làm khó khăn, vì bộ não của ông luôn sẵn sàng, công cụ có một độ chính xác và một độ nhanh nhẹn mà tôi không quan sát thấy ở một người nào khác. Ông nói lưu loát, tưởng chừng như ông đọc một bản văn viết trên một tờ giấy vô hình, tuy nhiên ông sắp xếp câu nói của mình sang trọng và trong sáng tới mức nếu ghi bằng tốc ký cuộc đối thoại của ông thì có ngay một bài thuyết trình hoàn toàn có thể đem in nguyên xi. Ông nói tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Italia với một sự bảo đảm như nhau; không bao giờ trí nhớ của ông phản bội ông; ông không bao giờ cần đến một sự chuẩn bị đặc biệt cho một đề tài nào đó. Khi nói chuyện với ông, người ta tự cảm thấy vừa ngu si, vừa kém văn hóa, ít tin chắc ở mình và bối rối trước óc thông minh thực hành và sự tinh thông cân nhắc bình tĩnh mọi điều và bao quát chúng bằng một cái nhìn sáng suốt. Song trong sự sáng suốt chói lọi đó, trong sự trong suốt như pha lê của tự duy ông có một cái gì gợi nên một cảm giác khó chịu, cũng như trong căn hộ ông, những đồ gỗ chọn lọc nhất, những bức tranh đẹp nhất. Trí tuệ ông như bộ máy chế tạo thần kỳ; nơi ở của ông như một bảo tàng và trong lâu đài phong kiến La Mark của ông, trước kia thuộc hoàng hậu Louise, người ta không thể sưởi ấm vì ở đó có quá nhiều trật tự, sự rõ ràng và sự sạch sẽ. Trong tư duy ông, tôi không rõ có một thứ gì trong suốt như gương và do đó mà không thực chất; không ở đâu tôi cảm nhận mạnh hơn ở ông bi kịch của người Do Thái, có tất cả những bề ngoài của sự thượng đẳng, song đầy bối rối và lưỡng lự. Các bạn khác của tôi như Verhaeren, Ellen Key, Bazalgette, không có được một phần mười trí thông minh của ông, một phần trăm sự toàn năng và sự hiểu biết thế giới của ông nhưng họ tin chắc ở mình. Ở Rathenau, tôi luôn cảm thấy cùng với trí thông minh không bến bờ của ông, ông thiếu đất đứng dưới chân. Cả cuộc đời của ông chỉ là một cuộc xung đột thường xuyên của những mâu thuẫn luôn luôn mới. Ông kế thừa của bố tất cả quyền lực có thể tưởng tượng được, tuy nhiên ông không muốn làm người thừa kế của bố; ông là thương gia nhưng muốn cảm nghĩ như một nghệ sĩ; ông sở hữu hằng triệu mà đùa cợt với những ý tưởng xã hội chủ nghĩa; ông có trí tuệ rất Do Thái song làm dáng với Chúa Christ, ông tư duy như người quốc tế chủ nghĩa mà lại thần thánh hóa chủ nghĩa Phổ; ông mơ tưởng một nền dân chủ nhân dân mà luôn cảm thấy rất vinh dự được Hoàng đế Guillaume mời và hỏi ý kiến, người mà ông thâm nhập với rất nhiều mẫn cảm những nhược điểm và những niềm kiêu hãnh. Như vậy hoạt động của ông ở mọi lúc có thể chỉ là một thứ chế phẩm có thuốc phiện dành để làm dịu trạng thái bị kích thích bên trong của ông và hủy hoại cảm giác cô đơn nó là cuộc sống sâu kín nhất của ông. Chỉ vào thời điểm của sự chịu trách nhiệm, năm 1919, khi mà sau sự thất bại của quân đội Đức, công việc khó khăn nhất của lịch sử rơi vào tay ông là kéo ra khỏi mớ bòng bong cái quốc gia đã bị rung chuyển đến tận những nền tảng của nó và trả lại cho nó sự hùng mạnh của cuộc sống, mà bỗng chốc những sức mạnh kỳ diệu tiềm tàng nơi ông được cấu tạo lại thành một sức mạnh độc nhất. Và công việc đó tạo nên ở ông cái lớn lao bẩm sinh bằng cách hiến dâng cả cuộc đời phục vụ một ý tưởng duy nhất: cứu châu Âu.


*


Ngoài nhiều cách nhìn rất rộng về thế giới mà ông cung cấp cho tôi trong những cuộc nói chuyện bổ ích, mà xét ở cường độ trí tuệ và sự mẫn tiệp chỉ có thể so sánh được với các cuộc nói chuyện với Hofmannsthal, Valéry và nam tước Keyserling, ngoài việc mở rộng nhãn quan của tôi đã từ văn học trải rộng sang các vấn đề lịch sử hiện đại, tôi cũng chịu ơn Rathenau về sự xui giục đầu tiên không tự hạn chế trong các biên giới châu Âu. "Anh không thể hiểu nước Anh, ông nói với tôi, khi mà anh không hiểu về đảo. Và cũng không hiểu gì nhiều hơn về lục địa của chúng ta nếu anh đã không ít nhất một lần vượt quá biên giới của nó. Anh là một người tự do, hãy tận dụng sự tự do đó! Văn chương là một nghề nghiệp diệu kỳ, bởi vì sự vội vã ở đó là không cần thiết. Sớm hơn một năm, chậm hơn một năm không là gì nếu đó là một quyền sách chân chính. Tại sao anh không đi Ấn Độ và châu Mỹ một chuyến?". Câu nói đó ông chỉ tình cờ thốt ra nhưng lại làm tôi chú ý và quyết tâm làm theo lời khuyên của ông ngay tức thì.


Ấn Độ gây ra trong tôi một ấn tượng lo ngại và sự rã rời mà tôi không mong đợi. Tôi hoảng sợ về sự nghèo khổ của những con người gầy còm, về sự nghiêm khắc không vui mà tôi đọc được trong những cái nhìn u tối, về sự đơn điệu thường là tàn khốc của phong cảnh và nhất là sự chia cách cứng nhắc của các giai cấp và các chủng tộc mà tôi đã quan sát thấy một ví dụ ở trên tàu. Hai cô gái tuyệt vời mắt đen, dong dỏng, được giáo dục tốt và có những dáng điệu phong nhã, khiêm tốn và sang trọng cùng đi du lịch trên chiếc tàu thủy của chúng tôi. Ngay từ ngày đầu tiên tôi ngạc nhiên thấy họ đứng cách xa nhau hoặc như có một hàng rào vô hình ngăn cách họ. Họ không có mặt ở cuộc khiêu vũ, họ không trà trộn vào các cuộc nói chuyện, họ ngồi riêng biệt, đọc những quyển sách tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Chỉ vào ngày hai hoặc thứ ba tôi mới khám phá ra rằng không phải chính các cô gái này tránh xã hội Anh mà chính những người khác đã lánh xa những cô gái lai này, mặc dầu những cô gái xinh đẹp này là con của một thương gia lớn người Đarsi và của một phụ nữ Pháp. Trong ký túc xá của họ ở Lausanne, trong trường cuối cấp ở Anh, trong ba năm liền họ có những quyền như các bạn bè; nhưng trên tàu thủy giong buồm về Ấn Độ, bản án lạnh lùng, vô hình và do vậy càng tàn nhẫn hơn được tuyên bố ngay, đặt họ ra ngoài lề xã hội. Lần đầu tiên tôi quan sát thấy cái điên rồ của sự thuần chủng, bệnh dịch đã trở thành nguy hại cho thế giới của chúng ta hơn bệnh dịch thực sự trong các thế kỷ đã qua.


Cuộc gặp gỡ đầu tiên đó tức khắc làm cho cái nhìn tôi sắc nhọn hơn. Tôi hơi xấu hổ hưởng sự cung kính - từ lâu đã mất do lỗi chúng ta - đối với người châu Âu được xem như thứ thần linh da trắng có mười hai hay mười bốn gia nhân tháp tùng nếu ông ta tiến hành một cuộc thám hiểm du lịch đến Adamspik ở Tích Lan chẳng hạn; một đoàn tùy tùng, kém đông và không xứng với "phẩm giá" của ông. Tôi không thể giải thoát mình khỏi cảm giác lo âu rằng những nước men của cái thế kỷ sắp đến phải mang lại cho những quan hệ phi lý đó những thay đổi hoặc hoán vị mà chúng ta không dám nghi ngờ gì cả ở châu Âu vững vàng và tự do là yên ổn của chúng ta. Nhờ những nhận xét đó, tôi không nhìn thấy, như Piere Loti chẳng hạn, một Ấn Độ "lãng mạn" tắm trong một thứ ánh sáng màu hồng, mà nó hiện ra đối với tôi như một lời cảnh cáo; và không phải những ngôi đền diệu kỳ, những cung điện bị xuống cấp hoặc các phong cảnh của Himalaya trong những cuộc hành trình đó góp phần nhiều nhất vào sự đào tạo nội tâm của tôi, mà chính là những con người mà tôi học tìm hiểu, những người thuộc một tầm cỡ khác và một thế giới khác với những con người mà một nhà văn có thể gặp trong những biên giới của châu Âu. Trong thời kỳ mà người ta còn tiết kiệm hơn và những cuộc viễn chinh của hãng Cook chưa được tổ chức, người đi du lịch ngoài châu Âu hầu như, do địa vị xã hội và hoàn cảnh, một người khá lạ lùng: người buôn bán không phải là người bán hàng thực phẩm khá thiển cận, mà một thương gia lớn; ông thầy thuốc - một nhà thám hiểm chân chính; ông thầu khoán là thuộc giống những người đi chinh phục châu Mỹ, táo bạo, không ngại ngùng và có những tầm nhìn rộng rãi; ngay nhà văn cũng là người chó nhiều hiếu kỳ trí tuệ mênh mông. Trong những ngày dài, những đêm dài của hành trình mà cái rađiô chưa lấp kín bằng lời ba hoa của nó, tôi đã học được về những sức mạnh và những căng thẳng làm rung chuyển thế giới của chúng ta bằng những đàm thoại với hạng người khác này nhiều hơn là qua việc đọc hàng trăm pho sách. Khi khoảng cách của chúng ta với tổ quốc thay đổi, cái dung tích bên trong của chúng ta cũng đổi thay. Nhiều điều nhỏ nhặt, đã làm tôi trước đây bận tâm hơn là mức đáng có, tôi bắt đầu lúc trở về xem xét chúng như là nhỏ nhặt, và tôi không còn coi châu Âu già nua là trục bất di bất dịch của hành tinh chúng ta.


*


Trong số những người tôi gặp trong cuộc đi của tôi đến Ấn Độ, có một người có một ảnh hưởng to lớn đến lịch sử của thời đại chúng ta, mặc dầu ảnh hưởng đó không được bộc lộ ra cho mọi người đều biết. Từ Calcutta đến Đông Dương và trên một chiếc thuyền ngược dòng Iraouoddi, tôi đã trải qua nhiều giờ mỗi ngày với Charles Haushofer và vợ ông. Ông được ủy quyền sang Nhật Bản với tư cách là tùy viên quân sự của nước Đức. Con người gầy gò với dáng đứng rất thẳng, khuôn mặt xương xương và cái mũi hình mỏ đại bàng lần đầu tiên giúp tôi thấy các phẩm chất tuyệt vời và các kỷ luật bên trong của một sĩ quan tham mưu Đức. Tất nhiên là tôi đã có dịp lui tới với những quân nhân ở Vienne, những người trai trẻ dễ thương và rất vui, phần lớn xuất thân từ những gia đình túng bấn, tìm thấy chỗ nương thân dưới bộ quân phục và tìm cách làm cho quân dịch của họ càng dễ chịu càng tốt. Haushofer ngược lại - và người ta cảm thấy ngay điều đó - xuất thân từ một gia đình có văn hóa của tầng lớp tư sản tuyệt vời - thân sinh ông đã xuất bản khá nhiều bài thơ và bản thân ông, tôi nghĩ, là giáo sư đại học, và học vấn của ông ngoài những vấn đề quân sự, còn là toàn diện. Được giao nhiệm vụ nghiên cứu tại chỗ địa bàn của cuộc chiến tranh Nga - Nhật, ông đã cùng vợ ông làm quen với tiếng Nhật và cả thơ ca Nhật. Thêm một lần nữa, ở ông, tôi nhận ra rằng mọi khoa học, cả khoa quân sự, khi được quan niệm trên một bình diện hơi rộng, tất yếu phải trải rộng ra bên ngoài địa hạt thuần túy chuyên môn và đụng đến tất cả các khoa học khác. Ông ta làm việc suốt ngày trên thuyền, quan sát qua ống nhòm mọi đặc điểm của cảnh vật, viết nhật ký hoặc viết báo cáo, học các quyển từ vựng; rất hiếm khi tôi thấy ông không có một quyển sách trong tay. Là người quan sát chính xác, ông biết trình bày hay, qua các cuộc nói chuyện của chúng tôi, tôi học được ở ông nhiều điều về sự bí ẩn của phương Đông và khi trở về, tôi giữ những quan hệ bè bạn với gia đình Haushofer. Chúng tôi trao đổi thư từ và đến thăm nhau ở Salzburg và ở Munich. Một tổn thương nặng về phổi giữ ông lại một năm ở Davos hoặc ở Arcsa, tạo điều kiện cho ông xa rời quân đội và chuyển sang khoa học. Được khỏi bệnh, ông có thể giữ một chức vụ chỉ huy trong chiến tranh thứ hai. Tôi thường nghĩ đến ông lòng đầy thông cảm lúc bại trận. Tôi có thể hình dung ông đã đau khổ biết bao nhiêu khi thấy nước Nhật, ở đấy ông đã có nhiều bạn bè, thuộc phía những đối thủ chiến thắng, ông mà ở nơi ẩn náu vô hình, ông đã làm việc trong nhiều năm để xây dựng sự hùng cường của nước Đức và có lẽ cả bộ máy chiến tranh của nó.


Chẳng bao lâu, ông lại là một trong những người đầu tiên nghĩ một cách triệt để và với một cách nhìn rộng lớn đến sự phục hồi vị trí hùng cường của nước Đức. Ông xuất bản một tạp chí về "Địa - chính trị" và như thường xảy ra, tôi không hiểu vào lúc khởi đầu của tờ tạp chí ý nghĩa sâu xa của phong trào mới này: Tôi hình dung một cách ngây thơ rằng vấn đề chỉ là quan sát trò chơi của cái lực lượng trong bản hòa tấu của các quốc gia, và ngay cả trò "không gian sống" của các dân tộc mà tôi nghĩ ông là người đầu tiên công nhận, tôi cũng chỉ hiểu nó, trong nghĩa của Spengler, nhưng năng lượng tương đối và biến đổi mà qua các thời kỳ, mỗi quốc gia giải tỏa một lần trong tiến trình các thời đại. Và cả ý tưởng của Haushofer, đòi hỏi nghiên cứu kỹ hơn các đặc điểm cá thể của các dân tộc và thiết lập một bộ máy thẩm tra thường trực có tính chất khoa học, đối với tôi là hoàn toàn đúng đắn, vì tôi tin rằng sự điều tra đó được sử dụng tuyệt đối cho cái xu hướng nhằm vào sự xích lại gần nhau của các quốc gia; có thể - tôi không khẳng định được - những ý định ban đầu của Hanshofer hoàn toàn không có tính chính trị. Tất nhiên tôi đọc các sách của ông (trong đó, vả lại, ông có một lần trích dẫn tôi) với một hứng thú lớn nhất và không hề ngờ vực. Tôi nghe thấy các thính giả vô tư ca ngợi những bài diễn thuyết của ông, cho là đặc biệt bổ ích và không ai lên án ông đã đem ý tưởng mình phụng sự một thứ chính trị sức mạnh và xâm lược và đã chỉ dành chúng để biện minh về mặt ý thực hệ cho những tham vọng cũ của nước Đại Đức dưới một hình thức mới. Nhưng một hôm tôi tình cờ nhắc đến tên ông ở Munich, ai đó tuyên bố bằng giọng của một người nắm chắc sự việc của mình: "À, người bạn của Hitler"… Tôi đã không ngạc nhiên hơn. Vì điều đầu tiên là vợ của Haushofer không phải thuần chủng Arien và các con ông (rất có năng khiếu và dễ thương) hoàn toàn không thể thỏa mãn các luật Nuremberg về những người Do Thái; hơn nữa, tôi không nhìn thấy khả năng của một sự liên minh tinh thần giữa một nhà bác học thuộc loại có học thức nhất, mà tư duy triển khai trên bình diện của cái toàn năng và một người khuấy động dã man ngoan cố trong thuyết Nhật nhĩ man với nghĩa hẹp hòi nhất và tàn bạo nhất của thuật ngữ đó. Nhưng Rudolf Hess là một trong những học trò của Haushofer và chính hắn ta đã thành công trong việc thúc đẩy sự liên minh này. Hitler tự bản thân ít có khả năng tiếp thu những ý tưởng của người khác, lại có từ trong nguyên tắc cái bản năng biến thành sở hữu của mình những gì có thể phục vụ cho những mục đích các nhân của mình; vì vậy cái "Địa - chính trị" ấy kết thúc ở hắn ta và rút gọn thành một thứ chính trị quốc gia - xã hội và hắn ta đòi hỏi ở nó tất cả những công việc nó có thể làm lợi cho những dự định của hắn. Luôn là kỹ thuật của chủ nghĩa quốc xã tạo cho những bản năng quyền lực tuyệt đối ích kỷ của nó một nền tảng ý thức hệ và giả đạo đức, và khái niệm "không gian sinh tồn" này cung cấp cho ý chí xâm lược trần trụi của hắn một chiếc áo khoác triết học nhỏ, một trong những từ gây hiệu quả, hình như vô hại do sự mơ hồ của định nghĩa mà người ta cung cấp cho nó, nhưng trong trường hợp thành công có thể hợp pháp hóa mọi cuộc thôn tính, dù là độc đoán nhất, bằng cách trình bày như những nhu cầu về đạo đức và dân tộc học. Như vậy là người bạn đường xưa cũ của tôi - tôi không thể nói là ông ta biết và muốn - chịu trách nhiệm về sự chuyển dịch cơ bản và quá nguy hại đối với thế giới của những mục đích của Hitler - những mục đích này ở nguồn gốc của nó chỉ hướng tới chủ nghĩa quốc gia và sự thuần chủng - sau đó nhờ học thuyết "Không gian sinh tồn" suy biến thành khẩu hiệu: "Ngày nay nước Đức thuộc về chúng ta, ngày mai sẽ là cả thế giới". Đó là một ví dụ có ý nghĩa của sức mạnh mà chỉ một công thức gây ấn tượng mạnh, bằng tác dụng nội tại của lời nói, làm nảy sinh những hành động và xô nghiêng các số phận, hoàn toàn như xưa kia các công thức của những nhà bách khoa về triều đại của la raison( ) cuối cùng kết thúc bằng cái trái ngược của chúng, đến sự khủng bố và những xúc cảm tập thể của các quảng đại quần chúng. Theo chỗ tôi biết, cá nhân Haushofer không bao giờ là đảng viên của đảng. Tôi không hề thấy ở ông, như những nhà báo khôn khéo ngày nay, dựng nên những kế hoạch đáng sợ nhất và gợi ý cho Fhrer( ). Nhưng thật không có gì đáng nghi ngờ rằng chính các lý thuyết, hơn những cố vấn điên khùng nhất của Hitler, đã đẩy vô tình hay cố ý nền chính trị hung hãn của chủ nghĩa quốc xã từ bình diện thuần túy quốc gia sang bình diện thế giới, chỉ có hậu thế, với sự tập hợp tư liệu đầy đủ hơn sự tập hợp tư liệu của chúng ta, sẽ phân định cho nhân vật đó những kích thước đích thực của nó trong lịch sử.


*


Tiếp sau cuộc du lịch hải ngoại đó là một cuộc thứ hai ở châu Mỹ. Cuộc này cũng chỉ được thực hiện với ý định mà tôi có là khám phá thế giới và nếu có thể, một phần tương lai mở ra trước mắt chúng tôi. Tôi thực sự nghĩ rằng tôi là một trong những nhà văn hiếm có đã vượt đại dương không phải để kiếm tiền và khám phá châu Mỹ với tư cách một nhà báo, mà chỉ để đối chiếu với thực tế một hình ảnh khá mơ hồ mà tôi có về thế giới mới.


Sự hình dung đó - tôi không hổ thẹn mà thú nhận - là hoàn toàn lãng mạn. Châu Mỹ đối với tôi là Walt Whitman, đất nước của những nhịp điệu mới, của tình huynh đệ phổ biến sắp tới. Trước khi đi tôi đọc lại những câu thơ dài man rợ chảy thành thác từ "Camerado" hùng vĩ và bằng cách đó đến gần Manhattan với một tình cảm chất phác và hữu nghị thay vì dáng vẻ kiêu ngạo thường tình của những người châu Âu. Tôi còn nhớ là tôi bắt đầu hỏi người gác cổng mộ của Whitman ở đâu và tôi muốn đến thăm; câu hỏi của tôi tất nhiên làm cho cậu người Italia khốn khổ hết sức luống cuống. Cậu ta chưa hề nghe cái tin ấy.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 20.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
xem thêm »