tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28290914
Tiểu thuyết
03.04.2013
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Nhà Phan Thanh Giản ở ngoại ô Vĩnh Long.


            Đã hơn 14 ngày trôi qua. Cụ Phan tuyệt cốc nhiều ngày nên trông hốc hác xanh xao hơn trước. Nhưng đôi mắt của vị đại thần triều Nguyễn suốt đời sống thanh bạch giản dị, vẫn tinh anh sáng suốt. Các con đứng tề tựu chung quanh để nghe lời trăng trối cùng của cụ: – “Đây là lời dặn dò cuối cùng của cha với các con: Sau khi cha thác rồi, phải đem linh cữu của cha về chôn tại làng Bảo Thạnh, bên phần mộ tổ tiên. Còn tấm minh tinh hãy đề: “Đại Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu” – rồi cụ lấy bút chấm nghiên mực viết trên giấy hoa tiên: Minh sinh thỉnh tỉnh, nhược vô ứng thơ; Đại Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu, diệt dĩ thử chi mộ[1]. Các con hãy nhớ không được làm trái ý cha”. Phan Hương, con trai cả hỏi: – “Sao cha không để học vị chức sắc?”. Cụ Phan lắc đầu: – “Để làm gì càng thêm hổ thẹn!”. Phan Tôn, con trai út hỏi: – “Cha còn dặn thêm các con điều gì nữa”. Cụ Phan nhìn con: – “Phải giữ lương tâm trong sạch. Không được cộng sự với lũ Tây dương. Phải cho con cháu học trường họ, để nắm lấy cái tinh xảo của họ thì mới mong chống họ được. Hãy nhớ lấy lời ta!”. Cụ Phan nói vừa dứt, các con đều quỳ xuống cúi rập đầu lạy. Trong khi đó, cụ với tay cầm chén thuốc phiện pha dấm thanh – mà cụ ra lệnh cho ông Đức pha cho – uống một hơi. Vậy là sau mười lăm ngày ngồi nhịn ăn không chết, chờ mãi không thấy triều đình hồi âm, cụ Phan đành phải mượn chén thuốc độc này tự kết liễu đời mình, một cuộc đời đầy vinh quang và cay đắng!… Đám tang cụ diễn ra thật cảm động. Hàng ngàn dân chúng ở Vĩnh Long đổ ra bờ sông tiễn đưa linh cữu cụ xuống thuyền vượt sông Cổ Chiên về Gành Mù U làng Bảo Thạnh, nơi ông chào đời bảy mươi năm về trước.


            Đó là ngày 4 tháng 8 năm 1867. Đây cũng là cái chết đầy bi kịch của kẻ sĩ, để lại hậu thế một nghi án công tội sẽ do lịch sử phán xét.


            … Và cũng ở một nơi kia, làng An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, nơi cụ Đồ Chiểu chọn làm nơi tị địa đời mình.


            Trong gian nhà lá đơn sơ, cụ đồ ngồi đọc lại bài thơ điếu quan Kinh lược sứ Phan Thanh Giản trong khí nắng chiều bên ngoài lọt qua khung cửa sổ rọi trên khuôn mặt cương nghị rắn rỏi của cụ:    


Non nước tan tành hệ bởi đâu?


Ràu ràu mây bạc cõi Ngao châu


Ba triều công cán vài hàng sớ


Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu


Ải Bắc ngày chiều tin điệp vắng


Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu


Minh linh chín chữ lòng son tạc


Trời đất từ đây bặt gió thu!


            Hai cái chết, hai con người. Trương Định và Phan Thanh Giản, đều có tác động mạnh trong tâm hồn cụ đồ, nhà thơ lớn của dân tộc ở đất phương Nam, vì cụ là người cùng thời, và là chứng nhân lịch sử của hai cái chết bi tráng đó, trong khúc quanh đen tối của đất nước khi sáu tỉnh Nam Kỳ lọt vào tay quân xâm lược Pháp nửa sau thế kỷ XIX. Riêng bài thơ điếu Phan Thanh Giản, cụ đã dùng ẩn dụ lên án cụ Phan mà chỉ có ai thâm nho mới nhận ra được.


 


            Nguyễn Trung Trực cải trang như một ngư dân chài lưới vùng biển chèo chiếc tam bản chở bà Hai đang bệnh ra chợ Rạch Giá để tìm người thầy thuốc là Dương Công Thuyên, nhà ở ven kênh gần chợ. Cùng đi với Trực có Nghĩa và chú bé Tâm. Chiếc tam bản cặp sát vào bến có lối đi hẹp giữa hai dãy phố cất sát kênh. Trực nói với chú bé Tâm: – “Em ở lại coi chừng tam bản. Anh với chị Nghĩa đưa bà đi tìm thầy thuốc. Chút nữa anh trở lại”. – “Dạ”. – Chú bé Tâm gật đầu. – “Ta đi thôi”. – Trực dắt bà Hai lên bờ theo lối hẹp ra phố. Nghĩa xách giỏ mây đựng quần áo theo sau. Đi được một quãng, thấy một bác nông dân có tuổi xách giỏ cua biển đi ngược lại, Trực lễ phép hỏi: – “Thưa bác cho cháu hỏi thăm nhà ông Thuyên thầy thuốc Bắc có gần đây không ạ?”. – “Ông Thuyên à? Cũng gần đây thôi chú em – ông già nhìn Trực nói – Đó, cái nhà có cây bàng trước cửa là nhà ông thầy Thuyên đó”. – “Dạ cám ơn bác”. – Trực lễ phép cúi chào ông già toan đi, thì ông nói: – “Chú em có giấy tờ gì không? Dạo này làng lính hay xét giấy lắm đó. Cẩn thận nghe chú em!”. – “Dạ có. Cám ơn bác”. Cả ba người đi về hướng nhà ông Thuyên theo lời chỉ của bác nông dân. Tiếp Trực với bà Hai và Nghĩa là người đàn ông trạc ngoài bốn mươi mặc áo dài khăn đóng, nét mặt đôn hậu. Sau lưng ông là kệ thuốc bắc chiếm gần hết tường nhà. – “Mời chú, cô ngồi – ông thầy thuốc tên Thuyên vui vẻ nói – Còn bác ngồi lại gần đây – ông chỉ cái ghế tựa gần chỗ ông ngồi sau cái bàn dài có cái gối nhỏ tiện cho việc nghe mạch – Bác thấy trong người thế nào? Lâu nay ăn uống có được không?”. – “Tui thấy trong người nó uể oải, hai chân mỏi và lạnh, nhứt là chiều hay nóng hâm hấp. Ăn uống không thấy ngon, miệng đắng và lạt lắm”. Ông Thuyên gật đầu rồi nói: – “Bác đưa tay cho tôi xem mạch một chút”.


            Bà Hai đưa tay đặt trên cái gối nhỏ và ông Thuyên đặt tay lên nghe mạch. Nét mặt ông có vẻ căng thẳng. Ông nghe mạch cả hai tay bà Hai một lúc rồi nói: – “Bác bị cảm trước đây nhưng chữa chưa dứt… rồi do có tuổi nên sức chống đỡ với bệnh yếu đi… Bác có ở gần đây không?”. Bà Hai chưa kịp trả lời thì Nghĩa đã nói thay cho bà: – “Dạ, thưa gia đình cháu ở dưới An Biên…”. – “Chà, vậy cũng khá xa. Bác phải ở đây một thời gian để tôi vừa trị vừa theo dõi bệnh… Bác có bà con hay quen ai ở chợ này không?” – Ông Thuyên hỏi. – “Thưa thầy không có” –Bà Hai nói. – “Chà vậy thì… hơi khó đa. Để tôi nghĩ coi – ông ngừng một lúc rồi nói, giọng vui vẻ hẳn lên – À, tôi nhớ ra rồi, gần đây có chùa do ni sư Diệu Tâm (tục danh là bà Hoặng) trụ trì, bác có thể đến ở đó được”. – “Nhưng tui không quen biết ni sư đó…” – Bà Hai nói có vẻ ngại. – “Không sao. Đây là chỗ quen biết của tôi – ông Thuyên nói – Trước đây tôi cũng có gởi vài bệnh nhân có tuổi như bác, nhà chùa cũng vui vẻ cho ở nhờ, ở bao lâu cũng được miễn trị hết bệnh mới về”. Vừa lúc ấy, có một người cũng trạc tuổi ông Thuyên, mặc áo dài xanh, bịt khăn đóng, nét mặt chất phác ghé vô nhà ông Thuyên. Thấy khách quen, ông Thuyên cười vui vẻ: – “Chào ông xã. Sao lâu nay không thấy ông ghé đây? Mấy thang vừa rồi, ông uống thấy thế nào?”. – “Cũng đỡ nhiều rồi thầy. Nay nhân dịp ra chợ ghé thầy để bổ thêm vài thang nữa”. Ông khách chính là ông Lý, xã trưởng một xã gần chợ Rạch Giá, vốn quen thân với ông Thuyên. – “Được chớ. Nhưng ông phải cho tôi xem qua mạch cái đã”. – Ông Thuyên nói với bà Hai – “Xin phép bác chờ cho một chút”. Bà Hai lui ra. Nghĩa dành ghế cho bà ngồi. Ông Thuyên nghe mạch xã Lý xong, bốc mấy thang thuốc rồi nói: – “Mạch tốt lắm. Ông uống mấy thang nữa coi như khoẻ hoàn toàn rồi đó. Sao, dạo này tình hình có yên hơn dạo trước không?”. – “Mấy hôm nay có tin đồn là quân triều do ông Thành thủ úy Nguyễn Trung Trực dẫn về hoạt động ở vùng này nên ông Chánh Phèn ra lệnh cho các xã ấp phải tăng cường canh gác đề phòng – xã Lý nói – Nhưng đề phòng cái gì, dân chúng ở đây từ hôm nghe tin ông Trực về, họ không lộ ra ngoài mặt nhưng trong bụng rất phấn khởi. Bọn Phú-lang-sa đâu biết bụng dạ người dân mình ở đây. Họ lầm lầm lỳ lỳ ra vẻ an phận chớ đụng chuyện thì coi chừng. Thôi, tôi có việc phải đi đây. Cám ơn thầy nghe. À quên, mấy thang này bao nhiêu tiền đây thầy?”. – “Ối, có bao nhiêu đâu ông xã! – Ông Thuyên cười – Ông có việc cứ đi đi, không phải bận tâm chuyện tiền nong. Sau này trả cũng được mà!”. – “Không được đâu thầy – xã Lý nói – “Tài thượng phân minh đại trượng phu”! Chỗ thân với nhau, tiền công thầy không tính, nhưng tiền thuốc tôi phải trả, để thầy còn phải mua thêm thuốc mới “cứu nhân độ thế” lâu dài được, phải không?”. – “Ông đã nói vậy thì tôi nhận của ông ba quan thôi”. – Ông Thuyên nói, giọng vui vẻ xởi lởi. – “Vậy mới được chớ!”. Ông xã Lý vui vẻ móc ba quan đưa cho ông Thuyên, gật đầu chào mọi người rồi đi ra. Ông Thuyên nói với bà Hai. – “Bây giờ tôi đưa bác qua chùa nghe! Tự nãy giờ tôi vô tâm quá, tôi quên hỏi chú em đây là… – ông nhìn Trực có vẻ thiện cảm”. – “Con trai lớn của tui đó thầy. Hai vợ chồng nó nói hoài tui mới chịu đi, chớ thầy nghĩ coi từ đó lên đây có gần gụi gì. Đi mất hết công hết chuyện tụi nó…”– Bà Hai nói lơ lửng cho qua. – “Vợ chồng cháu biết má cháu ngại không muốn đi xa. Nhưng ở dưới chỉ toàn thuốc nam, má cháu uống hoài không hết bịnh, mà tuổi già sức yếu không trị dứt căn thì tụi cháu đâu có yên tâm làm ăn gì được?” – Nghĩa nói, vẻ phân trần. – “Hai vợ chồng đưa bác lên là kịp thời đó. Bệnh của bác để lâu nó biến chứng thì khó lắm. Thôi ta đi thôi”. – “Hay thầy để chúng tôi đưa má tôi đi. Thầy ở đây còn bệnh nhân…” – Trực nói. – “Không sao. Đây lại đó có một nghỉnh thôi mà”. Nói xong ông Thuyên gọi với ra phía sau: – “Sắp nhỏ ra coi chừng nhà nghe. Ai hỏi nói ta đi lại chùa bà Hoặng một chút rồi về”. Nói xong ông Thuyên bước ra trước. Bà Hai, Trực và Nghĩa theo sau.


 


 


            Trong khuôn viên chùa bà Hoặng.


            Ông Thuyên cùng Trực đi dưới bóng mát cây trái nhà chùa trồng trong khuôn viên. Trong chùa, bà Hai cùng Nghĩa nói chuyện với ni sư Diệu Tâm (tức bà Hoặng) sau khi ông Thuyên gởi gắm bà Hai ở đây trị bệnh. Qua thái độ ông Thuyên, Trực cảm nhận đây là người tốt có thể tin cậy được, nên Trực quyết định trao thư giới thiệu Trực của quản Nhơn gởi ông Thuyên. Trực dừng bước nói: – “Thưa thầy, có thơ của ông quản Nhơn gởi thầy”. Ông Thuyên có vẻ mừng rỡ: “Trời! Vậy sao? Sao tự nãy giờ chú không nói?”. Trực cười: – “Từ lúc gặp thầy tới giờ có lúc nào thầy rảnh đâu mà đưa thơ?”. Đọc xong thư, ông Thuyên nhìn Trực bằng đôi mắt sững sờ ngạc nhiên thật sự: – “Trời ơi! Chú… Xin lỗi… Ông là người đốt tàu giặc ở vàm Nhựt Tảo năm xưa mà tôi hết sức ngưỡng mộ đây sao? Cho tôi xin lỗi cách xưng hô không phải phép của tôi vừa rồi…”. – “Có gì đâu, thầy đừng ngại – Trực cười vui vẻ – Trước khi về đây anh quản Nhơn có nói với tôi về thầy. Bây giờ gặp thầy, tôi thấy anh quản nói không sai”. – “Nhưng sao ông dám mạo hiểm vô đây gặp tôi?”. – “Tôi mới tới vùng này nên chưa có ai biết mặt, tất nhiên trước khi đi tôi cũng đã dọ được tình hình… Vả lại, má tôi không chịu đi, tôi phải năn nỉ hết lời bà cụ mới nghe”. Hai người đứng dưới gốc cây vú sữa gần rào. Trực nói tiếp: – “Tôi chân ướt chân ráo trên đường đến đây thì bọn Tây dương đã chiếm Hà Tiên Rạch Giá rồi. Đành phải dừng quân ở rừng chờ đợi thời cơ và nhứt là tìm những người có lòng yêu nước quyết tâm chống giặc, phải là người sở tại thông thạo địa hình địa vật để cùng hợp sức diệt lũ Tây dương… Gặp được thầy tôi mừng lắm”. Từ lúc biết chàng trai cao lớn có nước da nâu bóng với đôi mắt sáng thông minh là Nguyễn Trung Trực, người anh hùng đốt tàu chiến giặc năm xưa ở vàm Nhựt Tảo, ông Thuyên có một cảm giác vừa mừng rỡ, vừa kính trọng và cũng hoàn toàn bất ngờ đối với ông. Ông Thuyên cố nén xúc động nói: – “Tôi không ngờ… Hoàn toàn không ngờ lại được gặp ông… Triều đình đã làm cho dân chúng ở đây vô cùng thất vọng và đau xót, khi nhìn thấy lũ Tây dương xâm chiếm ba tỉnh miền Tây mà không tốn viên đạn nào. Tại sao quan quân võ tướng anh hùng hào kiệt ở đâu mà để cho dân chịu cảnh lầm than cơ cực như vầy?” – ngừng một lúc ông Thuyên nói tiếp – “Tôi tiếc tôi đã có tuổi rồi, không thể nào đi theo xông pha trận mạc với anh em…”. Chợt ông Thuyên mắt sáng lên: – “À phải rồi, tôi nhớ ra rồi. Ở trong Tà Niên có ông Lâm Quang Ky, tuy tuổi nhỏ mà có chí lớn lại tinh thông võ nghệ, giao du rộng, quen biết nhiều, có thể giúp ông đắc lực sau này. Cha của ông Ky cũng là người hào hiệp trọng nghĩa khinh tài, quen biết tôi đã lâu. Tôi sẽ giới thiệu ông làm quen với họ ngay hôm nay”. – “Được như vậy tôi cám ơn thầy rất nhiều” – Trực vui vẻ nói. Vừa lúc ấy có tiếng quát tháo ngoài đường. Hai người nhìn ra. Một thằng đội xếp người Pháp có bộ râu quai nón xồm xoàm chỉ huy tốp lính đang giơ roi đánh đập chửi bới những người dân đang khiêng cây, gánh và vác những tảng đá lớn ngang qua khuôn viên chùa. – “Chúng nó bắt dân làm phu xây đồn ngày đêm ở phía dưới chợ đó. Thiệt là nhục quá!” – Ông Thuyên nói có vẻ giận dữ. Trực im lặng không nói, nhưng qua đôi mắt anh, sự căm phẫn đang dồn tất cả vào đó. – “Thôi ta về, thu xếp đi vô Tà Niên ngay bây giờ. Ông yên tâm, bà cụ không sao đâu. Mọi việc đã có tôi lo”. Ông Thuyên nói rồi cùng Trực đi ra cổng chùa. Và trên chiếc tam bản do chú bé Tâm chèo đi vào rạch Tà Niên rợp bóng dừa nước xanh um mọc dày hai bên mé rạch, ta thấy ông Thuyên và Trực ngồi nhìn về phía trước với ánh mắt phấn khởi hy vọng. Nắng vùng biển rực sáng trên khuôn mặt họ…


CHƯƠNG TÁM


Gia đình Lâm Quang Ky ở Tà Niên.


            Đây là một cơ ngơi khá khang trang rộng rãi chứng tỏ chủ nhân thuộc vào hàng khá giả ở vùng đất này.


            Nhà ông Ky ba gian rộng vách ván, lợp lá dừa nước.


            Phía sau nhà có sân rộng dùng làm nơi luyện tập võ nghệ. Chung quanh là khu vườn trồng dừa và cây ăn trái như me, ổi, xoài, chuối.


            Ông Ky tuổi còn trẻ chỉ ngoài hai mươi, dáng người dong dỏng rắn chắc khoẻ mạnh. Khuôn mặt ông có nét hao hao giống ông Trực với đôi mắt sáng ẩn dưới đôi lông mày đậm với chiếc cằm vuông, trông đúng là trang hảo hán. Ông Ky đang múa côn đấu với một người có nước da nâu bóng, cặp mắt xếch, miệng rộng, dáng người thấp đậm. Hai người cởi trần, có lẽ họ đấu với nhau khá lâu nên mồ hôi vã ra ướt đẫm cả hai thân hình lực lưỡng lấp loá dưới mặt trời. Cả hai đang hăng say quần nhau bằng những đường roi biến hoá vun vút, kẻ đánh người đỡ xem ra cũng loại kỳ phùng địch thủ chưa ai chịu ai... Họ đâu biết tự nãy giờ ông Thuyên với Trực đã ra sau nhà, đứng dưới mái hiên nhìn họ giao đấu với ánh mắt đầy thiện cảm. Bỗng ông Tư hét lên lấy thế vung một đường roi từ dưới vụt lên rất hiểm hóc. Ông Ky vội xoạc chân cúi rạp mình sát đất né đòn, rồi nhân lúc ông Tư lỡ đà, ông Ky đã bật dậy tung cú đá bay roi của ông Tư. Ông Thuyên và Trực không kìm được vỗ tay hoan hô: – “Khá lắm!”. Ông Ky chợt nhận ra ông Thuyên vội chạy lại cúi chào mừng rỡ: – “Thầy đến lúc nào vậy?” – “Cũng vừa mới tới thôi”. – Ông Thuyên cười đáp. – “Mời thầy với anh vô nhà uống nước”. Ông Ky vui vẻ giới thiệu Tư với ông Thuyên: – “Đây là anh Trịnh Văn Tư, bạn đồng môn của cháu”. Ông Tư cúi đầu chào ông Thuyên và Trực. Tất cả đi vào nhà.


 


            – “Lâu nay cháu nghe ngoài chợ họ nói bọn Phú-lang- sa kêu gọi những vị chức sắc ở làng xã đã trốn tránh tản cư lúc chúng chiếm Hà Tiên Rạch Giá ra làm việc với chúng, chẳng những giữ nguyên chức vị mà còn được lãnh thưởng nữa. Sự thật có đúng vậy không thưa thầy?”. Ông Ky hỏi ông Thuyên khi mọi người đã ngồi vào bàn kê ở giữa nhà. – “Chuyện đó quả đúng như vậy – ông Thuyên gật đầu xác nhận – cũng có số người vì ham lợi lộc ra nhận như cai tổng Ngươn, rồi cũng có người vì muốn yên thân mà ra làm như ông xã Lý. Tuy làm cho bọn Phú-lang-sa nhưng ông nầy bụng dạ tốt, thuộc loại “xanh vỏ đỏ lòng”, ẩn nhẫn để chờ thời. Nhưng cũng có người dứt khoát không cộng tác với giặc như quan Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt một mực “cáo lão quy điền” mặc cho chúng đến chiêu dụ cụ nhiều lần”. – “Cháu nghe nói sau khi triều đình giao nộp ba tỉnh miền Tây cho giặc thì nhiều anh hùng hào kiệt nổi lên chống lại như ông cố quản Trần Văn Thành bên Châu Đốc, ông Đốc binh Kiều ở Cao Lãnh, hai ông Phan Liêm, Phan Tôn ở Bến Tre, rồi còn nhiều vị ở các nơi khác...” – Ông Ky ngừng lại rồi thở dài nói tiếp – “Mấy anh em cháu ở trong Tà Niên này rất khổ tâm khi thấy bọn Phú-lang-sa chiếm Hà Tiên Rạch Giá mà chẳng có ai dám đứng lên chống giặc. Tụi cháu chỉ có bầu nhiệt huyết chớ không đủ tài trí để đứng ra phất cờ khởi nghĩa...”. – “Mấy anh em cháu thường rủ nhau luyện tập võ nghệ ở nhà anh Ba Ky đây – Trịnh Văn Tư nói – để coi thời thế ra sao. Nếu đất nầy không có người cầm đầu nổi dậy, có lẽ bọn cháu sẽ kéo sang Châu Đốc theo đức cố quản chớ ở đây nhìn bọn giặc Tây dương hà hiếp dân mình thì chịu sao thấu hả thầy?”. – “Các cháu có ý nguyện giết giặc cứu nước như vậy, thầy rất khen. Nếu nước Nam mình ai ai cũng một lòng một dạ như hai cháu thì bọn giặc Tây dương làm sao có thể chiếm đất này được? Tiếc là còn có bọn cầu an nhu nhược, tham sống sợ chết, cam tâm đi làm tay sai cho giặc như bọn Tổng đốc Phương, Lãnh binh Tấn, Tôn Thọ Tường... xét cho cùng bọn đó còn thua loài cầm thú!” – Ông Thuyên thở dài. – “Nhắc tới Lãnh binh Tấn, cháu sực nhớ tới ông Thành thủ úy Nguyễn Trung Trực. Nghe nói ông trả ấn kiếm cho triều đình, phản đối việc giao thành cho giặc rồi dắt quân về hoạt động dưới nầy mà không biết ở đâu?” – Ông Ky nói. Ông Thuyên mỉm cười liếc nhìn Trực. Ông thấy chàng vẫn giữ thái độ bình thản chú ý lắng nghe chuyện giãi bày tâm sự của ông Ky, ông Tư với ông Thuyên. Qua đó Trực thấy có cảm tình với họ, nhất là với ông Ky. – “Nếu biết ông Trực ở đâu, các cháu có theo ông đánh bọn giặc Phú-lang-sa không?” – Ông Thuyên thăm dò. – “Trời ơi! Chuyện đó mà thầy còn hỏi. – Ông Ky sốt sắng trả lời – “Mấy năm trước ổng đốt tàu giặc ở vàm Nhựt Tảo tiếng tăm vang lừng cả nước, ai mà không biết. Bây giờ biết ổng ở chỗ nào cháu sẽ theo ngay. Mà không riêng với anh Tư đây, bọn cháu còn có mấy anh em nữa như anh Ba Búp, anh Năm Ngàn, anh Sáu Miên toàn là bạn chí cốt sanh tử có nhau, sẵn sàng theo ông Trực đánh lũ Tây dương đến cùng đó”. Ông Thuyên rất xúc động trước lời lẽ tâm huyết của Lâm Quang Ky, chàng thanh niên trai trẻ vào hàng con cháu nhưng chí khí không thua kém ai. Đến lúc nầy ông thấy có thể giới thiệu Trực với họ được rồi. Ông nhìn Trực rồi bằng một giọng nghiêm chỉnh ông nói với ông Ky: – “Bữa nay thầy đến gặp cháu và may mắn có cả cháu Tư ở đây là để giới thiệu với hai cháu người mà hai cháu, và cũng không riêng hai cháu, đồng bào ở Nam Kỳ lục tỉnh này ngưỡng mộ là ông Thành thủ úy Nguyễn Trung Trực đây là người đang ngồi trước mặt hai cháu đó!”. Ông Ky và Tư hết sức ngạc nhiên bàng hoàng sửng sốt như trên trời rơi xuống trước lời giới thiệu của ông Thuyên, người thầy thuốc đáng kính quen thân với gia đình ông Ky nhiều năm nay. – “Trời! – Ông Ky thốt lên nhìn Trực nói lắp bắp – Ông... ông... là ông Thành thủ úy thiệt đây sao?”. Trực mỉm cười gật đầu. Trong lòng chàng cũng lâng lâng một niềm xúc động trước cử chỉ của ông Ky. Cả hai không ai bảo ai, vội quỳ xuống ra mắt ông Trực: – “Chúng tôi có mắt cũng như mù... trước núi Thái Sơn mà không biết. Xin ông Thành thủ úy tha lỗi cho!”. Trực vội bước lại đỡ ông Ky, mỉm cười độ lượng: – “Hai anh đứng dậy đi. Các anh đâu có lỗi gì... Tôi rất may mắn nhờ thầy đây dẫn đường mới được gặp hai anh. Thiệt là cũng do cơ duyên trời định”. Hai ông Ky và Tư ngồi lại ghế, nhưng mắt vẫn còn lộ đầy vẻ xúc động. Họ không ngờ người anh hùng đốt tàu giặc năm xưa ở vàm Nhựt Tảo mà họ hết sức ngưỡng mộ lại hiện diện bằng xương bằng thịt trước mặt họ. Thật là như giấc chiêm bao giữa ban ngày. – “Tôi trên đường dẫn số anh em xuống đây thì giặc đã chiếm Hà Tiên Rạch Giá rồi... – Trực nói – Đành phải đóng quân tạm ở Sân Chim coi tình hình ra sao rồi sẽ liệu...”. – “Thưa ông Thành thủ úy – Ông Ky lúc này bình tĩnh lại nói – Từ lâu anh em chúng tôi ở đây rất ngưỡng mộ uy danh của ông. Nay được gặp xin ông thâu nạp chúng tôi vào nghĩa quân để chống giặc, dầu có tan xương nát thịt chúng tôi cũng cam lòng”. – “Tôi theo thầy chỉ dẫn đến đây cũng cốt để tìm gặp anh em biết yêu nước một lòng một dạ cùng nhau đánh giặc – Trực nói – Nếu được hai anh đứng vào hàng ngũ nghĩa quân thì tôi mừng lắm!”. – “Thưa thầy – Ông Ky nói với ông Thuyên – hôm nay thầy phải ở lại đây vui với chúng cháu trong bữa tiệc mừng được hạnh ngộ với ông Thành thủ úy”. Rồi quay sang ông Tư – “Anh đi gặp ngay các anh Ba Búp, anh Năm Ngàn, anh Sáu Miên nói tôi mời các anh đến đây có việc gấp cần bàn nghe!”. – “Được, tôi đi ngay đây” – ông Tư vội cúi chào ông Thuyên và Trực rồi đi nhanh ra cổng.


 


   Hòn Chông.


                  Đó là vùng biển có dãy núi đá vôi nằm giữa hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên, có hòn Phụ Tử nổi tiếng ngoài biển. Người dân ở đây có các dân tộc Việt, Hoa và Khơ-me, chủ yếu sống bằng nghề hạ bạc, đánh bắt hải sản ngoài biển. Cũng có một số ít làm nghề ruộng, đi rừng lấy củi ra chợ đổi chác lương thực… Xóm dân thưa thớt dưới chân núi có nhiều cây rừng che phủ, thuở ấy chưa có ai khai phá. Nhà bà Năm, một nông dân nghèo ở cuối xóm, bị đốt khi bọn giặc Pháp càn quét vùng này lúc chúng chiếm Hà Tiên – Rạch Giá, bà mới dựng lại, lợp lá sơ sài. Một vài cây cột trong nhà trên thân còn dấu cháy nham nhở. Bàn thờ giữa nhà cũng bị cháy, nhưng còn thờ cúng được. Giữa bàn thờ có một bài vị ghi họ tên người chết là chồng bà bằng chữ Hán và một bát hương còn nghi ngút khói. Bà Năm đang ở sau bếp lo bữa cơm chiều thì đứa bé gái chừng 9, 10 tuổi nhà bên cạnh ở ngoài chạy vô nói lớn: – “Bà Năm ơi! Có ai đến nhà kìa!”. Bà Năm vội tắt lửa trong bếp, bước ra. – “Má!” – Tiếng của người con trai mặc bộ quần áo lính với lon cai trên vai, xách khẩu súng trường ở ngoài bước vô nói lớn mừng rỡ. – “Trời ơi! Mày về đó hả Tèo?”. Bà Năm kêu lên thảng thốt khi nhìn thấy đứa con trai mình đi làm ăn xa trên tận miền Đông, mấy năm không tin tức gì, tưởng đã chết rồi, không ngờ nó còn sống về đây… Nhưng nỗi mừng của người mẹ bỗng tắt lịm khi nhìn thấy bộ quần áo lính và khẩu súng giặc trên tay đứa con: – “Mầy làm gì mà bận bộ quần áo này?”. – “Má ơi!” – Anh con trai tên Tèo có lẽ đã thấy thái độ giận dữ của bà mẹ, nên anh cố phân trần: – “Con đi làm thuê làm mướn trên Gia Định, rồi khi người Phú-lang-sa đánh chiếm đồn Kỳ Hoà, con bị bắt đi lính cho họ mấy năm nay, năn nỉ họ hết lời họ mới cho đổi con về Rạch Giá, cho gần nhà. Về tới nơi con xin phép về thăm tía má ngay đây. Tía đâu rồi hả má?”. – “Ổng ngồi trên bàn thờ kia kìa!”. Bà Năm nói giọng còn phẫn nộ. – “Trời ơi! Tía!” Anh con trai chạy vào quỳ trước bàn thờ lạy mấy lạy, khóc nức nở: – “Tía ơi! Thằng Tèo của tía về đây rồi nè, tía!”. Lạy xong, anh gạt nước mắt hỏi mẹ: – “Má ơi! Tía mất hồi nào vậy, má? Tía đau bịnh gì mà mất hả má?”. Thấy thái độ của thằng con vừa rồi, bà Năm cũng nguôi bớt giận nói: “Tía mầy có bịnh hoạn gì đâu. Ổng mạnh sân sẩn như trâu cui, vậy mà bốn tháng trước đây...”.


              Một buổi sáng, mặt trời còn chưa tỏ mặt người, lũ giặc Pháp và một số lính mã tà đã mở cuộc hành quân càn quét vào vùng Hòn Chông. Tiếng mõ báo động hồi một vang lên khắp xóm. Dân chúng bồng bế, cõng con chạy trốn vào hang núi. Tiếng con nít khóc thét. Một số quân triều đình chống lệnh nộp thành Hà Tiên – Rạch Giá do một quản cơ chỉ huy tổ chức phục kích chống giặc. Lũ giặc đến từng ngôi nhà trong vùng, lùng sục, bắt gà vịt, vơ vét tài sản, khi chúng đi ra thì ngọn lửa bừng lên đỏ rực sau lưng chúng, khói đen bao trùm cả thôn xóm... Quân triều phục trong một lối nhỏ đi vào hang, sau những phiến đá lớn ẩn trong bụi cây hoang dại che khuất. Vũ khí của họ cũng chỉ có gươm giáo, mã tấu. Những nét mặt căng thẳng, chờ đợi với ánh mắt rực lửa căm thù. Khi tên lính Pháp đi đầu với bộ râu quai nón vừa ló đến chỗ phục kích thì lập tức tiếng hô “Sát” vang lên. Tên Pháp chưa kịp định thần thì mũi gươm của viên quản cơ đã đâm trúng vào ngực. Hắn chỉ kêu lên một tiếng “Ô” rồi gục ngã. Từ trong chỗ ẩn núp các quân sĩ hò reo xông ra huơ mã tấu, giáo gươm chém loạn xạ vào toán quân địch. Một trận xáp lá cà dữ dội diễn ra. Tiếng súng nổ, tiếng kêu la vang dội một góc núi.


            Nhà ông Năm ở cuối xóm. Bà Năm đã đi chợ từ sáng sớm. Dưới bếp một cô gái còn trẻ đang đốt lửa đun nồi cám heo. Ánh lửa hồng soi rõ từng giọt mồ hôi còn đọng trên mái tóc mai của khuôn mặt xinh xắn mặn mà dễ coi của người con gái vùng biển. Chợt nghe tiếng súng nổ ở đầu xóm cô gái giật mình nhìn ra. Một số bà con dắt dìu nhau chạy qua trước cổng để trốn vào hang động trong núi. Nhiều tiếng la í ới gọi nhau: – “Giặc tới rồi. Chạy mau đi!”. Cô gái quýnh quáng vội chạy vào trong nhà, quơ vội quần áo cho vào cái bị bàng rồi chạy ra trốn trong một hốc đá có bụi cây rậm che khuất. Ngồi chưa yên, sực nhớ còn quên số nữ trang cất dưới hộc tủ đầu giường, cô lại chạy bổ vào lấy rồi chạy nhanh ra chỗ ẩn núp khi nãy... Ở ngoài đồng, ông Năm, một lão nông đang đắp bờ ruộng, mồ hôi vã ra ướt đẫm tấm lưng trần nâu bóng của ông tuy đã có tuổi nhưng còn khoẻ mạnh. Nghe tiếng súng nổ, ông ngoảnh nhìn về xóm. Thấy khói lửa bốc lên cuồn cuộn ở đầu xóm, ông vội cầm cái mác thông để ở bờ ruộng, không kịp mặc áo, cứ để lưng trần chạy về hướng nhà ông ở cuối xóm xem ở nhà ra sao... Lũ giặc đã vô đến nhà ông Năm. Một tên ra sau bếp thấy nồi cám heo còn lửa, hắn lấy cây gài cửa đập vỡ tung toé. Chợt hắn thấy con gà mái nằm ổ, hắn bắt con gà bẻ cổ rồi nhét vào cái bị. Một số tên cạy tủ vơ vét đồ đạc, bỏ vào chiếc khăn buộc vội rồi vác chạy ra ngoài. Một tên lính Pháp cao lớn đi ra phía sau nhà hướng cô gái ẩn nấp. Hắn vạch quần đi tiểu. Chợt hắn thấy có người ẩn nấp sau hốc đá, lòi mái tóc đen nhánh. Hắn thận trọng bước vòng qua. “Ô là là!” – Hắn kêu lên khi thấy người nấp sau hốc đá là một cô gái mặt tái mét vì sợ hãi... Khi ông Năm chạy về tới phía sau nhà thì đúng lúc ấy có tiếng kêu của cô gái: – “Cứu tôi với!” rồi im bặt. Linh tính như báo cho ông biết tiếng kêu đó là con gái ông đang gặp nạn. Ông vội lao ra chỗ hốc đá quen thuộc. Trước mắt ông tên Pháp đã lột áo con gái ông vật ngửa cô ra toan làm nhục. Không nói một câu, ông nghiến răng phóng mũi mác vào cái lưng to bè của tên Pháp. Nó chỉ kịp rống lên một tiếng rồi ngã vật ra, hai chân giẫy y như rắn bị đập đầu. Và cùng lúc đó, ông Năm cũng bị một phát đạn vào đầu của tên giặc trong nhà chạy ra. Ông ngã chồng lên xác tên Pháp lúc này nằm ngay đơ trên vũng máu không còn thở nữa. Cả cô con gái ông cũng không thoát được viên đạn trả thù hèn hạ của tên giặc, khi cô vùng dậy toan chạy... Sau đó, chúng lôi thi hài ông già và cô gái vô nhà, rồi châm lửa mái lá. Ngọn lửa bùng lên như nuốt chửng hai cha con ông Năm trong làn khói đen hung hãn mỗi lúc một bốc cao trong tiếng cười sặc sụa như điên của lũ giặc khát máu... – “Đó, tía mầy với em mầy chết như vậy đó!” Bà Năm lấy khăn chậm nước mắt rồi nói tiếp – “Mấy năm nay bặt tin, tao tưởng mầy đã chết rồi. Không dè mầy lại cầm súng cho lũ Tây dương, kẻ đã giết tía với em mầy! Mầy đã mở mắt ra chưa hả Tèo?”. Mấy tiếng sau cùng bà Năm nói bằng giọng nghẹn ngào phẫn uất. Anh con trai đau khổ đến quỳ trước bài vị ông Năm: – “Tía ơi! Con không dè tía chết thảm như vậy. Con thề trước vong linh tía, con sẽ trả mối thù không đội trời chung này. Xin tía với em Bông phù hộ cho con!”. Tèo lạy mấy lạy trước bàn thờ rồi móc túi bạc đưa cho bà Năm: – “Con có để dành ít tiền cho má đây. Xin má đừng giận con”. – “Tao không cần đồng tiền của mầy”. Bà Năm giận dữ nói lớn – “Mầy đi đi. Đi cho khuất mắt tao! Đồ phản bội!”. Bà quay mặt vô bàn thờ nói lớn phẫn uất: – “Ông ơi! Ông về đây mà coi thằng Tèo nó lấy tiền của giặc đưa cho tui đây nè!”. – “Má ơi!” – Tèo kêu lên đau đớn. – “Tao không nghe mầy nói gì nữa đâu! Mầy đi ngay khỏi xóm này, ở đây bà con tới đập mầy chết như con chó cho coi! Đi đi!”. – “Má ơi! Xin má tha tội cho con. Con đi để trả thù cho tía với em Bông đây!”. Anh để túi bạc lại rồi xách khẩu súng chạy nhanh ra ngoài. Một lúc sau, khi cơn giận đã qua, lòng người mẹ đối với đứa con đi xa mới về bỗng trỗi dậy, bà Năm quay lại không thấy Tèo, bà nghẹn ngào: – “Con ơi! Tèo ơi!”.


 


            Trở lại Tà Niên. Ông Ky đưa ông Trực đi quan sát địa thế Tà Niên. Thời ấy địa thế vùng này gần như còn hoang vu, cây cối rậm rạp rất ít dân cư ngụ. Chú bé Tâm chèo chiếc tam bản đưa hai ông đi sâu mọi ngóc ngách trong rạch. Ở chỗ nào cũng đều có thể ém quân để tấn công đồn Rạch Giá. Ta có thể thấy họ ở mọi nơi khi thì xăn quần lội ra gò đất cao giữa đồng cỏ, khi thì khoảng đất trống sau ngôi miếu cổ, khi thì trên ngọn cây đa trước sân đình... Quan sát địa thế xong, trên đường trở về ông Ky nói với ông Trực: – “Tôi đưa anh Hai (bây giờ họ đổi cách xưng hô) ghé thăm tía tôi một chút nghe”. – “Phải đó. – Trực cười – Tôi cũng định nói với anh thế nào cũng phải ghé thăm bác mới phải đạo. Nhưng anh đừng nói thân phận tôi với bác, cứ nói tôi là bạn anh bình thường như mọi người. Anh nhớ nghe!”. – “Anh muốn vậy cũng được”. – Ông Ky mỉm cười nói, rồi quay lại với chú bé Tâm – “Em chèo cặp vô bến phía tay mặt, chỗ có mấy bụi dừa nước mọc cao đó”. Tâm Dạ” rồi đẩy mạnh mái chèo. Chiếc tam bản lướt đi về hướng ông Ky chỉ. Nhà ông Lâm Kim Diêu, cha ông Ky, là ngôi nhà ngói ba gian hai chái theo kiểu xưa ở nông thôn. Trước kia ông Diêu làm cai tổng trước khi quân Pháp chiếm Rạch Giá Hà Tiên, ông đã nghỉ hưu. Mấy lần bọn Pháp mời ông ra làm quan với chúng, nhưng ông đều từ chối, viện cớ tuổi già sức yếu, nhưng thật ra ông là người yêu nước, không cam chịu làm tay sai cho giặc như một số quan lại khác ở địa phương. Ông tiếp Trực ở bộ ghế tràng kỷ cẩn xà cừ rất đẹp đặt ở giữa gian nhà. Một người hầu mang khay trà đặt trên bàn rồi lui vào. Ông Diêu đích thân rót trà mời khách. Đây là một cử chỉ hiếm có. Bởi ông khi nhìn Trực ông cảm thấy ở chàng trai này một tướng tinh rất mạnh, biểu hiện ở khuôn mặt cương nghị và đôi mắt sáng thông minh dễ chinh phục người khác, dù Trực ăn mặc giản dị như một nông dân, chít khăn đầu rìu. – “Xin mời chú em... Xin lỗi chú thứ mấy?” – “Dạ, ảnh thứ Hai đó tía – Ông Ky đáp thay Trực”. – “Vậy mời chú Hai dùng trà. – Ông Diêu nóiMấy hôm nay nghe sắp nhỏ nói ở nhà thằng Ky có khách ở miệt trên xuống, qua cũng muốn gặp để hỏi tình hình miệt trên bây giờ ra sao. Nay mới hân hạnh được gặp chú”. – “Dạ thưa bác, từ hôm gặp anh Ky tới nay mới đến thăm bác được. Xin bác thứ lỗi cho sự chậm trễ này”. – “Ồ không sao. – Ông Diêu vui vẻ nói – Gặp được là tốt rồi. Chú Hai quê ở đâu?” – “Dạ, cháu quê ở Tân An”. – “À, quê ở Tân An – Ông Diêu gật đầu – Vậy là chú có biết chuyện ông Nguyễn Trung Trực đốt tàu giặc ở vàm Nhựt Tảo chớ?”. – “Dạ cháu có biết – Trực đáp – Cháu cũng có dự trận đánh đó...”. – “Vậy chú Hai cũng là quân của ông Trực?” – Ông Diêu nhìn Trực với đôi mắt cảm tình. – “Dạ” – Trực đáp. – “Vậy là chú cũng đáng mặt anh hùng lắm rồi” – Ông Diêu nói – “Hồi đó ở dưới này qua cũng làm con heo gần tạ ăn mừng chiến công đó. Nước Nam mình lâu nay bị bọn giặc Tây dương xâm lấn chỉ vì chúng ỷ có tàu to súng lớn, ông Trực đã làm cho chúng nó mở mắt ra thấy người Nam mình không dễ dàng bị chúng ăn hiếp đâu!”. – “Dạ thưa bác, nước Nam mình cũng có những người tài nữa như Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương, Bình Tây đại nguyên soái Trương Công Định và nhiều ông khác cũng làm cho bọn Tây dương phải kinh hồn bạt vía nữa, chớ nào phải riêng ông Trực đâu bác?” – Trực cười nói. – “Chú nói gì thì nói, qua vẫn thấy chưa ai làm được chuyện đốt tàu Tây như ông Trực”. – Ông Diêu nói – “Chỉ buồn là triều đình đã không hiểu dân Nam nên mới cắt đất nộp thành cầu hoà với lũ sói lang đó. Nhưng hoà sao được? Lũ sói lang đó được đằng chân thì lân đằng đầu. Mất ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây... Nay mai rồi Phú Xuân, Bắc Kỳ chưa chắc đã giữ được với chúng nó!”.


            Ông Diêu thở dài. Rồi ông chợt hỏi Trực: – “Chú xuống dưới này với ai?”. – “Dạ cũng có mấy anh em nữa. Tụi cháu quyết không chịu đầu hàng quân giặc nên kéo nhau xuống miền Tây để tiếp tục phò vua giúp nước. Không ngờ chơn ướt chơn ráo xuống tới vùng An Biên thì triều đình lại nộp ba tỉnh miền Tây cho giặc... Thiệt là bước đường cùng!”. Trực nói mấy câu cuối với thái độ phẫn nộ, khiến ông Diêu cảm thấy quý mến hơn chàng trai mà thoạt đầu mới gặp ông đã có cảm tình. – “Bây giờ chú em tính sao?”. – “Dạ cháu đang đi tìm những người yêu nước đồng tâm đồng chí tập họp thành đội ngũ chống giặc. May mà tới đây gặp được anh Ba Ky, rồi hôm nay lại được gặp bác, cháu mừng lắm, vì dân Nam mình ở đâu cũng có người yêu nước thì lo gì không đánh đuổi được bọn Phú-lang-sa ra khỏi bờ cõi nước Nam mình!”. – “Chú em nói phải lắm! Qua già rồi không theo được anh em. Nhưng lòng dạ của qua không bao giờ quên mối thù lũ giặc cướp nước mình. Bây giờ qua giao thằng Ky cho chú em đó. Chú dìu dắt cho nó làm tròn bổn phận làm trai trong lúc “quốc biến gia vong” cũng như làm rạng rỡ dòng họ Lâm nơi đất Kiên Giang cùng trời cuối đất này, thì dẫu có chết bác cũng hả dạ ngậm cười nơi chín suối”. Nghe ông Diêu nói Trực hết sức xúc động và chàng cảm thấy có thể yên tâm tấn công lũ giặc ở Rạch Giá. Trực đứng dậy nói: – “Cháu hết sức khâm phục tấm lòng yêu nước của bác. Và cháu xin hứa sẽ không phụ lòng tin của bác khi cho anh Ba Ky đây tham gia hàng ngũ đánh lũ giặc Tây dương, quyết không để cho chúng làm mưa làm gió ở đất Kiên Giang này!”.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


           







[1] Xin bỏ tấm triệu, nếu không nên đề: Quan tài (của một) thọ sinh già họ Phan ở góc biển Đại Nam. Sở dĩ ông dặn thêm năm chữ “Diệt dữ thử chi mộ” là sợ con cháu khắc cả phẩm hàm vào. (Lê Thọ Xuân).


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 18.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »