tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27652885
Tiểu thuyết
27.03.2013
Ngọc Giao
Quán gió

Anh chàng bước vào hàng ngồi xuống ghế, mặt thừ ra như vừa đánh mất một cái gì.


- Ông xơi nước.


Anh chàng vội đỡ bát nước chè tươi nóng.


- Cháu khát quá, định tâm đến đây uống thế mà quên bẵng mất.


Chàng ta tưởng như còn trông thấy trong bát nước sánh vàng khuôn mặt trái xoan trắng nõn, đôi mắt nhung đen lồng dưới vành nón lá.


- Thưa bà, mai con lại đi xa, ít ra một tuần lễ mới được về để lại uống bát nước ngon như thế này.


Bà Hường chưa biết đáp sao thì một bọn thanh niên đeo ba lô đi qua hát vang khúc hành ca. Một người đứng tuổi, ngảnh vào hàng gọi:


- Tiến, đi cùng chứ?


Tiếng gọi như một cái lệnh, anh chàng - tức là Tiến - vội đứng lên chào bà Hường rồi vội vã giắt ngựa chạy theo đoàn. Tiến nhường ngựa cho người đứng tuổi cỡi, có lẽ là một võ quan cao cấp. Những bàn chân cứng mạnh làm vẩn bụi đường dài và điệp khúc bài hành ca rộn rã gợi một thanh âm mưa ngàn thác lũ.


Thằng Lưu đã đi chơi về. Tóc nó bồng rối, mắt lừ đừ, da mặt tái xanh hơn. Nó lảo đảo vào giường, vật xuống.


Bà Hường vội chạy vào. Nó nôn thốc tháo. Bà Hường sợ hãi đỡ ngực nó, chờ nó nôn hết rồi lấy khăn lau mặt nó, rót nước ghé vào tận môi cho nó súc miệng. Vừa đặt đầu xuống gối, nó lại ngóc lên ngả ra ngoài thành giường, móc cổ nôn khan mãi. Xong rồi nó nằm ngửa, dang chân tay, vật vã, đập thình thình xuống giát giường tre.


Bà Hường bối rối chạy vào, chạy ra, mà Trâm thì chưa về. Bác Vạn gái qua hàng. Bà Hường vẫy bác vào. Nghe nói cậu Lưu bị cảm, bác chạy re ngay về xúc bát cám sang, vội vàng róm bếp rang cám đánh cảm cho nó. Ngay lúc ấy một bọn người Thổ trên rừng bị bắt buộc di cư xuống đồng xuôi, họ trâu, đỗ gánh kéo vào chật ghế, gọi nước và gào bún.


Bác Vạn nhanh nhảu nói:


- Bà ra bán hàng để cháu đánh gió cho cậu nhà cũng được.


Bà Hường đang quét vội những rau bún nó vừa nôn ọe, lau tay nói:


- Vâng, phiền bác giúp cho cháu, chúng tôi mang ơn bác.


Bác Vạn gái đổ cám nóng vào chiếc mùi soa của bác, túm lại rồi bảo nó, giọng rất tự nhiên:


- Cậu hai cởi áo ra, cho tôi đánh bả vai xương sống thì mới tốt.


Lưu lim dim mắt nhìn má bác Vạn gái ửng hồng vì gần lửa. Lưu vờ mê man. Sợ cám nguội, bác Vạn gái tự tay cởi áo cho nó. Nó nằm yên, lắng nghe cái bàn tay người đàn bà còn xinh còn trẻ ấy cọ xát, động chạm trên da thịt mình.


- Cậu để tôi đánh ở trán, ở mang tai. Nóng một tí chịu vậy nhé. Đi chơi đâu mà cảm thế này, rõ khổ.


Lưu ngoan ngoãn nằm như một đứa trẻ thơ dưới bàn tay chăm sóc thương yêu của mẹ. Bác Vạn cúi thấp xuống mặt nó, nó hé mắt nhìn mấy sợi tóc người đàn bà xõa xuống đôi mắt sáng và cặp má đỏ hây hây. Hơi thở người đàn bà phả vào mặt nó, ấm nóng. Một cảm giác dị thường chạy trong cơ thể nó như một làn gió dịu thổi vào một xác thịt đang rã rời.


- Phải đánh suốt hai đùi nữa, cậu hai ạ. Có thế mới tan được cái gió độc đi.


Bác Vạn rang xong mẻ cám khác, vén ngay ống quần nó lên, và lại sát nhẹ nhàng túi cám nóng bỏng. Lúc này, nó được tự do ngắm tóc, ngắm cổ, ngực người đàn bà theo chiều nghiêng.


Rồi bác Vạn đổ cám nguội vào bát, tươi cười.


- Thế là khỏi bệnh. Nóng quá rát cả tay.


Lưu làm ra mê mệt, rên rỉ:


- Bác đánh giúp cho lần nữa. Tôi thấy vẫn còn khó chịu lắm.


Bác Vạn gái mặc áo, kéo ống quần, đắp chăn cho nó:


- Thế là kỹ lắm rồi cậu ạ. Mọi khi nhà tôi cảm cũng chỉ đánh hai lần là giải gió độc ngay. Cứ đánh một giấc, lát nữa dạy ăn bát cháo hành là bệnh gì cũng hết.


Bác đon đả ra ngoài hàng. Nó thở một hơi dài khoan khoái và khúc khích ở trong chăn:


- Mình đã say lại đi ra gió thành ra càng ngấm say. Đánh gió, đánh cảm rối cả lên. Nhưng thế mà thích.


Rồi nó lẩm bẩm:


- Mẹ khỉ, lâu lắm mới được phiện một chầu, ngon quá, nhưng lại bị quỵ, thế có ức không. Chả bù ngày trước…


Chùm chăn kín cả đầu, nó nhắm đôi mắt mỏi mệt, lại nghĩ đến ba năm trọ học ở Hải Phòng. Cậu bé học sinh ấy đã theo một anh bạn lớn nhất và học dốt ngang mình vào một cái nhà lầu ở giữa những cống rãnh đường Hàng Kênh, nằm quây khay đèn thuốc phiện. Chú khách chủ tiệm đã trố mắt nhìn cậu bé con kéo điếu thuốc ròn tan một cách kính phục, và chú đã “hầy” một tiếng: “Nếu cái này đẻ ở bên Tàu thì cái này còn hút tài hơn thế nữa cơ”. Cậu ấm Lưu cho ngay đó là một lời khuyến khích. Lần sau được tiền của ông bà phủ gửi xuống, cậu ấm lại rủ bạn đến thăm chú khách. Bà phủ xuống thăm con, thấy con cứ xanh đi tưởng là con nó tạng đã yếu lại lo học quá, nhỡ lao thì khốn. Bà đem ngay cậu ấm về bồi bổ lại. Ở phủ, Lưu nhớ mùi, lại la cà đến chơi luôn nhà ông ký rượu vốn là một tay nghiện cựu truyền. Ông ký thấy cậu ấm có khiếu chơi khay đèn, một lần mời rỡn: “Cậu hút một điếu xem sao. Thú lắm!”. Thế là nó vớ ngay tẩu hút liền, với tất cả nghệ thuật một tay chơi. Ông ký ngạc nhiên hơn chú khách đường Hàng Kênh, nghĩ: “Thằng nhãi này có lẽ là cái oan trái hiện vào để báo oán cho thiên hạ đây. Đã thế thì cho nó phá”. Từ đó luôn luôn ông ký vẫy nó vào, ông hy sinh một tí để xem một cơ nghiệp đổ. Ông lặng lẽ hưởng cái thú tàn nhẫn của một người đưa dao sắc cho đứa trẻ nghịch tinh. Nhưng rồi vì một lẽ riêng, ông ký đem gia đình đi nơi khác. Cậu ấm ngẩn ngơ một độ, sau nó nghĩ ra diệu kế: thỉnh thoảng nó vờ kêu đau bụng để sà vào khay đèn ông phủ - “Thì ông Thừa tiêm cho cháu một liều nhỏ, hút vào là bách bệnh hết ngay chứ gì!” - Ông Thừa đưa dọc tẩu cho cậu ấm đã nằm gọn trong lòng bố. Cậu ấm hút tài đến nỗi ông phủ phải reo lên: “À thực là con nhà giòng. Thằng này giỏi!”. Cách vài hôm, nó lại vào buồng kêu nhức đầu - “Thì ông Thừa lại cho cháu một điếu nhỏ, xem nào!” - Bệnh cậu ấm lại khỏi ngay. Cứ thế, nó rức đầu đau bụng luôn luôn, và ông bố đã vô tình làm thày thuốc chữa bệnh cho con bằng ngoại khoa, mà bà mẹ không biết gì hết.


- Mẹ khỉ, mấy năm nay mới được phiện, ba chùy đã đảo điên. Xưa nay mình có nôn bao giờ đâu, hèn quá. Mai thử lại xem nào, chả lẽ lại nôn lần nữa.


Tiếng bác Vạn gái cười vui vẻ ngoài hàng.


- Đánh gió thế là cậu hai ngủ một giấc say. Bà Cả cứ yên tâm. Gió máy độc địa thế này là thường lắm.


Trong bọn khách ăn có một thầy lang cơ chừng vừa đi chữa bệnh về đang tin tưởng vào cái tài cứu nhân độ thế, bèn lên tiếng:


- Cậu nhà ta yếu thế nào, bà để tôi xem mạch giúp. Chỗ bà con, nhân qua đường thì giúp nhau, còn kê đơn, bốc thuốc hay không, cái đó tùy gia chủ.


Bác Vạn nhanh nhảu đáp:


- Cậu cháu cảm qua quýt, đánh gió đã tỉnh rồi, thôi cảm ơn cụ lắm.


Ông lang đã toan vào xem mạch bệnh nhân lại tiu nghỉu ngồi xuống. Ông lần lưng tìm một lúc rồi ngập ngừng:


- Tôi cân thuốc hết cả tiền. Chịu bà bát bún lần sau nhá.


Bà Hường dễ tính, thương người, từ khi dọn quán mất nợ cũng khá nhiều. Bác Vạn gái vẫn nói luôn: “Bán cái quà vặt này cứ phải tiền trao cháo múc, lịch sự với họ thì hết vốn” Nhưng bà Hường chưa hề chối từ ai cả.


- Dạ được, khi nào qua đây mời ông vào xơi nước.


Ông Lang cắp ô đứng dậy đi. Bác Vạn bảo bà Hường:


- Lang liếc quái gì lão ấy. Hắn vờ xin việc để khỏi phải trả tiền quà đấy. Bà cụ đến thật thà.


Bà Hường mỉm cười, thương hại:


- Người ta nợ mình, càng nhớ đến mình. Một đời mới có một phen chơi hội thế này, âu cũng là loanh quanh duyên nợ với nhau. Mai kia tan hội thì lại chia đi ai về chỗ ấy hay là đi xa hơn nữa, biết kiếp nào lại được gặp nhau. Tôi nghĩ thế nên chẳng muốn trách móc giận hờn gì ai cả. Thế nào xong thôi, bác ạ.


Vẻ mặt phúc hậu và giọng nói hiền dịu của bà Hường khiến bác Vạn cảm động trong khi đón miếng trầu bà đặt vào lòng bàn tay bác một cách ân cần. Giọng bác hạ thấp xuống thầm thì như lúc đọc kinh ở giáo đường.


- Cứ nghe bà nói, cháu lại nhớ đến bà Phước Ngọc ở nhà Chung quê cháu.


Bác nhìn ra nóc nhà thờ phơi màu đỏ nhạt trên lũy tre vàng thưa lá giữa cánh đồng nước đục.


- Lạy Đức Mẹ! Không biết bà Phước Ngọc có còn sống không. Người ấy mà chết vì loạn lạc thì tiếc quá. Đã biết bao nhiêu người đói rách, trẻ con côi được mang ơn bà cứu giúp.


Hồi chuông lễ ở nhà thờ giữa cánh đồng chiêm theo chiều gió vọng tới. Bác Vạn kín đáo làm dấu Chúa. Mấy người đàn bà mặc áo đen vừa đỗ gánh dưới gốc đa trước quán cũng kín đáo làm dấu Chúa như bác Vạn.


- A, cô Trâm về chợ kia rồi. Có quà bánh gì cho tôi không. Lại cả cô Đào nữa. Cô Đào thì hẳn là có nhiều quà.


Trâm đang vui chuyện với Đào suốt dọc đò, vừa đặt rổ xuống đầu ghế vừa cười nhìn bác Vạn.


- Cô Đào sắp có món quà quý lắm. Bác Vạn cứ gây trước dần dần cho tốt, rồi tha hồ mà đỏ miệng đỏ môi.


Bác Vạn cười to:


- Còn cô Trâm thì nung sẵn lò vôi nữa chứ, phải không cô Đào?


Đào đỏ mặt:


- Vâng, cau nhà cháu sắp biếu các ông các bà là cau mua tận Thủy Tú, Thủy Đường. Cho nên phải có vôi đào, trầu quế của cô Trâm, bác Vạn mới đủ say.


Một anh đánh dậm từ nẫy không ăn uống gì chỉ ngồi hút thuốc lào sòng sọc, bỗng cười phá lên:


- Thú quá!


Thế rồi say thuốc, anh ta lờ đờ mắt nhìn Đào. Mắt anh từ từ ríu lại, rớt rãi ở kẽ mép chảy ra, anh gục đầu xuống chõng. Bà Hường la sợ hãi:


- Làm sao bây giờ, bác Vạn ơi!


Bác Vạn điềm tĩnh như thường:


- Kệ hắn một lát. Rồi sẽ tỉnh. Bố cháu cũng say luôn như thế, có khi đang ngồi đò đâm cả đầu xuống nước cũng không chết nữa là!


Bác Vạn đã bước ra đường còn quay lại trêu Đào:


- Tại cô, nên hắn ta mới say đến thế. Bây giờ cô chỉ làm ơn gọi hắn một tiếng là tỉnh như thường.


- Cái bác này đến hay chế, chả bù bác trai cứ lì lì ra thôi.


Đào chạy vào đứng cạnh bà Hường:


- Bà cho cháu xin rổ đựng bún ban sáng. Cháu về kẻo muộn.


Bà Hường chỉ vào phía nhà trong:


- Tôi treo trên vách bếp, để tôi vào lấy.


Đào nhanh nhảu:


- Để cháu vào lấy cũng được. Nhân tiện cho cháu vào ao rửa cái chân.


Trâm đang ngồi nhẩm tính những thức vừa mua ở chợ, nói không ngẩng đầu lên:


- Thế thì tốt quá, cô vào lấy giúp rồi ra ăn trầu. Chóng, rồi chúng tôi làm giúp, đưa dâu.


Đào nhìn vào lưỡng lự:


- Có chó không ạ?


Trâm đáp:


- Làm gì có tiền mua chó. Cô cứ đi tự nhiên.


Đào đi thẳng vào bếp.


Lưu vừa chợt thức, mở mắt thấy một bóng người lướt qua giường mình. Bóng tối của gian buồng hẹp gài kín cửa chưa cho con mắt ngái ngủ của nó nhận rõ ra ai, nhưng nó ngờ ngợ rằng cái lưng thon và màu áo đồng lầm kia quen thuộc lắm.


Khi người con gái đã lấy rổ quay mặt trở ra thì Lưu thốt kêu khe khẽ:


- Ô này Đào, sao lại thế này?


Cơ hội đến mau quá mà cũng sẽ mất đi rất mau; cậu con trai cuồng dục, - sau một giấc ngủ chập chờn mơ toàn những hình thể lõa lồ - lúc này quả là một con quỷ. Liều lĩnh, nó vùng dậy nhanh như một con mèo, nhảy ra vồ lấy cả người Đào ghì chặt. Môi nó nóng bỏng tìm má Đào, mắt Đào, môi Đào, như một đứa trẻ nghịch vội vàng hái quả chua vườn cấm.


Đào thét một tiếng khá to. Bà Hường và Trâm chạy vội vào, sững sờ nhìn Đào đang rẫy trong cánh tay nó. Thấy mẹ và chị, nó rời Đào ra, ngã xuống giường chùm chăn kín cả đầu và thở trong đó như con chó dại.


Đầu tóc Đào xổ rối. Đào khổ sở, bẽn lẽn, yên lặng lùi ra đứng sau Trâm, vấn lại khăn.


Bà Hường và Trâm ở vào cái tình cảnh đau đớn, hổ thẹn, nhục nhã đến tê dại, ngẩn ngơ, không còn biết mở miệng mắng gì con, mắng gì em, và nói thế nào, xin lỗi thế nào với người con gái nhà lành ngoan ngoãn ấy.


Cuối cùng, Trâm cầm tay Đào dắt ra ngoài hàng. May mà từ nẫy khách ăn hàng đã đi hết. Trâm ngượng nghịu:


- Cô Đào tha thứ cho chúng tôi.


Má Đào bừng đỏ:


- Không ạ, em không nghĩ gì hết cả. Cậu ấy còn ít tuổi, em giận làm gì.


Rồi, lễ phép chào, Đào quảy gánh ra về.


Trong kia, đầu giường Lưu, bà Hường nói qua nước mắt:


- Cái nghiệp chướng này, mày còn báo những gì nữa đây? Me chết mất, Lưu ơi! Tao xấu nhục quá. Lưu ơi! Mới nứt mắt đã hư hỏng thế! Tiếng xấu lọt ra ngoài, me mày còn mặt mũi nào với thiên hạ nữa, thằng Lưu!


Lưu không cựa quậy và vờ ngáy, bà Hường nói chán lại thổn thức rồi bà thiếp đi.


Khải từ dưới bến đò, tiến về chiếc quán của mẹ.


- A, anh!


Trâm niềm nở đỡ Khải tháo ba lô nặng trên lưng xuống. Khải tươi tỉnh khác mọi lần. Anh xoa hai bàn tay vào nhau:


- Về chiều rét nhỉ? Cô có rét không?


Cô mải nhìn khẩu súng liên thanh Khải vừa dựng vào góc vách, ngây thơ đáp:


- Con nhà võ còn rét nữa là em. Anh có áo bông trấn thủ, còn em, anh trông, phong phanh có thế này.


Khải tự múc nước chè ra bát, cười hỏi cô qua hơi khói ở trong cóng nước bay lên:


- Thí dụ có người mang áo ấm dâng cô, cô có nhận không?


Cô đáp giọng xa xôi:


- Cái đó còn tùy chứ. Có những thứ áo ấm mà không ấm, và cũng có khi trái lại. Nói về cái ấm lạnh ở bên trong thì thực khó vô cùng.


Khải cười vẻ tư lự:


- Em tôi dạo này đâm ra sâu sắc nhỉ. Cuộc sống gai lửa ít lâu nay đã tạo cô gái hiền thành một thứ khí giới…


Cô chau mày một cách thông minh, ranh mãnh ngắt lời anh:


- Hay đã tạo ra một thứ kim đan rỉ, vì mùa đông này, không có len đan áo ấm, nhưng kể thì em vẫn cứ thấy ấm như thường.


Khải xem đồng hồ:


- Me đâu nhỉ! Hay cụ lại đi lễ rồi?


Cô hơi ngạc nhiên trước vẻ vội vã của người anh:


- Đáng lẽ me đi lễ rồi, nhưng hình như me rức đầu, nằm trong nhà ấy.


- Thằng Lưu đâu?


- Nó ốm.


- Lại ốm. Cứ như ông cụ ấy, còn ốm mãi.


Nhưng Khải đổi ngay ra vẻ mặt ôn hòa, vui vẻ như lúc mới về. Cô dò xét thái độ Khải, đoán là Khải cố ý tránh sự bực mình và chuyến này về hẳn là để nói với mẹ chuyện gì quan trọng đây. Khải huýt sáo, mở ba lô lấy thuốc lá hút. Trâm yên lặng đợi. Khải khoan thai vào nhà trong. Giọng Khải ngoan hiền như người con vắng nhà đã lâu ngày được về thăm cha mẹ:


- Me ngủ hay thức, me đỡ rức đầu chưa?


Bà Hường suốt đêm qua không ngủ, vừa rồi lại khóc; bà mệt, vừa ngủ chợp đi. Bừng mở mắt thấy con trai về, bà ngồi dậy:


- Thế mà me thiếp đi được đấy. Me tưởng con đi xa rồi.


- Đáng lẽ đi rồi, nhưng lại hoãn đến mai sớm mới đi. Lần này thì có lẽ còn lâu con mới về thăm nhà được.


Khải ngừng lại thở khói thuốc. Bà Hường yên lặng với cái băn khoăn thường có của người mẹ thương con những khi xa cách.


Khải nghiêm trang nói:


- Trước khi đi con cố về gặp me một lát để nói với me câu chuyện này…


Khải ngoảnh ra ngoài hàng:


- Cô Trâm, vào anh bảo.


Trâm vào, ngồi bên mẹ.


Khải điềm tĩnh nói:


- Con cần nói thẳng ngay vào việc, vì con phải đi ngay kẻo tối. Nguyên là con có một người bạn đồng ngũ…


Khải nhận thấy cái mỉm cười nhợt nhạt của Trâm, nhưng giọng Khải càng nghiêm chỉnh:


- Người bạn, về đức tính, tài năng, có thể bảo là khá lắm; về hình dạng thì tất nhiên khi là một người đàn ông đã nằm gai, gội nắng, ngót mười năm ở rừng núi, ở ngoại quốc trốn lẩn được về, thì anh ấy không thể nào đẹp như một sinh viên được. Điều ấy me và Trâm biết rộng hơn người ta, tất cũng không coi là quan trọng lắm. Cái quan trọng là me có một anh con rể tốt. Trâm cần sống với một người chồng có tài trí, có tình chung thủy với Trâm.


Bà Hường ngẩng nhìn Khải:


- Con quên là me và các con hiện đang có đại tang à?


Khải nghiêm trang đáp:


- Con biết là thể nào me cũng hỏi con câu đó. Nhưng hiếu để lòng, me ạ. Con tưởng một năm tang chế cũng đủ rồi. Có điều là từ khi phải ra đi, chính me và chúng con đều chẳng ai mang một dấu vết gì tang tóc trên người cả, bởi vì chúng ta không muốn ai hỏi đến và ở thâm tâm, cũng muốn quên đi. Vậy thì trong trường hợp này, sao lại không có thể châm chước, vả lại chúng ta đang sống ở thời cách mạng, thời loạn lạc, sự giản dị là cần hơn cả.


Bà Hường, giọng mệt mỏi:


- Thế ra người ta nhờ con nói thẳng ngay với me và em con?


- Vâng, chứ sao nữa ạ. Anh ấy nói với con từ bữa nọ, ban nẫy gặp, lại ân cần nhờ con nói với me, với Trâm.


Bà Hường với hộp trầu:


- Me tưởng cũng còn phải dò xét ra sao đã chứ?


- Loạn lạc thế này còn mối lái làm gì cho nhiễu việc. Mà ngày xưa me lấy thầy con chắc cũng vì yêu nhau, chứ không vì mối lái. Chính con cũng dò la chắc chắn hạnh kiểm, gia thế anh ta rồi. Bố mẹ anh ta ở tỉnh Bắc, là điền chủ, đã chết cả. Ruộng nương để lại cho anh ấy khá nhiều, nhưng cái đó mình không cần nhìn đến, vì mình không phải là hạng thèm ỷ lại.


Khải ngừng, nối điếu thuốc lá khác. Bà Hường và Trâm cùng yên lặng. Khải ngoảnh lại phía Trâm:


- Mai anh ấy sẽ đến, nếu tối nay được tôi cho biết ý me và ý cô. Cô nghĩ thế nào?


Từ lúc nghe chuyện, Trâm vẫn giữ vẻ mặt chán chường. Trâm nhìn lơ đãng ra sân sau:


- Em tưởng người ấy không phải đến, em biết rồi, mà me cũng biết rồi.


Trâm bấm tay mẹ:


- Cái anh chàng “hữu xạ tự nhiên hương” ấy mà, me nhớ chứ?


Bà Hường sực nhớ ra:


- A, me thấy người ta gọi anh ta là Tiến.


Khải đáp:


- Vâng, anh ta đấy. Tiến nó chất phác, vui vẻ, dễ dãi, nhưng ở trong quân đội, nó nổi tiếng là người thép. Đó là một thanh niên có tương lai.


Bà Hường nhìn con gái. Trâm vẫn giữ vẻ hoài nghi, chán nản. Bà Hường sực nhớ lại những cuộc tình duyên chua xót của mình ngày xưa. Hình ảnh ký ức gợn lên vài nét đơn sơ, não nuột, trôi rất mau qua riềm mi đẫm lệ, bà khẽ rùng mình.


- Me nghĩ thế nào? Trâm nữa, cô cho tôi biết, tôi phải đi ngay.


Bà Hường yên lặng, mấy giọt nước mắt lăn dài xuống má. Trâm nắm chặt bàn tay mẹ. Một niềm phẫn uất bỗng nổi trong lòng tự ái. Cô muốn nói ngay với Khải: “Anh không thể lấn ép tôi dễ dàng như thế được. Anh không có quyền định đoạt đời tôi. Mẹ con tôi không thể nào xa nhau được.”


Nhưng dầu sao, cô vẫn thấy một cái gì như là sự nể vì, sợ hãi trong lòng trước cái khuôn mặt rắn đanh, đôi mắt xếch, cái trán gồ, giọng khô khan hầu như không còn có tình của Khải. Cô nhận thấy ở mẹ mình cũng có vẻ gì như rụt rè, nể nang, sợ hãi, dẫu rằng Khải vẫn không dám tàn nhẫn lắm với mẹ mình.


Giọng Khải vẫn ôn tồn:


- Tôi nghĩ ít ra cô cũng cho tôi biết qua ý kiến trong khi mẹ còn suy nghĩ.


Trâm nhìn thẳng vào mặt Khải:


- Anh phải để me và em nghĩ đã. Anh hãy tưởng tượng me sẽ buồn đến thế nào khi không còn có em ở bên mình. Ai sẽ chăm sóc me khi đau ốm, ai sẽ giúp me lo sinh kế hàng ngày. Em cần phải nói thật với anh rằng sau cái đêm ba bị người ta xử, sớm hôm sau ba mẹ con được thả ra thì chỉ còn đủ thì giờ xách chiếc va li đựng mấy manh áo cũ, và trong lưng còn vài trăm bạc. Không nhờ có ngôi hàng nước này thì chết đói đã lâu rồi. Vậy mà anh bảo em đi lấy chồng.


Khải vẫn dịu dàng:


- Cô không lo. Tôi đã nghĩ đến tất cả những điều đó trước cô. Tôi định thu xếp đem me lên một tỉnh thượng du, ở đấy yên ổn và dễ sống hơn. Lấy Tiến, vợ chồng cô sẽ lên trên đó và sẽ ở cùng me. Còn tôi, tôi cũng ở trên đó nhiều hơn là ở dưới này. Như vậy tôi được gần me luôn và tôi sẽ có thì giờ săn sóc đến thằng Lưu, chứ để nó lêu lổng mãi thế này thì hỏng mất. Me nghĩ có phải không?


Bà Hường đáp qua tiếng thở dài:


- Tôi chưa biết nghĩ ra sao. Đợi anh về lần sau, me sẽ quyết định.


Khải đứng lên:


- Con xin đi kẻo tối.


Và để kết luận, giọng Khải trở nên đanh thép.


- Việc này, dù sao, cũng cứ coi như đã xong một nửa.


Khải nhìn cô, nửa nghiêm, nửa bỡn:


- Tôi chỉ muốn tất cả những người trong gia đình này sẽ sống khác đi, nghĩa là sẽ sống ra ngoài cái lề lối cũ, cắt đứt, bỏ hẳn những cái gì đã đổ nát ở sau lưng mình, nghĩa là cắt bỏ hẳn cái đuôi trưởng giả, cái đuôi phong kiến. Rồi Trâm sẽ đi xa, me cũng vậy, thằng Lưu cũng vậy, chúng ta đi thật xa. Rừng rậm núi cao sẽ là bức vạn lý trường thành che kín tầm mắt mình khỏi phải nhìn về phía những cái gì đã đổ nát, thối tha ở sau lưng mình. Tôi tưởng đó là một điều thú vị, Trâm còn lưỡng lự gì nữa. Trâm nghĩ kỹ xem.


Khải gõ mạnh giầy ra ngoài nhà, đeo ba lô, đeo súng rồi chào mẹ, ra đường. Bà Hường theo tiễn chân ra ngoài ngưỡng cửa, nhìn theo Khải đi xa khuất, lòng lo lắng. Ánh chiều đã xuống. Mây lại kéo kín cả trời. Mưa mù mịt và gió lại nổi lên lạnh buốt. Đường vắng tanh. Trâm kéo liếp, thắp đèn.


Lưu lách vào lừ lừ ngồi phịch xuống ghế, mắt đỏ ngầu nhìn mẹ và nhìn chị.


Bà Hường la lên:


- Con quỷ này! Mày ngủ trong chăn cơ mà?


Trâm cũng kêu sửng sốt:


- Rõ ràng nó nằm trong chăn, sao lại đầu ráo áo ướt thế kia. Đi đâu về thế?


Lưu lầm lầm nhìn vào vách:


- Đi đâu? Đi uống rượu?


Bà Hường kêu khổ sở:


- Con quỷ, mày đi uống rượu!


Lưu đảo mắt đúng vào cái chỗ Khải vừa dựng cây súng liên thanh:


- Con biết nó về, con ra đằng sau xé rào đến hàng trên ngã tư uống rượu để về chơi nhau với nó.


Bà Hường tiến sát gần Lưu:


- Cha con quỷ địa ngục! Mày bảo chơi nhau với ai đó?


Lưu cứ lừ lừ nhìn vào vách:


- Nó đi rồi à?


Bà Hường gần như khóc:


- Ai đi rồi?


- Thằng Khải!


Bà Hường nhìn sững vào cái mặt tái mét và sặc men của Lưu. Bà vụt nhớ đến những lời Sư bà và ông cụ già bữa nọ về câu chuyện oan gia, báo chướng. Bà thầm thì cái câu bà vẫn thường cay đắng thốt ra:


- Chao ôi, cái nghiệp chướng này, mày còn báo những gì nữa đây, thằng Lưu ơi!


Trâm xót xa thương mẹ:


- Thôi me mặc nó. Rồi lớn lên nó sẽ thay đổi tính, chứ bây giờ me kêu lắm cũng thế thôi.


Lưu đứng dậy, đi lảo đảo:


- Nó làm bộ thế thì tôi chịu làm sao được mãi. Thế nào nó cũng chết bởi tay tôi. Nó có súng, tôi có dao, tôi đâm nát ruột nó ra, chứ sợ à.


Bà Hường rít lên:


- Thôi con giỏi lắm. Tốt hơn là con cứ giết mẹ trước đi. Ôi chao ôi, cha hại con, em giết anh, rồi còn gì nữa hả trời?


Bà Hường òa lên khóc. Lòng Trâm se thắt lại. Cô nhìn Lưu. Cái mặt tái choắt như mặt khỉ, đôi mắt đục ngầu, suốt đời nhìn xuống đất, cô tuyệt vọng. Nó nghiêng vò nước đã gần cạn, múc nốc mấy gáo liền, giọng lè nhè:


- Tôi chán đời lắm, thất vọng vì tình, thất vọng về gia đình, sống làm cóc gì nữa mà chả chết cho xong.


Cô uất giận, quát lên:


- Im đi, thằng mất dạy. Ai dạy mày ăn nói như một thằng ăn cắp chợ? Con trai như thế mà không nhục nhã ư? Thà rằng mày là con nhà khốn nạn!


Nó trợn mắt nhìn cô, rồi lại nhìn xuống đất, vất cái gáo lăn ra cửa.


- Tôi không là con nhà khốn nạn thì là nhà gì? Chị tưởng nhà chị danh giá lắm, hả? Bố thì chết đâm chết bắn, thằng anh thì mục gông tù, con chị thì rồi làm đĩ, thằng này đây rồi thì chết bờ chết bụi, cho mà xem. À, chị tưởng nhà chị danh giá lắm đấy ư, danh giá con hàng nước!


Máu rực lên cuống họng. Trâm không còn sức kiềm chế nổi. Cô tát Lưu một cái vào giữa mồm. Nó ngã rúi xuống cạnh chõng hàng. Như con chó dại, nó đứng lên, lảo đảo vồ bát đĩa trên chõng ném vung khắp cả nhà, miệng thì hò hét. Mảnh sành bắn tứ tung. Bà Hường và cô chạy nép vào trong bếp.


Bác Vạn trai vừa lúc ấy đi qua. Bác đẩy liếp lách vào ôm chặt lấy nó. Nó rẫy đạp, cắn chửi cả bác Vạn. Tay bác Vạn bị đau, để nó tuột sổ ra. Nó lao đầu ra phía rổ bát toan bưng cả rổ ném bác Vạn. Nhưng tuột chân, nó ngã xấp xuống, vập mặt vào mấy mảnh thủy tinh. Bác Vạn ôm chặt Lưu, nhấc bổng lên.


Nó giãy giụa, vuốt máu ở mặt, thét chửi vang nhà. Bà Hường và Trâm chạy ra. Hai mẹ con luống cuống ôm lấy nó. Bà Hường rên rỉ:


- Giời ơi, con tôi chết mất, máu ra nhiều quá thế này. Bác Vạn cứu con tôi với.


Trâm bối rối đi tìm vải thấm máu ở mặt nó. Nó được thể càng nói hỗn. Bà Hường run lập cập:


- Thôi me xin con. Ngồi xuống cho me xem máu chẩy ở chỗ nào. Con hãy thương me, thương chị. Thực là lỗi ở me, tội cũng ở me, muôn vàn ở me hết. Me biết như vậy đã từ lâu rồi. Con ngồi xuống đây.


Thằng Lưu chịu ngồi, thôi gào thét. Bác Vạn thủ thỉ nói:


- Cậu Lưu gầy leo kheo thế mà cũng hăng ra phết. Tại cậu đập lọ kẹo, ngã úp vào mảnh thủy tinh! Ghê!


Trâm bưng vội thau nước ra, nhìn bác Vạn:


- Khổ, áo bác dính đầy máu thế này.


Bác Vạn cười rủ rỉ:


- Không sao ạ. Máu cậu ấy bắn vào cháu đấy.


Rồi bác chào như là những khi đi ăn cỗ no say, đứng dậy chào nhà chủ:


- Thôi chào bà, chào cô, cháu về đây ạ.


Mẹ con Trâm xin lỗi và cảm ơn bác Vạn hết lời, trong khi ấy thằng Lưu ngồi gục mặt xuống để cái bờm tóc bù xù rơi xõa, liếm máu me dưới trán. Bà Hường lau mặt cho nó, rồi nhai lá trầu trộn thuốc lào, rịt vào chỗ bị thương.


Nó lừ đừ đứng dậy vào giường nằm. Mệt lả, nó đặt mình là ngáy. Bà Hường cầm đèn vào, nhè nhẹ kéo chăn đắp cho con, rồi buông màn, rón rén cầm đèn soi muỗi. Thỉnh thoảng bà nghiêng nghiêng chiếc đèn, đầu thông phong in một khoanh lửa tròn vào lá màn để làm rơi một con muỗi vào bấc lửa. Bà kiên nhẫn làm cái việc buông màn soi muỗi, ấp lạnh quạt nồng cho chồng con như vậy đã mấy mươi năm trời rồi mà dường như chưa biết mỏi.


Nó cựa mình. Bà Hường cúi xuống chờ nó lại ngáy bà mới khẽ đặt lại miếng trầu nhá vào vết đau trên trán. Rồi nhẹ nhõm bước xuống đất, bà gài chân màn vào mép chiếu, cầm đèn ra nhà ngoài.


Từ nãy thu dọn xong, Trâm ngồi yên lặng chẻ rau mò trong bóng tối. Cô buồn bã nói:


- Mời me vào nghỉ trước, con chẻ nốt mớ rau này đã.


Bà Hường lặng lẽ đặt cây đèn hoa kỳ trên góc chõng, ánh sáng soi vào rổ rau trước mặt cô. Bà tần ngần nhìn vào vách, bóng cô in chìm chìm vào mầu đất vách, mờ xa như một bức tranh tố nữ cổ thời.


Bà vụt nhớ đến những đêm xưa mình đã nhìn bóng mình như vậy trong gian nhà lá ở khu vườn chuối bờ sông Hương. Người đàn ông, bố Khải, dăm hò mười hẹn mới đến một lần nhìn qua đứa con rồi lại vội vã, lén lút đi ngay.


Bóng Trâm cũng có những nét chìm chìm khổ hạnh, cô đơn, như bóng người mẹ ngày xưa ấy. Bà Hường cảm một cách mông mênh, thấm thía cái tình thương con, lo tương lai rồi đây không biết sẽ thế nào.


- Kìa mời me vào nghỉ. Me có vẻ mệt lắm, me cần phải ngủ. Lát nữa con vào.


Bà Hường lặng lẽ vào trong nhà. Cô nhìn theo mẹ, rồi lắng nghe tiếng giát giường tre khẽ động lẫn tiếng thở dài trong bóng tối.


Ngoài kia cây đa dào dạt gió. Cô đứng lên ra bên cạnh liếp, nhìn mưa đêm. Ánh đèn bên bác Vạn còn theo hình ô cửa liếp chiếu hắt ra mặt đường ướt át mấy vệt sáng chếch dài. Bên hàng bà Lý ở sau cây đa còn có tiếng trẻ khóc và tiếng khóc ru rời rạc của bà cụ già dỗ cháu.


Cô mỏi mệt vặn tắt ngọn đèn dầu, khẽ ghé mình bên mẹ. Trong bóng tối cô thấy hiện ra rõ rệt hình ảnh người đàn ông mà Khải định gá ghép vào cuộc đời mình. Người đàn ông ấy sẽ có đủ quyền phá hoại thanh xuân, hương nhụy của cô.


“Sao lại có thể dễ dàng như thế nhỉ!” - cô khẽ thầm thì, nghĩ đến những cuộc cưới xin của các cô gái nhà nghèo, người ta cũng mối mai xêu tết, cũng có lễ nghi đưa đón. Và cô nghĩ đến những cuộc tình duyên bèo bọt của lũ gái điếm vẫn thấy tả trong tiểu thuyết, tuy thế, người ta lấy nhau ít ra cũng vì một chút tình yêu. “Vậy mà mình, mình không hiểu anh ta ra sao cả, còn yêu thì, với con người ấy, có lẽ là một sự không bao giờ có được. Cái kiểu gì mà lại võ biền, cục kịch, ầm ỹ đến như thế được. Nhất là tiếng cười, thực là khả ố, cái tiếng cười rộn lên như một hồi còi báo động, nghe mà khiếp!” - Cô chán nản, buồn tủi và dần dần ý nghĩ oán hờn Khải xâm lấn cô như một vết dầu loang: “Khải thu xếp cuộc đời mình gọn như là gài một viên đạn vào nòng súng. Không, không thể như vậy được!”.


Cô nhắm mắt, úp mặt vào cánh tay. Má cô chạm vào chiếc vòng ngọc lạnh, ngón tay cô tìm vết rạn của chiếc vòng. Buồn mang mang, cô liên tưởng đến đời người con gái khi mà nhụy hương không còn nữa, khi mà cuộc tình duyên oan trái đã dãi dầu nhiều với gió sương.


Cô trằn trọc, thao thức mãi. Cố xua đuổi mà không được, trí não cô vẫn bị cái hình ảnh tăm tối ấy rỡn hiện trước mắt cô, như chú mèo đen vờn nghịch bông hoa cải vàng ngoài vườn nắng. Trí tưởng tượng của cô phác họa thử một cuộc hành trình miền ngược: Con đường dài thẳm xuyên hút mãi vào những khoảng rừng già, núi hiểm, trên đó hai người hai ngựa khuất vào bóng núi. Người chồng sóng cương đi ngang vợ, cùng lắng nghe tiếng yêu đương thầm thì với tiếng lá, tiếng chim… “Nhưng người đàn ông ấy sẽ không phải anh chàng bạn Khải. Một người khác kia, một người nào đó, trầm tĩnh, hiên ngang, tế nhị, sâu sắc, một người không ồn ào, ầm ỹ như anh chàng bạn Khải”.


Đêm khuya. Có tiếng ai gọi đò bên kia sông. Tiếng gọi trước còn nhỏ sau trở nên gắt gỏng. Trâm ái ngại nghĩ đến một bọn người áo mỏng đang mệt mỏi bên bờ trong đêm mưa rét. Cô rón rén bước xuống giường, định bụng ra gọi bác Vạn giúp người bên kia sông. Nhưng ngó qua khe liếp, cô đã thấy bác Vạn trai mặc áo tơi, cầm đu đưa chiếc đèn gió, vừa đi vừa lẩm bẩm:


- Rét mướt thế này, các bố đi đâu mà mò mẫm như ma thế, hả trời!


Ánh sáng chiếc đèn gió soi rõ hai bàn chân bác Vạn giẫm lép nhép trên đường bùn lội. Ánh đèn đã đi xa. Trong bóng tối loãng đêm thượng tuần, Trâm nhận thấy lờ mờ màu trắng của những chiếc bình vôi người ta xếp tự bao giờ dưới gốc cây đa cổ thụ quanh một bát bình hương phơi mưa nắng. Bà Hường ngày hai buổi: sớm mờ dọn hàng và tối che phên đi nghỉ, cứ nhớ lệ cắm vào cái bình da lươn mẻ sứt ba nén hương đen ngát. Đã có một vài người vào hàng ăn, đùa bảo: “Bọn phường chúng tôi đói thì đói cũng cứ nhịn, đến ăn bún gốc đa bà Huế” - Gốc đa bà Huế! Thoạt nghe, mẹ cô thấy rùng mình, cho là câu đùa bạo gở, nhưng người đàn bà đau khổ thành tâm tin tưởng vào mọi sức mạnh thánh thần ấy rồi cũng quên đi.


Ngày đầu mới đến đây, cô cũng rợn cái gốc đa cổ thụ. Người ta kể không biết bao nhiêu chuyện bà cô hiện lên đánh võng trên cành mà hát, cô gái mặc toàn đồ trắng xõa tóc trêu ghẹo khách qua đường. Nhưng đó là chuyện ngày xưa, thời chưa loạn, ở miền này thưa dân số, hàng quán không, đường xá suốt ngày mới có một người đi. Cá đầy ruộng, cua bò cả lên bờ. Hươu nai mạn ngược thỉnh thoảng xuống chơi rồi lại về mạn ngược.


Tiếng người nói rì rào ngoài bến đưa vẳng lại. Tiếng nói đến gần và sắp qua ngoài liếp. Cô ghé mắt nhìn ra. Một toán binh sĩ, áo quần nâu, ba lô và súng đạn trên lưng, xếp hàng đôi nói sì sào trong mưa gió. Tiếng giầy xăng đá át tiếng chân giẫm đất, kêu dạt dạt mặt đường cát sỏi. Một người trong bọn nói:


- Hàng quán đóng cả rồi, nghỉ đâu được bây giờ?


- Không nên quấy giấc ngủ của nhà hàng. Cứ đi cho đến sáng. Và xin yên lặng.


Họ lặng lẽ bước đều. Tiếng giầy đã xa xa, mà ngọn đèn gió còn lấp lóe trong bóng đêm.


Gió lùa qua kẽ phên, đưa vào hơi rét mướt. Cô đưa hai bàn tay lên ôm chặt đôi vai lạnh, vào giường nằm.


Bà Hường khẽ hỏi:


- Ngoài ấy mưa rét lắm hả con?


Cô gài kỹ màn xuống mép chiếu:


- Vâng, đã mưa lại gió thổi buốt quá. Con tưởng me ngủ rồi.


- Ngủ được dễ thế còn nói chuyện gì.


Ngừng một lát, bà hỏi:


- Binh sĩ họ đi đông lắm phải không?


Cô hơi ngạc nhiên:


- Vâng, sao me biết là binh sĩ?


- Nghe tiếng sì sào thì biết chứ. Thỉnh thoảng họ lại qua đây vào lúc khuya. Đã nhiều đêm. Cô ngủ chẳng biết gì cả.


Im một lát, bà Hường nói:


- Đời người lính khổ cực quá chừng. Biết đâu ban nãy chẳng có anh mày trong đoàn lính ấy.


- Không, đoàn này ở xuôi đi ngược lên cơ mà.


- Ừ thì đi ngược lên cũng có thể chứ sao. Cứ như ma ấy, lúc xuống xuôi khi lên ngược. Lận đận vất vả sớm hôm, may trời thương không đau ốm.


Lại im một lát, giọng bà Hường xa xôi:


- Nếu vừa rồi anh mày không đi qua đây thì đêm nay anh mày cũng đi con đường khác, hoặc leo núi, hoặc xuyên rừng, biết đâu…


Chuyện ngắt đi, hai mẹ con cùng yên lặng.


Chợt cô nghĩ đến anh chàng bạn Khải, - vô tình anh chàng cứ hiện ra làm chật chội, vướng bận tâm tưởng cô như một ám ảnh - “Có lẽ đêm nay chàng ta cũng phải đi như thế này, ai mà chẳng phải đi, họ có vẻ bí mật, quan trọng lắm, hình như sắp có việc gì dữ dội…”. Hình bóng đoàn người trẻ tuổi lầm lì và rầm rộ trong đêm lại mờ ảo dạo qua trước mắt, cô ngửa mặt nhìn lên đình màn, nghe tiếng gió rót vào những đoạn nứa khô ngoài vách thủng kêu thành tiếng vo vo như sáo diều.


Cô kéo chăn ủ đôi vai lạnh:


- Ngoài đường gió rét ghê.


Bà Hường nhích gối gần vào gối con gái, giọng người mẹ chứa đầy thương xót:


- Ban chiều có thấy anh mày mặc áo trấn thủ không đấy?


- Thưa mẹ, anh con có mặc.


Bà Hường lại im lặng. Trâm quay nghiêng vào vách mỉm cười với ý nghĩ của mình: “Giá bây giờ mình cứ nghĩ rằng người ấy xông pha mưa gió! Nghĩ để mà trạnh mối tình yêu thương kẻ gió mưa. Và người ngoài gió mưa kia, do thần giao cách cảm, biết rằng mình nghĩ đến thì cũng được ấm lòng đôi chút. Nhưng đằng này thì…”. Trâm ngao ngán: “… chán gớm đi. Chả ra làm sao cả! Không biết rồi có thoát được không. Hay là lại trời xanh quen thói… thì chết mất”. Ý nghĩ lan man ấy khiến cô bất giác thở dài. Cô sực nhớ mẹ nằm bên cạnh, vội giơ bàn tay vỗ bâng quơ:


- Con muỗi mắt cứ vo vo dưới gối sốt cả ruột. Con quạt màn lại me nhớ!


- Quạt làm gì lạnh chết, để me thắp đèn soi.


- Thôi me ạ, muỗi mắt soi cũng chả bắt được nó đâu. Me trở dậy con lạnh lắm.


Đoạn Trâm nũng nịu rúc vào gần mẹ:


- Có số cả me ạ. Me bảo có phải không?


- Số thế nào cô?


- Số bị muỗi đốt, mình cứ cố tránh mà nó cứ cố đốt, rút cục mình cứ bị đau như thường. Mẹ bảo có phải không?


Bà Hường chép miệng:


- Chuyện cô nhức cả đầu! Thôi ngủ đi khuya rồi. Mai còn dậy sớm làm hàng chứ.


Nói đến chuyện làm hàng, bà Hường và Trâm cùng một lúc nghĩ đến Đào. Cô hàng bún tóc sổ, má đỏ bừng, khuy áo tuột, hiện ra giữa tiếng ngáy của cậu bé mặt xanh say rượu ở giường bên. Cô khẽ nói:


- Chẳng biết mai cô ấy có đem bún đến không. Hay là thẹn.


Bà Hường khổ não nhắc lại cái câu nguyền rủa thường quen miệng:


- Cha thằng quỷ! Không biết nó còn báo chướng đến bao giờ!


Hai mẹ con im lặng, rồi ngủ thiếp đi.


Sớm hôm sau, mẹ con cô lại dậy sớm như thường lệ để chịu rét mướt nhắc lại các công việc vụn vặt, chán nản của một ngôi hàng quà: vò nước chè tươi trong ngon, nồi riêu cua váng hành mỡ, liễn chè bà cốt dậy mùi gừng, đĩa rau muống chẻ công phu, bát đĩa rửa lau sạch bóng, dĩ chí cái tăm cũng vót tinh vi, và “đặc biệt nhất là đĩa muối ớt của hàng gốc đa bà Huế” - ấy là lời khen của khách hàng sành miệng.


Trâm đang lo không có bún thì nhỡ hết thế mà Đào đã đon đả dẻo dang quảy gánh bún nặng từ xa tới kia. Đào đỗ gánh, tươi tỉnh như mọi sáng, nói với cô:


- Em cố xếp bún sớm cho hàng nhà ta. Cứ lo bà với cô phải nhắc.


- Cô Đào tốt quá! Cám ơn cô.


Đào theo lệ đặt rá bún lên đầu chõng rồi ghé tai Trâm nói thầm:


- Mai chị đi chợ Núi mua giúp em ít lụa may áo. Em quê mùa mua lụa không quen, phải nhờ tay người tỉnh.


Mắt Đào sáng khác thường, cô đoán:


- Sắm áo cưới phải không? Nhận thì tôi mua giúp.


Đào cười, mắt đen láy:


- Chịu thầy.


Rồi Đào bước ra đường, đặt gánh bún nặng lên vai, nói với vào trong hàng:


- Mai em xuống rủ chị đi giúp đấy. Đừng làm nhỡ em, phải tội.


Đào đi rồi, cô còn nghĩ ngợi. Cô tiếc không được Đào làm em dâu. Nhưng nghĩ đến thằng Lưu, cô lại buồn rầu: “Ai mà lấy nó cứ cầm bằng tự tử.” Cô thường nghĩ vậy mỗi khi thấy nó toe toét, lấm lét trước bất cứ một gái nào đi qua đường hoặc vào ăn quà, uống nước. Trâm lan man nghĩ đến ngày cưới Đào, cô dâu thì áo the quần lĩnh, chú rể thì quần trắng áo lương; hai vợ chồng sẽ yên phận yêu nhau, ăn ở với nhau, thủ thỉ như một đôi gà bên đống rạ, cuộc đời không sóng gió. “Còn mình…”. Cô rưng rưng nước mắt. Đầu cô cúi xuống, hai tay rời rã đặt trên lòng, Trâm lơ đãng nhìn ra cánh đồng nước rộng ngoài kia. Nắng hoe hoe ấm. Mấy chiếc cò mệt mỏi từ đâu xa bay đến đậu trên bụi cói nước vật vờ gió đưa - “Còn mình thì cũng đến lênh đênh, bởi không biết tại sao độ này mình cứ nghĩ đến chuyện lênh đênh. Có lẽ là số kiếp”. Tâm trí cô lại trở về với Đào. Vô tình mà rồi ngẩn ngơ, cô cũng nghĩ hệt như bà Hường hôm nhìn vợ chồng bác Vạn chụm vào nhau đi ra bến. “Ấy thà cứ mộc mạc nhà quê thế cũng xong…” Rồi cô chép miệng: “Dầu sao, người ta cũng hơn mình”.


- A kìa may quá, chị Trâm, tôi đang hỏi thăm. May quá.


Cô vội ngẩng lên, ngợ một chút rồi reo mừng.


- Ô dì Liễu!


Cô ngoảnh vào trong nhà:


- Me ơi, dì Liễu!


Cô bước nhanh ra đỡ hộ người đàn bà cái bọc nặng trong khi người ấy, ở tay kia, còn lê chiếc va ly cũng nặng như cái bọc:


- Khổ, nặng thế này mà dì đèo bồng được thì giỏi thật. Dì ở đâu đến?


Người đàn bà thở phì phào, sung sướng:


- Tôi ở cách đây ba mươi cây số, từ hồi tản cư. Tôi vẫn nghe ngóng tin tức nhà ta. Có người bảo ở đây. Tôi cứ liều đi tìm, thế mà gặp thì may thật.


Liễu nói láu táu vì mừng quá trong khi cô múc bát nước trong bưng mời:


- Dì ngồi xơi nước cho đỡ mệt rồi hãy nói. Chắc là còn lắm chuyện hay.


Lũ trẻ bên bác Vạn chạy cả sang, đứng quây nhìn người khách lạ búi tóc, áo tân thời, răng trắng, Liễu vừa thổi nước nóng, vừa láu táu:


- Tôi nhớ quá mà không biết làm sao gặp được. Từ hôm được tin quan lớn nhà…


Liễu òa lên khóc, Trâm vội bấm:


- Chết, dì Liễu đừng khóc thế. Mời dì vào nhà trong, me ở trong ấy.


Liễu nín bặt ngay được, dễ khóc và dễ nín như người con dâu thảo khóc mẹ chồng. Cô dắt Liễu vào trong sân. Bà Hường ngoảnh nhìn Liễu qua chiếc áo bà ba đang phơi trên sào nứa. Bà niềm nở:


- Chị Liễu đấy à. Thế nào mà lại tìm được đến đây?


- Thưa bà, em đi khắp các chợ để tìm kiếm, thăm hỏi gia đình nhà ta. Mãi mới gặp vợ bác cai Cơ, bác cho biết nhà ta dọn hàng ở bên này. Em cứ lo không gặp, lại phải quay về những ba mươi cây số thì nguy quá.


Có khách vào ăn hàng. Cô chạy ra.


Liễu lại òa khóc dễ dàng như ban nãy:


- Thưa bà, ông lớn nhà ta… Ới ông ơi…


Bà Hường nắm cánh tay Liễu và thấp giọng:


- Thôi chuyện cũ qua rồi, nhắc lại làm gì thêm khổ tâm. Vả lại đời bây giờ khác hẳn, người ta không ưa thích những cái quan sang đài các nữa. Chị chớ có đả động gì chuyện cũ mà cũng chớ hở cho ai biết. Từ ngày lưu lạc đến giờ, mẹ con chúng tôi rau cháo qua lần, không dám hé răng cho ai biết mình là ai cả. Phải quên cả đi mới sống được ở cái thời này.


Liễu lau nước mắt. Bà Hường ôn tồn bảo:


- Chị đã tìm được đến với chúng tôi thì ở hẳn đây. Đỉnh chung có nhau, rau cháo cũng có nhau. Chị rửa mặt rửa chân đi rồi ra uống nước. Đi đường xa chắc mệt. Thế đêm qua ngủ ở đâu?


- Em ngủ cách đây cũng gần thôi, giá cứ cố đi cũng kịp, nhưng sợ không tìm được đến nhà ta thì khốn.


Bà Hường ra ngoài nhà. Liễu cởi áo dài, áo cánh vắt lên sào phơi rồi múc chậu nước đầy rửa mặt, lau mình. Nước lạnh, nhưng Liễu cũng lau cọ vai nách, cánh tay rồi vén cao ống quần rửa cho đến gót.


Ở trong nhà, thằng Lưu đã dạy từ ban nãy. Nó đã nghe tiếng và trông thấy mặt người vợ lẽ của bố mình nhưng còn ngại rét chưa muốn thò chân xuống đất. Nó ngồi chùm chăn, chọc ngón tay vào lỗ vách thủng sẵn khoét rộng thêm, nhìn ra sân. Người dì ghẻ hồng hào, mũm mĩm đang cởi trần vén đùi để vô tình cho Lưu ngây ngất ngắm mầu da trắng như mỡ đọng.


Một lúc sau Liễu mặc áo, búi lại tóc, soi kỹ lưỡng vào chiếc gương con. Khi thấy Liễu sắp ra ngoài hàng, nó lại nằm xuống trùm chăn, chỉ để hở hai con mắt. Nó co người trong chăn ấm nghe cái cảm giác tê mê chạy trong da thịt. Nó nao nao nhớ lại ngày nào, dì Liễu đã xoa đầu vuốt má nó, mua phở cho nó ăn và trêu: “Chú bé Lưu rồi sau ghê lắm đây, ít tuổi mà đã dễ tính, lẳng lơ ra dáng, giống bố y như hệt”. Ông phủ cười hềnh hệch, cấu vào đùi dì Liễu. Và đêm ấy dì Liễu cứ kéo nó lên giường ngủ. Nó nằm bên trong, dì Liễu nằm giữa, ba nó nằm ngoài. Hồi ấy, nó mười bốn tuổi, nhưng không dại như mọi trẻ, cho nên nó đã hé mắt tò mò, như bây giờ nó vừa mới tò mò nhìn lại, cái màu da trắng nhễ nhại đã phơi dưới ánh đèn dầu lạc đêm nào.


Dì Liễu còn xinh, trẻ, mới ba mươi tuổi hoặc hơn một chút, dì Liễu có vẻ béo đẹp hơn xưa và bây giờ cạo răng trắng, lại búi tóc, nhổ lông mày, mặc áo tân thời, quần trắng. Trước kia, hồi lấy ba Lưu, sống cách biệt ở một tỉnh nhỏ cách phủ hai giờ xe hơi, dì Liễu còn cố giữ vẻ cô gái bán hàng tạp hóa khăn nhung, áo the, quần lĩnh. Cho đến ngày dì Liễu được về phủ chào me Lưu để thành cô nàng hầu chính thức của ông phủ thì dì Liễu đã quần lĩnh, áo the, và răng đen nhánh. Thời kỳ dì Liễu ở phủ chỉ chừng ba bốn tháng rồi không biết nghĩ thế nào, ba Lưu lại thầm thì bảo dì Liễu về chốn cũ. Sau đó ít ngày thì ông phủ ra người thiên cổ. Loạn ly, dì Liễu xiêu giạt đi đâu, đôi khi bà Hường và Trâm cũng nghĩ đến, nhưng rồi me Lưu chỉ chặc lưỡi: “Nó còn nhan sắc, còn son rỗi, lo gì chẳng có tay bồng tay bế”.


Liễu ra ngoài hàng. Bà Hường vừa tiếp xong bọn khách, bảo Trâm:


- Con lấy trầu nước dì ăn.


Trâm cười:


- Nước thì dì Liễu uống, còn trầu của me thì dì Liễu không thích như ngày trước nữa.


Liễu che nửa miệng cười. Bà Hường nhận thấy hàm răng trắng nõn của Liễu thì hơi cau mày. Có lẽ bà thoáng nhớ ngày xưa cô nàng hầu ấy nết na ngồi khép nép trên chiếc ghế dài kê xa sập bà ngồi để bổ cau tươi phơi, hoặc cuộn thuốc lá ướp hoa sói bỏ đầy chiếc hộp bạc hiện giờ còn giấu dưới chõng hàng.


Trâm tinh ý nhận thấy cái chau mày của mẹ, bèn lảng ra chuyện khác:


- Nắng gió này mà nhuộm thì tốt lắm. Con đã mua nâu rồi, hôm nay nhuộm nốt nữa là xong.


Trâm quay sang Liễu:


- Dì có nhuộm gì không? Nhuộm một thể cho vui dì ạ. Mầu nâu bây giờ là mầu đẹp nhất. Da trắng như dì mặc mầu nâu càng đẹp. Ở vùng đây, cái màu trắng không ăn với mầu nước đồng chiêm.


Lưu ở trong nhà ra chào Liễu.


Liễu cười lộ cả hàm răng trắng:


- Anh Lưu! Gớm, thấm thoắt thế mà đã lớn thế kia rồi. Vừa mới ngày nào!


Nghĩ ngay đến cái đêm ngủ chung giường, nó cười ranh mãnh:


- Vâng, vừa mới ngày nào, dì Liễu nhỉ!


Và thằng Lưu hóm hỉnh cười với cái ý nghĩ ở trong đầu. Sao lại không nói “vừa mới đêm nào” có thích hơn không? Nó sán ngồi ngay cùng ghế với dì Liễu, hỏi sỗ sàng:


- Dì đã có em ẵm chưa?


Liễu cười đỏ má:


- Làm gì mà có em. Anh ngủ nhiều quá quên mất cả.


Trâm nói:


- Bây giờ ta tổ chức một cuộc đi đào cang củ nhuộm cho đẹp áo. Nhưng ở vùng trên mới có phải đi xa lắm.


Thằng Lưu quên cả giận Trâm, có lẽ vì nó đang sung sướng rằng đã có thêm một người đàn bà vào cái gia đình tẻ ngắt của mình:


- Em biết ở cái đồi gần đây có bụi cang. Có đi, em dẫn lối.


Trâm bảo:


- Cậu đi một mình cũng được. Còn lôi kéo ai đi nữa.


Nó dỗi:


- Thì thôi. Đi thì đi cả. Một mình em cuốc thế nào. Đất đồi rắn, mà cành cang lại lắm gai như bụi tầm xuân.


Bà Hường muốn cho ổn thỏa và muốn nó quên hết giận, vui vẻ nói:


- Thì đi cả vậy. Nhân thể dì Liễu chưa biết vùng trên, đưa dì đi chơi một tý. Nhưng hãy ăn đã chứ.


Nó nhanh nhẩu:


- Để con vo gạo cho. Chị Trâm nhặt rau. Dì Liễu róm bếp. Phân công cho chóng.


Nó nhảy nhót, hát ầm lên. Bà Hường không mắng nó như mọi bận. Suốt đêm qua bà đau đớn thương nó, lo lắng nó tác quái. Bây giờ, tự nhiên thấy nó vui vẻ, bà nghĩ rằng dễ thường vì sự có mặt của Liễu, người đàn bà, dù sao, cũng đã dự vào cái gia đình phong lưu phú quý của mình. Ý nghĩ ấy gây cho bà thêm thiện cảm với Liễu.


Bữa cơm làm ra rất chóng. Bà Hường ăn hơn mọi bữa được lưng bát nữa. Rồi ba người ra đi. Qua hàng bác Vạn, nó vào mượn chiếc cuốc. Bác Vạn gái ngắm người đàn bà lạ mặt đã đi xa một quãng, mới ngoảnh lại bác Vạn trai đang xoay tròn chai rượu trên đĩa đậu:


- Người đẹp nhỉ! Gần bằng cô Trâm. Quái, nhà ấy ai cũng đẹp, trừ cậu Lưu.


Bác Vạn trai nói với cái chai:


- Chuyện! Sao lại không đẹp. Tôi biết rồi.


Bác gái nhìn chồng, vặn:


- Biết thế nào thì nói đi.


- Biết rồi, chuyện!


- Chuyện thế nào, biết làm sao?


Bác trai tự nhiên nổi cơn khùng.


- Nào ai biết! Cái gì cũng hỏi.


Câu chuyện loanh quanh để cho có chuyện cùng với người chồng lành hiền, dớ dẩn như thế là thường. Bác Vạn gái chỉ còn biết vào bếp đứng vỗ khẽ vào đít đứa con cứ đòi sà vào lòng bố:


- Mày lại đến cung rượu chè, gàn dở giống bố mày! Chồng với con! Chán gớm!


Ba người đã đi xa. Lưu vác cuốc lên vai vừa hát vừa chỉ trỏ đồng ruộng, xóm làng, những đồi cỏ phía xa điểm thưa mấy chòm thông cỗi.


Đến gần làng Dã, một bà cụ - mẹ Đào - xoắn xuýt mời cả bọn vào chơi, Trâm từ chối, nhưng bà cụ cứ ép nài, Lưu tóm ngay cơ hội tốt:


- Thì chị Trâm vào chơi trong ấy với cụ, còn em với dì Liễu lên đồi cuốc cang. Lát nữa về em đứng ngoài bờ rào gọi.


Trâm ưng thuận. Thế là trên con đường đi về phía đồi cách đấy còn hai cây số, chỉ còn thằng Lưu và dì Liễu. Liễu cùng hay nói chuyện như nó. Hai người nói cười vui vẻ, ai đi đường cũng cho là hai chị em. Liễu kể những chuyện tản cư, và Liễu cười ngặt nghẽo khi nhắc đến cái anh chàng lẩm cẩm đã ba vợ, tám con còn cứ theo đuổi Liễu, mà Liễu thì ghét anh chàng thậm tệ.


Qua một lần nghỉ chân nữa, hai người leo lên đồi. Bốn bề vắng ngắt. Liễu đi sát vào nó:


- Có rắn không? Tôi thấy rờn rợn cả người.


Nó hóm hỉnh, vờ làm ra sợ hãi:


- Kể cũng có rắn. Nhưng dì cứ đi sát vào tôi. Đã có cái cuốc này còn lo gì nữa.


Liễu vén quần bước qua những khóm cỏ ràng ràng sắc nhọn. Nó dẫn Liễu đi quặt mãi ra phía bên kia đồi.


- Bụi củ cang đây rồi, may quá.


Nó cởi chiếc áo tây ngoài đưa Liễu. Liễu đỡ chiếc áo đứng bên mỉm cười ngắm Lưu cầm cuốc loay hoay tìm bới, cuốc củ lên. Cố ý để gai đâm vào tay, Lưu vờ nhăn nhó. Liễu cầm tay nó xoa xuýt hộ.


- Đưa tôi cuốc cho nào, anh yếu lắm.


Nó cười ưỡn ngực ra:


- Dì tưởng tôi yếu à? Tôi ra tay cho xem nhé.


Nó hăm hở cuốc băng băng. Một lúc xới bật lên mấy tảng củ cang già, chất thành một đống. Lưu thở ngồi bệt xuống trong khi Liễu buộc củ cang lại thành xâu để xách.


Nó hết mệt, đứng lên:


- Chúng ta lên đỉnh đồi chơi, trên ấy có ngôi đền cổ, đẹp lắm.


Lưu bạo dạn cầm ngay tay dì Liễu kéo đi. Liễu không rụt bàn tay lại. Lên đỉnh đồi, nó đưa dì Liễu vào ngôi đền bỏ hoang, mái sạt vỡ, và trong cung trơ trụi không có tượng. Hai người đứng trong bóng tối mờ mờ, lạnh giá, gây gây mùi dơi chuột. Nó đứng sát vào dì Liễu. Rồi thốt nhiên, nó ôm chặt lấy dì Liễu một cách dữ dội si cuồng, như là nó đã ôm Đào. Nhưng lần này, người dì ghẻ trẻ đẹp có cái xác thịt đẫy đà, có đôi mắt đong đưa ấy không cưỡng nó như cô gái tơ sắp cưới kia. Nó say sưa tìm môi, tìm má, tìm hàm răng mới đánh trắng của người đàn bà đã ăn nằm với bố, và đã đặt nó nằm cạnh ngày nó còn nhỏ tuổi. Người đàn bà có mầu da nhễ nhại khiến nó thèm thuồng ban sáng, lúc này ở trong tay nó, dễ dãi. Người đàn bà từ khi xa chăn gối cùng ông phủ Mạnh, đã lang chạ dăm ba lần những ngày loạn lạc, bây giờ là con rắn lửa quấn chặt lấy đứa con chồng.


Đôi trai gái ngã khụy xuống nền gạch ẩm. Nó bị kìm cặp, bị ngạt thở, nhưng mà đê mê, thỏa mãn trong cánh tay dì Liễu.


Lúc sau, hai người xuống khỏi đồi. Trên đường về, nó ít nói, nhưng dì Liễu lại nói cười nhiều hơn lúc ra đi.


- A, chị Trâm cũng vừa ở trong làng ra kia. Cả cô nào nữa, gái quê mà đẹp thế.


Nó đang gục đầu bước, bỗng ngẩng lên. Nó thấy Đào đẹp hơn bao giờ hết. Chiếc áo cánh phin mới, chiếc quần lụa đen, tấm bao lưng đũi màu hoa lý, đôi guốc quai da láng, thế thôi, Đào có một vẻ đẹp bình dị, trong trắng và vô tội.


Nhác thấy thằng Lưu, Đào dặn dò Trâm thêm mấy câu, rồi vội quay vào xóm. Trâm rảo bước ra ngoài đường lớn, tươi cười nói:


- Lấy được nhiều cang nhỉ. Ai cuốc mà giỏi thế?


Liễu đáp:


- Một mình anh Lưu.


Nó toan cãi: “Cả dì nữa chứ” - nhưng nó còn mải ngoảnh nhìn cái áo cánh trắng phin đang đi khuất vào xóm Giếng.


Dọc đường, nó lì lì, cúi xuống uể oải bước sau hai người. Dì Liễu hết chuyện, không còn biết nói gì để mà cười nữa. Trâm thì tự nhiên thấy trong lòng vương vấn một mối buồn.


Về đến quán, bà Hường chờ Liễu và nó vào trong sân rồi bà mới mắng yêu con gái:


- Chả về sớm hơn một tí. Nhà có khách.


- Con tưởng bán hàng thì lúc nào mà không có khách.


Bà Hường cười gượng gạo:


- Khách của cô cơ mà.


Trâm ngơ ngẩn:


- Ai thế ạ?


Bà Hường bảo con gái ngồi xuống cạnh và nói nhỏ:


- Vừa rồi có hai ông cụ già xưng là chú, bác anh Tiến đến dạm xin cô cho anh ta.


Trâm lặng hẳn đi, không ngờ câu chuyện chẳng ra thế nào mà đột nhiên có vẻ quan trọng như thế được.


Bà Hường tiếp:


- Me chả biết trả lời sao cả.


Trâm gay gắt:


- Từ chối phắt đi, chứ còn sao nữa ạ.


Bà Hường mở hộp trầu cau lấy bức thư của Khải do cậu bé liên lạc vừa đem đến.


- Con đọc xem. Me thật là khó nghĩ.


Trâm đưa mắt đọc thầm:


Me và em Trâm,


Thưa me, con đi chuyến này khá xa, sang tháng mới về thăm nhà được. Câu chuyện nhân duyên của em Trâm mong rằng me và em Trâm nên nghĩ kỹ, quyết định ngay được thì hay lắm. Tiến là một người mà chúng ta có thể mở rộng cửa gia đình để đón vào. Con xin nhắc lại rằng mai kia con sẽ đem me lên một tỉnh miền trên. Lưu sẽ theo con đi làm việc, còn Trâm với Tiến thì hoặc ở với me, hoặc ở trong đồn điền của Tiến cũng ở cái tỉnh con vừa nói đó. Như vậy, cuộc sống sẽ rộng rãi, sáng sủa, mạnh mẽ hơn. Thực tâm, con chỉ muốn me quên hết, cắt quyết liệt cái mẩu đuôi dĩ vãng. Nhất là Trâm, Trâm sẽ phải sống một cách khác đi. Trâm không còn là một cái cây non yếu để cho lớp rêu phong kiến cũ bám vào.


Me và Trâm nghĩ kíp cho để trả lời người nhà Tiến. Hôn lẽ sẽ hết mậc giản dị, theo thời loạn. Và, con nhắc lại, sang tháng sau, xong công việc, con sẽ về đưa me lên miền trên ở gần Trâm vì con tin rằng Trâm sẽ lên đó trước me. Gia đình chúng ta sẽ êm ấm xây dựng ở một chân trời mà chung quanh ta chỉ có những tâm hồn mạnh, những con mắt sáng, những cánh tay sắt, những đầu óc có kỷ luật làm việc cho một tương lai đất nước. Không nuôi nước mắt, không quay lại tiếc than vô ích cái đuôi cổ hủ, lỗi thời. Một lần nữa, xin me, em quyết định. Dù sao thì sau khi me và Trâm đọc thư này, con tin rằng việc đã ổn thỏa cả rồi.


 


Trâm cắn chặt môi. Cô thấy bức thư Khải là một cái lệnh, cố tình buộc cô phải theo, mẹ và cô không được cưỡng.


-          Ô hay, thế này là nghĩa làm sao?


(còn tiếp)


Nguồn: Quán gió. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB Hương Sơn, 1948. Tác giả chỉnh lý năm 1991.


-          www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »