tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 25000035
Tiểu thuyết
21.03.2013
G. G. Marquez
Trăm năm cô đơn

Đó là một đêm tháng Bảy đẹp trời, trăng thanh gió mát và bọn họ thức suốt đêm vần nhau cho đến lúc rạng đông, không để ý tới gió lùa vào phòng mang theo tiếng than khóc của gia quyến Pruđênxiô Aghila.


Đám tang này được liệt hạng đám tang danh dự, nhưng cả hai đều dằn vặt lương tâm. Có một đêm mất ngủ, Ucsula ra sân uống nước, đã nhìn thấy Pruđênxiô Aghila đứng ngay bên cạnh chum. Anh ta đứng đấy, xanh tái, vẻ rầu rĩ, đang muốn dùng nắm rơm cọ bát để nhét vào lỗ thủng nơi cổ họng. Cô không hãi nhưng mủi lòng thay. Cô trở vào phòng kể lại cho chồng nghe điều mắt mình nhìn thấy, nhưng anh không tin. "Những người chết không đi ra khỏi phần mộ của mình" anh nói. "Chẳng qua là chúng mình không chịu nổi sự giày vò của lương tâm mình thôi".


Hai đêm sau, Ucsula lại nhìn thấy Pruđênxiô Aghila ở trong nhà tắm, đang dùng bã lau lau vết máu đọng lại ở cổ. Đêm khác cô lại thấy anh ta đang đi lại dưới trời mưa. Giận dữ trước việc vợ mình nhìn thấy ma, Hôsê Accađiô Buênđya cầm giáo bước ra sân. Quả nhiên bóng ma rầu rĩ đang đứng ở đấy.


- Cút mẹ mày đi! - Hôsê Accađiô Buênđya gào lên - Mày mà cứ lảng vảng ở đây ông sẽ giết!


Pruđênxiô Aghila không đi, Hôsê Accađiô Buênđya cũng không dám phóng cây giáo. Từ đấy về sau anh không thể ngủ ngon giấc, bị dằn vặt bởi chính nỗi buồn mênh mang của người chết từ trong mưa nhìn anh, bởi chính nỗi thương cảm sâu sắc của người chết đối với những người sống, bởi chính cơn khát của người chết lục khắp nhà để tìm nước dấp bã lau. "Có lẽ anh ta đau khổ lắm" Ucsula nói với chồng. "Anh ta quá lẻ loi". Cô càng cảm động hơn khi lần gần đây nhìn thấy bóng ma đang mở vung nồi thì cô hiểu cái mà nó đang tìm, và kể từ lần ấy, cô đặt những tô nước ở khắp nhà cho nó. Một đêm nọ, bắt gặp bóng ma đang rửa vết thương ở ngay phòng mình, Hôsê Accađiô Buênđya không thể chịu được thêm nữa, đã nói:


- Được rồi, Pruđênxiô ạ - anh nói với bóng ma - chúng tôi sẽ đi khỏi làng này, đến nơi xa nhất có thể, và chúng tôi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Bây giờ cậu hãy đi đi, hãy thanh thản mà đi đi.


Đó là nguyên nhân bọn họ vượt núi. Vài anh bạn của Hôsê Accađiô Buênđya, tất cả đều trai trẻ như anh, náo nức với chuyến đi mạo hiểm này, đã thu dọn đồ đạc rồi mang chúng cùng với vợ con để đi tới miền đất chẳng một ai từng hứa hẹn cho họ. Trước lúc khởi hành, Hôsê Accađiô Buênđya đã chôn cây giáo ở ngay ngoài sân và lần lượt chặt cổ những con gà chọi tuyệt vời của mình mà lòng đinh ninh làm vậy sẽ an ủi phần nào vong linh Pruđênxiô Aghila. Vật duy nhất mà Ucsula mang theo là chiếc rương, trong đó đựng quần áo cưới, ít đồ ăn và một túi nhỏ đựng những đồng tiền vàng của cha cô để lại. Đoàn người không đi theo một lộ trình nhất định. Họ cứ theo hướng ngược lại con đường dẫn tới Riôacha mà mải miết đi, để không bỏ lại một dấu vết nào và để tránh chạm mặt người quen. Đó là một chuyến đi kì dị. Sau mười bốn tháng hành trình, với cái bụng quặn đau vì thịt khỉ và canh rắn, Ucsula đẻ ra một hài nhi nam với tất cả các bộ phận người của chú. Cô đẻ rơi giữa đường, ngay lúc nằm trên võng, do hai người khiêng, bởi vì hai chân cô xuống máu sưng vù lên mất cả hình thù, và các tĩnh mạch cứ phồng lên như những vết rộp. Những đứa trẻ thật đáng thương với cái bụng lép và đôi mắt quầng thâm. Song chúng lại tỏ ra dẻo dai hơn hẳn các bậc cha mẹ trong chuyến đi gian truân này, và trong phần lớn thời gian, còn thích thú là khác. Một buổi sáng nọ, sau gần hai năm ròng rã leo lên cao, họ là những người đầu tiên nhìn thấy sườn phía tây của dãy núi. Từ trên đỉnh núi mịt mù mây phủ họ nhìn thấy mặt nước bằng bao la của một đầm lầy mênh mông trải tới tận bờ bên kia thế giới. Song chẳng bao giờ họ gặp biển. Có một đêm, sau vài tháng lạc lối giữa những đầm nước, chừng đã cách rất xa nơi cuối cùng họ gặp những người Anhđiêng trên con đường mình đi, họ nghỉ lại bên bờ một con sông nhiều đá, nước trong như một dải pha lê đông lạnh. Nhiều năm sau này, đại tá Accađiô Buênđya định theo con đường ấy để đánh úp Riôacha nhưng sau sáu ngày hành binh chàng hiểu rằng đó là một cơn điên. Tuy nhiên, cái đêm họ nghỉ lại bên cạnh sông ấy, những người đồng hành của cha chàng đều hoảng hốt như những kẻ sắp chết đuối không nơi bám víu, nhưng con số của họ đã tăng thêm cả trong quá trình vượt núi, và tất cả bọn họ đều quyết sống (dĩ nhiên họ đã tìm cách) cho đến lúc đầu bạc răng long. Đêm xuống, Hôsê Accađiô Buênđya nằm mộng thấy ở ngay nơi đó một thành phố đông vui với những ngôi nhà có tường kính. Ông hỏi đó là thành phố gì, và được trả lời bằng một cái tên chưa bao giờ nghe thấy, một cái tên chẳng có ý nghĩa gì nhưng nó cứ vang vọng mãi trong giấc mơ: Macônđô. Ngay hôm sau, ông thuyết phục các bạn đồng hành rằng sẽ chẳng bao giờ bọn họ tìm thấy biển rồi hạ lệnh phát quang một vùng bên cạnh sông, nơi thoáng mát hơn cả, và tại đó, họ thành lập làng.


Trước hôm được biết nước đá, Hôsê Accađiô Buênđya vẫn chưa hiểu giấc mộng về những ngôi nhà có tường kính nói lên điều gì. Sau hôm đó, ông những tưởng mình đã hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó. Ông nghĩ rằng trong một tương lai không xa người ta có thể sản xuất hàng loạt các khối nước đá bằng vật liệu hết sức thông thường như nước lã, và dùng chúng để xây dựng những ngôi nhà mới cho làng. Lúc đó Macônđô sẽ không còn là một nơi oi bức đến mức bản lề và chốt cửa bằng sắt cũng phải quăn lại vì hơi nóng, và sẽ trở thành một thành phố quanh năm là mùa đông. Nếu như ông không nôn nóng tiến hành xây dựng tức thì một nhà máy nước đá là vì lúc ấy ông đang hào hứng với việc dạy dỗ các con mình, trước hết là Aurêlianô, cậu bé ngay từ đầu đã bộc lộ một năng khiếu đặc biệt về thuật làm vàng giả. Phòng thí nghiệm lúc nào cũng sạch bong không một vết bụi. Giờ đây, rất bình tâm, không náo nức trước điều kỳ ảo bằng việc xem lại những chỉ dẫn của Menkyađêt, ông cố tách vàng của Ucsula ra khỏi thứ hợp chất đóng chóc lại ở đáy chảo. Cậu thanh niên Hôsê Accađiô hầu như không tham gia vào công việc này. Trong khi cha cậu dốc toàn tâm toàn sức cho các thành bại trong ống nghiệm thì cậu cả, vốn là người thích làm theo ý mình, vốn lớn trước tuổi, đã trở thành một chàng thanh niên lực lưỡng. Cậu vỡ giọng. Mép cậu đã lún phún mọc đầy lông tơ. Một đêm nọ, Ucsula bước vào phòng khi cậu đã cởi hết quần áo để đi ngủ. Bà thảng thốt cảm thấy vừa thẹn vừa thương. Đó là người đàn ông, sau chồng mình, bà thấy khỏa thân, và y đã được chuẩn bị chu đáo để vào đời và điều đó bà thấy không được bình thường. Lần thứ ba, Ucsula hoài thai, và lại sống lại những nỗi lo âu thuở mới lấy chồng.


Vào thời ấy, có một người đàn bà vui tính, ăn thô nói tục, hay khơi chuyện, thường đến nhà, là người vẫn hay làm giúp các việc vặt trong nhà và biết bói bài. Ucsula đem chuyện con trai mình thổ lộ với mụ. Bà nghĩ rằng cái cơ thể quá cỡ của con trai là một sự không bình thường, như cái đuôi lợn của người chú họ. Người đàn bà bật một tràng cười ha hả vang vọng khắp nhà, giống như một dòng thủy tinh ào chảy. “Trái lại" mụ nói, "cậu cả sẽ là người hạnh phúc đấy bà ạ". Để khẳng định lời tiên đoán, vài ngày sau mụ mang tới nhà một cỗ bài, rồi sau đó, một mình lẻn vào kho ngô ở gần nhà bếp với Hôsê Accađiô và đóng chặt cửa lại. Mụ điềm nhiên đặt cỗ bài lên chiếc bàn thợ mộc cũ rồi liến thoắng nói rặt những chuyện không đâu, trong lúc đó chàng trẻ tuổi buồn chán hơn là thích thú ngồi bên cạnh chờ đợi. Bỗng nhiên mụ giơ tay lên ôm choàng lấy chàng. "Ôi tuyệt quá" mụ thảng thốt nói, vẻ chân thành, và đó là điều duy nhất mụ có thể nói được. Hôsê Accađiô thấy gân cốt mình bủn rủn, sợ hãi và muốn khóc thét lên. Người đàn bà không hề dặn bảo anh điều gì. Nhưng suốt đêm ấy Hôsê Accađiô cứ lục tìm mụ trong thứ mùi khói phả ra từ nách mụ, và cái mùi ấy cứ bám lấy da thịt anh. Anh muốn lúc nào cũng được ở bên cạnh mụ, muốn mụ là mẹ mình, muốn rằng bọn họ, anh và mụ không bao giờ sẽ ra khỏi kho ngô, muốn mụ nói với mình ôi tuyệt quá, muốn mụ lại ôm lấy mình rồi nói ôi tuyệt quá. Một ngày nọ, không thể chịu đựng thêm nữa, anh đã tìm đến nhà mụ. Anh không được tự nhiên lắm, ngồi đợi ở phòng khách, chả nói chả rằng. Trong thời khắc ấy anh không thèm khát mụ, thấy mụ hoàn toàn khác với hình ảnh mà cái mùi của mụ khêu gợi; lúc này mụ như một người đàn bà khác. Anh uống cà phê rồi từ biệt ngôi nhà ọp ẹp. Đêm ấy, trong nỗi sợ hãi do mất ngủ, anh lại da diết khát khao mụ, nhưng lúc ấy anh không yêu mụ như lúc ở trong kho ngô mà trái lại như trong cái buổi chiều ấy.


Mấy ngày sau, người đàn bà đột ngột gọi Hôsê Accađiô đến nhà mình, vào lúc mụ đang ở nhà với bà mẹ. Mụ lôi anh vào buồng ngủ với cái cớ dạy anh chơi bài. Thế là mụ tha hồ ôm anh, đến mức anh mất cả khoái cảm sau cú ngây ngất ban đầu, rồi anh cảm thấy sợ nhiều hơn là thích thú. Mụ nũng nịu đòi anh phải đến với mình vào ngay đêm ấy. Anh trót đồng ý, nhưng khi đi ra anh mới hiểu rằng không thể được. Song đêm ấy, trên cái giường nóng bỏng như than lửa, anh hiểu rằng cần phải đi tìm mụ dù biết việc đó là không thể làm được. Anh sờ soạng mặc quần áo, tai lắng nghe trong bóng tối tiếng thở đều đều của cậu em, tiếng ho khan của cha ở phòng bên, tiếng hen khò khè của đàn gà mái ở ngoài sân, tiếng muỗi vo ve, tiếng thình thình của con tim mình đập và tiếng ồn ào của trời đất chưa bao giờ anh được nghe, rồi anh bước ra con đường đang im lìm ngủ. Anh thành tâm mong muốn cửa nhà mụ đã được cài then hẳn hoi chứ không chỉ khép lại như lời mụ hứa với anh. Nhưng cửa vẫn chỉ khép hờ. Anh lấy ngón tay khẽ đẩy, và thế là các bản lề rít lên cọt kẹt nghe vừa buồn vừa âm vang khiến anh lạnh cả gáy. Kể từ lúc bước vào, bằng cách lách vai nhẹ nhàng để không gây tiếng động, anh vẫn cảm thấy cái mùi ấy. Anh vẫn còn ở trong phòng khách là nơi ba người em trai mụ mắc võng ở những vị trí mà cho đến lúc này anh không biết và trong bóng tối không thể xác định được, vậy là anh chỉ còn thiếu sờ soạng mà bước vào, mà đẩy cánh cửa buồng và đi đến nơi ấy làm sao không bị nhầm giường mụ nằm. Anh tìm nó. Anh vấp phải dây võng mắc ở tầm thấp hơn là anh tưởng, và cái người đàn ông đang ngáy khò khò cho đến lúc ấy vẫn đang mộng mị, nói vẻ tỉnh khô: "Đó là ngày thứ tư". Khi đẩy cánh cửa buồng ngủ anh đã không thể tránh được cú vấp phải mép sàn nhà nhô cao. Trong bóng đêm tối đen như mực, bỗng nhiên, với một nỗi nhớ nhung không thể đừng được, anh hiểu rằng mình đã hoàn toàn mất phương hướng. Trong căn phòng chật hẹp này có bà mẹ, cô em, người chồng và ba đứa con của cô ta đang ngủ, và cả người đàn bà nữa, mà có lẽ mụ không đợi anh, cũng đã ngủ rồi. Có lẽ anh sẽ không lần theo cái mùi ấy, nếu như nó không nồng nặc khắp nhà. Cái mùi đàn bà ấy vừa có vẻ hư hư lại vừa có vẻ thực thực như thể lúc nào nó cũng ở ngay trên làn da anh. Anh đứng im như phỗng trong một lúc lâu mà ngạc nhiên tự hỏi mình đã làm thế nào để đi tới cái vực thẳm trống trải này. Giữa lúc ấy có một bàn tay xòe rộng các ngón cũng đang sờ soạng trong bóng tối, đụng phải mặt anh. Cái bàn tay ấy không ngạc nhiên, vì dù không biết đích xác là anh, nó đang đợi anh. Thế là anh tin cái bàn tay ấy, và trong trạng thái mệt mỏi đến cùng cực, anh đã mặc nó lôi tuột mình đến một chỗ không được tiện nghi lắm, là nơi nó lột truồng anh ra, nó mân mê anh như mân mê củ khoai, nó vần anh sang bên trái lại xoay anh sang phải, là nơi anh không ngửi thấy mùi đàn bà nữa mà chỉ thấy mùi nước đái quỷ, và là nơi anh định nhớ lại gương mặt mụ, thì anh lại hình dung ra gương mặt bà Ucsula; rồi hoang mang mà nhận ra rằng mình đang làm một việc mà từ lâu hằng mong muốn nhưng chưa bao giờ nghĩ trên thực tế sẽ có thể được làm, không hề biết đang làm nó như thế nào bởi không hề biết đâu là chân, đâu là đầu và cũng chẳng biết chân ấy là của ai, đầu ấy là của ai và chỉ cảm thấy mình không thể chịu đựng được hơn nữa trước cơn nhói buốt nơi thận mình, trước cơn đau quắn nơi bụng mình, anh đâm phát hoảng và cảm thấy nỗi khao khát chuếnh choáng vừa muốn được chạy trốn đồng thời vừa muốn được ở lại mãi mãi trong cái im lặng đầy thất vọng và cái cô đơn đáng sợ hãi này.


Người đàn bà ấy tên là Pila Tecnêra, một thành viên của đoàn người di cư đã lập nên làng Macônđô, bị gia đình lôi đi theo để tách thị ra khỏi gã đàn ông từng cưỡng hiếp thị vào lúc thị mới mười bốn tuổi, và theo đuổi thị đến năm thị hai mươi mốt tuổi, nhưng không bao giờ quyết định công khai mối quan hệ ấy trước công chúng, vì đó là một gã Sở Khanh. Gã hứa sẽ theo thị đến cùng trời cuối đất, nhưng ngay khi vấn đề đã êm đẹp đâu vào đó, thị cứ mòn mắt chờ trông, bằng cách đánh đồng gã với những người đàn ông cao lớn và cả với những người nhỏ bé thấp lùn, với những người đàn ông tóc hung và cả những người đàn ông tóc đen, đó là những người mà quân bài hứa hẹn với thị rằng họ sẽ đến từ đường biển và từ đường bộ trong ba ngày, ba tháng hoặc ba năm. Trong lúc chờ đợi, thị đã đánh mất độ săn chắc của các bắp vế, độ căng phồng của bộ ngực, vẻ duyên dáng yểu điệu, nhưng lúc nào thị cũng giữ được con tim luôn bốc lửa tình. Cuồng nhiệt trước trò mê say ấy, đêm nào cũng như đêm nào, Hôsê Accađiô đi tìm hơi thị bằng cách vượt qua cái mê cung ấy. Có những khi gặp cửa đóng then cài, anh đã gõ vài lần, vì biết rằng đã có gan gõ lần thứ nhất ắt sẽ phải gõ tới lần chót, và sau khi đã dai dẳng chờ đợi, anh được thị mở cửa. Ban ngày, thiếp đi vì buồn ngủ, anh thầm gặm nhấm khoái cảm đêm trước. Song khi thị bước vào nhà, vui vẻ, hồn nhiên, vẻ bông lơn, thì anh chẳng phải mệt sức để che giấu nỗi mệt mỏi của mình, bởi vì cái người đàn bà có tiếng cười giòn từng làm kinh động những con bồ câu ấy rất mãn nguyện đã dạy cho anh biết thở thật sâu, biết giữ cho tim không đập quá dồn dập và đã cho phép anh biết vì sao những người đàn ông lại sợ chết đến thế. Anh quá mải mê suy tư đến nỗi không hiểu niềm vui tràn trề của tất cả mọi người trước việc cha và em trai anh làm náo loạn cả nhà bằng cách loan tin đã nung chảy được chất hợp kim và đã tách được vàng của Ucsula.


Quả nhiên, sau những ngày làm việc cần cù đầy hứng thú, cha con Hôsê Accađiô Buênđya đã có được kết quả như hằng trông đợi. Ucsula rất sung sướng, đến mức bà phải cảm ơn Thượng đế về phát minh của thuật giả kim, còn dân làng thì tụ tập trong phòng thí nghiệm và gia đình mời họ xơi mứt ổi với bánh qui để mừng kỳ tích. Hôsê Accađiô Buênđya cho họ xem cái nồi nấu kim loại với số vàng đã được lấy lại, làm như thể ông vừa chế ra. Sau khi cho mọi người xem khắp lượt, cuối cùng ông mang nó đến trước mặt đứa con trai đầu lòng của mình, người trong thời gian gần đây hầu như không bước chân vào phòng thí nghiệm. Đặt trước mắt anh thứ kim loại khô khốc và vàng óng, rồi ông hỏi: "Con thấy thế nào?" Hôsê Accađiô chân thành trả lời cha:


- Cái đồ cứt chó ấy mà!


Ông bố liền vả một cái tát trái vào miệng con trai, đến là đau, làm cho anh chảy máu và ứa nước mắt. Đêm ấy Pila Tecnêra dán thuốc cao lên chỗ sưng, mò mẫm trong bóng tối tìm chai rượu và bông và làm tất cả những gì thị muốn nhưng không làm anh khó chịu, để yêu anh mà không làm anh đau đớn. Bọn họ trở nên thân thiết, chỉ ít phút sau, không ai bảo ai, đã thầm thì to nhỏ chuyện trò:


- Anh muốn chỉ một mình em bên anh- anh nói - một ngày gần đây, anh sẽ kể hết chuyện chúng mình cho mọi người biết để kết thúc những trò vụng trộm luôn thể.


Thị không định ngăn cản anh.


- Thế thì rất hay - thị nói - nếu chỉ có riêng với nhau thôi, chúng mình sẽ thắp đèn sáng để nhìn nhau cho sướng và em có thể gào to lên tất cả những gì em thích không còn lo một ai quấy rối, và anh sẽ thì thào bên tai em tất cả những lời tục tĩu anh nghĩ ra được.


Những lời này, nỗi căm tức cha, và khả năng khẩn cấp của mối tình quá trớn, đã làm cho Hôsê Accađiô thêm bạo dạn rồi đột ngột, anh kể tất cả cho em trai mình nghe.


Thoạt đầu, Aurêlianô chỉ hiểu được nỗi nguy hiểm và những tai họa sẽ xảy ra do các cú liều mạng của anh trai mình gây nên, nhưng cậu vẫn chưa cảm nhận được cái khoái cảm đến đê mê của câu chuyện. Rồi niềm khao khát dần dần xâm chiếm. Cậu bắt người anh kể tỉ mỉ đến từng những tình tiết nhỏ nhất, cụ thể nhất; đồng cảm với nỗi đau đớn ê chề và niềm lạc thú của ông anh, và cậu cũng thấy bồi hồi lo âu và sung sướng. Cậu thức đợi ông anh mình cho đến gần sáng, cứ trằn trọc bồi hồi trên cái giường như có ai bỏ than đỏ vào, và khi ông anh trở về, cả hai đều tỉnh như sáo nói chuyện cho đến hết đêm, vì vậy mà chẳng bao lâu cả hai anh em đều lử đử lừ đừ, chán ngấy thuật giả kim và kiến thức uyên bác của cha mình và cùng trốn vào cõi cô đơn. "Bọn trẻ nhà này cứ như những thằng đần, lúc nào cũng thẫn thờ". Ucsula nói. "Có lẽ chúng bị giun quấy đấy". Bà chuẩn bị cho họ một tô nước thuốc lá paícô(1) và cả hai điềm nhiên uống, rồi chỉ trong một ngày họ đã mười một lần ngồi vào bô, thải ra một vài con giun màu hồng hồng. Và hai anh em thích thú chìa cho mọi người xem vì chúng giúp họ đánh lạc hướng Ucsula về căn nguyên cái bệnh buồn phiền của họ. Lúc đó Aurêlianô không chỉ hiểu mà còn có thể cảm nhận những kinh nghiệm tình dục của ông anh như chính mình đã trải qua, bởi vì có một lần khi người anh kể rất tỉ mỉ về cách thức làm tình, thì cậu đã ngắt lời hỏi: "Anh cảm thấy như thế nào?" Không ngần ngừ, Hôsê Accađiô trả lời ngay:


- Như thể trời rung đất chuyển ấy.


Vào lúc hai giờ sáng một ngày thứ năm của tháng Giêng, Amaranta đã ra đời. Trước lúc chưa có ai vào phòng, Ucsula xem xét khắp người đứa hài nhi. Nó nhẹ tênh và căng mọng như một con thằn lằn non, nhưng tất cả các bộ phận trên nó đều thuộc về giống người. Aurêlianô chỉ biết tin vui này khi thấy mọi người kéo đến nhà mình rất đông. Để trốn tránh sự ồn ĩ, cậu ra khỏi nhà đi tìm ông anh, người đã bỏ trống giường từ lúc mười một giờ, và đó là một quyết định đột ngột đến mức cậu không kịp tự hỏi làm thế nào để lôi được anh mình ra khỏi phòng Pila Tecnêra. Cậu lượn quanh nhà thị vài giờ liền, cứ liên tục huýt sáo làm hiệu cho đến khi buổi bình minh buộc cậu phải trở về. Trong phòng của bà mẹ, cậu bắt gặp Hôsê Accađiô với bộ mặt tỉnh bơ, đang chơi với cô em gái mới sinh.


Ucsula hầu như vừa kết thúc kì nghỉ đẻ bốn mươi ngày thì những người Digan cũng vừa tới làng. Đó chính là những người làm xiếc và những người múa rối từng mang nước đá đến đây.


Khác với nhóm người của Menkyađêt, chẳng bao lâu bọn họ đã trưng bày các thứ hàng hóa tiêu xài chứ không như trước đây chỉ có những thành tựu của tiến bộ khoa học. Khi mang nước đá đến, họ đã không quảng cáo mặt ích lợi phục vụ cho đời sống con người mà chỉ như một trò ảo thuật đơn thuần. Lần này, bên cạnh các trò tiêu khiển khác, họ mang đến một cái thảm bay. Họ không giới thiệu nó như một đóng góp cơ bản cho sự phát triển giao thông, mà chỉ như một thứ đồ chơi. Dĩ nhiên dân chúng moi nốt những mẩu vàng cuối cùng để thưởng thức cú bay vù vù trên các nóc nhà trong làng.


Lợi dụng sự tha thứ đầy thú vị của đám công chúng đang ồn ào, Hôsê Accađiô và Pila Tecnêra đã sống những giờ tự do. Họ là cặp tình nhân ngây ngất hạnh phúc giữa đám đông, đến mức tưởng rằng tình yêu còn sâu sắc và lắng đọng hơn cả cái khoái lạc tột đỉnh và tức thời của họ trong những đêm vụng trộm. Tuy vậy Pila Tecnêra lại phá tan cái niềm vui ấy. Phấn chấn hẳn lên trước đam mê của Hôsê Accađiô lúc đang tận hưởng hạnh phúc đôi lứa, thị nhầm lẫn cách thức nói và lúc cần nói, đã bỗng nhiên chụp lên đầu anh một trách nhiệm nặng nề bằng cả quả địa cầu. "Giờ đây, anh đã là một người đàn ông rồi đấy" thị bảo. Và vì anh tỏ ra không hiểu, thị thong thả giải thích cặn kẽ:


- Nghĩa là anh sẽ có một đứa con trai.


Trong vài ngày liền, Hôsê Accađiô không dám ra khỏi nhà. Chỉ cần nghe thấy tiếng cười khanh khách của Pila Tecnêra là đã đủ để anh trốn vào phòng thí nghiệm, là nơi những thứ đồ thủ công mỹ nghệ, thành quả của thuật giả kim, đang sống lại nhờ lòng từ thiện của Ucsula. Hôsê Accađiô Buênđya vồn vã đón đứa con lầm lạc và hướng dẫn anh tập sự trong công việc mày mò của thuật giả kim đã được ông tìm và hiểu cặn kẽ. Một chiều nọ, hai anh em tỏ ra phấn chấn trước tấm thảm bay ngang tầm cửa sổ phòng thí nghiệm mang theo người Digan lái và vài em nhỏ trong làng đang vui vẻ vẫy tay chào, và Hôsê Accađiô Buênđya không thèm nhìn tấm thảm bay. "Cứ để họ mơ mộng" ông nói, "chúng ta sẽ bay cao hơn bọn họ với phương tiện khoa học hơn cái thảm bay thảm hại này". Dẫu đang phải giả vờ làm vẻ hứng thú với công việc, Hôsê Accađiô không bao giờ có thể hiểu được những khả năng kỳ vĩ của lò luyện đá giả kim mà đối với anh nó chỉ đơn giản là một bình thủy tinh làm tồi quá. Anh biếng ăn, mất ngủ, cáu kỉnh, giống hệt cha mình lúc ông phải đối mặt với những thất bại trong một số công việc và trạng thái thất thường ấy của anh đã buộc ông phải thay anh làm mọi việc trong lò luyện đá giả kim vì nghĩ rằng công việc này làm anh quá lao lực. Aurêlianô dĩ nhiên hiểu rằng nỗi đau khổ ấy của ông anh mình không liên quan gì đến lò luyện hay bình thủy, nhưng cậu không tài nào làm cho anh thổ lộ với mình điều sâu kín kia. Hôsê Accađiô không còn hiếu động như trước. Từ một gã trai hóm hỉnh và cởi mở anh trở thành một kẻ kín đáo và khó tính. Quá ưa thích nỗi cô đơn, lúc nào anh cũng như giận hờn xung quanh. Một đêm nọ, như mọi bữa, anh lại để trống giường, bỏ ra ngoài, nhưng không đến nhà Pila Tecnêra mà đi thẳng tới hội chợ. Sau khi dạo khắp các trò vui, không thích thú trước bất kỳ trò chơi nào, anh để ý đến một người không diễn trò, một cô gái Digan rất trẻ, hầu như còn đang ở tuổi thơ, đeo đầy cổ những hạt pha lê giả ngọc. Đó là một người đàn bà đẹp nhất, cho đến lúc ấy anh được biết. Anh đang ở giữa đám người mải mê xem trò diễn một người đàn ông biến thành con rắn vì không nghe lời bố mẹ.


Hôsê Accađiô không buồn để ý xem với chả xét. Trong lúc diễn ra cuộc tra hỏi người đàn ông - con rắn, anh len lỏi giữa đám đông để đi tới hàng người đầu tiên, là nơi cô gái Digan đang đứng, và dừng lại phía sau cô ta. Rồi từ phía sau, anh ôm lấy thắt lưng cô. Cố vùng vẫy để thoát ra nhưng cô gái Digan càng bị Hôsê Accađiô ôm chặt hơn. Vậy là cô đã rung động, đứng im nhưng vẫn quay lưng lại anh, run rẩy vì ngạc nhiên và sợ hãi mà không thể tin điều đó là sự thực, cuối cùng cô ngoảnh mặt lại, với nụ cười run rẩy, cô nhìn anh. Trong lúc ấy hai người đàn ông Digan lùa người đàn ông - con rắn vào túi và mang vào bên trong quán hàng. Và người Digan trưởng trò quay ra phía công chúng nói:


- Thưa quý ông quý bà, bây giờ chúng tôi xin trình diễn tiết mục kinh rợn về một người đàn bà, đêm nào cũng như đêm nào, đều bị chặt đầu vào đúng giờ này trong suốt một trăm năm mươi năm vì tội đã dám nhìn cái không nên nhìn.


Hôsê Accađiô và cô gái không xem tiết mục chặt đầu người đàn bà. Họ đi về quán của cô, là nơi với nỗi thèm khát tuyệt vọng họ thỏa sức hôn nhau trong lúc cởi quần áo. Cô gái Digan cởi hết những chiếc áo ngoài, những chiếc váy lót, chiếc coóc-xê đệm nhiều lần vải, chuỗi hạt pha lê giả ngọc thì bộ ngực căng và đôi mông nở trước đây bỗng biến đi mất. Thực ra cơ thể cô giống như một cành khô, ngực lép, vế teo không bằng cánh tay của Hôsê Accađiô, nhưng lại có được cái vẻ dạn dĩ và cái hơi nồng ấm kéo lại. Tuy nhiên, Hôsê Accađiô không thể đáp ứng ngay cơn cuồng nhiệt của cô, bởi họ đang nằm trong một cái quán công, là nơi những người Digan qua lại luôn, lúc thì mang các dụng cụ làm xiếc, lúc thì hóa trang, có lúc họ tụ tập bên cạnh giường chơi một ván xúc xắc. Ngọn đèn treo trên một cây cột ở giữa bãi soi sáng xung quanh. Lúc họ thôi không mân mê nhau, Hôsê Accađiô trần truồng nằm duỗi thẳng cẳng trên giường, không biết làm gì thêm, thì cô gái cố làm trò khêu gợi anh. Sau đó, có lúc có một ả Digan da dẻ bóng mượt bước vào, theo sau là một người đàn ông, vốn không phải là người cùng gánh xiếc cũng không phải là người làng này. Và rồi cả hai cùng cởi quần áo ngay trước giường Hôsê Accađiô đang nằm. Không có ý định trêu ngươi anh, người đàn bà nhìn Hôsê Accađiô, với lòng đầy thèm khát, háo hức ngắm nghía con vật trứ tuyệt của anh đang nghỉ ngơi.


- Ôi, anh bạn! - Ả reo lên - Cầu Thượng đế sẽ che chở cho cả cô em của anh bạn nhé.


Cô bạn gái Hôsê Accađiô yêu cầu để cho họ được yên và cái đôi ấy nằm xuống nền nhà ngay cạnh giường. Nỗi đam mê của đôi kia lây sang và đánh thức con vật của Hôsê Accađiô. Ngay phút đầu, các thứ xương xóc của cô gái Digan dường như long hết cả ra, kêu roàn roạt như những quân đôminô chạm vào nhau, trên da cô nhớp nhúa thứ mồ hôi nhờ nhờ vàng, đôi mắt cô giàn giụa lệ, cả người cô phát ra tiếng kêu ư ứ và thứ mùi bùn cứ lẩn vẩn đây đó. Nhưng cô gái quả là dai sức, đã vượt qua cú chung đụng với một tính cách kiên cường và một sự dũng cảm đáng khâm phục. Lúc ấy Hôsê Accađiô cảm thấy mình bị nâng bổng lên đến trạng thái khó thở, là nơi trái tim anh tan ra trong một cái giếng nhục dục êm dịu đang chảy vào cô gái theo các lỗ tai và chui ra qua lỗ miệng biến thành những lời được dịch sang ngôn ngữ của cô. Đó là ngày thứ năm. Đến đêm thứ bảy, đầu đội chiếc khăn đỏ, Hôsê Accađiô bỏ nhà ra đi cùng những người Digan.


Khi Ucsula không thấy con trai đâu, vội đi khắp làng tìm. Tại khu lán tan hoang, không có gì hơn là một dòng nước bẩn giữa những đám tro còn nóng trong các bếp đã dập lửa. Một người đang tìm những hạt pha lê giả ngọc trong đống rác, nói với Ucsula rằng đêm qua họ nhìn thấy con trai bà lẫn trong đám người Digan ồn ào, tay đẩy chiếc xe cũi trong nhốt người - rắn. "Thế là nó theo bọn Digan rồi" bà gào lên bên tai ông, người không tỏ một dấu hiệu lo lắng nào trước tin con trai mất tích.


- Cầu Chúa đúng như thế - Hôsê Accađiô Buênđya nói và vẫn nghiền cái chất liệu đã được nghiền ngàn lần trong cối, đã được nung rồi lại nghiền - Như vậy nó sẽ biết cách học để làm người.


Ucsula hỏi bọn Digan đi về hướng nào. Rồi bà đi theo hướng người ta chỉ cho. Trên đường đi bà lại hỏi, người ta lại chỉ, và bà lại tiếp tục đi vì nghĩ rằng vẫn còn thời gian để đuổi kịp con trai. Cứ như thế bà đi ngày một xa làng hơn, cho tới khi nhận ra mình đã ở cách làng quá xa đến mức không nghĩ sẽ trở về. Hôsê Accađiô Buênđya chỉ phát hiện ra sự vắng mặt của vợ vào lúc tám giờ tối, khi ông đặt chất hợp kim được nấu lại trên một lớp mùn và đi xem vì sao bé Amaranta khóc đến khản tiếng. Ít giờ sau, ông tập hợp nhóm đàn ông nai nịt gọn gàng, đặt bé Amaranta vào tay một bà nhận cho bú chực, rồi đi tìm Ucsula. Aurêlianô cùng đi với họ. Những ngư dân người Anhđiêng, bằng điệu bộ, đã ra hiệu cho họ biết rằng không thấy ai đi qua kể từ sáng sớm đến giờ. Sau ba ngày tìm kiếm vô ích, họ trở về làng.


Trong vài tuần, Hôsê Accađiô Buênđya chịu thất vọng hoàn toàn. Ông chăm nom bé Amaranta như một người mẹ. Ông tắm, thay quần áo cho bé rồi ban ngày, bốn lần mang bé đi xin bú, và ban đêm ông hát ru bé ngủ, vốn là việc Ucsula mẹ bé chưa từng làm. Có lần, Pila Tecnêra tự nguyện đến xin đỡ đần công việc nội trợ cho đến khi nào Ucsula trở về. Aurêlianô, mà linh cảm kỳ lạ của cậu vốn đã nghi thị là thủ phạm gây ra nỗi bất hạnh này, quắc mắt nhìn khi thị bước vào. Vậy là cậu biết rằng, dù dưới hình thức nào đi nữa, thị cũng là kẻ có tội trong việc ông anh trai bỏ đi và tiếp đó, mẹ cậu mất tích, rồi bằng cách đó cậu đã thầm lặng và kiên quyết kết tội thị khiến cho người đàn bà này không dám bén mảng tới nhà nữa.


Với thời gian trôi đi mọi việc lại đâu vào đấy. Hôsê Accađiô Buênđya và con trai ông không hay biết vào lúc nào họ lại bắt đầu làm việc trong phòng thí nghiệm, nào lau bụi, nào đốt lửa cho ống nghiệm, rồi lại mải mê tiến hành công việc bào chế các chất hợp kim đã vài tháng nay ngủ yên trên lớp mùn. Ngay đến bé Amaranta, nằm gọn trong chiếc nôi mây, cũng tò mò quan sát công việc lặng lẽ của cha và anh mình trong căn phòng lạ kì hẳn đi vì hơi thủy ngân. Sau mấy tháng Ucsula biệt tích, có một lần đã xảy ra những sự việc lạ lẫm. Một bình thủy tinh rỗng nằm trên tủ từ lâu từng bị người ta bỏ quên, bỗng nặng đến mức không thể xê dịch được. Một nồi đựng nước lọc đặt trên bàn làm việc, không hề có lửa đun ở dưới, cũng tự nhiên sôi sùng sục và chỉ trong nửa giờ đã cạn sạch nước. Hôsê Accađiô Buênđya và con trai ông thảng thốt nhìn những hiện tượng đó mà không thể giải thích được, nhưng rồi họ cứ khăng khăng cho chúng là điềm báo trước của chất hợp kim sẽ ra đời. Một ngày nọ, chiếc nôi của bé Amaranta bỗng tự quay tròn rồi đi xung quanh phòng trước nỗi hoảng hốt của Aurêlianô, đang vội vàng chạy đến giữ lại. Nhưng cha cậu thì vẫn điềm nhiên như không. Ông đặt chiếc nôi trở về chỗ cũ rồi cột nó vào một chân bàn, lòng vẫn tin rằng cái sự kiện hằng mong đợi hẳn sẽ phải xảy ra nay mai. Đúng lúc ấy Aurêlianô nghe thấy cha mình nói:


-          Nếu không sợ Thượng đế thì hãy sợ kim loại vậy!


(còn tiếp)


Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. Tủ sách Danh tác Thế giới - NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info







1. Paicô: một cây thuộc họ rau ở châu Mỹ, lá có vị chát có thể tẩy được giun.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 12.12.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
xem thêm »