tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30515383
Tiểu thuyết
19.03.2013
Ngọc Giao
Quán gió

“Cái ngày xưa ấy, ở Kinh kỳ, bà Hường sinh trong một gia đình dòng vương giả. Người con gái lớn trên vàng ngọc, đẹp trên nhung lụa, và được ấp ủ trong hương sắc một khu vườn vùng Nam Phổ quanh năm êm đềm hằng nghe tiếng hát con sông Hương. Người con gái kể từ ngày còn cặp tóc, đã biết đứng trong vườn lắng nghe ca nhạc vọng lên từ những chiếc bồng qua lại ngoài sông. Nhị Hường mê luyến đàn ca, nhất định xin mua đàn và đón thầy về dậy. “Tinh anh phát tiết ra ngoài”, cô gái chẳng bao ngày đã nổi danh tài sắc. Thoạt đầu, cô gái thơ còn luyện cái tài của mình trong những nhà họ hàng quen thuộc, sau thì cô chơi cái tài - thêm cả cái tình - trên con sông giăng gió. Chiếc bồng đong đưa, tâm sự cô gái đẹp dậy thì cũng đong đưa như chiếc bồng đã chở nhiều tình duyên thiên hạ. Nhị Hường đã gặp một kẻ đàn ông trên con thuyền buộc nơi bến vắng. Nhị Hường đã đắm say buông cây đờn tỳ xuống, giòng sông Hương đêm ấy lại vương thêm một chút nhị hương tàn.


Kẻ chơi hoa là một vị quan trong nội, đã có vợ con. Thế rồi Nhị Hường có mang, như là một sự tất nhiên của ái tình. Kẻ chơi hoa đem giấu Hường vào một gian nhà lá bến sông xa để Hường chờ ngày sinh nở. Đứa trẻ ra đời. Kẻ chơi hoa họa chỉ đến nhìn qua đứa trẻ và cầm một cách hững hờ bàn tay người con gái đã buông đàn để giặt tã, giặt lót cho đứa con trứng nước. Hường tủi cực, và có cảm tưởng mình từ đây đã mang cái hồng nhan của Thúy Kiều. Cho đến một buổi tối trời, mụ Hoạn tới đánh đòn ghen. Mụ cầm thanh kiếm đến tìm Hường. Hường kịp ôm con mở cửa sau trốn chạy. Nhờ trời tối và vườn cây rậm lá, kẻ đánh đòn ghen không trông thấy, mẹ con Hường run sợ gọi đò. Kẻ cắm chèo quen nhà, biết mặt Hường, ghé mũi thuyền vào. Một người đàn ông giơ tay cho Hường nắm mà bước xuống. “Tội nghiệp Nhị Hường!” Người đàn ông dìu cái mình run rẩy của Hường vào khoang. Dưới ánh đèn dầu nhạt, da mặt Hường xanh nhợt. Đứa trẻ từ nãy im bặt, bây giờ mới khóc thét lên. Hường tháo bọc ấp con vào mặt rồi vạch vú cho con bú. Đứa con thôi khóc, nhưng đến lượt Hường nức nở.


Con thuyền đã ra đến giữa giòng, Hường còn nghe vẳng lại tiếng vợ kẻ bạc tình chửi rủa đập phá trong gian nhà lá mà Hường đã sống âm thầm, đòi đoạn mấy tháng giời mang nặng đẻ đau.


Tiếng người đàn ông dịu dàng bên tai Hường: “Sao lại đến nông nỗi này, hả Hường. Nhưng thôi, số kiếp đã xui ra thế, Hường cố quên đi, để sức mà nuôi con cho nó nên người.”


Tiếng người đàn ông dịu dàng rẽ rọt, tiếng người đàn ông xứ Bắc, chưa hề quen biết, lần đầu tiên xoa dịu cái đau đang vò xé lòng Hường.


- Tôi biết. Hường ơi, tôi biết trước rằng kẻ kia sẽ phụ Hường. Tôi biết nhưng mà tôi không có quyền được nói với Hường như vậy, bởi vì tôi chỉ là một kẻ tầm thường, danh không mà bạc cũng không. Nhưng tôi vẫn yêu Hường, tôi vẫn đi bên cuộc tình ái của Hường, chờ đợi một sự gì thay đổi. Hường có biết không? Tối nào tôi cũng dong thuyền qua nhà Hường để nghe Hường ru con rời rợi như một người quả phụ tuy rằng Hường có chồng. Chao ôi, cái tiếng hát ru u uất trong vườn chuối đêm đêm lẫn với tiếng gà gáy quanh nẻo giang thôn hẻo lánh này. Tôi thương Hường lắm, và tôi biết rằng Hường sẽ phải rời bỏ cái vườn chuối ấy để mà gây lại cuộc đời dang dở của Hường. Tối nay tôi gặp Hường, không biết rằng tôi có xứng đáng được cầm khăn thấm lệ cho Hường không, nhưng dầu sao tôi cũng chỉ dám mong được làm bạn để luôn luôn săn sóc Hường, giúp đỡ Hường nuôi đứa trẻ số phận chẳng may này. Hường ơi, Hường hãy cố quên đi, cố quên đi. Thuyền chúng ta từ nãy đã rời khá xa bến cũ, đã khá xa cái vườn chuối quạnh hiu kia, để sẽ cắm sào bến khác.


Người đàn ông xứ Bắc nói rất hiền, rất dịu và bàn tay anh chàng khẽ vuốt tóc đứa trẻ đang ngây dại nhìn lên cái khoanh lửa tròn do chiếc đèn dầu lạc in hắt ngược lên trên mui bồng.


Nước mắt đã khô dần trên riềm mi, Hường nhìn người đàn ông xứ Bắc. Người đàn ông có vẻ một kẻ giang hồ. Hường thấy lòng dịu lại. Đầu Hường cúi nghiêng nghiêng bên ánh lửa đèn. Hường ôm chặt con trong cánh tay đã đỡ run. Đứa trẻ chỉ ngón tay lên, ú ớ. Hường nhìn lên: trên mảnh ván ghép bên khoang, bóng mình chụm với bóng người đàn ông xa lạ.


Tiếng người đàn ông lại dịu hiền bên tai Hường như tiếng sóng vỗ mạn con thuyền đang trôi trên sông trăng.


- Hường ơi, tôi mong được Hường nói với tôi một hai lời. Đã bao lâu tôi thèm nghe tiếng nói của Hường. Đã lâu lắm rồi, tiếng ca trầm lạnh của Hường tắt trên con sông này. Hường hãy nói đi...


Hường đăm đăm nhìn ánh trăng sáng trên sông khuya. Hường mỉm cười lau nước mắt, hò một hai câu nho nhỏ:


“Trăm năm đành lỗi hẹn hò”


“Cây đa bến cũ, con đò khác đưa...”


Nhưng tiếng hò vừa dứt thì nước mắt Hường lại ứa trào ra, Hường ôm chặt con mà nức nở.


Thế rồi thì con thuyền, khi trăng lặn, đã đậu vào bến lạ mà Hường chưa từng qua đấy bao giờ. Hường ẵm con lên, qua một vườn dâu rộng, đến một lớp nhà lá ba gian sạch sẽ. Người đàn ông ở với bà cô họ ngoại. Bà cụ người Kinh, buổi đầu đã yêu thương Hường, dịu ngọt với Hường cũng như với chàng trẻ tuổi. Hường ở đây ba hôm, tối ngủ chung giường với bà cụ, ngày thì hái dâu giúp bà cụ chăn tằm, và chiều chiều Hường ẵm con đứng vườn dâu nhìn nước sông trôi lặng lẽ dưới bờ rào ô rô. Người đàn ông ôm cây tỳ bà ngồi cách Hường một quãng. Anh chàng là một nhạc công thực có tài, anh dâng cây đờn ép Hường dạo một bài. Hường từ chối, vì sợ cái tiếng tơ rung dưới ngón tay một phen rỏ máu để rồi lại lần này nữa đứt ngang đường cung mệnh bạc. Duyên cầm sắt mới được ba ngày, người đàn ông tự nhiên mang bệnh trọng, không thuốc nào chữa khỏi. Con bệnh cứ lịm dần đi. Bà cô ngoại nhìn đôi mắt dại đờ của cháu, sụt sùi chạy vội mấy nia tằm xuống bếp. Mắt con bệnh trong một phút bỗng sáng lên. Anh chàng cố nói: “Tôi xin Hường cho tôi nghe một tiếng đàn, một câu ca... Tôi tiếc lắm... tiếc đời, tiếc nhạc...”. Cánh tay tuyệt vọng cố chỉ lên cây đàn trên vách. Hường đau đớn ôm đàn. Chiếc trục co rút sợi tơ trùng quằn quại trong bàn tay run rẩy của Hường như tiếng thở cuối cùng của định mệnh. Đường tơ mới thoạt rung, mắt chàng nghệ sĩ đã mờ tinh lạc.


Hường buông rơi cây đàn xuống đất. Ngón tay não nuột vuốt mắt cho kẻ tài tình giữa tiếng khóc bà cô già ôm xác cháu.


Sau đó, Hường từ biệt gian nhà lạnh, ẵm con nhỏ ra đi. Hường bán tư trang, thuê căn nhà lá bên kia sông, rồi lần hồi may thuê vá mướn nuôi con. Thế rồi thì lại một người đàn ông xứ Bắc nữa đã len lỏi vào chuỗi ngày chán nản mà Hường cầm bằng như góa bụa. Người đàn ông này không tài tình như chàng nghệ sĩ, nhưng mà có nhiều tiền. Hắn làm trong nội, quen biết nhiều quan lớn nhỏ, yêu Hường đến si mê, thờ kính. Người ấy theo dõi Hường, khổ sở, và điên dại nếu không được gặp Hường, không được nhìn Hường mỉm nụ cười ái ngại. Thế rồi Hường đã lại đành nhắm mắt đưa chân lần nữa. Người đàn ông nâng hấng Hường với tất cả tấm lòng một người chồng lịch sự và với tất cả sự thèm khát của một người được trèo lên cây ngắt trái chua. Hường ở một căn nhà sang trọng, vui với đàn ca và bạn hữu của mình và của chồng. Đứa trẻ con chồng cũ lớn lên dưới bàn tay chăn giắt, che chở của Hường và dưới con mắt bao dung của người bố dượng. Đứa trẻ tên là Khải. Khải cứng mạnh, và lớn mau như cây cỏ dại, bướng bỉnh như cành gai sắc.


Người đàn ông đã vài lần bảo Hường: “Thằng bé này rồi sau đáo để lắm đây. Mình coi cái trán gồ, đôi mắt xếch của nó thì đủ biết”. Đó là một câu nói đùa rồi bỏ đấy mà thôi nhưng người mẹ đã khóc thầm và từ đấy để ý nhiều đến cái trán gồ và đôi mắt xếch của đứa trẻ nhiều hơn.


Hường đã có mang trong khi Khải lên năm tuổi. Người mẹ kéo Khải vào lòng. Khải nhìn bụng mẹ rồi gỡ tay mẹ lùi ra. Hường hỏi yêu con: “Con sắp có em. Con có yêu em không?” Khải lắc đầu, lủi ra chỗ vắng chơi một mình. Hường buồn bã nghĩ thầm: “Thằng bé này rồi xung khắc em” và lo lắng nghĩ đến những điều oan trái.


Hường đã sinh con gái. Đứa trẻ lớn như một nụ sen trên hồ nước trong. Ai cũng bảo là giống mẹ. Mấy bà cung tần già của tiên đế, thỉnh thoảng thay phiên giữ việc đèn nhang ở trong lăng, ra chơi với Hường, cứ thì thầm: “Con bé này sau xinh đẹp, nhưng rồi cũng giống mẹ mất thôi”.


Trâm - tên cô bé - lớn khôn theo con đường giàu sang thênh thang của mẹ cha. Trâm tươi tốt tinh nhanh bên bộ mặt lầm lỳ hằn học của Khải, con riêng của mẹ. Hai anh em không chơi chung một bóng mát gốc cây, cũng không cầm lẫn một thứ đồ chơi mẹ sắm. Khải ngoảnh đi chỗ khác mỗi khi Trâm được bố mẹ đi đâu về ẵm lên hôn nựng. Khải lạnh lùng xa lánh cả mọi người, tối gặp đâu ngủ đấy, ở xó bếp hay ở gầm thang, và ăn mặc thì gặp sao hay vậy. Khải thích lê la chơi với trẻ nhà nghèo, và hay gây sự đánh nhau với trẻ giàu hàng xóm. Người bố lại một lần cười, nói bỡn giữa một bữa cơm vui: “Thằng bé có gan làm tướng, rồi thì bất trị” Hường lại khóc âm thầm.


Ngày Trâm bốn tuổi thì cha mẹ Trâm đem gia quyến ra ngoài Bắc. Và một bước, bố Trâm nhẩy lên quan. Gia quyến ông huyện Mạnh dọn về ở một cái huyện có nhiều chủ ruộng thích khom lưng và có nhiều dân đen sinh ra chỉ là để giơ khố rách cho đèn giời soi mói.


Ông huyện Mạnh rất hài lòng trong việc làm giàu trên lưng thằng ngu xuẩn, ông cũng rất tận tụy khúm núm trong việc bợ đỡ gót giầy bọn quan thầy.


Đã có những đêm bà Hường thao thức ngắm ông chồng trong giấc ngủ mệt nhọc. Mặt ông bạnh ra, môi ông thâm hơn trước và hình như dày thêm và bóng mỡ như là lúc nào cũng ở trên bàn tiệc. Bụng ông xệ ra, suốt ngày căng rượu thịt. Ông cười nói ồn ào, đi lại rầm rộ như con lợn phá chuồng khi đã đầy bụng cám. Bà Hường nhiều lúc thấy mình lạc lõng bên cạnh người đàn ông ấy. Và hình bóng con sông Hương, hình bóng cây đàn tỳ với anh chàng nhạc công mệnh yểu đôi lúc hiện ra trong tâm tưởng người đàn bà tài sắc. Bà thấy ghê tay cầm những món tiền mà ông chồng luôn luôn bỏ công đường vào hậu thất ném vào cái tráp trầu trước mặt bà theo những tiếng cười khoái trá.


- Ông lấy của người ta...


Ông trợn mắt:


- Sao? Bà chê ít hẳn. Năng nhặt chặt két, bà lớn ạ. Rồi mai kia, càng lên cao, càng tha hồ nhặt.


Ông cười rung cả bụng. Bà Hường đã cúi xuống để cố tránh nhìn mặt ông chồng.


- Không, tôi muốn nói rằng mình lấy của người ta làm gì nhiều thế này...


Ông ngắt lời bằng chuỗi cười ròn hơn, rồi sầm mặt lại:


- Bà không biết gì cả, bà lớn ạ. Bà chỉ biết đẻ thôi. Vậy xin bà cứ đẻ, còn tôi thì cứ làm tiền. Mỗi người một việc. Bà không thích tiền thì đưa chìa khóa két trả tôi, thế là bà không còn phải áy náy lương tâm nữa.


Bà Hường đã lạnh lẽo nhìn ông chồng đang nhoài tay ra vơ vội chùm khóa trên mặt sập:


- Vâng tôi trả lại ông tất cả. Tôi không dự vào việc ông làm, nhưng không bao giờ hết áy náy nếu một ngày sống cạnh ông, tôi còn phải ăn bát cơm, mặc manh áo cướp từ mồ hôi nước mắt của người ta...


Ông huyện Mạnh trừng mắt nhìn người vợ như là khi ông nhìn một anh dân đen ngờ ngẫn đến cửa quan cứ chắp hai tay trắng lạy trời lạy phật, ngu đến mậc không biết rằng trời phật không là gì cả, chỉ có quan lớn và giấy bạc mới đáng kể mà thôi.


Bà Hường ốm mất mấy ngày vì câu chuyện đó. Bà thường nghĩ đến cha ông dòng dõi nhà mình xưa ở trong Kinh làm đến đại thần quản trị khắp đó đây mà không hề để lại oán hờn gì cho dân chúng. Vậy mà ngày nay cái chức tri huyện nhỏ bé của chồng bà có là gì mà hờn oán đã chất đầy thiên hạ.


Trong khi ấy bà Hường lại có mang, rồi sinh con trai.


Trâm, cô gái mỗi ngày một đẹp, ẵm bế em; còn Khải, người anh pha huyết thống, không nhìn nhận gì đến em bé và càng lớn lại càng lầm lỳ hơn nữa.


Bà Hường đặt tên đứa trẻ sau cùng là Lưu. Lưu yếu ớt tật bệnh, tướng dáng tầm thường. Bà Hường nghĩ rằng đứa bé tội nghiệp ấy là kết quả không tốt việc làm bất nghĩa của chồng và là ảnh hưởng sự phiền muộn đêm ngày trong thời kỳ thai nghén.


Cho nên bà Hường dành một cách thiên vị tình trìu mến, vuốt ve ấm dịu cho Lưu. Như vậy năm qua rồi năm qua, ba đứa con cứ theo nhau lớn lên trong cái vinh hoa phú quý của mẹ cha. Nhưng cùng một luống, mà cái cây lớn nhất mỗi ngày một thêm vẻ khác lá, lạ cành. Đã nhiều lúc ngồi trong cửa sổ, bà Hường đăm chiêu nhìn Khải chơi thui thủi một mình, đôi mắt bơ vơ nhìn con gà cô độc trong bờ giậu hay con sâu, con kiến cần cù leo ở chân tường. Ở trong đứa trẻ ấy có một vẻ tủi buồn hờn giận, thù hằn một cái gì từ tiền kiếp. Thành ra những lúc gần con, người mẹ không dám nhìn vào mắt đứa trẻ, tưởng như nhìn thấy tội lỗi của mình trong đôi mắt đỏ lừ của Khải.


Ông huyện Mạnh đã thăng tri phủ. Ông ồn ào báo vợ con tin mừng ấy. Bà Hường bình thản thu dọn hành lý để theo chồng đi trọng nhậm miền xa. Ở đây đất cũng khá lành cho chim cò đậu. Con người làm việc khỏe như con trâu, nhưng con trâu lại khó dậy hơn là ông chủ Mạnh dậy dân đút lễ. Ông phủ Mạnh vẫn luôn khoe với bạn đồng liêu rằng chưa có nơi nào mà dân lại dễ bảo bằng cái dân miền Đỗ Xá. “Cứ thế này tôi xin ở lì tại đây cho đến ngày già hưu trí. Không cần đi đâu nữa”. Ông lại cười khoái trá trước vợ con trong một bữa cơm đầy chim quay, gà béo. Bà Hường đã kém ăn buổi ấy và kêu rức đầu để vào buồng nằm. Tình yêu của bà đối với chồng cứ mất dần theo phú quý do tay người đàn ông ấy gây nên trên nỗi đau khổ oan khốc của con người.


Khải đã được ra tỉnh học. Khải học thông minh, tấn tới khác thường. Năm năm ở tỉnh, Khải không chịu về thăm mẹ một lần nào. Xa thì thương nhớ, bà Hường luôn ra tỉnh thăm con. Là học sinh lưu trú, Khải cố ý lẩn tránh không cho mẹ gặp. Mãi đến một lần, may mắn bà Hường gặp Khải. Khải kéo mẹ ra đứng xa hẳn cái xe hơi bóng nhoáng mà nghiêm trang nói: “Me ngồi trên cái xe bóng kia ra thăm con, vì vậy mà con không dám gặp me. Me cũng thừa hiểu rằng cái xe hơi ấy là xương thịt của người dân, dầu xăng ấy là máu huyết người dân. Me đã biết hơn con, sao me vẫn ngồi trên xương máu của người dân mãi thế!”. Bà Hường đã sững sờ nhìn con mà khóc. Và sau đó, bà Hường không đi lễ bái đền chùa xa bằng xe hơi nữa. Ông chồng ngạc nhiên cứ giục bà bảo tài xế đánh xe đi lễ cho giải trí. Bà thoái thác: “Độ này tôi yếu lắm, ngồi xe hơi chóng mặt”. Ông đã nhìn bà một cách lo lắng, băn khoăn; ông bối rối cho mời bác sĩ ở tỉnh về, hoặc mời thày lang Tầu ngoài chợ phủ vào xem mạch bốc thuốc ngay lập tức, đến nỗi bà Hường phải van lạy ông mới thôi cho.


Khải đã thành một thanh niên đứng mực, trầm lặng, can trường, sâu sắc. Bỗng một hôm Khải về chơi phủ. Ông Mạnh đi hầu quan trên tỉnh vắng. Bà Hường mừng rỡ gọi Trâm, Lưu ra tíu tít chào anh. Khải không kịp ngồi, nói với mẹ dăm câu rồi xin đi ngay vì ở ngoài hàng cơm cửa phủ có hai người bạn đợi.


Cách một tuần sau, Trâm đi chợ về, thầm thì với mẹ: “Con nghe người ta nói có một bọn ba người thanh niên rắc truyền đơn ở quanh vùng này, me ạ”.


Bà Hường không để tâm gì về câu chuyện trẻ nghe đồn giữa chợ.


Lại một hôm Khải về qua phủ. Khải có dáng vội vã, bảo mẹ vào buồng, xin một món tiền lớn. Thấy con về không vào ngày chủ nhật, và lần đầu tiên thấy con hỏi xin tiền, bà Hường lấy làm lạ quá nhưng bà không hỏi, chỉ yên lặng mở tủ lấy tiền đưa Khải. Tuy nhiên, linh tính cho bà cảm thấy một cái gì khác lạ trong đôi mắt người con. Bà run giọng hỏi:


- “Con dùng tiền làm gì? Con đi đâu?”


Khải lẳng lặng bỏ tiền vào túi. Bà Hường thoáng nhận thấy khẩu súng ở lưng Khải. Bà toan níu con lại, nhưng Khải đã chào mẹ ngoắt quay ra, rảo cẳng qua khu sân trải sỏi trồng hoa sặc sỡ, qua hai chòi canh cổng phủ. Ở ngoài cây đa giữa cánh đồng, đã có hai người trẻ tuổi ngồi đợi bạn.


Thế rồi đêm hôm ấy, có tiếng xì xào ở buồng ông Mạnh. Ông đang nằm hút thuốc phiện với lão Thừa già. Lão Thừa chiếu diện tẩu vào lửa đèn cho ông phủ hút. Tiếng lão nhỏ to giữa khói thuốc ngon thơm ở mũi ông Mạnh bay ra, đẹp như là rồng mây gặp hội.


- Bẩm quan, cái việc này phải coi là hệ trọng. Nếu không phòng bị, nhỡ đến tai quan trên thì nguy lắm.


Giọng ông phủ rè rè:


- Có đúng không mới được chứ? Đang thái bình vô sự thế này mà bỗng nhiên làm nhộn lên cái tin truyền đơn, truyền điếc là to chuyện lắm đấy, phải nghe cho đích xác đã.


- Bẩm quan, đích lắm. Xin cho gọi anh cai cho quan hỏi.


Một phút sau người cai vào, mắt còn ngái ngủ. Ông phủ hất hàm:


- Thế nào, chuyện ấy ra sao?


Bác cai cố giấu cái ngáp sau bàn tay đen thủi:


- Bẩm quan, chuyện ấy xuôi rồi ạ.


- Xuôi thế nào?


- Bẩm, lão lý trưởng xin khấn đủ một nghìn. Còn lão chánh tổng cũng xin vi thiềng như thế ạ.


Ông phủ có vẻ bằng lòng nhưng cũng gắt:


- Hiểu rồi, con khỉ! Ta hỏi cái việc ba thằng ranh con nào giải truyền đơn, truyền điếc, diễn thuyết, diễn thiếc gì cơ mà. Có đích không?


- Bẩm, đích ạ. Con nghe nói đêm nay chúng nó... ngủ ở miếu cánh đồng Lộng Phượng.


Thốt nhiên, lão Thừa già ghé tai ông phủ Mạnh.


- Con nghe nói trong bộ ba ấy có cả... cậu cả nhà ta.


Ông phủ ngơ ngác:


- Ông bảo thế nào?


Lão Thừa chọc mạnh mũi tiêm vào điếu thuốc trên nhĩ tẩu:


- Bẩm vâng, cậu cả nhà ta.


Mắt ông phủ mở to ra:


- Thế nào, thằng Khải nhà tôi?


Lão thừa đáp gọn:


- Đích ạ.


Ông phủ Mạnh ngóc đầu khỏi mặt gối như muốn vùng lên, nhưng rồi lại để rơi đầu xuống. Ông xoay mình nằm ngửa bụng, mắt trân trân nhìn lên trần nhà. Trong đầu ông rối loạn những con dấu hỏi và dấu than, sắc mạnh như là những con dấu bạc.


- Thằng Khải, thế là thế nào? Thằng Khải, ô hay nhỉ, thằng Khải! sao lại như thế được?


- Rước cụ xơi kẻo nguội.


Ông phủ Mạnh nghẹo cổ bắt môi vào cái đầu tẩu ngọc thạch. Qua hơi khói, mắt ông phủ lờ mờ hình dáng Khải “trán nó gồ cao, mắt xếch ngược, mặt lầm lì, môi mím chặt, hai chân lúc nào cũng như muốn chạy nhảy, leo trèo, hai cánh tay nó lúc nào cũng như muốn ôm chặt lấy người ta để bẻ xương vặn cổ, đâm chém”...


Và qua tiếng nhựa reo seo séo, câu nói ông thường tàn nhẫn nhắc luôn trước mặt bà Hường lại như văng vẳng: “Thằng ấy có gan làm tướng, rồi thì bất trị”.


Ông vùng nhỏm dậy. Nhưng khi nhìn ánh đèn bên buồng vợ còn le lói, ông thấy cái ý định cả quyết sắp thi hành như bị va chạm vào một tình thương nhi nữ. Đầu ông thấp xuống. Ông châm điếu thuốc lá tàn vào cái lư đồng nhỏ. Ông lại nằm xuống ngửa mặt nhìn lên trần nhà.


- Rước cụ lớn!


Ông gạt dọc tẩu, giọng yếu đi:


- Thôi, tôi nghỉ một chút. Ông hút đi.


Trong cái tiếng ro ro vui vẻ ở bên tai, mắt ông phủ trân trân nhìn lên những chiếc khung sơn son thếp vàng chói lọi lồng những bức bằng sắc vẽ rồng, vẽ phượng. Trên cái tủ tàu gỗ trắc chứa ngà voi, chén ngọc, tượng vàng, lọ cổ, treo bức ảnh ông mặc triều phục tô màu rõ cả từ cái móng con rồng cho đến cái đuôi con phượng, và cả đợt mây bay dưới vạt áo. Và ở bên đầu ông, phía góc tường kín đáo, cái két bạc sắt đen sì, trong đó giấy bạc xếp chen chúc với ngọc vàng, ông vẫn cho là ông còn nghèo lắm, phải giàu hơn mới được và nhất định cứ xin ở lì mãi cái phủ này mươi năm nữa, vì cái dân vùng Đỗ Xá này dễ dạy.


Ý nghĩ lan man trong cơn say dở, giây phút làm ông quên cái việc “truyền đơn, truyền điếc” mà lần này, cũng như đôi khi vui chuyện quanh bàn tiệc cơm tây, cơm tàu với bạn đồng liêu, ông và các bạn ông vẫn nói một cách khinh bỉ, chế diễu.


- Bẩm cụ, con xin ra cắt phiên gác cho anh em.


Bác cai muốn rút lui để nối lại giấc ngủ đang ngon lành. Ông phủ vội vàng quay lại với vấn đề quan trọng:


- Thế rồi sao nhỉ, ông Thừa? Ông vừa bảo cái thằng Khải nhà tôi?


Giọng lão Thừa lúc nào cũng chậm rãi và sang sảng:


- Bẩm quan, đích thị cậu cả nhà ta. Con nghĩ rằng quan nên xử trí ngay kẻo lỡ ra thì khó che đậy lắm.


Ông nhắm mắt, lịm đi một lát, theo thói quen của ông mỗi khi sắp giải quyết một việc gì hệ trọng mà mảy ra tiền, như là việc dọa thu triện một viên tổng lý, việc bắt khai quật ngôi mả ông nghe phong thanh kẻ chết không vì bệnh mà là bị đòn thù hay thắt cổ...


Ông ngồi hẳn lên, mắt quắc, giọng đanh thép như lúc hỏi cung:


- Anh cai biết việc ấy sao không báo cho tôi biết sớm. Anh có tội a tòng đó.


Bác ta hốt hoảng:


- Bẩm con không dám báo vì có cậu cả nhà.


Vẻ mặt ông dịu lại. Ông thở dài, quay lại lão Thừa già:


- Thôi thì cứ phải làm theo phép nước mới xong ông Thừa ạ. Không thể vì tình riêng được. Chuyện này thế mà quan trọng.


Rồi ông truyền lệnh:


- Bác cai xếp ngay mười tay súng đi truy nã đêm nay mấy thằng xui dân phiến loạn đem về giam giữ.


Nhưng cái ánh đèn buồng bên cạnh thốt nhiên làm ông thay đổi ý nghĩ.


- Không, đừng giải về phủ nữa, cứ xích chặt lại giải ngay lên tỉnh, tôi làm tờ bẩm sau cũng được.


Và ông quả quyết:


- Đi ngay đi! Hỏng việc các anh bị nghiêm phạt đó.


Người cai bước ra khỏi buồng, lao đao run sợ.


Ông phủ lại ghé mình xuống cái nệm gấm mà hồi tháng trước, một ông điền chủ thân chinh đến trải lên sập cho quan lớn nằm “du du”.


Ông hút một chập ba điếu liền rồi lẩm bẩm như là chưa hết ngạc nhiên.


- Quái thực, thằng Khải, thằng Khải! Chưa ráo máu đầu đã cách mệnh, đã cộng sản!


Răng ông rít lại:


- Phen này thì ông cho đi nếm đòn tù. Có thế mới mở mắt.


Ông lim dim mắt. Buồng bên kia, ánh đèn le lói, có tiếng thở dài của bà Hường và, im lặng một lúc, lại có tiếng hát nho nhỏ của Trâm thức khuya để làm bài.


Lão Thừa cũng say nên được lệnh về sau bữa thuốc hầu quan như thường lệ. Ông phủ im lìm ngủ. Bà Hường rón rén mở cửa vào. Bà kéo cái mền đơn đắp bụng cho chồng. Ông khẽ cựa mình lẩm bẩm:


- “Cách mạng cái gì... ông thì cho đi tù... mẹ kiếp!”


Bỗng nhiên, hai ba tiếng súng nổ vang đêm khuya.


Bà Hường bắt rùng mình, bủn nhủn, linh cảm một cái gì tan vỡ, đau buốt trong tâm hồn suy nhược của bà. Bà lắng nghe, lắng nghe tứ phía, nhưng đêm khuya lại nặng nề dằng dặc... Bà khẽ đặt tay vào vai ông. Ông giật mình đánh thót, mở mắt ra:


- Cái gì thế mình?


- Tôi vừa nghe có tiếng súng nổ ở mô...


Ông phủ giương mắt nhìn vợ. Rồi vội nhìn đi chỗ khác. Giọng ông như cố trấn tĩnh, phì phào:


- Lại một đám cướp vặt nào đây mà. Đã có lính nó đi tuần. Bà về nghỉ đi, người yếu thức làm gì khuya thế?


Nói rồi, ông kéo chăn chùm kín mặt. Bà Hường váng vất, bủn rủn thêm, phải vịn tường để lần về buồng mình. Bà ngồi xuống chiếc ghế trong cửa sổ, nhìn sững ra ngoài đêm tối.


Trâm gấp sách, đến đứng bên cạnh mẹ. Trâm khẽ nói:


- Me nhìn gì thế, me?


Chợt Trâm reo thơ dại:


- A kìa, me trông, có ngôi sao rụng. Người ta bảo mỗi ngôi sao rụng là một người chết phải không me?


Bà Hường trân trân nhìn vào bóng đêm mịt mù, vô tận, bà nghĩ đến Khải... khẩu súng sau lưng Khải... Khải ngã trên vũng máu...


- Ôi chao ôi!


Bà đưa hai bàn tay lên ôm lấy mặt. Tiếng khóc nghẹn ngào và xé lòng của người mẹ nức lên, Trâm ôm cổ mẹ:


- Me, sao tự nhiên me khóc. Ba bảo ba chẳng hiểu me ra làm sao cả. Con cũng thế, con chả biết me nghĩ những gì, có khi me nói những gì con cũng không biết nữa.


Người mẹ sống im lìm, đau câm, sầu nín như vậy cho đến mấy ngày sau, Trâm cầm tờ báo ở tỉnh gửi về, đem vào buồng đọc, bên cạnh mẹ:


“Ông phủ Mạnh đã lập được một công trạng lớn với Chính phủ bảo hộ. Mười tay súng của ông giữa ban đêm can đảm đến đồng làng Lộng Phượng vây bắt ba tên hội kín. Một người trẻ tuổi nhất tên là Lê Hùng Khải đã rút súng lục ra chống cự, bắn chết một người cai, một người lính bị trọng thương. Nhưng rồi hung thủ cũng bị bắt tại trận sau khi bơi qua một con sông và vượt mấy cánh ruộng. Hai tên kia trốn thoát, hiện giờ ông phủ Mạnh đang cho lính lùng khắp các làng, trước sau hai tên hội kín cũng sa vào lưới pháp luật. Thiên bất dung gian!”.


Bà Hường ngất lịm đi. Trâm và Lưu cuống quít gào khóc ầm nhà, đến khi ông phủ đi công cán về - tức là đi lùng bắt hai tên hội kín kia - thì bà Hường đã tỉnh. Bà Hường trừng trừng nhìn vào mặt chồng, nước mắt trào dàn dụa. bà muốn thét lên, thét vào mặt người đàn ông ấy, kẻ sát nhân ấy, nhưng bà ghê sợ và ghê tởm nữa, bà nhắm nghiền mắt lại, ngoảnh vào tường.


Từ hôm ấy, bà Hường ốm liệt giường mất hơn hai tháng; bệnh trạng đã hơi lui, bà càng thấy cuộc đời thêm sầu khổ bên một người đàn ông độc ác với giọt máu của mình, tàn nhẫn cả với tình chăn gối chốc đã hai chục năm trời.


Đến khi bà Hường lành mạnh hơn thì lại tiếp ngay tin Khải bị tòa kết án khổ sai biệt xứ. Thế là xong. Người mẹ thương con lại ốm, bệnh não trầm trọng hơn kỳ trước. Ông chồng có ý lánh mặt người vợ âu sầu, và còn có khi ông gắt cả với Trâm: “Mẹ mày lạ lắm, thực là vướng víu cho tao!”. Trâm cũng thấy cha là bất nhẫn, cho nên Trâm càng quấn quít bên cạnh bà Hường, và do vậy, lâu dần, sống gần sự trầm lặng câm nín của người mẹ luôn luôn rã rời trong cái đau tê lịm của tâm hồn, Trâm cũng chịu ảnh hưởng mà trở nên ít cười, ít nói.


Rồi đó, hoa rụng đã ba xuân, tóc Trâm dài thêm, mắt cô trong thêm và lòng cô hiền dịu như một con bướm vườn hoa kín. Cô càng giống mẹ, giống như là cái bạc mệnh mang cùng duyên kiếp với cái hồng nhan mà tự cổ ông trời vẫn ghét.


Cô bảo mẹ dạy đàn ca. Nhưng bà Hường vội gạt: “Lại còn tìm chi những lối đoạn trường mà đi, mẹ đã khổ vì cái trò chơi ấy. Con gái nên xa lánh đàn ca, con ạ”.


Cô nghe lời mẹ, chỉ còn ham việc học, đường kim mũi chỉ và bếp nước. Thỉnh thoảng theo mẹ đi lễ mấy đền chùa quanh vùng. Cô không được cùng mẹ ngồi xe hơi lễ bái các đền chùa xa như trước nữa, mà cô cũng chả hiểu tại sao.


Thằng Lưu lớn lên, bệnh tật có ít đi nhưng nó vẫn là đứa trẻ không gây được hy vọng cho cha mẹ. Nó học dốt, suốt ngày nói nhảm cùng lính tráng, anh bồi, chị vú, và thích nghe tán chuyện tò mò, bậy bạ về trai gái. Luôn luôn, người ta thấy cậu con quan ấy dẫn cái mặt xanh xao, đôi mắt lờ đờ ra cánh đồng vắng tìm trêu bọn con gái chăn trâu cắt cỏ. Chuyện ấy đến bà Hường. Người mẹ chán nản nghĩ thầm:


- “Cái nhân không tốt thì cái trái phải sâu, tội lỗi ở mình mang cả.”


Bà Hường tuyệt vọng và cứ như vậy, sống quanh quẩn bên Trâm giữa một cái phủ chung quanh vườn rộng ao sâu, tường cao, hào lớn ngày đêm bọn lính tráng, sai nha, lúc nhúc để dọa nạt lũ người ngả nón vác ô khúm núm, và nhớn nhác để tranh nhau vồ, ngửi, xâu xé đồng tiền moi móc được ở những chiếc bao lưng cáu bẩn và những tiếng bẩm thưa nịnh nọt, những tiếng cười kiêu hãnh ở phủ đường, những tiếng quát tháo ở chòi canh, những tiếng kêu la gào khóc ở nhà lô cốt giam tội phạm. Ngoài bức tường cao, hào lớn, là một cái phố nhỏ lèo tèo dăm nóc nhà ngói kiêu hãnh trên hơn chục mái gianh, dăm ba chú khách thuốc ơ đến bày dao cầu, ô thuốc làm lương y chữa bệnh sản bằng lá ổi, bệnh sốt bằng đất sét, bệnh run chân tay bằng cơm nguội.


Vây chặt mấy chú khách cứ béo tròn trông thấy và mấy thím khách luôn luôn ra tỉnh bọc thêm mãi răng vàng, là dăm ba cửa hàng mắm muối, rượu phông ten, củi bó, gạo bơ, và bác thợ cạo chờ húi đầu cho đám lính tráng ngồi gãi ghẻ. Cách đấy vài bước là mấy hàng cơm, quán nước ngóng bán rượu, chè xôi cho bọn dân đen hiếu sự đến hầu quan.


Chợ phủ thì dăm ngày hai phiên chính, sép. Chợ ồn ào từ sớm, chưa quá ngọ đã tan. Mấy chục gánh ngô, khoai, đỗ, nghe chừng sắp thóc cao gạo kém thì mấy thím khách đem đấu ra đong thuê gánh về đóng cót đầu cơ. Có vài con cá béo thì bà ký ty rượu hay bà nho, cụ Thừa bà ra mua chịu khi nào tiện có tiền sẽ trả. Còn lại cám ế, rau già, gạo xấu thì những chị dân cầy le te xốc váy chạy từ cánh đồng xa đến tranh nhau như lợn đói tranh bèo. Trong khi ấy, để gây duyên cho chợ phủ, vài ba cô gái phủ chả biết làm gì thì thi nhau buôn hàng xén để làm chỗ cho những anh giai áo cánh lục, nón dứa Nghệ đến rập rìu mua viên lơ, gói thuốc lá, bánh xà phòng hay là chiếc sáo diều hạng lớn, tỏ ra mình là trai phú hộ chỉ biết có ăn chơi, nhàn rỗi.


Quang cảnh cái phủ nhỏ bé này có thế thôi, vậy mà bà Hường đã sống âm thầm, lặng lẽ như một kẻ tù đầy hơn bốn năm ròng. Bốn năm ngồi trên gác sân trông ra con đường dốc lên cổng phủ, bà Hường và Trâm đã nhìn bao nhiêu hoa phượng rụng cùng với tiếng ve kêu ra rả mùa hè và đếm bao nhiêu lá me, lá sấu rắc vàng đường những buổi chiều gió heo may lộng cả cánh đồng.


Thế rồi thì trời đất bỗng nổi cơn gió bụi.


Ở chợ phủ, ở phố phủ, ở ngay cổng phủ và ở chính ngay trên chòi vọng gác, một sớm mở mắt ra, người ta nhớn nhác nhìn những lá cờ là lạ bay phấp phới.


Bọn lính tráng, bọn nha lại xôn xao báo tin dữ dội kia với quan thày. Ông phủ Mạnh còn ngờ ngợ như là một giấc chiêm bao.


Rồi thì tiếng súng nổ ran bốn phía tường rào. Hàng nghìn người quần nâu áo vải, xông vào trói ông phủ lại. Họ nhốt ông vào lô cốt. Họ dắt mẹ con bà Hường đi một chỗ, rồi rạ rơm chất đống, cái phủ đường ngùn ngụt cháy rực trời.


Suốt ngày hôm sau, mẹ con bà Hường bị nhốt trong một gian nhà lá giữa một cánh đồng có người canh gác.


Thốt nhiên một loạt súng nổ xa xa. Ở ngoài vách, tiếp theo tiếng cười ghê rợn của hai người vác giáo qua lại ngoài cánh giại:


- Thế là xong đời thằng Mạnh!


- Ừ, thế là xong đời thằng hút máu người! Tớ hả dạ quá, vừa tháng trước mẹ tớ ốm, tiền thuốc không có mà phải bán cái lư thờ đem lên vi thiềng nó mới xong cái án chặt măng nhà thằng bá Tháp.


- Ừ, thằng bá Tháp thế nào đêm nay anh em cũng xử giảo.


- Còn thằng lý Định, thằng chưởng bạ Hương phen này thì làm quỷ hết! Ha ha! Thích ghê!


Giữa tiếng cười qua vách đất, Trâm và Lưu lăn lộn khóc. Bà Hường không khóc, bà ngồi tựa góc tường yên lặng, bà mê loạn trong trạng thái kinh hoàng tột bậc, cảm giác không còn nữa.


Ngoài kia, cánh đồng sương mờ ánh sao.


Ở những thôn xóm xa gần trong sương thu, tiếng chó sủa, tiếng chân người dậm dịch.


Về phía phủ, văng vẳng tiếng búa đe rộn rã.


Đêm ấy, người ta không nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt với những tiếng ru êm rời rợi dưới những mái tranh tăm tối mà người ta nghe thấy những câu hát lạ bay vút ở ngoài đường, ngoài ruộng, ngoài trời”.


 


Chương Hai


- Bà Cả ơi, hôm nay trời nắng ấm đấy. Cô Trâm đã dậy chưa?


Bác Vạn gái đứng ngoài bếp nhìn vào, xoa xuýt kêu rét, Bà Hường đang róm bếp, khói cay cả mắt, nói vọng ra:


- Bác Vạn đi đâu sớm thế? Để tôi mở liếp bác vào chơi.


Bà thổi thêm một hơi nữa cho lửa rơm bắt vào mấy cành củi ướt, rồi đứng lên đẩy hé cánh liếp nứa mới thuê đan bữa nọ.


Bà Vạn lách mình vào, dựng đôi bơi chèo nơi góc vách. Bà Hường tươi cười nhìn bác Vạn:


- À, hôm nay bác trai cũng ra đò hẳn, thảo nào bác gái vác một đôi chèo ra bến.


Bác Vạn gái cũng cười. Đôi mắt bác tít đi. Bác tuy làm ăn hai sương một nắng nhưng còn trẻ nên cũng dễ coi, chẳng thế mà bác trai ghen đáo để. Một hôm bác đã vui miệng kể với bà Hường và Trâm câu chuyện ghen tai ác của chồng: Trên đò có một anh chàng lém lỉnh cứ chen bằng được mọi người để đứng cạnh bác Vạn gái ở đầu thuyền. Bác Vạn trai đứng ở đầu thuyền kia tức quá. Bác còn tức hơn nữa vì anh chàng lại cười nói với vợ bác làm như là thân thiết tự bao giờ. Bác trai uất giận đã chèo mạnh quá làm chiếc thuyền nghiêng ngả, tròng trành, nước sóng cả vào trong ván. Hành khách kêu ầm ỹ, nhưng may mà con sông hẹp, thuyền đến bờ ngay, chứ lòng sông rộng thì nhất định là bác Vạn trai đã dìm cả mấy chục người rồi. Tối hôm đó, bác Vạn trai đánh ngã nửa chai rượu để rồi lầm bầm chùm kín chăn mà chửi bác gái mấy câu rõ tục. Bác ta hay nể vợ, có văng tục hay chửi bới nhau thì chờ tối tăm đóng cửa hẳn hoi, nghe trước nghe sau, buông màn kỹ lưỡng, bác mới văng mấy tiếng. Bác sợ nhất cái câu: “bà con hàng xóm chê cười”. Vợ chồng lấy nhau, đem nhau đi đất khách kiếm ăn khó nhọc, lại con sống có, con chết có, quá nửa kiếp người rồi, còn trẻ trung gì nữa. Lúc nào bác cũng đay câu “quá nửa kiếp người rồi” để cố nhắc người vợ còn trẻ, còn sạch nước cản của bác nhớ rằng bác đã ba mươi bảy tuổi. Đối lại những cuộc nghiến ngẩm kín tiếng ấy, bác Vạn gái chỉ tít mắt cười, vạch yếm cho thằng cu bú tí ngay trước mặt bác, thế là xong chuyện.


- Thế cô Trâm cháu làm gì sau nhà ấy, thưa bà?


- Cháu nó làm cua, trời rét dạy muộn quá, hai mẹ con rối lên mà chưa xong việc gì từ nãy.


Bác gái nhanh nhảu như là cái tính quen của bác:


- Để cháu vào làm cua giúp cô Trâm. Đã rét mướt, lại tay tiểu thư lóng cóng.


- Thôi, cám ơn bác. Bác còn về làm hàng nhà chứ.


- Không ạ, mọi sự bố cháu kiêm chi tất cả. Được cái chồng lành, hay làm hay ăn, chứ một mình mà cứ quần quật hầu chồng hầu con, kiêm chi mọi việc thì ốm mất. Bố cháu làm xong rồi ra đò, ở nhà có bà cụ cháu trông nom giúp đỡ, vừa bán hàng vừa chăn lũ trẻ con.


Bác vào sân, ngồi thụp xuống ôm cổ Trâm thân mật:


- Chào ôi, tiểu thư tôi tay ngọc, tay ngà thế này mà cua kềnh nó cắp thì tha hồ mà mếu. Thôi đi rửa mặt vấn tóc đi, để cháu làm giúp.


Trâm cảm động:


- Bác tốt quá, chúng tôi chẳng biết cách nào đáp lại được.


Bác Vạn cười ròn rã:


- Cô đến hay cẩn thận. Bà con giúp đỡ nhau là sự thường tình. Giá không loạn lạc thì việc gì bà và cô phải đến đây. Sống lầm than vất vả thế này. Mà không loạn lạc thì cũng chẳng đời nào chúng cháu được gần cô, được ngồi với cô như thế này. Chắc nhà ta to lắm nhỉ, ở Hà Nội hay ở Hải Phòng?


Trâm ngượng nghịu:


- Chúng tôi trước cũng ở nhà quê, cũng nhà gianh vách đất thế này, buôn bán qua quýt chứ làm gì có nhà to.


Bác Vạn ném mấy con cua bấy ra xa xa. Đàn vịt chạy đến tranh nhau mổ, đuổi nhau xuống tận ao bèo.


- Cháu chả tin, chắc nhà ta giàu lắm. Cứ trông bà cũng đủ biết. Sao bà cụ đẹp thế nhỉ. Bố thằng cu nhà cháu cứ bảo là bà Huế trông y như bức tranh tố nữ thổi sáo đánh đàn treo ở bên hàng bà lý Bá ấy. Cháu ngắm bức tranh bên hàng bà lý Bá rồi ngoảnh lại ngắm bà bên hàng nhà ta thì quả là giống hệt. Cũng tóc dài, cũng mắt phượng, cũng mũi dọc dừa, cũng bàn tay, bàn chân óng nõn. Cô cũng thế, cô giống bà như đúc, từ kẽ tóc chân tơ. Cô không biết đấy chứ, ở khắp vùng này, kẻ đi chợ, người qua sông, ai cũng bàn tán sao lại có hai mẹ con giống nhau thế, xinh đẹp như thế mà phải dọn quán bán hàng.


Cô cố nén tiếng thở dài buồn tủi:


- Nào riêng gì chúng tôi đâu. Loạn lạc này còn kéo dài thì khắp bốn phương thiên hạ còn nheo nhóc, lầm than hơn nữa. Hiện giờ đã có bao nhiêu gia đình không có chỗ dung thân, sống bấp bênh chẳng có nghề nghiệp gì chắc chắn. Có đồng nào moi ra buôn bán thì thua lỗ. Cậy cục xin được ruộng thì…


Bác Vạn gái ngắt lời:


- Thì chết cứng ra với đất. Như nhà cháu bách công làm gì cũng được, thế mà chịu, không dám xin ruộng đất. Phần nhiều người ta thí cho ruộng xấu, ở miền trên thì xa sông xa máng, ở miền dưới thì úng thủy, phân gio đắt như vàng, lại trâu mướn cầy thuê, cỏ nhiều hơn lúa, thế là con nhà nông mất nghiệp. Cứ nhiễu loạn mãi thế này là còn đủ cách chết.


Bác Vạn lại ném con cua bấy ra xa. Đàn vịt xô nhau tranh cướp, mổ nhau, đuổi nhau tới tấp. Con gà yếu ngã chúi để rơi miếng ăn cho con vịt khỏe, nó lại đuổi kỳ cùng con vịt để giật cho được con cua thối, cố nuốt trôi vào bụng, nhưng con vịt không để nuốt trôi lại xô nó ngã mà cướp lại. Cứ thế, đàn gà vịt đuổi nhau rối rít, mà chưa con nào đưa được vào trong bụng miếng ăn.


Cô đứng dậy, cười bảo bác Vạn gái:


- Ấy thế, cứ còn là khổ, bác Vạn nhỉ; nhưng chị em mình vẫn sướng, vì vẫn được trường kỳ giã cua đều. Bây giờ còn được ngồi vắt vẻo mua cua, chê bai lũ trẻ bán cua đồng, cua dậm, cua gầy, cua béo, chứ mai kia rồi chị em mình cũng đến cung buộc túm váy đi mò cua hết.


Bác Vạn đã giã xong cua và cô đã cời xong gạch. Cô lọc cua, lọc mẻ, phi hành mỡ cà chua thơm ngào ngạt. Bác Vạn đứng xem cô làm như người vụng đến học nghề:


- Cô nấu riêu cầu kỳ thế không trách cướp hết khách của hàng quán bên này. Riêu nhà quê chỉ chạy qua hàng mỡ, mà làm gì có mẻ, thành ra cứ nhạt tanh như nước ruộng. Chắc cô nấu cỗ tầu cỗ tây khéo lắm. Chúng cháu cố đợi bao giờ cưới cô Trâm thì tha hồ ăn cỗ to, thật đấy.


Bác Vạn vừa cười vừa ra nhà ngoài.


Trâm đẩy mớ rơm vào bếp lửa. Một luồng gió ao sau lùa vào làm tê lạnh lưng cô. Cô đẩy thêm rơm vào bếp đun nước pha chè tươi, ngồi nhích gần vào hơi lửa.


Bà Hường ở ngoài nhà lấy trầu cau đãi khách. Bác Vạn mân mê miếng vỏ, miếng trầu không têm cánh phượng trong tay:


- Lần nào sang bà cũng cho cháu ăn trầu.


Bà Hường nắm tay người bạn nghèo, thành thực đáp:


- Thì giàu nghèo cũng phải có miếng trầu bát nước đãi nhau chứ sao. Loạn lạc này mới biết giàu sang, danh giá đều là không hết, chúng mình nhờ trời còn sống ngày nào thì còn lấy cái nết ăn, ý ở với nhau là quý mà thôi.


Giọng nói êm dịu, trong trẻo của bà Huế ngụ cái ý tình thương yêu thắm thiết làm bác Vạn gái bồi hồi. Bác yên lặng một lúc rồi khẽ nói:


- Vâng, thưa bà chính vậy. Lúc này là lúc ông trời cân phúc cân tội chúng mình đấy.


Đoạn bác thầm thì:


- Lạy Chúa, Chúa thương chúng con. Lạy Chúa.


Gió trên cây đa rót xuống hun hút lạnh. Bác Vạn giúp bà Hường kéo sang một bên tấm liếp cửa đang bị gió ngoài kia đập vào phành phạch. Rồi bác vác đôi bơi chèo lên vai. Ra cửa, bác nhìn lên trời vui vẻ nói:


- Trời hẩng nắng. Cầu ông ấm lên kẻo con nhà nghèo chết cả.


Bác Vạn trai cũng vừa đi đến cửa, chào bà Hường rồi khẽ bảo vợ:


- Sớm ra đã trầu cau toe toét, đàn bà hay chưa.


Bác Vạn nhổ cốt trầu xuống đất, nguýt chồng:


- Bà cụ Huế cho đấy. Trầu của bà cụ ăn thơm ngon lạ. Đã khéo, đến lá trầu têm cũng khéo.


Bác Vạn trai nhìn vợ say trầu cau, má đỏ bừng bừng, vành môi cắn chỉ.


- Đưa chèo ta vác cho nào. Ối dào, rét gớm. Đi gần vào cho đỡ rét.


Hai vợ chồng rảo bước ra ngoài bến, vì ở bên kia sông có một bọn đang ngồi xúm xít đợi đò.


Bà Hường múc bát nước chè tươi, vừa uống vừa nhìn theo vợ chồng bác Vạn. Qua hơi khói mờ tỏa trên bát nước vàng trong, bà Hường thấy thoang thoáng một hình bóng ảo mờ, bàng bạc ở đâu từ kiếp trước. Bà khép mi mắt trên hơi khói, hai giòng lệ lăn xuống má từ từ:


- Ấy thà rằng như thế lại còn hơn!


Bà quay vào, nhớ đến câu Cung oán: “Thà rằng cục mịch nhà quê…”. Ý nghĩ người mẹ bị tắt ngay bởi tiếng Lưu ở trong giường đang hé chăn thò mồm ra hát Tiến quân ca, Thiên thai, lại mần cải lương Sài Gòn và tuồng cổ nheo nhéo. Lưu có tài ca hát. Bà Hường quay lại:


- Thôi mẹ xin con. Ngày nào cũng ngủ đến quá trưa mới mở mắt ra, mở miệng là hạch cơm rau, gạo xấu, rồi lại đi cho đến tối, đến mai sớm mới về. Con không thấy rằng cái thằng con trai sống như thế nhục nhã lắm sao, hả Lưu?


Nó cười khanh khách, rồi ca vọng cổ, gọi mẹ là “Mẫu hậu” và Lưu là “Vương nhi”.


Trâm, bụi gio bám trắng cả đầu tóc đang lom khom bưng nồi riêu nặng ra hàng. Cô đặt nồi riêu xuống, ôn tồn bảo em:


- Me răn dậy mà em lại hát ầm ĩ lên như thế là hư lắm. Em ngần ấy tuổi đầu rồi mà không biết nghĩ rằng cảnh nhà ta bây giờ không phải như ngày trước nữa. Em không biết là me và chị dạy từ gà gáy ư? Thức khuya dạy sớm vất vả thế này để làm gì, em cũng hiểu rồi đấy. Vậy sao em không thương me, nể chị một tí hả Lưu?


Lưu trùm chăn cười khúc khích, rồi giở giọng hát chèo:


“Kim Liên em hỡi Kim Liên,


Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”.


Nó hát rất hay, đánh trống cơm kéo nhị bằng mồm rất giỏi. Lần nào cũng vậy, nó hát và pha trò để đáp lại lời mẹ hay lời chị mắng, rồi dé chân lảng đi biệt cho đến tối mới mò về.


Người lái than vẫn quen nghỉ ở hàng này vừa ghé nón chưa ngồi xuống ghế đã vỗ đùi khen:


- Hay! Cậu Lưu nhà ta hát hay đến thế mà bây giờ tôi mới biết tài. Làm một câu nữa nghe chơi nào. Bà mắng hay cô Trâm mắng đã có tôi xin hộ.


Nó thò đầu ngó ra. Vừa lúc ấy, cô Đào đỗ gánh bún trước hàng. Cô Đào ở trên làng Dã, quanh năm vắt bún bán cho các hàng quà ở suốt dọc đường này và bán buôn ở các chợ bên kia sông.


Nó tung ngay chăn vùng xuống đất, với cái áo tây dạ khoác, lê vội guốc vào sân rửa mặt chải đầu mượt rồi ra hàng ngồi nhìn cô hàng bún.


Đào là một gái tơ xinh đẹp, mắt đen da trắng, răng chưa nhuộm, thon dáng, đùi dài, ăn nói nết na. Nó mơ tưởng Đào, nhớ nhung Đào, và đã nhiều lần nằm dài trong chăn, nó phác họa cô gái quê ấy một ngày kia là vợ nó, nếu trang điểm lối tân thời thì gái khuê các tỉnh thành không ăn đứt.


- Thế nào cậu Lưu hát cho nghe chứ, sao cứ ngây ra thế kia?


Bác hàng than biết Lưu đang ngây ra vì cô hàng bún, càng trêu tợn:


- Cậu Lưu mà hát thì tôi cũng mê chứ đừng nói là ai kia nữa. Tài hoa thế làm gì mà không mê.


Bác hàng than vào cái hạng lém lỉnh, tổ tôm, xóc đĩa, ký văn tự nợ. Bác hết nháy nó lại đưa mắt sang cô hàng bún. Đào đỏ mặt, đặt rá bún bên chõng hàng, rồi quảy gánh ra ngoài bến.


Cậu trai xanh xao ngây mặt nhìn theo cô gái đẹp. Nó tròn mắt ngắm như nhai nuốt cái khuôn mặt trái xoan tựa hoa đào trong nắng sớm, bộ ngực tròn căng rướn nhẹ về phía trước và bộ đùi lớn trong chiếc quần lụa thâm bước đều trên mặt đường. Chiếc đòn gánh mềm rung trên chiếc vai tròn đẹp và một cánh tay lẳn trong chiếc áo vải đồng lầm vẫy dẻo dang theo nhịp chân thoăn thoắt.


Trâm lừ mắt bảo nó vào. Nhưng chờ cô hàng bún xuống khỏi dốc bến rồi, nó mới quay vào ngồi phịch xuống ghế. Bác hàng than lại ba hoa sau khi đã ăn xong hai bát bún và uống cạn hai cút rượu.


- Bây giờ thì cậu lại hồn rồi, hát chắc hay hơn ban nãy. Nào hát đi, tôi thổi kèn, kéo nhị.


Bác nheo con mắt hiếng, hất mớ tóc dài sang mang tai, cười nhe chiếc răng vàng:


- Đây cũng lăn lóc theo gánh tuồng chèo, ba bốn phen giang hồ chán rồi đấy nhé.


Bác búng đầu hai ngón tay vào nhau cho kêu lên ba tiếng rồi cười khẩy, giọng đã có vẻ ngả men:


- Cánh ta cả đây mà. Loạn thì đi buôn. Bình thì đốt lửa đêm và lăn mộc trên đồng cạn. Cậu ấm hiểu chưa?


Bác ngửa cái chén đã úp lên:


- Xin bà rượu nữa. Chả mấy khi… lâu lắm cháu mới uống.


Rồi quay lại nói với nó:


- Nào hồi tiếu, vãn bộ, tẩu mã, cái gì cũng được, hát đi cậu Lưu. Hát đi.


Nó cười ranh mãnh đáp:


- Bây giờ tớ chỉ có thể ca “Trường tương tư” là hay nhất. Nhưng mà thôi, đói lắm. Xin cụ bát bún đã nào. Đói chết bố con rồi đấy.


Nó cho ngay tay vào rá bún bốc đầy bát, rồi mở nồi riêu nóng vớt hết màu, ngồi nhai rau cắn ớt, thật là tục tĩu.


Trước mặt khách ăn kéo mãi vào ngồi chật hai chiếc ghế dài, bà Hường và Trâm không nỡ mắng nó. Chưa bao giờ bà Hường chửi con một tiếng, Trâm cũng vậy, chưa hề đay nghiến ai một câu nào, cho nên bà Hường và Trâm đã không bảo nhau mà cùng thấy mình bất lực, không sao răn dạy, uốn nắn nó được nữa. Trước kia, ông phủ đã quá chiều nựng cậu con trai út. Lớn tộc ngộc rồi mà nó cũng được bố ẵm ngồi lòng ăn sữa, cơm giò lụa, ruốc gà rang. Đi học thì ném đá vào đầu thầy giáo, cậu ấm út vẫn được bố khen là thằng này sau can đảm. Rời đùi cha để nũng nịu ngã vào lòng mẹ, cậu ấm út ấy lại được mẹ dỗ cho tiền để cậu ăn cao ban long, thuốc tễ hay là thuốc bổ phổi. Khi cậu ấm mười ba tuổi, hàng ngày được theo lũ sai nha ra chợ, ra đồng ruộng đùa ghẹo gái, có khi chúng cho cậu ấm dự xem cả trò chơi xác thịt trong ruộng mía, lều hoang. Do thế, đầu óc đứa trẻ đang độ lớn, sớm được ghi nhiều hình ảnh dâm ô. Hơn nữa, nó còn chịu hưởng thụ một dục tình truyền thống: ông phủ Mạnh. Thực vậy ông phủ Mạnh là cả một khối dục tình hồi trai trẻ và khối dục tình ấy chỉ dịu đi lúc ông cai nghiện khi ngồi tri phủ được hai năm. Lưu là kết tinh của khối dục tình kia gặp độ bốc cháy lên một thời gian ngắn để rồi chịu tắt dần. Đầu óc nó lúc nào cũng căng một sức tưởng tượng mạnh về xác thịt. Da mặt tái nhợt bỗng bừng lên, cặp mắt lờ đờ buồn ngủ bỗng sáng lên mỗi khi Lưu rình mò xem cho được một đôi ngan, đôi gà làm tình ở bờ ao, bụi, rãnh. Thế rồi nó thủ dâm, vẽ nhảm, hát nhảm, nói láo. Nó dần dần trở nên một thứ cụ già mười lăm tuổi. Dở trời, nó kêu đau rừ xương thịt, buốt ngang lưng, hoa mắt, tim đập mạnh, đi thất thểu, ngồi đâu cũng vặn mình bẻ xương lưng kêu răng rắc. Bà Hường thấy con yếu ốm, cứ cho là âm công nhà chồng kém, bà càng ra công lễ bái.


Hồi còn ở phủ, mấy bà đồng, bà sư đã bảo cậu ấm có số thờ. Thế là Lưu được mẹ dắt đến chùa đội bát nhang. Tối ấy, bà Hường ngủ ở chùa vì có một bà phán ở tỉnh về hầu bóng đức Thượng Ngàn, bà phán cứ năn nỉ xin bà lớn ở lại cho cuộc hầu thánh thêm long trọng. Nó chạy khắp chùa, tự do lấy oản chuối trên bàn thờ xuống ăn và tự do vào buồng sư nữ nghỉ lưng. Nó để ý một cô sư béo tốt. Nhân lúc qua bờ ao tối. Nó bắt gặp ni cô. Nó vồ như con mèo vồ chuột. Cô sư kêu ầm lên. Cả chùa huyên náo. Nhưng chuyện đó rồi cũng không có gì nghiêm trọng lắm, vì cậu ấm là con phật con quan, cậu nghịch theo tính trẻ con, chứ bé thế đã biết gì.


“Tương tư cách bóng xa hình…


Này tình… tình nương ơi…”


Nó ăn xong hai bát bún đầy, gõ đũa vào miệng bát mà hát cải lương. Bác hàng than răng vàng vỗ đùi bôm bốp:


- Hay, kép này mà ra sân khấu thì phải biết.


Bà Hường không thể nào chịu đựng hơn được nữa, chau mày khẽ bảo:


- Con vào để chỗ khách ngồi. Hát nhảm thế, các ông, các bà ấy cười cho.


Vốn xưa nay vẫn nhờn với mẹ, với tất cả mọi người, nó càng gõ đũa vào miệng bát to hơn, Trâm đỏ mặt dụ dỗ:


- Hôm nay phiên chợ, em có đi chợ chơi, chị gửi cái này nhân thể.


Lưu nghĩ ngay đến Đào, hớn hở:


- Thế thì nhất. Em lại được ăn bún riêu lần nữa. Nào đưa tiền đây, thêm cả tiền đò, tiền quà đấy.


Trâm gật:


- Vào trong này chị đưa.


- Ừ, thế thì cũng cho là được.


Trâm vẫy nó ra tít tận bờ ao sau bếp.


- Me rất lấy làm xấu hổ có một thằng con như Lưu, chị rất lấy làm nhục nhã có một người em như Lưu. Lưu đã lớn rồi, nên biết thế nào là cái danh dự làm người chứ. Mình không phải con nhà hèn hạ, sao lại ăn uống tục tĩu, hát xướng nhảm nhí, cử chỉ lố lăng như thế?


- Ơ!


Nó tròn mắt quát lên một tiếng.


Trâm vẫn ôn tồn:


- Ở lúc này, đứa trẻ con cũng can đảm thoát ly gia đình để lên rừng, lên núi, coi chết như không. Lưu không thấy đó ư? Thế mà Lưu chỉ biết gục đầu hạch mẹ miếng ăn miếng uống, rông rài lêu lổng. Chị là trai như Lưu thì chị hổ thẹn mà chết mất.


Nó nghẹo cổ cười:


- Cái gì mà lại hổ thẹn đến thế cơ! Lên rừng lên núi làm cái thá gì. Bắt cọp à? Hay là để thấy bóng cọp rồi lại co cẳng biến. Chị nói vừa chứ, không có tôi xông một mình ra tỉnh cho mà xem. Mấy thằng bạn nó về rồi, tha hồ diện, tha hồ chơi như Mỹ.


Trâm đứng lặng đi. Trâm nhìn kỹ nó, thất vọng vô cùng vì đôi mắt lấm lét, cái cười hỗn xược, cái mũi hếch lên như mũi đười ươi.


Nó gây gổ như để báo thù:


- Tôi có thân tôi lo liệu lấy, không can gì đến chị. Chị hãy cố giữ cái thân chị toàn vẹn. Me cũng thế, sướng mãi thì bây giờ khổ một tí cũng không sao. Mà me đã hết của đâu. Bà cụ còn khối vàng, khối bạc chôn một chỗ, tôi biết, tôi biết hết.


Trâm uất nghẹn, rên lên:


- Lưu! Đừng nói láo. Làm gì có vàng, có tiền nữa. Nói nhảm thế, ở đây đồng không quãng vắng, nhỡ xảy chuyện thì khổ cả.


Để bắt nọn, nó làm già, cười nhạt:


- Chứ không ư! Tôi biết hết. Bà cụ và chị chúa thâm. Có thách, tôi nói chỗ yểm của không? Tôi chỉ tận cái tổ con chuồn chuồn cho mà xem!


Trâm giận đến sôi lòng, nhưng cố nén và đấu dịu:


- Lưu đừng nói nhảm nữa nào! Hôm ra đi hai bàn tay trắng. Lưu nên hiểu lòng me. Me không giấu chị em mình, nhất là với Lưu, me yêu Lưu đến mậc nào, Lưu đã rõ. Vậy sao Lưu cứ làm me khổ, trong khi ấy anh Khải, cũng như Lưu, đã làm khổ me nhiều lắm.


Nó trợn mắt:


- Anh Khải! Nói làm gì cái thằng pha giống ấy, cái thằng tù ấy. Tôi không sợ nó đâu. Thế nào tôi cũng rình rút được khẩu súng của nó, bắn vào óc nó cho mà xem!


Cô vội giơ tay bịt miệng nó:


- Điên dại đến thế à. Lưu hỗn quá!


- Chứ không ư! Nó đã vứt ảnh ba đi, nó ghét me, ghét chị, ghét tôi. Nó không có tình nghĩa gì với nhà này hết. Thế nào tôi cũng rình giết nó.


Trâm thấy rùng mình. Trước mắt Trâm một đứa em mặt choắt da xanh tái, mắt đỏ ngầu, và trong tâm tưởng Trâm, một người anh vạm vỡ, mắt xếch, mặt lầm lỳ, khẩu súng đen sì đeo bên lưng, khẩu súng mà con người ghê gớm đó bảo đã nhiều phen làm đổ máu. Mắt Trâm hoa lên, nhìn rõ những đốm sao nhảy trong nắng ấm. Trâm vịn vào vách bếp đứng lặng đi. Một lúc lâu khi Trâm đỡ chóng mặt, Lưu đã lủi từ lúc nào. Trâm vào giường nằm xuống, hai tay ôm lấy mặt. “Thế nào tôi cũng giết nó!”. Câu nói thốt ở miệng đứa em mặt xanh gầy choắt nhắc lại bên tai Trâm như tiếng một loài ma quỷ oan nghiệt nào từ cõi âm vẳng lại. Trâm nhớ đến cái việc ông phủ sai lính vây bắt ba người cách mệnh đêm nào, một người cai, một người lính đã chết vì tay Khải…, Khải đi tù…, rồi thì ông phủ chết bắn chết đâm…, - rồi thì Lưu: “Thế nào tôi cũng giết nó!”.


- Ôi chao ôi! Trâm thốt rên lên, nức nở.


Trong khi ấy, ở ngoài ghế hàng, bà sư già bên chùa sang chơi đang mải câu chuyện ở vùng này có một chi họ ba đời thắt cổ. Bà sư già bỗng thở dài:


- Chẳng qua là cái nghiệp chướng nó cố kết từ hai ba kiếp trước, cho nên kiếp này mới ơn oán theo nhau thật nhỡn tiền, bà Cả ạ. Cái giòng họ ấy còn lụn bại, còn tiêu diệt. Nghe đâu, ông tổ chi họ ấy xưa làm quan kinh lược gì đó, giết oan uổng không biết bao nhiêu người. Đến đời con cũng làm quan, cũng hà hiếp người ta lắm, đến nỗi bị dân quật mả lên chửi. Bây giờ lũ cháu làm ăn đang thịnh vượng rồi tự nhiên cho đầu vào thòng lọng, chết cứ như là đi chơi hội ấy thôi.


Bà sư già nhổ cốt trầu:


- Lúc mà âm đức bại suy thì cái ma, cái quái nó báo hiện ghê gớm lắm. Nhưng lạy Phật, cứ thành tâm kinh kệ thì rồi oan nghiệt cũng nhẹ dần.


Ở trong giường, Trâm chỉ nghe thấy tiếng mẹ mình khẽ “dạ” để chịu chuyện nhà sư, nhưng cô biết mẹ đang lo sợ, cũng như cô lúc ấy. Nhà sư đã đứng dậy ra bến về chùa, sau khi bà Hường gửi tiền nhà sư mua giấy làm sớ dâng sao giải hạn cho con cái.


Bà gọi với vào:


- Ra đi chợ kẻo muộn, Trâm ơi!


Cô ngồi lên, lật chiếu tìm túi tiền, nhưng chỉ còn chiếc túi rỗng. Cô biết ngay là nó vừa lấy cắp như đã nhiều lần, để đi cho đến tối. Cô buồn bã mặc áo, cắp rổ ra ngoài, giấu mẹ việc nó lấy cắp tiền. Cô không muốn mẹ buồn khổ quá nhiều vì đứa con mà mẹ đã hối hận chính bà làm hỏng nó ngay từ khi còn nhỏ dại.


Trâm sắp bước ra đường thì có tiếng vó ngựa phi nhanh tới. Một người trẻ tuổi nhẩy phắt xuống, hì hục buộc ngựa vào gốc cây trước quán.


Thoáng trông cô đã ngờ ngợ, đến khi người kia quay lại, cô sực nhớ:


- À, cái anh chàng!


Người trẻ tuổi gõ mạnh giầy ủng đế đanh, ngả cái mũ vàng vành rộng, cúi đầu trịnh trọng chào bà Hường, rồi cũng trịnh trọng không kém, chàng ta hoan hỷ chào cô.


- Thưa bà, hàng nhà ta chắc đông khách lắm.


Bà Hường ân cần cảm tạ:


- Dạ, hàng chúng tôi được cái cũng vui. Đã lâu không thấy ông qua lại đường này.


Chàng ta nắm ngay cơ hội:


- Thưa bà, công việc buộc con đi xa quá, giáp giới Tầu đấy ạ.


Ngoảnh về phía Trâm đang đính lại chiếc khuy áo dài, anh chàng tha thiết nói:


- Đường xa ngót bốn trăm cây số, qua bao nhiêu rừng núi, một mình không có bạn, buồn hết sức là buồn.


Nghe giọng anh chàng cố nắn nót cho có vẻ thảm thương, cô mỉm miệng cười. Chàng ta đoán nụ cười nửa miệng của giai nhân hẳn vì tâm sự của mình. Chàng quay lại phía bà Hường:


- Mỗi lần vào hàng quán nghỉ chân, thưa bà, con lại nhớ đến hàng nhà ta. Thực tình con nhớ quá là vì…


Chàng ta dừng lại, nhìn vào rổ bún, ý chừng tìm một câu gì cho bóng bẩy.


Cô đội nón, mỉm cười:


- Chắc là vì bún riêu đường ngược khác bún riêu đường xuôi chứ gì.


Rồi cô làm ra ái ngại giùm:


- Thảo nào, tôi trông ông có gầy đi nhiều lắm, so với hôm ông cắp hộ tôi cái rổ ngoài bến kia.


Mắt anh chàng mở rộng ra vì sung sướng:


- Thật vậy, cô Trâm ạ.


- Lại ông nữa? Ông cũng biết tên tôi?


Anh chàng xoa hai bàn tay vào nhau:


- Thì khách qua đường này, ai còn chưa biết tên cô.


Cô tỏ vẻ ngạc nhiên hơn:


- Chết nỗi, thế thì nguy quá nhỉ?


- Thưa cô, hữu xạ tự nhiên hương, cái đó là một sự rất công bằng, rất hợp lý.


Cô suýt bật cười:


- Chính thế. Cứ nhiều hành mỡ, cà chua lên trước đầu gió thì quả hữu xạ tự nhiên hương, chứ còn gì nữa.


Cô bật cười. Anh chàng cho là câu chuyện thú vị, cũng cười ròn tan. Bà Hường thấy con gái muốn trêu riễu ông khách vẩn vơ bèn giục:


- Thôi đi chợ đi con. Chợ cách sông cách đò, rềnh ràng đến nơi thì chợ vãn.


Cô nghiêm trang chào khách, cắp rổ ra đường. Anh chàng muốn đi theo cô nhưng sợ ngượng với bà Hường. Con ngựa hí lên mấy tiếng. Chàng ta vờ đứng dậy, ra gốc cây buộc lại giây cương để nhân cơ hội ấy nhìn theo cô.


“Hay ta đi theo xuống chợ” - nhưng ý nghĩ ấy bị phá ngay, vì chàng ta nhớ đến lần đối đáp cự tuyệt đanh thép của Trâm ngoài bến đò. Anh chàng trở nên dè dặt, nghĩ: “Phải dần dần vậy, vội thì hỏng bét”.


Cô đi ngoài nắng ấm, tấm thân thon dài và uyển chuyển in bóng chếch xuống đường. Anh chàng ngây ngất ngắm đường lưng uốn vào rất đẹp, làm nở nét cong tròn mềm mại từ đôi vai xuống bộ đùi dài nở.


Cô đã khuất dưới bến đò.


(còn tiếp)


Nguồn: Quán gió. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB Hương Sơn, 1948. Tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 10.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »