tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27660335
Tiểu thuyết
18.03.2013
Ngọc Giao
Quán gió

“… Quả thật, hễ đã đúng là tiểu thuyết thì cái hay cái quí của nó là ở chỗ nó có thể làm hiển lộ thật rỡ ràng và chi tiết những sự thật xã hội, chính trị và bản chất con người của một xứ sở, một thời kì, mà những nhà viết sử không dám để mắt đến. Quán g viết năm 1948. Cánh đồng bất tận viết mới ngay đây thôi. Mà đều là những bi kịch không thể có mặt trong bất kì một thứ biên niên sử chính thức nào. Người nặng lòng với đời chắc đều phải nhận ra mối liên hệ nhân quả giữa hai mảng sự thật ấy.


Oscar Wilde có nói một câu với ý rằng bức chân dung nào có hồn cũng đều là chân dung tự họa. Ngọc Giao viết Quán g ở tuổi 37, vào cái thời người ta trưởng thành rất sớm và chưa biết sợ hãi, bản thân ông cũng đã trải rất nhiều. Các nhân vật của ông mỗi người mỗi cảnh, gốc gác cũng khác hẳn nhau, nhưng ai cũng được ông khắc họa với nhãn quan thiện nhân tây học đượm màu lãng mạn Belle Époque trên một nền nho giáo đang mờ nhạt dần ở một xứ thuộc địa, thành thử bức tranh ông dựng nên có một vẻ phiêu diêu, nhất quán ở một tông màu trầm, chỗ lạnh chỗ ấm đổi đắp nhau, toàn cảnh thì rất thực mà chi tiết thì không nệ thực. Ông chả che đậy gì, những chuyện nghiệp chướng ghê gớm, như lời của nhân vật chính rằng “Cha bỏ tù con… con chồng ăn ngủ cùng dì ghẻ, anh bắt em đi tù… Rồi thì mẹ góa, con lại góa theo sau khi đã giết bỏ một hài nhi vô tội… Chao ôi, còn gì nữa, hả trời!”. Giọng văn của ông khiến ta nghĩ đến một kẻ lãng du lụy tình nặng nghĩa, ái ố hỉ nộ với đời đấy mà không thể dừng lại để hòng thay đổi được gì, mà chỉ ngậm ngùi rằng “Thôi thế cũng là xong!” Cũng chính vì ông không có ý cổ xúy và biện minh cho bất kì một lý tưởng hoặc giá trị gì, cho nên câu chuyện của ông thành ra được một tác phẩm, và cái sự thực ẩn hình của cả một thời cuộc nhờ vậy mà được phơi bầy. Người đọc được ông đưa thẳng vào từng cảnh trí cụ thể và sinh động, chứ không phải nghe ông kể lể dài dòng. Câu chuyện nhờ vậy mà lôi ta đi như một cuốn phim, và cả những tình tiết vô lí vẫn cứ có vẻ tự nhiên vì chúng tạo được cảm giác rõ ràng, hoặc đẹp đẽ nên thơ hoặc hãi hùng hồi hộp. Cái ý của tác giả muốn tạo nên những cảm giác ấy cũng là một cái duyên nhẹ nhàng. Nó khiến cho người đọc vừa tham gia vào các diễn biến, vừa đôi lúc biết mình chỉ như đang xem một vở kịch trên sân khấu – cũng là một đặc tính rất hay của văn chương phi tuyên truyền. Lạ một điều, câu chữ của ông chả lỗi thời tí nào. Chắc vì ông là người  thuần tây học chứ không “tây tầu đều thạo” như nhiều tác giả khác cùng thời”./ “Mấy lời của một người đọc Quán gió” – Trịnh Lữ.


Chương Nhất


Chiếc thuyền nan ngược mưa gió, trườn nặng nhọc trên con sóng đồng lạnh màu phù sa đỏ quạch. Cánh đồng chiêm trải rộng tít tắp đến tận chân trời, nổi nênh đây đó vài ngọn đồi cỏ.


- Rét lắm trời ơi!


Hai người đàn bà rách rưới chùm chung một chiếc áo tơi lá rách, họ rúm vào nhau giữa lòng thuyền, một người ôm đứa trẻ bọc trong mảnh tã nâu. Đứa trẻ bé như con chuột, hở nửa mặt ra ngoài, da xanh nhợt, đôi mắt nhắm nghiền. Người đàn bà tóc bạc lập cập kéo vạt áo lau mặt cho đứa bé:


- Khổ ơi là khổ, cháu ơi! Loạn mãi đến bao giờ không biết. Mẹ mày nhớ ủ chặt con vào lòng. Mưa rét nhiễm vào thì khốn.


Người con dâu cúi xuống hà hơi vào mặt đứa hài nhi, nước mắt chị rỏ ròng ròng. Bà lão ngẩng lên nói với những người ở trong thuyền.


- Khổ quá, chúng tôi đi ba bốn hôm nay ròng rã. Đêm qua ngủ ở chợ, cháu nó lên cơn sài. Chúng tôi cũng cứ phải cố đi, chứ nằm ở đường thì không chết bệnh, chết tật cũng chết đói.


Một người đàn ông chùm chiếc khăn vuông để hở hai con mắt lờ đờ trên khuôn mặt ngã nước, ông ngồi giữa một lũ trẻ con, đàn bà, áo quần vá đụp, đút tay vào bọc, phều phào nói:


- Tình cảnh chúng mình khổ cả. Từ mạn ngược về đây, chúng tôi chôn đường chôn chợ mất ba nhân mạng, còn thì dở sống, dở chết cả đây cụ ạ.


Một cơn gió tạt giàn giạt nước mưa vào mặt mọi người. Con thuyền bị sóng dồn, nghiêng lánh một bên. Họ níu chặt nhau kêu ơi ới.


Trâm vẫn ngồi yên lặng, ấp hai bàn tay vào má. Chiếc áo dài lụa mỏng không đủ ấm, cô cũng thấy cái rét thấu tận xương. Trâm nghiêng vành nón che chiều gió thốc vào bên má. Nước mưa thấm vai áo mỏng khiến cô lạnh đến tê dại cả thịt da. Con thuyền đầy luôn luôn vấp phải những gò đất nổi, rướn lên rồi đứng lại. Cánh tay gầy guộc người lái đò già cố đẩy mạnh con sào dài. Chiếc thuyền đầy lại quằn quại cựa mình trên đợt sóng dồn óc ách.


Cô đăm đăm nhìn mấy con cò đang sải cánh bay về những bụi cây xa tắp, điểm thưa một hai nóc đình chùa phơi mầu xám mốc trên những bức tường vôi trắng mờ trong mưa. Những con nhện nước nhởn nhơ chơi trên sóng gợn, giạt vào những bụi cỏ cói hút gió lộng rít lên như những tiếng sáo diều.


- Chao ôi là rét. Áo rách tiền không, cơ cực quá, ông trời ơi!


- Không biết đến thuở nào tôi mới được về làng về nước. Nhà thì cháy trụi, ruộng đất thì bỏ hoang, loạn ơi là loạn!


Những tiếng kêu thương nhà nhớ đất của bọn người đói rách đang xúm xụm trên con đò đồng quằn quại ngược chiều mưa gió gợi cho Trâm tất cả hình bóng một cuộc đời đã qua.


Trước mắt cô, lũy tre vàng vọt bao quanh một giáo đường ngự trên một thôn xóm theo đạo Gia tô, lẩn khuất đây đó dăm nóc nhà chài lưới. Cây thánh giá dựng trên nền trời cao rộng, ngạo nghễ như cánh một loài chim lớn sắp vút lên cái tận cùng của cõi siêu nhiên. Tiếng chuông lễ ngân dài theo gió mạnh, dồn đập và thổn thức như những tiếng kêu muôn đời của con người. Bên cạnh cô, một người đàn bà đau ốm, đôi mắt lõm sâu đang làm dấu Chúa và lẩm nhẩm: “Lạy Đức Mẹ... A-men!”. Đôi mắt bệnh tật ấy nhìn về phía giáo đường nom thảm hại như đôi mắt người hấp hối nhìn vào cái trống không đang phủ dần bóng tối. Trâm thấy lòng nao nao, mắt cô mờ ướt. Cô cắn vành môi cóng nhợt và thầm nghĩ: “Cùng khổ như nhau cả. Chúa Trời, Phật Tổ đem đến cho nhân loại cái gì nếu chẳng là sự yêu thương. Nhưng lòng yêu thương không còn là gì ở cái thời mà đất cát núi sông chất đầy tội ác, không còn chỗ cho đạo lý”.


Con thuyền bỗng rùng mình đụng mạnh vào cái chân đê bị đứt một quãng dài khiến nước sông dềnh cao hơn mực nước đồng chiêm. Mọi người gồng gánh, dắt già, ẵm trẻ lên bờ.


Trâm bưng cái rổ thức ăn mua ở chợ về. Con đường từ dưới bến đò lên mặt đê dốc ngược và trơn như đọng mỡ. Một bà già tay chống gối leo lên không nổi, kêu trời. Một đứa trẻ nắm sau váy mẹ, tuột tay ngã xuống vũng bùn. Mẹ con lôi kéo nhau lên; mẹ la, con khóc. Mưa gió vèo vèo quật tàn nhẫn vào những cái xác đau ốm, váy đụp áo manh che không đủ kín.


Trâm lúng túng với cái rổ nặng. Chiếc nón bị gió giằng khỏi bàn tay tê cóng, bay xuống vũng nước.


- Thưa cô, nón cô đây.


Cô đỡ chiếc nón và kịp để mắt nhìn người đàn ông đội mũ vải vàng vành rộng, mặc quân phục, ngang lưng đánh đai một chiếc dây da đầy đạn, khẩu súng đeo nần nẫn bên đùi, và ở sau lưng, lủng lẳng chiếc túi da vuông.


- Thưa cô, đường trơn lắm. Nếu cô cho phép, tôi xin dắt cô lên.


Cô khó chịu, lông mày hơi nhíu lại, Trâm vẩy nước đọng ở nón, kín đáo nhìn chàng quân nhân nghĩa hiệp kia. Anh chàng cao lớn, đôi mắt to tròn, cái mũi ngắn hếch hẳn lên, miệng rộng, môi hơi thâm, quai hàm bạnh, da đen nhiều trứng cá.


- Thưa cô, cô đi chợ về?


Cô chậm rãi đáp:


- Thưa ông, tôi đi chợ về.


Chàng quân nhân mân mê cái bao súng:


- Hôm nay rét quá.


Cô mỉm cười:


- Vâng, hôm nay quá rét.


Trâm tìm một cái bậc để đặt chân, và cứ lúng túng với cái rổ nặng. Anh chàng niềm nở:


- Để tôi xin dắt.


Chàng ta giơ tay toan đón lấy bàn tay cô. Cô nghiêm mặt nói:


- Tôi cảm ơn lòng tốt của ông, nhưng tôi đi được. Xin phiền ông xuống dắt giúp bà cụ đang lóp ngóp mãi ở dưới kia kìa.


Nhìn bà cụ già rách rưới bủng beo đang ngồi thụp dưới chân đê tránh gió, anh chàng nhíu cặp lông mày rậm, nhưng lại tươi tỉnh, ngọt ngào ngay được:


- Cô để tôi mang đỡ cái rổ nặng, tôi lo cô bị ngã mất.


Cô càng khó chịu, nhưng dốc đê trơn quá, cô nghĩ bụng - “Hắn đã muốn thế, tội gì mình không sai”.


Cô mỉm cười:


- Xin vâng, nhờ ông giúp vậy, ông có lòng tốt quá.


Anh chàng đỡ cái rổ thức ăn, cố ý đi sát bên cô, chỉ chờ cô trượt chân là nắm ngay lấy cái bàn tay xinh nhỏ, trắng nuột của người thiếu nữ mà từ ít lâu nay chàng ta vẫn thèm thuồng.


Lên đến mặt đường cao, cô nhã nhặn:


- Cảm ơn ông, xin lại ông cái rổ.


Anh chàng thân mật:


- Tôi xin mang đến tận nhà.


Trâm nghiêm giọng:


- Không dám ạ. Một vị quân nhân như ông nhẽ đâu lại cắp rổ đi sau đàn bà. Tôi nghĩ rằng bậc trượng phu không xử sự thế bao giờ.


Câu nói trang nghiêm ấy khiến anh chàng đỏ mặt, nhưng cũng nói thêm được một câu che ngượng:


- Cô nói văn chương quá. Thực là gái thủ đô.


Trâm cau mày, vừa nói vừa rảo bước:


- Nếu ông lạm dụng việc đã bưng hộ tôi cái rổ để quấy nhiễu tôi ở giữa đường thì quả thực là một việc đáng phàn nàn. Tôi xin nhắc ông nhớ rõ, ông là một người đeo võ khí và mang một danh dự lớn.


Trước vẻ mặt tiu nghỉu của người trẻ tuổi. Cô hơi hối hận đã quá nặng lời, nên dịu giọng:


- Xin cám ơn ông lần nữa. Khi nào tiện qua hàng, xin mời ông vào xơi nước. Chắc ông cũng biết tôi dọn quán ở gần kia.


Chàng trẻ tuổi làm ra nghiêm chỉnh:


- Xin vâng, ngày khác tôi sẽ đến thăm cô.


Và anh chàng ấp úng:


- Cô bỏ lỗi cho tôi nhé.


Đoạn anh chàng ngả mũ lễ phép chào, rồi rẽ xuống con đường đê quặt. Trâm thở một hơi dài. Đi đến gần gốc đa trước cửa nhà, cô bỏ nón và ngoảnh lại. Trên đường đê, người trẻ tuổi đứng đờ mắt nhìn theo cô, không nhúc nhích. Cô mỉm cười thương hại - “Từ Hải chết đứng mất rồi, con người thế mà cũng si tình, tội nghiệp!”.


Bất giác cô bật cười lên tiếng.


- Cái gì mà cười thế cô?


Bà Hường đang múc nước vào mấy cái bát trên chõng hàng, ngẩng nhìn con gái phong phanh manh áo mỏng thấm nước mưa. Mặt bà Hường rầu hẳn lại:


- Vào chất cái bếp nồi riêu cho cháy to, ngồi mà sưởi đã, con ạ!


Mấy người lái than đỗ gồng gánh đầy trước quán, lắng nghe cái giọng nói hiền dịu và là lạ của bà Hường, cái giọng nói xứ Huế mà họ ít khi nghe thấy. Trâm ngồi thụp xuống chân mẹ, xếp thêm bún vào rổ bún đang bán dở trên đầu chõng, và mở gói lá lấy kẹo bỏ vào lọ thủy tinh rạn vỡ vá bằng giấy bản. Bà Hường gỡ bún rối trong khi cô chất củi hâm riêu và sưởi ấm.


- May cô về kịp, ông lái đây cứ bảo đợi bún mới ở chợ về.


Bác lái than đỡ bát bún bà Hường đưa qua mặt chõng:


- Chúng tôi nhịn ngót hai mươi cây số để về quán bà Huế ăn riêu Huế đấy, cô Trâm ạ.


Trâm ngoảnh ra, cười:


- Các ông biết tên tôi?


- Một tháng qua con đường này hai mươi ngày, làm gì mà không biết cô chủ quán bún riêu đặc biệt nhất vùng này. Tiếng đồn lên tận giáp giới nước Tầu đấy.


Cô vui vẻ:


- Đâu dám, các ông lái quá khen.


- Thực thế, bún riêu quán bà Huế vừa rẻ vừa ngon. Đặc biệt nhất là nhiều ớt. Chúng tôi nghe nói người miền Trung hay ăn ớt lắm phải không bà?


Bà Hường lúc nào cũng nhanh tay mau miệng tiếp khách hàng, dù khách chỉ uống một bát nước hay hút nhờ điếu thuốc.


- Dạ, người miền trong chúng tôi hay ăn ớt, cũng như người miền Nam hay ăn tỏi. Khi nào hết loạn, mời các ông vào Huế thăm núi Ngự, sông Hương.


- Khốn nạn, chúng tôi thì cứ là kiếp khác. Đâm xuôi đổ ngược, đầu tắt mặt tối suốt đêm ngày cũng chả đủ cho vợ con no ấm, còn tiền đâu mà đi đó đi đây cho biết mùi đời nữa. Sống như trâu ngựa.


Cô an ủi:


- Mai kia hết loạn, cuộc đời biết đâu chẳng khác đi nhiều. Không lẽ con người cứ lầm than mãi.


Gã lái trẻ tuổi nhất bọn đang và bún riêu xì xụp, ngừng đũa nói:


- Chính thế, cô Trâm nói phải. Mai kia người ta sung công hết ruộng đất của người giầu để chia cho người nghèo. Khi ấy chúng mình có ruộng có trâu tất có tiền, ăn dư mặc rộng, thế rồi thì là đi đó đi đây, đi Nam đi Bắc cho hả cái đời mình chứ.


Bác lái lợn đang suýt xoa ớt cay, nói như một người tức giận tự bao giờ:


- Cái thá gì mà lại chia ruộng, chia trâu cho tất cả mọi người nghèo. Mai anh cứ nằm nhà rồi mà chờ trâu chờ ruộng tự trên trời rơi xuống.


Gã lái than trẻ tuổi cáu đến ho sặc ớt:


- Hơ! Chứ lại không! Người ta bảo thế.


- Người ta là ai?


- Người ta chứ còn ai nữa.


- Này, đổ thóc giống ra mà ăn nhé!


Gã lái than tức thì trợn mắt nhìn bác lái lợn, và làm ra khinh khỉnh, gã ta rít một hơi thuốc lào rồi nhổ toẹt nước bọt xuống dưới chân giữa lúc bác lái lợn đang ăn bún.


Cho ngay đó là một cách khiêu khích mình ra mặt, bác lái lợn lặng lẽ ăn hết bát bún rồi đặt đũa xuống bàn, bác đứng phắt lên mà cười khảy:


- Mẹ kiếp, đồ ngu hơn con lợn. Những nhãi nhép chưa ráo máu đầu, thấy người ta học ăn học nói cũng tập học ăn học nói. Cứ như con vật ấy thôi.


Gã lái than trẻ tuổi cũng đặt cái điếu cầy xuống, đứng lên. Gã không nói năng gì nữa, chỉ lừ lừ mắt nhìn bác lái lợn như là để tìm xem hắn có giống đàn lợn con của hắn đang nằm yên phận ngoài cửa quán kia không. Lại cho đó là một cách khiêu khích ra mặt rõ rệt hơn, bác lái lợn tiến thêm một bước nữa và quát lên một tiếng:


- Ngu!


Ngay lúc ấy, có ba người lính trẻ bước vào trong quán, chào hết cả mọi người, rồi ngồi xuống ghế, vui vẻ nhìn mấy bác lái, nhìn bà Hường và nhìn Trâm:


- Chị cho ba bát bún.


Và ngoảnh lại các bác lái than, lái lợn:


- Các anh xơi bún đi cho nhà hàng đắt khách. Ăn no đi chứ, kẻo đường xa mà đói thì gánh sao cho nổi. Nhiều quãng mới phá hoại đi khó lắm.


Bác lái lợn từ tốn đáp:


- Vâng ạ, đàn em xin phép đàn anh, no nê cả rồi.


Đoạn bác trả tiền, đội nón, chào tất cả mọi người, ra xóc gánh lợn lên vai. Đàn lợn con vừa kêu ủn ỉn vừa giẫy dụa.


Gã lái than trẻ tuổi nhìn theo bác lái lợn mà cười khinh bỉ.


- Hỡ! Tưởng là cứ bướng. Người ta nói phải, không biết là phải, cứ cãi láo, có phen thì cứ là đi lên rừng.


Gã ngồi xuống hít một hơi thuốc nữa, thưởng thức cuộc đắc thắng của mình. Một ông già rách rưới từ nãy vẫn ngồi nhấm nháp từng sợi bún với cút rượu ngang, bây giờ mới cầm đũa quệt ngang mồm, nói đổng:


- Cay quá, ớt cay xé cả ruột gan. Cái thứ ớt hạt tiêu thế mà cay gớm, cha đời!


Lão chỉ nói có thế, từ đầu đến cuối. Rồi trả tiền, lão khoác áo tơi, dắt con chó từ nãy nằm im bên chân lão, con người và con vật lặng lẽ đi ra ngoài trời mưa gió.


Một đứa trẻ đánh dậm đồng chiêm từ nãy ngồi chồm hỗm nhìn người ta ăn, nghe người ta nói, bỗng thì thào với Trâm:


- Ông ta uống rượu ở quán trên kia rồi đấy, về đây lại uống thêm. Người ta bảo trước kia ông ấy là một ông đồ hay chữ lắm. Ông ấy vừa nghe tin nhà cháy, con trai bị giết, con dâu bị bắt, cháu bị vất xuống ao bèo, thế là ông ta hóa ra lẩn thẩn. Con chó cùng tản cư với ông ta, cùng ăn, cùng ngủ, chả bao giờ rời nhau một bước.


Trâm nhìn qua mấy lỗ vuông trổ trên vách nứa. Lão già và con chó đi thất thểu. Mưa gió làm lưng lão còng thêm xuống, thực là thảm hại. Cô thấy mủi lòng thương. Bao nhiêu cảnh lầm than, bao nhiêu cuộc chia lìa đọa lạc, bao nhiêu máu và nước mắt. Ngoài kia, trong màn mưa trắng như tấm màn tang thiên cổ, cây thánh giá trên nóc Giáo đường xa xôi như một bóng hình mộng ảo.


Bọn lái than đã cất gánh lên đường. Ba người lính cũng đã đeo túi rết lên vai. Họ đi ngược gió và tiến thẳng về khu rừng núi. Ở sau lưng họ, trên con đường trở lại đồng xuôi, bọn người ốm rách rét run trên đò đồng ban nãy và lão già dắt con chó ốm kia, chao ôi, họ không còn đủ sức mà lê đi nữa, bởi vì ngược gió.


Trâm chua xót thấy rằng trên con đường vạn dặm, kẻ mạnh không bao giờ ngoảnh lại nhìn kẻ yếu đã ngã.


Bà Hường thu dọn bát đũa, ngoảnh về phía bếp:


- Kìa con gái tôi ngồi ngẩn ra đấy ư! Hay chửa?


Trâm đứng lên bỏ bát đũa vào rổ, đem ra ao sau nhà rửa. Cầu ao là mảnh ván thôi bắc trên vũng nước khá trong. Ngày đầu ngồi trên cái nắp quan tài ấy, cô thấy rợn chân, nhưng rồi mãi cũng quen dần. Nhưng đến chiều tối, cô dẫu quen cũng không dám ra ao nữa. Cô cứ nhớ đến ngày bốc mả bà cô ruột. Thịt chưa tiêu hết bám lầy nhầy vào ván mục. Thế là cô sợ thịt đông mấy năm liền.


Nước lạnh buốt như kim châm vào da vào thịt, Trâm rùng mình. Đàn vịt bé cô vừa mua hai phiên chợ trước vùng vẫy dưới khóm bèo hoa. Chúng kéo đến gậm cầu rúc nước sao váng mỡ. Một con đỉa suýt bám cổ tay, cô vội rụt tay lên, đập cổ tay vào rổ bát. Chiếc vòng ngọc của cô bị một đường nứt rạn. Cô ngồi lặng đi, thấm thía niềm đau tủi. Tất cả tư trang chỉ còn sót lại chiếc vòng. Từ ngày cùng mẹ, cùng em, lưu lạc ra đi, đã có bao giờ phút lòng ngập tràn nước mắt, cô ngồi yên lặng mân mê chiếc vòng để nhớ lại những ngày yên ấm cũ. Vậy mà bây giờ chiếc vòng giập gẫy, giập gẫy như cuộc đời người con gái chẳng còn “phong gấm rủ là” như vừa mới ngày nào.


Mưa thêm nặng hột, gió xô xát bụi chuối tiêu cô trồng mấy tháng nay. Những tầu lá xanh non bị gió xé tả tơi, một hai thân chuối đổ rạp xuống mặt ao bèo. Cô có cảm tưởng lòng mình lúc này cũng bị bao nhiêu tủi cực vò xé như những tầu lá ấy.


Cô bưng rổ bát vào nhà.


Hàng không có khách, bà Hường cầm quạt nan xua ruồi trên liễn chè bà cốt và rổ bún phủ vuông vải trắng trên chõng gỗ. Giọng bà thờ thẫn:


- Trời mưa mãi thế này mấy lúc mà hết vốn. Năm sáu hôm nay, chả hôm nào hết bún hết chè. Ông trời ác quá thôi!


Bà lấy hộp trầu ở gậm bàn lên. Bà Hường nghiện trầu thuốc, không lúc nào rời cái ống nhổ. Cái ống phóng mạ bạc, trạm rồng trạm phượng; cái hộp trầu cũng mạ bạc có chiếc khóa quả đào bé tí. Bà Hường cứ phải giấu những vật sang trọng ấy xuống dưới gậm chõng hàng.


- Kẻo người ta chửi cho con ạ. Cái cảnh mình múc nước, châm đóm cho người ta, nhặt từng đồng kẽm còn sang nỗi gì! Bà Hường thường cười mà nói với con gái yêu những lời chua xót ấy, những lúc bà vừa nhai trầu vừa xát rum thuốc lào vào hàm răng đen nháy. Hàm răng đen của người đàn bà quý tộc đất Thần Kinh, một đời chỉ cần nhuộm một lần, đẹp một cách trang nghiêm, cổ kính. Bà Hường tiện cái chũm cau già, trong khi Trâm ngồi cắm cúi chẻ rau.


- Mai kia tạnh mưa, con chịu khó nhuộm mấy cái áo cho me mặc. Rách hết cả rồi.


- Vâng, cầu trời hửng nắng ấm lên, con nhuộm nốt mớ này nữa cho xong việc.


Bà Hường nhăn mặt vì cái chũm cau già làm đau chói mấy chiếc răng sâu.


- Sao? Cô định nhuộm hết cả à. Thế mai kia lấy gì mà mặc?


Trâm mỉm cười:


- Mai kia là bao giờ, thưa me? Me làm như là dễ lắm ấy. Còn là mục xương ở cái đất xứ này.


Bà Hường lắc đầu cúi xuống.


- Cho nên, me ạ, con định nhuộm hết cho xong. Ở thời buổi này mà mình mặc cái áo trắng, trông lồm lộp như là mình đi một mình ở ngoài đường. Người ta nhìn mình một cách không ưa lắm, mà mình cũng ngượng chết đi.


Bà Hường cười nhạt:


- Vẽ lắm, cái gì cô cũng đua đòi.


- Nhưng me ạ, không thế cũng chẳng yên đâu. Bữa nọ, con mặc áo trắng dài đi chợ, có mấy bà lườm nguýt xì xào: “Các cô gái tỉnh, lúc nào cũng thướt tha, lồm lộp. Dơ quá nhỉ! Đến thế này mà vẫn chưa biết thân, biết đời”.


Trâm ngừng lại, chua chát:


- Thế là từ hôm ấy con đâm sợ cái áo mầu thướt tha. Và bây giờ nhất định là phải nhúng bùn đi hết, cho có vẻ là mình đã biết thân, biết đời rồi me nhỉ?


Mắt bà Hường loáng ướt. Mỗi khi sầu tủi điều gì bà vẫn có thói quen lấy trầu cau ra ăn, và những lúc ấy, tay bà bổ cau, cắt vỏ khẽ run run. Bà Hường nhổ cốt trầu vào ống phóng, với lấy cái quạt xua mạnh lũ ruồi đậu trên đĩa muối ớt, bà chép miệng:


- Chuyện cô này! Ai nói mặc ai, nhắc lại làm gì cho thêm phiền. Dễ chiều rồi đấy, mà đường sao lại vắng tanh vắng ngắt thế kia.


Trâm ngó ra bên ngoài:


- Bến cũng vắng như quan cấm. Chẳng ai sang đò. Rét quá người ta sợ nước.


Gió tạt mạnh nước mưa vào tận chõng hàng. Cây đa cổ thụ trước quán, lá reo như đàn hát. Lá rụng vàng cả mái gianh. Những sợi rễ đa từ trên cành cao rủ xuống trước hiên, gió đưa la đà.


Cô rùng mình đưa tay vuốt đôi vai tròn. Chiếc áo len đan năm ngoái mặc hơi chật thế mà mùa rét năm nay rộng quá. Cô lim dim mắt nhớ đến cái vui ấm dưới ánh đèn ngồi đan áo rét và lắng nghe cái tịch mịch của một phố phủ miền hạ du những đêm mưa.


- Đừng thổi cơm chiều con ạ. Ăn bún trừ thôi.


Cô mỉm cười, uể oải:


- Vâng, thì cũng lại như hôm qua, hôm kia. Chán ngấy. Hàng bà cụ Lý bên kia cũng cứ ngồi xua ruồi suốt cả ngày. Trông bà cụ buồn thiu ru cháu mà thương hại, cũng như mình thương cho mình. Cùng khổ cả.


- Trời sũng nước thế kia là còn mưa nát đất. Con liệu vào làng bảo con bé Đào thôi xếp bún sớm mai, kẻo mưa gió người ta gánh đến nhỡ nhàng ra.


- Vâng, đằng nào mai cũng nghỉ bún riêu vì chưa mua được con cua nào cả. Mưa lạnh cua không lên thành ra đắt. Mua cua dậm bấy nhiêu, mà những tám đồng trăm cua, lại cà chua, hành mỡ, lại chẻ rau đứt cả tay, chẳng lờ lãi là bao nhiêu cho bõ công dậy từ gà gáy. Thế mà hàng quán tản cư mọc mãi ra như mở hội suốt các nẻo đường. Bún riêu thành ra một phong trào, một kỹ nghệ me nhỉ.


Cô ngừng lại, chợt nghĩ rằng: “Mình nói kỹ nghệ bún riêu thì bà cụ hiểu là cái quái gì”. Và cô bật cười khi bà Hường lại mắng cô như tất cả mọi lần bà quen miệng mắng cô gái quý nhất trong cuộc đời góa bụa của bà:


- Chuyện cô này! Tôi nhức đầu quá đi mất thôi.


- Cứ bao giờ con nói là me lại kêu nhức đầu. Con không nói thì me lại mắng: “cái con bé này cứ lầm lì, con gái vô duyên”. Chiều me khó quá.


- Tôi nhức đầu thật đấy, đau ê ẩm cả mình. Chờ ngớt mưa một tí, me ra đền lễ. Chứ ốm mà nằm một chỗ thì buồn lắm.


Cô nhìn mẹ lo lắng. Không bao giờ cô coi cái việc bà Hường kêu ốm là một sự thường, dẫu cô đã biết mỗi khi bà kêu váng vất, bà chỉ ra đền lễ là khỏi ngay.


- Mai me ra đền cũng được. Sóng đồng to lắm, ban nãy, con ngồi thuyền cũng chóng mặt nôn nao. Lại mưa gió nữa, nhỡ ốm nặng thì nguy. Me vào nằm, con lấy thuốc tây me uống.


Bà Hường lườm cô:


- Cứ lúc nào tôi đi lễ là cô gàn quải. Me không bằng lòng vậy đâu, con ạ. Mai kia lấy chồng, cô cũng chống với mẹ chồng cô như thế!


Cô cười:


- Nhưng nhờ trời con sẽ không bị lấy chồng.


- Chuyện cô này!


Bà Hường vào nhà trong. Nhà trong là một cái buồng chia thành hai gian hẹp, ánh sáng lọt vào bởi hai ô cửa sổ. Mái gianh tối thấp đen khói bếp, dột nhiều chỗ, nước mưa rỏ giọt xuống ba chiếc giường gỗ dẻ kê ríu vào nhau. Vách đất lâu ngày bị gió mưa phá vỡ vài ba mảng trơ những nút lạt ải và nứa tép. Sau buồng là gian bếp nhỏ và ngoài bếp là cái chuồng gà vịt ngăn đôi. Một mảnh sân con nối liền cái ao bé nhỏ, cô đã dùng một nửa sân làm vườn gây vài luống cải, rau thơm.


Ngày đầu loạn lạc, bị xua dồn lên cái miền Bắc đồng chiêm nước đỏ này, mẹ con bà Hường - sau một hồi ăn nhờ ở đậu tại cái xóm đạo Gia -tô nổi lềnh bềnh trên đồng nước xa kia - đã may mắn mua được cái nhà gianh của vợ chồng người bán phở. Đôi vợ chồng nghèo này đã gồng gánh đem nhau lên mạn ngược tìm sinh kế khác. Được ít lâu, bà Hường nghe tin bác hàng phở chết vì nước vật ở rừng Bắc Cạn, chị vợ thì giòng thác cuốn đi trong một cuộc quân Pháp nhẩy dù.


Bà Hường xếp vàng hương vào cái tráp sơn. Chiếc va li da treo trên rui nhà rỏ nước xuống vai giá ngắt. Bà Hương tháo dây, hạ va li xuống, xách ra ngoài hàng bảo cô:


- Con xem mưa dột có thấm vào bên trong không. Còn vài manh quần áo mà bị mục thì là hết cả.


Bà đội nón, bước ra hiên còn ngoảnh lại:


- Cố bán gỡ tiền cua, tiền bún vậy con ạ. Ngày nào cũng lỗ, buôn bán chả ra làm sao.


Bác cu Vạn khoác áo tơi vừa đi đến, chào đon đả:


- Bà đi lễ đền Quan đấy ạ. Để nhà cháu chở bà đi. Tiện đò đang bỏ không. Mưa rét quá, đường xá sông, đò tẻ ngắt.


Hơi khói ở miệng bác bay ra:


- Hàng nhà cháu ế quá mất thôi. Bến gốc đa này có ba hàng thì bên bà còn có khách luôn, bên cụ Lý cũng khá, chỉ hàng nhà cháu là chán ngắt.


- Hai bác còn trông vào chiếc thuyền chở khách sang ngang hoặc đi chợ cách đồng chiêm xa. Như vậy cũng chả túng thiếu cho lắm.


- Nhờ trời, ngày nắng ráo cũng kiếm đủ các cháu ăn. Nhưng vẫn chả ra gì, cứ dành dụm được đồng nào thì hết thằng cháu sài, lại đến bố cháu lên cơn sốt rét. Nuôi được đàn gà thì cứ toi dần.


Bác Vạn gái kể lể việc cửa nhà, việc làng xóm quê hương nhà chồng, rồi đến quê hương nhà bác ở mãi tận vùng Phát Diệm, Kim Sơn. Vợ chồng bác theo đạo Thiên Chúa. Trước kia ở trong làng đạo, nhưng nghề chài lưới không quen, vợ chồng bác ra ngoài này dọn quán. Năm nay nước đồng chiêm lớn, vợ chồng bác Vạn dùng cái thuyền đánh cá để chở khách sang sông, hoặc đi các chợ. Bác Vạn trai cứ lì lì, chỉ cần ngày hai bữa chén đủ lơ mơ, chứ ít khi say. Chồng ít nói năng, vợ thì bẻo lẻo, nhưng rất thật thà, thẳng thắn. Sớm tối rỗi lúc nào là bác chạy sang ngồi nói chuyện với bà Hường và Trâm.


“Bà cả ngót năm mươi tuổi rồi mà trẻ non trẻ nõn. Người Huế nói nghe hay thế, lúc nào cũng dịu dàng, nhân hậu, chả ai nghe thấy bà cụ gắt với ai. Thuở trẻ, chắc là đẹp như sao băng đấy nhỉ. Bà cụ đội khăn đến khéo, cứ lẩn tròn vành vạnh, đường ngôi thẳng tắp. Mà búi tóc thì trông như là cánh phượng. Mắt đẹp, mũi đẹp, miệng đẹp, dáng thì óng ả, ngồi thì bệ vệ, đi thì khoan thai. Hai bàn tay ngón dài nhỏ tăm tắp, bàn tay ấy mà gỡ bún, giã cua thực là phí quá. Cô con gái thì y như mẹ. Vừa xinh đẹp vừa nết na sắc sảo, vừa làm ăn khéo, đến tôi là đàn bà cũng chết mê chứ đừng nói là các cậu công tôn, công tử nữa”. Bác Vạn gái, hễ khi vắng mặt bà Hường và Trâm, vẫn thường ca tụng hai người hàng xóm của bác như vậy với tất cả mọi người. Bác trai một hôm đã rót đầy chén rượu, khề khà nói với cái vỏ chai bác vừa giốc cạn:


- Ấy thế, trời làm một trận lăng nhăng mà lại! Người ấy mà dọn quán giã cua như cái cảnh lầm than túng thiếu của chúng mình thì lạ quá, lạ quá. Lạy Chúa tôi, loạn ly mà đến thế này thì thực là buồn quá sức mình.


Mẹ con Trâm cũng thật tình quý mến lòng chân thành của vợ chồng bác Vạn đối với mình từ ngày quen biết. Đôi khi kéo vó được con cá béo, mớ tôm tươi, bác Vạn trai lại bảo vợ đem sang biếu bà Hường. Đáp lại, cô tìm áo cũ của mình cắt may cho lũ trẻ con đôi bạn hàng xóm tốt. Và cô đã mua giấy bút dạy hai đứa trẻ học. Người bố thấy con đánh vần thông được mấy chữ khẩu hiệu người ta treo trên gốc cây đa trước quán thì mừng rỡ múa cả chân tay. Ngay hôm ấy bác nhẩy xuống đồng nước chụp kỳ được đôi cá chép lớn để trịnh trọng biếu cô giáo con mình.


Bà Hường và bác Vạn gái đã gần đến bến đò.


Nhìn theo mẹ đi ngoài mưa gió rét, cô thấy lòng thắt lại. Bà Hường gầy đi mau quá; chiếc áo nhiễu vân đen may dạo tháng này năm ngoái, bây giờ lụng thụng và đã bạc mầu.


Trâm bùi ngùi nghĩ:


- Giá trước kia...


Nao nao, tâm tưởng Trâm thoáng hiện hình ảnh ngày xưa cũ. Cái con đường phố phủ ở miền xuôi kia, ngày hè thì rắc đầy hoa phượng đỏ, mùa đông thì vàng lá me, lá sấu. Ngày ngày chiếc xe hơi bóng từ trong phủ chạy ra một cách oai nghiêm trước những con mắt kinh sợ của lũ sai nha, và những con mắt nhút nhát của bọn chức dịch đến chực hầu kiện cáo. Chiếc xe hơi đưa mẹ cô đi lễ chùa gần đến đền xa, ở tận Lạng Sơn, Thanh Hóa... và, đã một lần vào tận Huế. Ngày ấy, cô đã trông theo ngón tay bà Hường trỏ vào một vườn chuối sau bức rào ô rô cao như một bức thành:


- Me đẻ cô Trâm trên mảnh đất kia. Me dắt cô Trâm những ngày đầu chập chững, cho đến khi ba tuổi thì ra xứ Bắc. Ông bà ngoại mất đi, cái nhà kia sang tay chủ khác. Cậu mày, cái thằng cậu mày nó bạc bài, hợm đĩ đến nỗi bán cả đất của tổ tiên, cha mẹ. Thực là tủi cực.


Mẹ cô đã khóc. Rồi đó, bà Hường và cô bảo bác tài lái xe đi thăm các khiêm lăng. Cô nhớ mãi lăng vua Tự Đức, nhớ nhất cái mái nhà thủy tạ mục nát đứng soi bóng hình cũ kỹ trên gương nước hồ sen, quanh bờ có tiếng thông reo như một bản nhạc xa vắng tự ngàn thu cũ.


- Cô bán cháu bát nước nào.


Cô uể oải thò chiếc gáo dừa vào cái hũ nước chè xanh ủ nóng bằng trấu và bao tải. Trâm mỉm cười nghĩ đến câu Kiều: “Bắt phong trần phải phong trần...”. Người đàn bà cắt cỏ ràng ràng ở đồi xa, quen lệ cứ đến buổi chiều là đỗ gánh cỏ uống bát nước chè tươi nóng.


- Cháu nghiện nước chè xanh của cô. Hôm nào không có tiền uống thì thèm nhớ quá.


Trâm nhìn người đàn bà nghèo khổ uống từng ngụm nước ngon lành, tưởng như chị ta nhịn khát từ lâu lắm. Chị vạch cái bao lưng cáu bẩn, moi ra đồng năm xu, cẩn thận đặt vào tay cô.


- Bác xơi bún đi. Trời mưa bán rẻ.


Người đàn bà lờ đờ đưa mắt nhìn rổ bún, và đánh hơi hành mỡ của nồi riêu đang bốc khói trên bếp lửa. Chị nuốt nước bọt làm động cục cuống họng ở cái cổ khẳng khiu khô đét như chiếc chân gà:


- Cô tính tiền đâu mà ăn quà. Suốt từ mờ sáng lên mãi các đồi ở mạn trên hàng mấy chục cây số mới cắt được hai đồng. Hai đồng đủ đong sỉ hai bơ gạo xấu cho lũ cháu ăn. Cứ thế mãi thôi, hễ ốm là mẹ con nhịn đói. Ở quê nhà cháu cũng có vài ba sào đất, bây giờ bỏ cho cỏ mọc. Không biết loạn mãi đến bao giờ.


Người đàn bà kéo vạt áo lau rử ở đôi mắt đục trắng gần như múi nhãn, lại khom lưng gánh cỏ lên vai, mệt nhọc đi lên chiều gió ngược.


Cô đứng dậy, xách va li vào trong giường mở ra. Nước mưa dột thấm qua mấy chiếc áo hàng màu, cô trải từng chiếc ra chiếu. Tay cô chạm vào chiếc hộp khảm vuông. Cô mở ra: chiếc bài ngà bọc trong mảnh lụa vàng. Cô đặt nó giữa bàn tay. Lòng cô quặn đau khi nhìn thấy kỷ vật nọ.


Tình cờ vẳng đến, ngay lúc ấy, một tiếng súng ở đâu xa. Trước mắt cô, hình ảnh ông phủ Mạnh - bố cô - đổ cả cây thịt to béo, giẫy trên vũng máu giữa một đám người quần nâu áo vải, gươm súng lăm lăm trong tay.


Bất giác, cô gục đầu xuống nấc lên.


- Sao vắng cả thế này? Cô Trâm ở trong ấy à? - Khải sồng sộc bước vào. Người anh hiện ra nhanh quá đến nỗi Trâm không kịp giấu chiếc bài ngà.


Khải cau mày xẵng giọng:


- Cô thực giống me, lại giở những trò khỉ này ra làm gì nữa.


Trâm cúi đầu xuống để giấu nước mắt và thu vội cái áo gấm của ông phủ và mấy áo hàng mầu của mình và của mẹ:


- Mưa dột thấm hết va ly, em giở ra xem....


Khải lạnh lùng ngắt lời:


- Tôi muốn nói với cô về cái bài ngà của cụ lớn nhà ta kia mà.


Khải bỗng cười gằn trong khi cúi xuống cầm một bó giấy cuộn tròn, giở ra từng tờ một. Khải chau mày mở rộng tờ sắc nâng lên ngang mặt, giọng cười càng độc địa hơn:


- Phấn vua lộc nước, quyền cao chức trọng đây. Danh giá quá.


Khải mở bức ảnh phóng đại tô màu và tiếng cười trở nên ghê rợn:


- Cha tôi phẩm phục triều đình, mũ cao, áo rộng, thêu rồng, thêu phượng, trong khi ấy thì thằng dân mình trần khố trụi, sống như trâu như chó; thằng con thì cổ gông tay xích, dở sống dở chết, năm sáu năm trời hết bể lại rừng.


Ngước nhìn cái mặt dữ tợn mang hai vết sẹo của người anh, Trâm thấy rùng mình, khẽ van xin:


- Anh Khải, em xin anh.


Giọng Khải càng sắc lạnh:


- Cha tôi hưởng lộc triều đình, ăn lương bảo hộ, tiêu tiền của thằng đói, giật áo của thằng rách, cuồng sướng quá đến nỗi bắt bỏ tù cái thằng con không chung máu, khác nòi là cái thằng Khải khốn nạn này đây.


Khải cười như điên dại:


- Tôi đã có hân hạnh làm con một ông phủ, tôi đã có cái may mắn làm một thằng tù cộng sản, tù cách mạng.


Giọng Khải sắc bén, mặt Khải hằn những nét căm thù, mắt Khải vẩn một bóng mờ oan nghiệt như vương đâu từ kiếp trước.


- Anh Khải! Anh Khải!...


Cổ họng Trâm tắc nghẹn, Trâm tưởng như máu vận lên làm Trâm muốn ngã.


Khải ném bức ảnh xuống giường. Răng anh rít vào nhau.


- Tôi nghĩ cô nên giấu kín, thật kín những thứ kỷ niệm quái quỷ này đi, nếu cô chưa muốn vất xuống ao hay là vào bếp lửa. Cái danh giá quá thời bẩn thỉu của mình, chúng ta đừng nên nhớ lại làm gì nữa. Me, me thuộc vào cái hạng đàn bà thời thơ ấu thì sống trong nhung lụa, thời xuân sắc thì hưởng thụ ái tình rồi thì một bước nhẩy lên làm bà lớn để ngồi sập quỳ, để đánh tổ tôm với các mệnh phụ phu nhân, để cứ vài ngày lại ngự xe hơi đi lễ đền Sòng phố Cát, ra tỉnh sắm ngọc vàng tơ lụa và tối tối mở két sắt ra đếm giấy bạc một lần. Khắp mặt đất khốn kiếp nhỏ bé này có hàng triệu ông lớn bà lớn như vậy thì cái lũ dân còn bị bóc lột, còn bị ngắc ngoải đến thế kỷ nào mới hết.


- Anh Khải, em xin anh. Anh không biết me khổ lắm ư. Em biết, lúc nào anh cũng sẵn có những ý nghĩ căm hờn với ba, với me, với tất cả cái dĩ vãng của gia đình này. Anh Khải, sao anh không quên đi, quên để mà yêu thương nhau trong cái lúc mà ở ngoài kia, còn bao nhiêu oán thù chia rẽ.


Khải bỏ mũ ca lốt, rũ nước mưa, ngồi xuống bên giường. Nét mặt Khải dịu hơn và giọng Khải xa xôi:


- Dĩ vãng! Tôi tưởng tôi cũng đã cố quên nhiều lắm rồi, Trâm ạ. Vì muốn quên hẳn đi, xóa hết đi, nên tôi rất sợ phải nhìn những vật này nó nhắc nhủ tôi nhiều điều cay đắng. Thực chẳng đẹp đẽ gì cái dĩ vãng của gia đình mình, tuy rằng thiên hạ người ta cứ tưởng là đẹp lắm.


Lời nói mỉa của Khải, đây không phải lần thứ nhất đã khiến Trâm đau rất nhiều. Khải là con người cách mạng, Khải đã gián tiếp dự vào cái chết của bố Trâm, và Khải đã cười trước cái chết đó. Trái tim bọc sắt ấy lại đã có thể ghẻ lạnh - nếu chưa hẳn là khinh - cả người mẹ hiện giờ đang là nạn nhân của cái thời đảo lộn - mà Khải bảo đó là đắc thắng của cuộc cách mạng tất nhiên phải có để gây lại trật tự cho đời sống con người.


- Anh Khải, theo anh thì cách mạng phải đạp đổ tất cả chứ gì. Rất phải và rất đẹp. Nhưng cách mạng đã như cơn nước lũ, người ta vui say quá để không cần nhận thấy rằng: giúp cho cách mạng thành công, đã có bao nhiêu máu, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu hơi thở thoi thóp, bao nhiêu tấm lòng giẫy dụa chịu chìm khuất, chịu nhục nhã, chịu khinh bỉ.


Trâm uất nghẹn, lặng đi.


Khải cười gằn:


- Cái trật tự đó chỉ gây được khi nào điều kiện xã hội đã đầy đủ, nghĩa là khi nào trên cái mặt đất này không còn có kẻ thống trị và bị trị, khi nào anh nông dân không còn là anh nông nô, nghĩa là hắn đã có con trâu để cầy chính trên mảnh đất của hắn rỏ mồ hôi xuống đấy; khi nào anh công nhân đã có manh áo lành và gian nhà che mưa nắng ngang như anh công chức, anh nghiệp chủ, nghĩa là trật tự chỉ có thể có được khi nào không còn hai tầng lớp kẻ giầu và kẻ nghèo, hai tầng lớp không sống chung trên mặt đất, tức là khi mà con người đều no ấm, đều thỏa mãn.


Cô cười chua chát:


- No ấm chưa chắc hẳn là hạnh phúc con người. Còn bảo rằng con người thỏa mãn thì em nghĩ con người không bao giờ thỏa mãn. Tại sao lại nghĩ rằng dăm ba bàn tay yếu sẽ có thể đủ sức kiêu căng xây dựng một thiên đường, trong khi ấy thì, vô tình hay cố ý, người ta đã...


Khải nghĩ: “chuyện đàn bà!”, và rẽ sang chuyện khác:


- Thế nào, bà cụ có còn kêu nhức đầu về cô Trâm nữa không đấy?


Cô vừa ra ngoài hàng vừa nói:


- Me ấy à, lúc nào me chẳng kêu nhức đầu. Trời đất cứ mãi thế này, thì ai cũng nhức đầu hết, chẳng riêng me, anh Khải nhỉ.


Khải cũng theo ra, ngồi xuống ghế, châm thuốc lá:


- Tại sao thế, cô em tôi?


- Tại cứ phải nghe nhiều lý thuyết của thiên hạ quá.


Khải nghiêm mặt lại:


- Cô không nên nói đùa, nhất là ở cái thời này.


Biết người anh đã trở lại khó tính, Trâm đấu dịu:


- Tại độ này cứ nghe tiếng súng luôn, me sợ quá đâm ra hay ốm.


Và se sẽ, như nói một mình:


- Lạ gì tính me. Me sợ nhất là tiếng súng.


Khải hiểu ý nghĩa câu nói ấy. Khải nín lặng, đầu hơi cúi xuống, gẩy tàn lửa thuốc lá cho tro tàn rơi xuống đất, trong khi cô lặng lẽ nhìn ra ngoài trời mưa.


- Trời ơi, rét cóng chết cả người. Kìa, Khải đã về đấy con.


Bà Hường xuýt xoa bước vào hàng. Trâm khẽ kêu lên:


- Mặt me tái nhợt đi, khổ quá.


Cô vội đỡ cái áo tơi sũng nước rồi treo vào góc vách:


- Ai cho me mượn áo thế này?


- Bác Vạn đấy. Bác ấy nhường áo lá cho mình, chịu ướt run lên. Hôm nay sóng đồng to quá, ngồi thuyền chóng quay cả mặt.


Bà quay lại Khải:


- Anh ăn uống gì chưa? Trâm lấy bún anh xơi đi con.


Khải vẫn tẩn mẩn gẩy tro tàn điếu thuốc trong tay:


- Mưa gió me đi lễ làm gì thế. Me lạ quá, cứ lễ bái tốn tiền, mệt xác. Con đã xin me rồi cơ mà!


Bà Hường rất sợ con động chạm đến việc bà lễ bái. Xưa kia bà Hường không sợ ai mà cũng chẳng ai dám động đến tín ngưỡng của bà, nhưng trong lúc này bà sợ hết cả mọi người, nhất là sợ Khải.


- Kìa, Trâm lấy bún anh xơi, riêu còn nóng không?


Khải mở vuông vải che rổ bún còn quá nửa.


- Con vừa ăn cơm ban nãy. Chiều tối đến nơi rồi mà bún ế thế này!


Bà Hường không muốn Khải lưu tâm đến sinh kế gia đình. Bà vui vẻ nói:


- Mấy hôm nay mưa rét ế hàng, chứ mọi khi suốt ngày đông khách. Lát nữa, chỉ một bọn vào ăn là hết cả, lo gì.


- Thằng Lưu đâu, me?


Cô nhìn mẹ rồi đáp lời Khải:


- Em nói xin sang Ngọc Nội chơi với bạn bè gì đấy, có lẽ sáng mai mới về.


Khải cau mày:


- Lúc này mọi người đều làm việc, thế mà thằng Lưu nó cứ lêu lổng, lười nhác, hết nằm dài ăn nặng bụng, lại đi chơi. Coi chừng kẻo người ta điệu cổ nó lên rừng đấy. Ngủ đêm một làng xa là nguy hiểm, dại dột.


Khải đeo ba lô, đội mũ, buộc lại dây giầy, tức bực như bất cứ lần nào Khải về thăm nhà chốc lát.


- Me bảo thằng Lưu liệu xác. Có con, có em mà không biết răn dạy là một điều nhục nhã. Cái thời này nên sống khác đi. Sống cho ra sống chứ không có cái lối ỷ lại, ươn hèn như trước nữa. Me bảo nó thế. Tại sao đã mấy tháng nay con không gặp mặt nó là nghĩa thế nào.


Bà Hường tủi cực:


- Thì anh nói vậy, tôi cũng biết vậy. Anh để tôi răn nó. Tôi nghĩ đã đến nỗi này còn ghét bỏ, đay nghiến nhau làm gì cho thêm đau ruột. Cũng khổ sở, chứ nào ai sung sướng.


Bà nhìn Khải, giọng thiết tha:


- Me tưởng dầu sao đi nữa cũng chỉ còn có thể yêu thương, tha thứ, chịu đựng lẫn nhau cho xong cái kiếp người, con ạ. Me khổ lắm, me chết mất con ơi.


Bà nấc lên, thổn thức:


- Con đi xa thì me lo buồn bỏ ăn, mất ngủ. Thấy con về là me tủi tủi, mừng mừng. Chao ôi tên đạn bốn phương như thế, con bảo me không lo sợ, không thương xót các con sao được. Vậy mà mỗi lần trông thấy mặt con, me lại khổ lòng hơn. Me không hiểu sao con có thể nhẫn tâm như thế mãi.


Bà Hường nhìn thẳng vào mắt Khải, vô cùng ảo não:


- Khải ạ, me nghĩ rằng oan nghiệt thì cởi ra... mà ân tình thì thắt lại. Sao con cứ nghĩ đến cái oan nghiệt để làm khổ me, khổ đàn em con. Thôi thì bao nhiêu lỗi lầm, bao nhiêu oán tủi, bao nhiêu cay đắng trước me xin chịu tội, và me xin con tha thứ cho me. Tại sao xưa kia và nhất là hiện giờ me cứ hay đi lễ Phật cầu trời. Bởi vì me sợ cuộc đời, sợ thật tình con ạ. Me sợ hết cả mọi người, mọi vật. Me chỉ còn trông vào lượng từ bi của trời Phật nữa mà thôi. Me luôn luôn thấy cần phải cầu trời Phật che chở cho me con mình, nhất là con, thoát khỏi mũi tên hòn đạn. Me không mong muốn gì hơn là được con hiểu lòng me, tha thứ cho me, thương me hơn một chút, me chỉ dám xin con có thế thôi.


Mắt bà Hường bỗng hoa lên, bà vịn vào thành chõng. Trâm dìu mẹ vào giường.


Trâm xoa dầu, đắp chăn cho mẹ, đoạn quay ra. Khải đã đi rồi. Trên mặt chõng, còn lại điếu thuốc lá Khải đang hút dở. Tia khói mảnh bay lên quằn quại yếu ớt.


Cô biết Khải còn mang một căm hờn sâu độc chưa nguôi được. Đã nhiều lần Trâm tự hỏi:


“Cái chết bất đắc kỳ tử của cha mình năm ngoái, cái cảnh sa sút khó khăn, lưu lạc lần hồi rau cháo hiện giờ của mẹ con mình vẫn chưa đủ cho Khải hả lòng sao? Hay là còn điều gì uẩn khúc, oan nghiệt khác?”. Cô vẫn chờ dịp hỏi mẹ mình, nhưng mà cô không nỡ. Bà Hường kín đáo, kín đáo cả với con cái, cả với mọi người. Hơn một năm nay, vội vàng lẻn lút trốn khỏi cái phố phủ khủng khiếp kia rồi thì lênh đênh lưu lạc mãi đến cái bến đò cây đa cổ thụ, sống lần hồi trong cái quán hẹp hứng nhiều mưa nhiều gió này, mẹ con Trâm kín đáo đến mực chưa một ai biết đây là gia đình một bà phủ lỡ thời, thất thế.


Bóng tối đã mênh mang bay trên bến mưa quạnh quẽ. Gió mỗi lúc thêm thổi mạnh. Lá đa reo giạt giào.


Cô buông liếp, thắp đèn.


Bà Hường khẽ hỏi ra:


- Anh Khải còn ngồi đấy không con?


Cô xách đèn vào, cúi đặt bàn tay vào trán mẹ:


- Anh con đi rồi.


Đầu bà Hường nghiêng sang bên gối, thều thào:


- Anh con đi rồi.


Nước mắt bà lại ứa ra.


- Anh con có để lại gì không?


- Không ạ.


Mắt bà mở to nhìn lên mái tối như theo dõi bóng hình thẳm xa nào. Một lát bà nắm chặt lấy bàn tay cô, thổn thức:


- Trâm ơi, con không hiểu được lòng nó đâu. Me hiểu, chỉ có me hiểu, cho nên me không dám giận anh con, me không có quyền giận nó. Me thương anh Khải con lắm, bởi vì me là người có tội.


Cô cúi xuống vuốt mấy sợi tóc rối trên vầng trán của mẹ mình, và cô thủ thỉ:


- Me có thể cho con biết một hai điều. Me ơi hình như...


Cô ngừng lại. Cô sợ một cái gì đó sẽ va chạm, sẽ vò xé tấm lòng u uất của mẹ mình. Bà Hường bỗng ngồi lên. Bà ra gian ngoài. Mắt bà ngơ ngác nhìn quanh bóng tối:


- Anh con không để lại gì à?


Giọng bà thấp xuống:


- Thế là nó đi rồi. Chắc là nó đi đâu xa lắm.


Bà mệt nhọc ngồi xuống cái ghế tre nhỏ ở góc vách, chỗ thường ngày bà vẫn ngồi hâm riêu và sưởi ấm.


- Con lấy củi đốt lên cho me sưởi một tí có được không con? Me rét lắm, rét từ trong ruột rét ra.


Cô lấy rơm khô róm và xếp củi khô lên. Bà Hường ngồi yên lặng nhìn ngọn lửa.


Cô ngồi cạnh âu yếm vuốt cánh tay gầy của mẹ:


- Me có thể cho con biết một hai điều. Con đã hai mươi tuổi, vậy mà bao nhiêu năm nay con cứ thấy ở trong me còn giấu một cái gì sâu thẳm, con không thể nào lường được. Cái gì thế me? Con có cảm tưởng dường như con xa me lắm.


Bà Hường vẫn ngồi yên lặng.


Cô ngước nhìn mắt bà Hường. Chao ôi, chưa bao giờ cô thấy mắt mẹ mình lại sầu đến thế. Đôi mắt đẹp của thời thanh xuân, đôi mắt, hai mươi năm xưa, đã chứa đựng bao nhiêu bóng nhạn ân tình đong đưa trên con thuyền sông Hương. Đôi mắt, rồi sau đó, chứa đựng bao nhiêu tội lỗi, bao nhiêu lệ tủi, bao nhiêu hối hận, - chao ôi, chưa bao giờ cô thấy mắt mẹ mình lại u uất như lắng trầm, đắm lạc vào một cõi xa vời, thăm thẳm của kiếp nào.


Lửa lên cùng với khói, mắt bà Hường khép lại dần dần, và mấy giọt nước, sáng bên ánh lửa đọng riềm mi, rơi lã chã...


(còn tiếp)


Nguồn: Quán gió. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB Hương Sơn, 1948. Tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »