tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24963899
Tiểu thuyết
13.03.2013
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Soái phủ quân viễn chinh Pháp ở Sài Gòn.


            La Grandière đang ngồi đọc báo cáo về hoạt động các cánh quân thì viên sĩ quan mang quân hàm thiếu tá bước vào rập chân đứng nghiêm chào. La Grandière ngẩng lên: – “Có việc gì?” – Viên sĩ quan bước tới đưa một phong bì:  – “Thưa đô đốc, có thư của Kinh lược sứ Phan Thanh Giản gởi ngài”. La Grandière vội xé bì thư ra đọc. Nét mặt hắn rạng rỡ dần. Đọc xong, hắn bảo: – “Mời đô đốc Ohier đến gặp ngay”. – “Tuân lệnh!” – Viên sĩ quan rập chân nghiêm chào rồi đi nhanh ra. La Grandière đứng bật dậy đi tới đi lui trong phòng rộng vẻ mặt rạng rỡ lẩm bẩm: – “Có thế chứ! Có thế chứ!”. Có tiếng giày phía ngoài rồi Ohier xuất hiện vẻ mặt căng thẳng không biết việc gì xảy ra mà Tổng tư lệnh triệu tập hắn đến gặp vội như thế này. – “Vào đây! Vào đây!”, La Grandière không giấu vẻ vui mừng khi đưa cho Ohier thư của Phan Thanh Giản. – “Ông đọc đi!” Ohier liếc nhanh bức thư rồi reo lên: – “Hay quá! Xin chúc mừng đô đốc!”. La Grandière lại tủ mở lấy chai sâm banh bật nút kêu “bốp” một tiếng lớn rót đầy hai ly rồi cùng Ohier chạm cốc, uống cạn một hơi: – “Vậy là công việc trước mắt là ông cho điều động lập tức lực lượng tiến xuống Vĩnh Long. Ta thực hiện ngay việc tiếp quản ba tỉnh miền Tây với Phan Thanh Giản, không được chậm trễ. Nào, xin chúc mừng thắng lợi của chúng ta!”. Cả hai lại chạm cốc mạnh, rượu tràn cả ra ngoài.


 


Bình minh trên sông Cổ Chiên.


            Một đoàn tàu chiến giặc lớn nhỏ bỏ neo đậu gần như dàn hàng ngang trên giữa sông trước thành Vĩnh Long. Những họng đại bác trên tàu đen xì đang hướng về phía thành như sẵn sàng nhả đạn. Bọn lính đi lại lăng xăng trên các chiếc tàu. Nhiều tốp lính lau chùi vũ khí như sắp sửa bước vào trận chiến. Trên bờ, một số người hiếu kỳ đủ mọi lứa tuổi đổ ra bờ sông chen lấn nhau nhìn như một hiện tượng lạ. Lần đầu tiên họ nhìn thấy tàu chiến Pháp nhiều đến thế. Lá cờ tam tài phấp phới trên mỗi chiếc tàu trông ngạo nghễ và khiêu khích, phô trương sức mạnh của đạo quân viễn chinh Đại Pháp. Nhưng một số dân khác vội chạy về nhà giục vợ con thu xếp đồ đạc chuẩn bị chạy giặc. Họ đã từng nghe tin bọn giặc đốt nhà cướp của giết hại dân trên ba tỉnh miền Đông khi chúng bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược mấy năm trước đây. La Grandière và Ohier mặc quân phục đô đốc hải quân đứng trên boong chiến hạm chỉ huy. La Grandière giơ ống nhòm lên quan sát. Qua ống nhòm hắn chỉ thấy một số dân chúng đứng chen chúc ở bờ sông nhìn ra tàu bằng những đôi mắt tò mò lẫn ngạc nhiên trước số lượng tàu chiến nhiều chưa từng có ở khúc sông này. Ngoài ra, các tuyến phòng thủ đồn luỹ của quân triều đình ở Vĩnh Long vẫn im lặng không có dấu hiệu chuẩn bị chiến đấu chống trả khi quân Pháp đổ bộ. Quan sát tình hình như vậy La Grandière cảm thấy yên tâm. Hắn đưa ống nhòm cho Ohier đứng bên: – “Ông xem đi. Rõ ràng là Phan Thanh Giản đã chấp nhận tối hậu thư của chúng ta”. Ohier cầm lấy ống nhòm quan sát một chút rồi nói: – “Tôi cũng có cảm nhận như ý kiến của đô đốc. Bây giờ ngài tính thế nào?” – “Cho bắn một loạt đạn đại bác mã tử vừa ra vẻ như chúng ta chào mừng họ, nhưng thực ra là chúng ta thị uy sức mạnh quân sự đại Pháp cho dân chúng ở đây hiểu rằng chớ có chống cự vô ích!” – “Tuân lệnh!” Ohier gật đầu. Hắn quay sang tên sĩ quan truyền tin nói: – “Ra lệnh cho các tàu bắn một loạt đạn mã tử thị uy ngay!”. Tên sĩ quan vội đánh tín hiệu bằng cờ truyền lệnh cho các tàu. Lập tức các pháo thủ ở các tàu nhanh chóng nạp đạn vào các khẩu đại bác. – “Ầm! Ầm!” Một loạt đạn nổ vang, phá tan không khí yên lặng thanh bình buổi bình minh trên sông. Dân chúng trên bờ hốt hoảng bỏ chạy tán loạn. Họ tưởng quân Pháp sẽ đổ bộ đánh phá như đã diễn ra ở Sài Gòn – Gia Định mấy năm trước. Bọn giặc trên tàu cười đùa thích thú khi thấy cảnh tượng dân chen nhau bỏ chạy trên bờ. La Grandière cũng bật cười nói với Ohier: – “Đó ông thấy chưa? Với tinh thần dân chúng như vậy thì làm sao Phan Thanh Giản dám chống lại chúng ta?”.  – “Nhưng thưa ngài, nếu các tướng dưới quyền của ông ta không tuân lệnh thì sao?” – Ohier nói dè dặt. – “Bản chức sẽ gặp Phan Thanh Giản để giải quyết vấn đề này, nếu ông ta để xảy ra!” – La Grandière nói kiên quyết, mặt hắn cau lại khó chịu.


 


            Trong tư dinh Kinh lược sứ Phan Thanh Giản, ông cụ mặc triều phục tiếp La Grandière trong bộ ghế tràng kỷ đặt ở giữa nhà. Bên ngoài vẫn có mấy tên lính Pháp cầm súng đứng gác để bảo vệ cho tên đô đốc Tổng tư lệnh. Ông Đức lại bưng khay trà ra rót đầy hai chén rồi lặng lẽ lui vào trong. Người thông ngôn ngồi canh La Grandière lặng lẽ quan sát vị đại thần tuy tuổi cao nhưng vẫn đầy vẻ uy nghi đường bệ khi tiếp khách. – “Xin mời ông” Phan Thanh Giản đưa tay ra hiệu mời La Grandière uống trà. – “Cám ơn!”. Hắn cầm lấy chén trà bốc khói thơm phức nhấp một ngụm rồi đặt xuống, nhìn Phan Thanh Giản nói: – “Hôm nay bản chức thay mặt Hoàng đế đại Pháp đến gặp ngài để yêu cầu ngài giao thành Vĩnh Long cho quân đội Pháp. Như trong bức thư bản chức gởi ngài trước đây, bản chức đã cam đoan không có sự đàn áp báo thù nào xảy ra. Dân chúng vẫn làm ăn sinh sống bình thường như hồi còn dưới quyền cai trị của ngài”. Cụ Phan ngồi lặng im, cố nén cơn căm tức đang dâng lên nghẹn ở cổ. Giây lâu ông mới nói được, giọng chậm rãi: – “Liệu binh lính dưới quyền ông có thực hiện được điều ông vừa hứa không?” – “Bản chức lấy danh dự là sĩ quan Hoàng đế đại Pháp mà hứa với ngài: Bản chức sẽ trừng trị thẳng tay kẻ nào trong quân đội Pháp vi phạm quân lệnh của bản chức!” La Grandière nói giọng nhấn mạnh. – “Vậy thì ông còn muốn gì nữa ở ta?” – Cụ Phan nói, giọng có vẻ khó chịu. Thấy thái độ cụ Phan như vậy, tên đô đốc cáo già vội đấu dịu: – “Bản chức còn một việc muốn nhờ ngài…” – “Ông cứ nói”. – Cụ Phan nhìn hắn, gật. – “Ngài tuy chấp nhận điều kiện của bản chức, nhưng các tướng dưới quyền ngài đang trấn nhậm ở An Giang, Hà Tiên liệu họ có chống lại không? Và như vậy thì máu sẽ đổ. Đó là ngoài ý muốn của ngài và của bản chức. Cho nên bản chức muốn yêu cầu ngài viết thư riêng cho các vị trấn thủ khuyên họ nên hạ khí giới giao thành khi quân đội đại Pháp đến… La Grandière mỉm cười nói tiếp: – “Bản chức thành tâm không muốn xảy ra cảnh chém giết máu chảy đầu rơi như mấy năm trước ở Sài Gòn – Gia Định… mà phần thắng luôn thuộc về quân đội đại Pháp. Bản chức chỉ muốn bắn đại bác chào mừng như sáng nay ở Vĩnh Long… Ngài hiểu được tấm lòng của bản chức chứ?” – “Ta xưa nay chưa làm điều gì khi ta chưa suy nghĩ kỹ càng”. – “Bản chức nghĩ là ngài đã suy nghĩ vấn đề này từ lâu rồi chứ? Ngài hãy viết thư chuyển đi cho kịp thời gian. Người Pháp không có thói quen chờ đợi, nhất là với quân đội. Châm ngôn Pháp có câu: “Việc gì làm được hôm nay chớ để đến ngày mai.” Ngài từng đến nước Pháp, chắc ngài đã biết câu châm ngôn này?” – “Ông có thể cho ta chậm một vài ngày được không?” – “Việc quân sự không thể chậm trễ. Xin ngài hiểu cho!” – La Grandière nói, giọng có vẻ đe dọa. – “Ta sẽ viết. Nhưng ta báo trước với ông: Nếu các ông có hành động gì xúc phạm đến tính mạng và của cải của dân chúng thì các ông sẽ nhận lấy hậu quả khôn lường, bởi dân Nam ta có câu “con giun xéo mãi cũng oằn” đó” – Cụ Phan nói sẵng giọng. – “Bản chức hiểu. Mong mọi điều tốt đẹp sẽ đến với cả hai phía. Bản chức sẽ cho hai sĩ quan ở lại bảo vệ ngài khi nào ngài thảo xong thư chuyển cho các thuộc hạ”. La Grandière đứng dậy: – “Bản chức còn bận việc quân, không thể ở đây lâu được. Xin chào ngài”. Hắn giơ tay ra bắt, nhưng thấy Phan Thanh Giản vẫn ngồi yên, hắn vội chữa thẹn bằng cách đưa tay lên vành mũ chào rồi đi ra. Cùng lúc có hai tên sĩ quan Pháp mang gươm đi vào ngồi ở ghế đối diện với Phan Thanh Giản, nét mặt lạnh lùng với đôi mắt xanh lè nhìn vào vị đại thần triều Nguyễn như chờ đợi, thúc giục ông viết thư. Vị quan già chợt hiểu: – Từ giờ phút này ông là tù binh của bọn xâm lược, nếu ông không thi hành theo lệnh của chúng. Ông thở dài gọi với vào trong: – “Ông Đức đâu, mang giấy bút ra đây!”


 


            Quản Nhơn đi bên cạnh Trực xuống bến sông nơi người lính hầu với chiếc tam bản có mui rèm chờ Trực ở đó.


            – “Anh về Hà Tiên thiệt à? ” Quản Nhơn có vẻ băn khoăn hỏi. – “Tôi được cử giữ chức Thành Thủ úy ở đó mà! Không đi sao được?” Trực vui vẻ đùa cợt đáp lại câu hỏi của quản Nhơn. – “Còn anh, anh về đâu?” – “Tôi sẽ về U Minh, rừng tràm, rừng đước bạt ngàn ở đó sẽ che chở cho tôi lập căn cứ chiêu mộ anh em binh sĩ và nông dân yêu nước đứng lên khởi nghĩa chống lũ giặc Tây dương. Hai ta sẽ liên lạc chặt chẽ để hỗ trợ cùng nhau đánh giặc. Anh đồng ý chớ?” Quản Nhơn nhìn Trực bằng đôi mắt đầy cảm tình của một người đồng chí hướng đánh Tây. – “Tất nhiên là tôi hết sức đồng ý rồi” Trực cười vui vẻ. Như chợt nhớ ra, chàng nhìn quản Nhơn: – “À quên, tôi còn bà mẹ và mấy em ở Đầm Dơi, sau vụ đốt tàu giặc ở vàm Nhựt Tảo để tránh bị trả thù đã tản cư xuống đó cũng đã mấy năm rồi. Có lẽ còn phải nhờ anh giúp cho sau này”. – “Anh cứ yên chí. Gia đình của anh, tôi cũng coi như gia đình của tôi mà” Quản Nhơn nói giọng chân thành khiến Trực hết sức xúc động: – “Rất cám ơn anh!”. Đã đến bến sông, Trực nắm chặt tay quản Nhơn: – “Xin cáo biệt! Hẹn gặp nhau sau!”. Quản Nhơn đứng nhìn theo Trực được người lính chèo tam bản xuôi theo dòng nước đi về hướng Tây, nơi bát ngát một màu xanh đến tận chân trời.


            Trực lần đầu đi xuống vùng sông nước miền Tây, chàng cảm nhận cảnh vật ở đây cũng giống như ở Tân An, nhưng có lẽ là sông rạch nhiều hơn, và phần nhiều đều hoang vu chưa có người khai phá. Màu xanh cứ nối tiếp màu xanh kéo dài tít tắp đến tận chân trời. Đất nước xinh đẹp thế này mà lại rơi vào tay giặc do bọn vua quan hèn nhát dâng cho mà còn sĩ diện “sẽ cho chuộc lại sau này”. Tự nhiên Trực nhớ lại cuộc họp của Trương Văn Uyển, Tổng trấn Vĩnh Long triệu tập vừa rồi. Không khí hết sức nặng nề căng thẳng. Hầu hết các quan, chủ yếu là quan võ ở ba tỉnh miền Tây đều có mặt trong cuộc họp. Và Trực, với tư cách là Thành Thủ úy Hà Tiên, một chức quan triều đình bổ nhiệm theo nguyện vọng của Trực, sau nhiều lần chàng dâng sớ xin chuyển về ba tỉnh miền Tây cũng được Trương Văn Uyển triệu tập khi chàng đến Vĩnh Long. Mở đầu cuộc họp, Trương Văn Uyển trịnh trọng tuyên bố đây là cuộc họp quan trọng theo chỉ thị của Kinh lược sứ Phan Thanh Giản về việc sẽ trao ba tỉnh miền Tây cho quân Phú-lang-sa hầu tránh tai họa chiến tranh, máu chảy đầu rơi, tan nhà nát cửa cho dân chúng. Các văn quan võ tướng ba tỉnh miền Tây phải chấp hành việc dâng thành trao đất, nay phải bẻ giáo quăng gươm không được tổ chức kháng cự. Rồi bằng một giọng trầm trầm của người trong cơn tuyệt vọng, Trương Văn Uyển đọc bức thư của quan Kinh lược sứ họ Phan. Mỗi lời lẽ trong thư đều toát lên tư tưởng sợ giặc, không dám kháng cự. Uyển đọc đến đoạn chót: – “Bổn chức buộc phải lựa theo thế Trời mà đứt ruột giao ba tỉnh miền Đông cho họ trước đây, ngõ hầu mưu sự yên hòa cho dân chúng. Nay người Phú-lang-sa lấy cớ nghĩa quân ta nổi lên chống họ, để buộc ta giao ba tỉnh miền Tây cho họ. Ta đã nói với họ rằng ta chỉ có quyền giữ đất chớ không có quyền giao đất! Nhưng nếu bổn chức tùy theo Thiên ý mà tránh đỡ giùm dân khi họ đem tai họa mà gieo lên đầu dân mình, như vậy bổn chức trở thành phản thần đối với Hoàng đế của ta, vì bổn chức giao ba tỉnh của Hoàng đế cho người Phú-lang-sa mà không chống cự! Bổn chức đáng tội chết! Hỡi các quan và lê dân! Các người có thể sống dưới sự điều khiển của người Phú-lang-sa, những người này chỉ đáng sợ trong chiến tranh mà thôi, nhưng lá cờ ba sắc không thể phấp phới bay trên thành lũy mà Phan Thanh Giản còn sống!”. Ngừng một lúc, Trương Văn Uyển nhìn mọi người với ánh mắt dò xét: – “Vậy là các ông đã nghe rõ nội dung mệnh lịnh giải giáp nộp thành của quan Kinh lược sứ rồi đó. Bây giờ các ông tính sao đây?”. Tất cả đều im lặng, ngỡ ngàng. Họ không ngờ cả ba tỉnh miền Tây đang sống yên lành, bỗng dưng phải giao nộp đất cho người Phú-lang-sa, không một ai được phép kháng cự. Họ ngơ ngác nhìn nhau tại sao vậy, đây là thực hay mơ? Không, đây là thực khi trên tay Tổng trấn Vĩnh Long Trương Văn Uyển còn cầm bức thư của quan đại thần Kinh lược sứ Phan Thanh Giản mà ông vừa đọc ra lịnh cho các văn võ bá quan ba tỉnh miền Tây phải bẻ giáo quăng gươm giao nộp tất cả đất đai thành lũy cho quan Phú-lang-sa ngay lập tức, không được phép kháng cự. Tất cả những người dự họp với vẻ mặt phẫn nộ lo âu nhìn nhau, dò xét thái độ của nhau. Có một số ngồi mắt nhìn đâu đâu như không để ý đến người khác. Có thể họ thấy nộp đất giao thành rồi họ sẽ được triều đình điều động ra nơi khác như Bình Thuận, Phú Yên chẳng hạn, lại cũng mũ áo xênh xang không phải bận tâm gì đến chuyện thế sự còn mất của sáu tỉnh Nam Kỳ. Giữa lúc không khí căng thẳng nặng nề ấy, bỗng quản Nhơn, một chỉ huy quân sự còn trẻ, dáng người thấp đậm lên tiếng, giọng phẫn uất: – “Chưa đánh đã hàng, bó gối nộp thành thì dân chúng còn coi chúng ta ra cái giống gì nữa hả các vị!”. – “Đánh hay không đánh là phải có lịnh vua phép nước. Nay quan Kinh lược sứ Phan đại nhân đã thay mặt triều đình ra lịnh cho chúng ta phải nộp đất giao thành thì làm sao chúng ta chống lại được?”. Trực nhìn người đứng lên vừa nói, thì ra đó là Trấn thủ An Giang. Ông ta quan sát mọi người rồi tiếp: – “Ngay như Trương Trấn thủ đây cũng phải chấp hành dầu trước đây ông đã từng cầm quân chống lại người Phú-lang-sa. Tôi nói vậy có đúng không Trương đại nhân?”. Mọi cặp mắt trong cuộc họp lại nhìn về Trương Văn Uyển, ông ta thẫn thờ nói chậm rãi để thanh minh: – “Bổn chức từng đề đạt ý kiến của bổn chức với quan Kinh lược sứ là phải đánh, kể cả phải bỏ thành thị rút vô bưng biền tổ chức kháng cự lâu dài, nhưng bị ngài bác bỏ – ông ta thở dài nói tiếp – Vẫn biết chưa đánh đã hàng, chịu nộp đất giao thành là nỗi nhục lớn của kẻ cầm quân, nhưng nếu chống lịnh triều đình thì mắc tội khi quân đại nghịch. Đạo làm tướng bổn chức đành lấy chữ trung thay cho nỗi nhục vậy, chớ biết làm thế nào bây giờ?”. Trương Văn Uyển nói xong ngồi xuống với vẻ mặt thẫn thờ như kẻ mất hồn. Đến lúc này cơn giận bùng sôi trong lồng ngực, Trực không chịu được nữa, chàng đứng lên nhìn Trương Văn Uyển với đôi mắt khinh bạc và nói giọng phẫn uất: – “Chưa đánh mà nộp thành, đó là nỗi ô nhục danh tiết con nhà võ không nước sông nào rửa được. Năm xưa đã mất ba tỉnh miền Đông, nay lại nộp luôn ba tỉnh miền Tây. Cả một vùng trù phú như vậy mà để lọt vào tay quân Phú-lang-sa thiệt đau xót biết chừng nào!” – giọng Trực buồn bã nói tiếp – “Mai sau xuống suối vàng, thử hỏi các ông làm sao chúng ta dám nhìn mặt tổ tiên ông bà dưới đó? Tôi nghĩ tiền nhân đã tốn bao nhiêu xương máu, nằm bờ ngủ bụi, mới tạo dựng đươc cơ đồ giang sơn trù phú để lại cho con cháu ngày nay. Bây giờ chúng ta phải chịu bó tay nộp thành cho giặc, chống lại lịnh này thì bảo là “khi quân đại nghịch”. Vậy tôi xin hỏi các ông: còn đủ quân sĩ trong tay, chưa đánh đã nộp thành cho giặc, thì sử sách ghi là tội gì?”. Nói gay gắt mấy câu sau cùng Trực ngồi xuống, đôi mày chàng cau lại khi thấy trấn thủ An Giang đứng lên ấp úng thanh minh thái độ chấp hành lịnh không kháng cự của quan Kinh lược sứ: – “Thế giặc mạnh, thế ta yếu, Hoàng thượng là đấng anh minh nhìn xa trông rộng, thấu suốt mọi lẽ nên Người biết rằng nếu tiếp tục cuộc chiến tránh sao khỏi tổn hại sinh linh, chi bằng tạm thời nộp đất giao thành, rồi sẽ cử sứ thần sang nước Phú-lang-sa chuộc lại. Đó không phải là kế sách vẹn toàn đó sao?”. Trước lý lẽ ấp úng thanh minh của trấn thủ An Giang, Trực cười nhạt: – “Sáu năm trước ký hoà ước Nhâm Tuất đã để mất ba tỉnh Đồng Nai, Gia Định, Định Tường, xin chuộc lại không được. Bây giờ lại giao luôn ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên nói là sẽ xin chuộc sau. Nghe thiệt là nực cười. Đây thực chất là sợ chết, đầu hàng giặc mà còn sĩ diện!”. – “Ông Thành thủ úy, xin ông ăn nói phải giữ lễ độ! Việc cắt đất giao thành là do lịnh triều đình của Hoàng thượng chớ không phải riêng quan Kinh lược sứ. Chúng ta là bầy tôi trung của vua thì chỉ có việc tuân theo. Ai trái lịnh thì sẽ bị xử theo quân pháp!” Trấn thủ An Giang nói mấy câu cuối cùng có ý răn đe. Đáp lại, Trực cười nhạt: – “Một nước có vua thì phải có dân mới thành một nước. Trung quân mà bỏ dân cũng là một cái tội. Mất dân tức là mất nước. Ông Trấn thủ không nhớ điều này sao?”. Bị dồn vào thế bí, trấn thủ An Giang tức giận nói lớn: – “Ông Thành thủ úy không phải nhiều lời. Triều đình mà quan kinh lược sứ thay mặt ra lịnh bãi binh nộp thành là để giữ cho trăm họ bình yên ở đây. Nếu ông không thi hành thì trả ấn kiếm lại cho triều đình, không nói lôi thôi gì cả!”. Trực cố dằn cơn tức giận trước lời lẽ của trấn thủ An Giang, chàng tiếp tục giọng cười khinh bạc: – “Tôi vốn xuất thân là anh dân chài nhờ biết chút ít võ nghệ nên theo ông Lãnh binh họ Trương đánh giặc ở Đại đồng Kỳ Hòa, đốt tàu Tây Dương ở vàm Nhựt Tảo, nên được triều đình ban cho ấn kiếm để đánh giặc giữ nước, nay triều đình không dám đánh giặc mà nộp đất giao thành thì ấn kiếm này còn có giá trị gì nữa. Tôi xin trả lại cho triều đình, nhờ ông trấn thủ nhận lấy giùm!”. Nói xong, Trực cởi dây đeo kiếm và lấy hộp ấn trong ngực đặt lên án trước mặt trấn thủ An Giang rồi quay người đi ra. Cả cuộc họp sững sờ trước hành động trả ấn kiếm của Trực. Trương Văn Uyển tưởng Trực phẫn chí đi liều mình chăng, nên ông gọi giật lại: – “Ông Thành thủ úy, ông đi đâu đó? Đừng làm điều gì hại đến thân nghe!”. Trực dừng lại nhìn Trương Văn Uyển, mỉm cười: – “Thưa đại nhân, tôi về Hà Tiên”. – “Ông đi Hà Tiên làm gì? Ở đó cũng sắp giao cho Tây dương rồi”. Nghe Uyển nói, Trực lại nổi giận nhưng cố kìm lại: – “Các ông theo lịnh triều đình nộp thành cho giặc thì cứ việc nộp! Thành mất nhưng dân mất sao được? Tôi về Hà Tiên là về với dân, cùng dân đánh giặc. Triều đình dâng đất cho giặc, tôi sẽ cùng dân đánh lấy lại đất, đuổi cổ giặc ra khỏi đất này. Xin cáo biệt!”. Nói xong mặc Trương Văn Uyển đứng thộn ra chưa biết đối đáp ra sao thì Trực đã đi nhanh ra cổng. Bỗng chánh quản Nhơn xô ghế đứng dậy, bước nhanh theo Trực. Cuộc họp chưa hết sững sờ trước việc trả ấn kiếm của Nguyễn Trung Trực, nay lại đến việc quản Nhơn bỏ họp theo Trực, nên đã tự giải tán trong bầu không khí nặng nề.


            Chiếc tam bản chở Trực tiếp tục lướt trên con sông lớn đầy những giề lục bình trôi.


Trở lại tư dinh Phan Thanh Giản ở ngoại ô Vĩnh Long.


            Trời đã về chiều.


            Cụ mặc áo rộng màu trắng, bịt khăn đen. Áo mão phẩm phục đại thần cùng ấn triện và trên 20 bằng sắc, cụ xếp gọn đặt trên án thư.


            Cụ lấy bút lông viết tờ sớ gởi dâng Tự Đức. Viết xong, cụ gấp tờ sớ lại bỏ vào phong bì, xếp bên đống phẩm phục ấn triện, rồi gọi: – “Ông Đức đâu?”. Người hầu già chạy ra kính cẩn: – “Dạ!” – “Ông cho các thứ nầy vào trong rương nhỏ khoá lại, dán niêm phong, rồi đưa cho quân trạm mang về triều dâng lên Hoàng thượng”. – “Dạ”. Ông Đức cảm thấy quan Kinh lược sứ, người mà ông suốt đời theo hầu và hết sức kính trọng, sắp có một quyết định gì to lớn lắm, nhất là cách ăn mặc của cụ Phan khác hẳn ngày thường: áo rộng trắng, bịt khăn đen, điều mà Đức chưa thấy bao giờ. – “Sau đó, ông ra gọi sắp nhỏ vô đây gặp tôi”. – Cụ Phan nói. – “Dạ”. Ông Đức ôm đống đồ vật trên án đi ra. Nét mặt ông đầy vẻ âu lo. Còn lại một mình cụ Phan. Cụ chỉnh đốn lần nữa trang phục rồi hướng về phương Bắc quỳ lạy năm lạy. Đó là lễ cuối cùng của đạo thần tử bái biệt nhà vua. Xong, với vẻ trầm tĩnh vốn có xưa nay, ông ngồi vào ghế bên án thư xem lại tập “Lương khê thi thảo”. Các con ông Phan: Phan Hương, Phan Tôn, Phan Liêm đã có mặt. Họ hết sức ngạc nhiên khi thấy cha mặc quần áo khác ngày thường. Họ ngơ ngác nhìn nhau rồi nhìn ông. Với giọng trầm tĩnh ông nói: – “Cha nay tuổi già sức đã cạn kiệt, việc nước không lo tròn, ơn vua không trả nổi, nghĩ mình có sống càng thêm nặng tội. Ngày mai cha có thác rồi, các con nên nhớ bọn Phú-lang-sa đã cậy thế mạnh cướp đất đai tổ tiên ta. Đó là nỗi nhục lớn mà đời cha không rửa được. Cha biết rõ cơ Trời. Con người thật khó vượt qua mệnh Trời đã định. Phận cha đành chịu tội với tiên đế, với dân chúng hôm nay và mai sau”. Ngừng một lúc, cụ nhìn các con trìu mến rồi nói tiếp: – “Các con cứ ở lại đất này sinh cơ lập nghiệp. Sau này các cháu của cha lớn khôn, hãy nói cho chúng biết ông cha chúng ngày nay thua kém người ta nên phải thua họ. Các cháu phải gắng hơn họ để đuổi họ giành lại giang sơn. Ấy là các cháu đã rửa cho ta mối nhục nầy đó!”. Các con cụ đứng lặng người, nước mắt chảy lòng ròng trên má. Họ đã biết tính của cụ đã quyết điều gì không bao giờ thay đổi. Vừa lúc ấy, ông Đức vào khép nép thưa: – “Dạ, có mấy người Phú-lang-sa đến xin gặp đại nhân”. – “Cho họ vô! – Cụ Phan nói – Các con ra sau đi, cha phải tiếp khách”. Các con cụ lặng lẽ rút lui. Một đoàn Pháp gồm có sĩ quan cấp tá, hai tên lính khệ nệ bưng hai mâm lễ vật gồm trà, rượu, bánh… gồm toàn thứ đắt tiền và một thông ngôn. Tên sĩ quan Pháp nói: – “Thừa lệnh đô đốc La Grandière, xin viếng thăm và kính biếu ngài chút quà từ Pháp mới gởi sang cho đô đốc. Xin ngài vui lòng nhận cho tấm lòng thành của người đại diện nước Pháp rất quý trọng ngài”. Cụ Phan xua tay điềm nhiên trả lời: – “Các ông có lòng mang lễ vật quý của đô đốc đến biếu ta, ta rất cám ơn. Nhưng kể từ hôm nay ta quyết định tuyệt cốc, cho nên những lễ vật này ta xin tặng lại cho các người”. Tên sĩ quan Pháp tròn mắt ngạc nhiên: – “Ngài tuyệt thực à? Ôi, sao ngài lại quyết định như vậy?”. Cụ Phan lắc đầu: – “Xin ông đừng hỏi. Cho ta gởi lời chào đô đốc. Cám ơn các ông đến thăm ta”. Cụ Phan nói xong đưa tay ra hiệu cuộc tiếp khách đến đây kết thúc. Tên sĩ quan Pháp đành rập chân nghiêm chào rồi cả bọn lủi thủi bưng lễ vật ra. Cụ Phan nhắm mắt ngồi yên như pho tượng. Bên ngoài trời tối dần…


            Ngày rồi đêm qua. Cụ Phan vẫn ngồi yên bình thản và lạnh lùng bên án thư, ung dung đón nhận cái chết. Thời gian vẫn cứ trôi, hết ngày rồi lại đêm… Và vị đại thần của triều Nguyễn vẫn ngồi yên như pho tượng…


                  Chiếc ghe bầu chở Nguyễn Trung Trực và số nghĩa quân theo anh đang xuôi dòng trên sông Cái Lớn thì bỗng gặp một số ghe nhỏ chở đồng bào tản cư chèo ngược lại, dáng hối hả như chạy giặc. Đứng trước mũi ghe, Trực thấy hiện tượng không bình thường này nên vẫy tay gọi chiếc tam bản chèo gần đó lại sát bên chiếc ghe bầu, Trực hỏi: – “Có chuyện gì mà các bác vô đây đông dữ vậy?” – “Ông chỉ huy – thấy Trực mặc võ phục, ông già ngồi ở chiếc tam bản gọi Trực như vậy – chưa biết gì sao? Bọn Phú-lang-sa đã chiếm Hà Tiên Rạch Giá ngày hôm kia rồi. Bọn tui ở ngoài chợ Rạch Giá không dám ở lại, rủ nhau chạy vô trong này kiếm chỗ tránh giặc đây. Ông không ra ngoài đó được đâu!” – “Cám ơn bác đã báo tin” – Trực nói rồi ra lệnh cho mấy anh nghĩa quân đang chèo: – “Ghé vô xóm nhà phía tay trái trước mặt đó”. Thuở ấy sông Cái Lớn còn rất hoang vu, rừng xanh bạt ngàn, dân cất nhà lá ở quây quần nhau từng xóm nhỏ ven sông thưa thớt độ năm bảy hộ, sống bằng nghề chài lưới giăng câu hoặc vô rừng lấy mật ong hay săn bắt thú hoang ra chợ bán. Chỗ Nguyễn Trung Trực dừng quân để nghe ngóng dọ thám tình hình địch là Sân Chim nằm ở tả ngạn sông Cái Lớn, cách thị xã Rạch Giá vài chục cây số đường chim bay, đi lại chỉ bằng xuồng ghe, không có đường bộ. Đó là thời gian vào khoảng cuối tháng 6 năm 1867, sau khi quân Pháp chiếm Hà Tiên Rạch Giá (24-6-1867). Mấy ngày sau đó, Trực huy động nghĩa quân vô rừng đốn cây tràm, chặt lá dừa nước ven sông dựng một hai căn nhà làm chỗ đóng quân tạm, chờ đợi thời cơ để tiến đánh Rạch Giá. Người ta lại thấy có hôm Trực đi chài trên sông kiếm tôm cá nuôi quân, đồng thời cũng để dò la tin tức giặc ngoài chợ Rạch Giá.


            Nhà cụ Phan. Đã gần mười ngày đêm trôi qua.


            Cụ vẫn ngồi yên bên án thư đọc lại bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ. Chốc chốc cụ lại thở dài, mắt nhắm nghiền lại. Một chút cụ như thiếp đi…


            Trong lúc mơ màng cụ nhớ lại cuộc chia tay với Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương ở Phú Xuân trước khi vào Nam với chức Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây. Đó là một đêm trăng ở Phú Xuân. Họ ngồi với nhau trong tư thất của cụ Phan bên bờ sông Hương với ấm trà thơm phức mà ông Đức vừa pha cho ông đãi bạn. Ở xa có tiếng hò mái đẩy, mái nhì vọng lại. Nguyễn Tri Phương nhìn cụ Phan với đôi mắt thông cảm: – “Đại nhân sắp vào Nam chuyến này… đã có kế sách gì chưa?” – “Thiệt khó mà đoán trước tình hình sẽ xảy ra như thế nào… – cụ Phan thở dài – Người Phú lang sa đã chiếm Cao Miên. Ba tỉnh miền Tây như cá nằm trên thớt, như cua trong giỏ… Tôi chỉ mong làm sao cho dân chúng được yên, tránh được họa binh đao. Nhưng lòng dạ bọn Phú-lang-sa thật khó lường… Tôi sẽ cố hết sức. Nhưng đại nhân cũng biết cổ nhân đã từng nói: “Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, không thể cãi được mệnh trời”. Nguyễn Tri Phương gật đầu như chia sẻ với cụ Phan những khó khăn mà người bạn già sẽ gặp trong lần đi công cán này. Chợt cụ Phan hỏi lại: “Bây giờ nếu Hoàng thượng cử tướng quân vào trong đó thì tướng quân sẽ xử trí ra sao?” – “Thật tình tôi cũng chưa biết phải xử trí ra sao nữa. Năm xưa đánh nhau với bọn Phú lang sa ở Sài Gòn Gia Định, tôi chợt hiểu ra là cách dùng binh của ta đã quá lạc hậu. Cứ tưởng là đắp thành luỹ kiên cố kẻ thù đánh mãi không được thì ắt phải rút lui cầu hoà. Nhưng khi nổ ra chiến trận thành luỹ không chịu nổi sức công phá của thần công đại bác. Thành vỡ, lũy tan, binh lính bỏ chạy trách nhiệm đâu phải ở họ? Nếu sau lần thất bại đó mà kịp thời chấn chỉnh lại binh pháp, cử người đi các nước học cách dùng binh, cách công cách thủ, trang bị lại quân đội bằng võ khí tối tân mua của nước ngoài những thứ ta chưa làm được… Nhưng triều đình vẫn không chịu nhìn thấy sự thật đó. Ngay như trong nước loạn tặc ở đất Bắc hàng chục năm nay chưa dẹp nổi, nói gì chống lại được bọn Phú-lang-sa, Y-pha-nho… Thôi thì đạo thần tử phải lấy chữ “trung” làm đầu. Sống chết âu cũng là số mệnh thiên định như vậy rồi”. Nguyễn Tri Phương nói mấy câu cuối với giọng buồn bã. Cụ Phan cũng rất cảm động trước lời bộc bạch chân tình của người tướng từng xông pha trận mạc với thương tích còn mang trên người. Cụ nói: – “Khi tôi sang nước Pháp, tận mắt thấy nền văn minh của họ, tôi đã thầm nghĩ nếu cứ “bế quan toả cảng” như ta hiện nay thì khó lòng mở mang dân trí, đào tạo nhân tài theo kịp đà tiến hoá của họ. Nhưng khi tấu trình lên Hoàng thượng ý định canh tân đất nước thì người nói đó là quỷ kế của bọn Tây dương lừa gạt sứ thần để về nước gieo sự hoang mang trong triều – cụ Phan cười buồn – Mà không phải đó là ý kiến của riêng tôi đâu. Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ cũng “chúng khẩu đồng từ” như vậy, nhưng Hoàng thượng vẫn gác bỏ ngoài tai!”. Nguyễn Tri Phương lặng lẽ nhấp một ngụm trà. Ngoài sông Hương trăng vẫn sáng lung linh lẫn chút sương mù trắng đục. – “Ngày mai, đại nhân vào Nam, tôi lại ra Bắc – Nguyễn Tri Phương nhìn cụ Phan – Cuộc đời dâu bể không biết ngày nào gặp lại. Tôi có làm bài thơ tặng đại nhân gọi là có chút lòng của kẻ đầu non cuối biển vẫn nhớ người tri kỷ – rồi ông ngâm:


Ven trời góc biển dăm chơi vơi


Vui tẻ phân nhau mỗi bước đời


Cá lại Long giang hai ngả trước


Nhạn về du hợp một phương trời


Nửa hồ cố cựu trăng lai láng


Cái chén tơ lòng gió lộng khơi


Chầy kíp Trường An mau trở lại


Thăm người viếng cảnh hỡi người ơi!”


            Cụ Phan ngồi nghe lòng bồi hồi xúc động. Có ai nghĩ người võ tướng đeo gươm mặc giáp cả đời xông pha trận mạc, lại thông cảm hoàn cảnh của cụ thể hiện tình cảm của mình trong bài thơ sâu sắc đến thế! Ngâm xong, Nguyễn Tri Phương quay mặt đi giấu hai giọt lệ, có lẽ cũng là giọt lệ cuối cùng của người võ tướng trước lúc chia tay người bạn vong niên đồng liêu với mình suốt mấy mươi năm.


            Ngoài kia, sông Hương vẫn lững lờ trôi bàng bạc ánh trăng khuya.


            Buổi sáng trên Sân Chim nơi Nguyễn Trung Trực đóng quân tạm.


            Như thường lệ, các nghĩa quân vác cuốc phảng ra sau các gian nhà phát quang cây cối chuẩn bị cho việc gieo trồng rau xanh góp phần cải thiện bữa ăn. Còn Trực, anh cũng chuẩn bị đi chài như lâu nay vẫn làm. Bỗng thật bất ngờ, từ dưới bến sông, một chiếc xuồng cặp vào. Nghĩa, Tâm và một nghĩa quân đã có tuổi nhanh nhẹn bước lên. – “Nghĩa!” – “Anh Hai!”. Cả Trực và Nghĩa đều xúc động nghẹn ngào. Nghĩa úp mặt vào vai Trực khóc rưng rức, giây lâu sau mới nói được: – “Em nghe tin anh về trong này vội đi tìm, nhưng không biết anh ở đâu. Cho đến khi chú Bảy đến báo tin anh ở đây em vội đi ngay”. – “Má với mấy đứa em có mạnh giỏi không em?”. – “Má dạo này đau yếu luôn. Còn mấy đứa kia có chồng gần đó cũng chạy tới lui phụ với em chăm sóc cho má. Con Út nó gởi lời thăm anh đó”. – “Mấy năm nay không gặp chắc bây giờ nó lớn lắm rồi phải hông?” – Trực vui vẻ hỏi. – “Ra dáng thiếu nữ lắm rồi. Nó nhắc anh hoài đó”. – “Thôi mời tất cả vô nhà đi”. – Trực quay lại nói với Tâm và anh nghĩa quân đi đón họ ở U Minh về. Trực vỗ đầu chú bé Tâm: – “Lâu không gặp trông em bây giờ cũng lớn rồi đó. Có nhớ anh không?”. Tâm cười: – “Có anh quên em thì có. Nhớ anh thấy mồ mà anh còn hỏi!”.


            Đêm hôm ấy.


            Trong gian buồng ấm áp nơi Trực ở. Trực nằm cạnh Nghĩa. Anh nói: – “Tình hình hiện nay khó khăn lắm Nghĩa à. Bọn Phú-lang-sa đang xây đồn kiên cố ở Rạch Giá. Chúng mộ phu bắt lính mã tà và lập bọn Việt gian làm cai tổng, xã trưởng… bây giờ anh tính thế này. Em ở đây vài bữa rồi trở về rước má lên để đưa vô chợ Rạch Giá chữa bệnh…” – “Anh có quen biết ai trong đó mà đưa má vô?” Nghĩa âu yếm nhìn Trực hỏi. – “Anh quản Nhơn có người thân làm thầy thuốc ở chợ Rạch Giá. Người này tốt có thể tin cậy được. Để anh gặp hỏi ổng kỹ rồi sẽ đưa má vô đó trị bệnh… Má lớn tuổi rồi, vùng dưới U Minh không có thuốc men… Anh lo lắm”. – “Anh tính sao cũng được. Em sẽ về đón má lên rồi tuỳ anh”. Trực âu yếm hôn lên mái tóc Nghĩa. Dĩa đèn dầu mù u le lói chút ánh sáng rồi tắt lịm dần… Tiếng con vạc ăn đêm nghe rõ trong đêm tối mênh mông…


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


           

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 12.12.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
xem thêm »